Tải bản đầy đủ (.doc) (89 trang)

KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG CỦA GÀ TP

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.44 MB, 89 trang )

Phần I
MỞ ĐẦU
I. Đặt vấn đề.
Nghề chăn nuôi gia cầm ở nước ta có truyền thống từ lâu đời nhưng chủ yếu là
quy mô nhỏ, chăn thả tự do. Ngày nay, chăn nuôi gia cầm đã phát triển mạnh nhằm
đáp ứng nhu cầu của xã hội ngày càng tăng về số lượng và chất lượng sản phẩm thịt,
trứng gia cầm. Trong chăn nuôi gia cầm thì gà là vật nuôi chiếm tỷ lệ lớn nhất.
Nước ta có nhiều giống gà thả vườn như gà Ri, gà Mía, gà Đông Tảo… với nhiều
ưu điểm: chịu khó kiếm mồi, dễ nuôi, có chất lượng thịt, trứng thơm ngon,…. Tuy
nhiên, các giống này cho khả năng sinh trưởng và sinh sản còn thấp, năng suất trứng
và thịt chưa cao.
Để phát triển ngành chăn nuôi gia cầm nói chung và chăn nuôi gà nói riêng,
phải có nhiều giống tốt, năng suất, chất lượng cao đáp ứng nhu cầu của xã hội.
Nhằm giải quyết vấn đề này, trong những năm gần đây, nước ta đã bỏ ra nhiều
ngoại tệ để nhập nội các giống gà từ các hãng nổi tiếng trên thế giới, tuy nhiên, các
giống gà nhập nội này chỉ sử dụng được một lần rồi sau đó phải nhập lại để thay thế
đàn, do đó không chủ động về con giống và khó kiểm soát về dịch bệnh; bên cạnh
đó, khả năng thích nghi không cao, hoặc chất lượng thịt, màu lông không được
người tiêu dùng ưa chuộng….
Để khắc phục những nhược điểm của các giống gà địa phương và nhập nội,
đồng thời vẫn duy trì các tính trạng tốt của các giống gà trên, nhằm tạo ra các
giống gà có năng suất cao, chất lượng tốt phù hợp với thị hiếu người dân, thích nghi
với điều kiện nuôi ở Việt Nam, ngày nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu chọn
tạo ra các giống gà mới trên cơ sở nguồn gen quý của các giống gà địa phương và
giống gà nhập nội. Điển hình như công trình nghiên cứu về 4 dòng gà thịt TP1, TP2,
TP3, TP4 của tác giả Phùng Đức Tiến và cs (2010) [49]. Sau 5 năm chọn tạo, các
dòng gà thu được có năng suất đạt tương đương trong khu vực và tiệm cận các dòng
gà lông màu trên thế giới. Theo tác giả, dòng trống TP4 ở thế hệ thứ 3 có khối lượng
1
lúc 8 tuần tuổi đạt 1958,78g/con đối với gà trống và 1580,97g/con đối với gà mái.
Dòng mái TP1 ở thế hệ thứ 3 có năng suất trứng 181,74 quả trứng/mái/68 tuần tuổi.


Nhằm đánh giá tính ổn định về khả năng sinh sản của dòng TP1, TP4 cũng
như khả năng sinh trưởng của gà lai TP41, trước khi áp dụng rộng rãi các giống gà
TP1 và TP4 đến với nhiều vùng sinh thái khác nhau, đem lại hiệu quả cao cho người
chăn nuôi đồng thời đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng. Chúng tôi tiến hành
nghiên cứu đề tài:
“ Nghiên cứu khả năng sinh sản của hai dòng gà TP4 và TP1 ở thế hệ thứ tư và
khả năng sinh trưởng của gà lai TP41 ”
II. Mục tiêu của đề tài
Đề tài thực hiện nhằm:
- Gà sinh sản: Xác định khả năng sinh sản của hai dòng gà TP1 và TP4 ở
thế hệ thứ tư.
- Gà nuôi thịt: Xác định khả năng sinh trưởng của gà lai TP41.
Phạm vi nghiên cứu: Đề tài được tiến hành trên đối tượng gà TP1 và TP4 ở thế hệ
thứ tư và gà lai TP41 tại Trung tâm Nghiên cứu Gia cầm Thuỵ Phương - Viện Chăn
nuôi từ tháng 3 năm 2012 đến tháng 5 năm 2013, và được nuôi thử nghiệm gà lai
TP41 từ sơ sinh đến 9 tuần tuổi tại các nông hộ ở xã Tráng Việt - Mê Linh – Hà
Nội. Từ kết quả của đề tài có thể phổ biến rộng rãi gà lai TP41 trong sản xuất đem
lại hiệu quả kinh tế cho người chăn nuôi.
III. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
1. Ý nghĩa khoa học của đề tài:
- Là đề tài đầu tiên nghiên cứu khả năng sinh sản của 2 dòng gà TP1 và TP4 ở thế
hệ thứ 4 và khả năng sinh trưởng của gà lai TP41.
- Kết quả của đề tài góp phần quan trọng trong việc hoàn thiện các phương pháp
luận về chọn lọc và lai tạo giống gia cầm từ các nguồn nguyên liệu di truyền sẵn có.
2
- Là tài liệu tham khảo cho các nhà nghiên cứu, các sinh viên và những người quan
tâm.
2. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài:
Xuất phát từ các dòng gà hiện có trong nước, tạo ra tổ hợp lai mới một cách
chủ động, áp dụng rộng rãi gà bố mẹ và thương phẩm đến với người chăn nuôi ở các

điều kiện sinh thái khác nhau phù hợp với nhu cầu thị hiếu người tiêu dùng. Các
dòng gà có khả năng sinh trưởng và sinh sản cao sẽ cung cấp cho ngành chăn nuôi
gà các con giống tốt, góp phần thúc đẩy sản xuất, tiết kiệm ngoại tệ nhập khẩu con
giống ngoại, đem lại hiệu quả kinh tế cho ngưòi chăn nuôi, giải quyết công ăn việc
làm cho người nông dân đồng thời tăng sản phẩm thịt và trứng cho xã hội.
3
Phần II NỘI DUNG
Chương I TỔNG QUAN TÀI LIỆU
I. Cơ sở lý luận của đề tài
1. Cơ sở lý luận về đặc điểm ngoại hình của gia cầm
Các đặc điểm về ngoại hình là những đặc trưng cho giống, thể hiện khuynh
hướng sản xuất, thị hiếu và giá trị kinh tế của vật nuôi. Các đặc diểm này gồm: đầu,
mào, mỏ, bộ lông, chân.
- Đầu: Cấu tạo xương đầu được coi như có độ tin cậy cao nhất trong việc đánh giá
đầu gia cầm. Da mặt và các phần phụ của da đầu cho phép rút ra kết luận về sự phát
triển của mô đỡ và mô liên kết. Gà trống có ngoại hình đầu giống gà mái sẽ có tính
sinh dục kém, gà mái có ngoại hình đầu giống gà trống sẽ không cho năng suất cao,
trứng thường không phôi. (Nguyễn Chí Bảo (1978) [3])
- Mào: Theo hình dáng của mào, mào dưới ta có thể biết được trạng thái sức khỏe
và điều kiện sống của gà. Mào và mào dưới thuộc về các đặc diểm sinh dục phụ, khi
buồng trứng hoạt động bình thường thì mào lớn chứa nhiều máu và ngược lại.
- Mỏ: chắc chắn và ngắn. Gà có mỏ dài và mảnh không có khả năng sản xuất cao.
Những giống gà da vàng thì mỏ cũng vàng, ở gà mái màu sắc này có thể bị nhạt đi ở
cuối thời kì đẻ trứng.
- Bộ lông: Thể hiện đặc điểm di truyền của giống và có ý nghĩa quan trọng trong
phân loại. Khi mới nở, gia cầm con được lông tơ che phủ, trong quá trình phát triển
lông tơ dần được thay thế bằng lông cố định. Tốc độ mọc lông là sự biểu hiện khả
năng mọc lông sớm hay muộn, có thể có quan hệ mật thiết với cường độ quang hợp
của gia cầm. Gà mái mọc lông đều hơn gà trống trong cùng một dòng và ảnh hưởng
của hoocmon có tác dụng ngược với gen liên kết quy định tốc độ mọc lông. Màu

lông do một số gen quy định, phụ thuộc vào sắc tố chứa trong bào tương của tế bào.
Lông gia cầm có màu sắc khác nhau là do tốc độ oxy hóa các chất tiền sắc tố
4
melanin trong các tế bào lông. Nếu các chất sắc tố là nhóm lipocrom thì lông có
màu vàng, xanh tươi hoặc màu đỏ, nếu không có chất sắc tố thì lông màu trắng.
- Chân: Gà giống tốt phải có chân chắc chắn nhưng không được thô. Gà có chân
hình chữ bát, các ngón cong, xương khuyết tật không nên sử dụng làm giống. Đặc
điểm chân cao liên quan đến khả năng cho thịt thấp và phát dục chậm ( Nguyễn Chí
Bảo (1978) [3].
2. Bản chất di truyền của tính trạng sản xuất
Khi nghiên cứu các tính trạng về tính năng sản xuất của gia cầm, được nuôi
trong điều kiện cụ thể, thực chất là nghiên cứu các đặc điểm di truyền số lượng và
ảnh hưởng của những tác động môi trường lên các tính trạng đó. Hầu hết các tính
trạng về năng suất của gia cầm như sinh trưởng, sinh sản, tăng trưởng, đẻ trứng đều
là các tính trạng số lượng.
2.1. Ảnh hưởng của di truyền và ngoại cảnh đến khả năng sản xuất
Nghiên cứu các tính trạng sản xuất của gà, không thể không nghiên cứu các
đặc điểm di truyền và ảnh hưởng của những tính trạng ngoại cảnh lên các tính trạng
đó. Hầu hết các tính trạng sản xuất là các tính trạng số lượng, cơ sở di truyền của
các tính trạng số lượng cũng là các gen nằm trên nhiễm sắc thể qui định.
Theo Nguyễn Ân (1973) [1] thì các tính trạng năng suất, thường là các tính trạng số
lượng còn gọi là các tính trạng đo lường được như khối lượng cơ thể, kích thước các
chiều do sản lượng trứng… Các tính trạng số lượng thường bị chi phối bởi nhiều
gen (polygenes), hoạt động theo 3 phương thức.
- Cộng gộp: hiệu ứng tích luỹ của từng gen (A)
- Trội: hiệu ứng do tương tác giữa các gen cùng một lo cút (1)
- Át gen: hiệu ứng do tương tác, do các gen không cùng một locut (1)
Hiệu ứng cộng gộp A (Additive Effect) là do giá trị giống có thể tính toán được, có
ý nghĩa trong chọn lọc dòng thuần.
5

Hiệu ứng trội D (dominante) và át gen (epistatique Interation) là giá trị giống đặc
biệt không thể xác định được, chỉ có thể xác định được qua thực nghiệm, có ý nghĩa
trong lai giống, do đó kiểu di truyền được xác định:
G = A + D + I
Các tính trạng số lượng còn chịu nhiều ảnh hưởng của môi trường E (enviromen),
có 2 loại môi trường chính:
Ec là môi trường chung (common enviroment) tác động thường xuyên đến tất cả các
cá thể trong quần thể một cách lâu dài.
Môi trường riêng Es (Special Enviroment) tác động đến bộ phận riêng biệt của một
số cá thể riêng biệt nào đó trong quần thể trong một thời gian ngắn. Eg và Es còn
được phân chia các ảnh hưởng cố định (Permenent) và tạm thời T (Temporal) và E
được xác định:
E = Egp + Egt + Esp + Est
Từ đó, nếu bỏ qua mối tương tác giữa di truyền và ngoại cảnh thì quan hệ của kiểu
hình P (phenotype), kiểu gen G (genotyp) và môi trường của một cá thể biểu hiện
như sau:
P = G + E và có thể tính: P = A + D + 1 + Ec + Es
Qua phân tích trên cho thấy, các giống gia cầm cũng giống như các giống
sinh vật khác, con cái đều nhận được ở bố mẹ một số gen quyết định tính trạng số
lượng nào đó, được xem như nhận từ bố mẹ một khả năng di truyền, nhưng khả
năng đó có phát huy được hay không còn phụ thuộc vào môi trường sống như chế
độ chăm sóc, nuôi dưỡng, quản lý trong đó quan trọng nhất là thức ăn.
2.2. Sức sống và khả năng kháng bệnh của gà
Tỷ lệ sống của gà con khi nở là chỉ tiêu chủ yếu để đánh giá sức sống của gia cầm. Ở
giai đoạn hậu phôi, sự giảm sức sống được thể hiện ở tỷ lệ chết cao qua các giai đoạn
sinh trưởng (Brandsch và Biilchel, Nguyễn Chí Bảo dịch (1978)[7]). Khavecman
(1972)[20] cho rằng cận huyết làm giảm tỷ lệ sống, ưu thế lai làm tăng tỷ lệ sống. Các
6
giống vật nuôi nhiệt đới có khả năng chống bệnh truyền nhiễm, bệnh ký sinh trùng
cao hơn các giống vật nuôi ở xứ lạnh. Khả năng thích nghi là khi điều kiện sống của

gia súc, gia cầm bị thay đổi như thức ăn, thời tiết, khí hậu, qui trình chăn nuôi, môi
trường vi sinh vật xung quanh, thì chúng có khả năng thích ứng nhanh, rộng rãi
đối với môi trường sống mới (Phan Cự Nhân và Trần Đình Miên (1998) [34]).
Khi nghiên cứu về sức sống của gia cầm, Marco (1982)[73] cho biết sức sống
được thể hiện ở thể chất và được xác định trước hết bởi khả năng có tính di truyền
của động vật, có thể chống lại những ảnh hưởng không thuận lợi của môi trường,
cũng như ảnh hưởng của dịch bệnh. Hill và cs (1954)[66] đã tính được hệ số di
truyền về sức sống là 0,06. Sức sống được tính theo các giai đoạn nuôi dưỡng khác
nhau. Theo Gavora (1990)[63], hệ số di truyền của sức kháng bệnh là 25%. Tỷ lệ
nuôi sống phụ thuộc rất lớn vào yếu tố dinh dưỡng, chăm sóc nuôi dưỡng, khí hậu
thời tiết, mùa vụ,…
2.3. Khả năng sinh sản ở gia cầm
Khả năng sinh sản của gia cầm được thể hiện bởi các chỉ tiêu về sản lượng,
KL, hình dạng, chất lượng trứng, thụ tinh và ấp nở. Đối với các giống gia cầm khác
nhau, khả năng sinh sản cũng khác nhau.
2.3.1. Sản lượng trứng
Sản lượng trứng là lượng trứng mà gia cầm mái đẻ ra trong một vòng đời,
phụ thuộc vào tuổi thành thục, cường độ đẻ trứng, tần số thể hiện bản năng đòi ấp,
thời gian nghỉ đẻ và thời gian đẻ kéo dài. Theo Brandsch và Biilchel (Nguyễn Chí
Bảo dịch (1978))[7], sản lượng trứng được tính trong 365 ngày kể từ khi đẻ qủa
trứng đầu tiên. Marco (1982)[73] cho biết, đối với gà Plymouth Rock nuôi tại CuBa,
sản lượng trứng được tính từ tuần tuổi 23 đến tuần tuổi thứ 74. Trong lúc đó, các
hãng gia cầm công nghiệp tính sản lượng trứng đến 70 - 80 tuần tuổi.
Cường độ đẻ trứng là sức đẻ trứng trong thời gian ngắn, có liên quan chặt chẽ
với sức đẻ trứng trong cả năm của gia cầm. Sự xuất hiện bản năng đòi ấp phụ thuộc
vào yếu tố di truyền, thể hiện ở các giống khác nhau với mức độ khác nhau. Sự khác
7
nhau đó thể hiện ở thời điểm ấp và thời gian ấp kéo dài. Phần lớn các dòng gà ham
ấp đều có sức đẻ trứng kém.
Thời gian nghỉ đẻ của gia cầm: giữa các chu kỳ đẻ trứng gà thường có thời

gian nghỉ đẻ, điều này ảnh hưởng trực tiếp tới sản lượng trứng, yếu tố này bị ảnh
hưởng từ tính mùa vụ, sự thay đổi thức ăn, di truyền,… Thời gian đẻ kéo dài được
tính từ khi đẻ quả trứng đầu tiên tới khi thay lông hoàn toàn. Giữa thời gian đẻ trứng
kéo dài với sự thành thục có tương quan nghịch rõ rệt, với sức đẻ trứng có tương
quan dương rất cao (Brandsch và Biilchel, Nguyễn Chí Bảo dịch, (1978) [7]).
2.3.2. Năng suất trứng
Trứng của gia cầm nói chung và của gà nói riêng là một tế bào sinh sản
khổng lồ. Cấu tạo của trứng bao gồm: lòng đỏ, lòng trắng, màng vỏ và vỏ. Buồng
trứng có chức năng tạo thành lòng đỏ, còn các bộ phận khác như: lòng trắng, màng
vỏ và vỏ do ống dẫn trứng tạo nên. Nhiều tài liệu nghiên cứu đều xác định ở gà mái,
trong quá trình phát triển từ phôi hai bên phải, trái đều có buồng trứng, nhưng sau
khi nở buồng trứng bên phải mất đi, còn lại buồng trứng bên trái (Vương Đống
(1968) [14]).
Số lượng tế bào trứng của gà mái ở thời kỳ đẻ trứng có thể đếm được khoảng 3.600
trứng, nhưng chỉ có 1 số lượng rất hạn chế được chín và rụng (Phùng Đức Tiến
(1996) [43]).
Trong thời gian phát triển ban đầu, các tế bào trứng được bao bọc bởi một
tầng tế bào, không có liên kết gì với biểu bì phát sinh. Tầng tế bào này trở thành
nhiều tầng, sự tạo thêm sẽ tiến tới bề mặt buồng trứng, cấu tạo này gọi là follicun,
bên trong follicun có một khoang hở chứa đầy một chất dịch. Bề ngoài follicun
trông giống như một cái túi. Trong thời kỳ đẻ trứng nhiều follicun trở nên chín làm
thay đổi hình dạng buồng trứng trông giống như “chùm nho”. Sau thời kỳ đẻ trứng
lại trở thành hình dạng ban đầu, các follicun chín vỡ ra, tế bào trứng chín ra ngoài
cùng với dịch follicun và rơi vào phễu ống dẫn trứng.
Các tài liệu nghiên cứu đều cho rằng, hầu hết vật chất trong lòng đỏ trứng gà
8
được tạo thành trước khi đẻ trứng 9 -10 ngày, tốc độ sinh trưởng của lòng đỏ từ 1
đến 3 ngày đầu rất chậm, khi đường kính của lòng đỏ đạt tới 6 mm, bắt đầu vào thời
kỳ sinh trưởng cực nhanh, đường kính có thể tăng 4mm trong 24 giờ, cho tới khi đạt
đường kính tối đa 40mm. Tốc độ sinh trưởng của lòng đỏ không tương quan với

cường độ đẻ trứng. Quá trình hình thành trứng và rụng trứng là một quá trình sinh lý
phức tạp, do sự điều khiển của hoocmol. Thời gian từ lúc đẻ quả trứng và thời gian
rụng trứng sau kéo dài 15-75 phút.
Theo Melekhin và Niagridin (1989) dẫn theo Ngô Giản Luyện (1994) [26], sự
rụng trứng ở gà xảy ra một lần trong ngày, thường là 30 phút sau khi đẻ trứng.
Trường hợp nếu trứng đẻ sau 16 giờ thì sự rụng trứng sẽ chuyển đến đầu ngày hôm
sau. Trứng bị giữ lại trong ống dẫn trứng làm ngừng sự rụng trứng tiếp theo.
Tế bào trứng rơi vào phễu và được đẩy xuống ống dẫn trứng, đây là một ống dài có
nhiều khúc cuộn, bên trong có tầng cơ, trên thành ống có lớp màng nhầy lót bên
trong, trên bề mặt lớp màng nhầy có tiêm mao rung động. Ống dẫn trứng có những
phần khác nhau: phễu, phần tạo lòng trắng, phần eo, tử cung và âm đạo. Chúng có
chức năng tiết ra lòng trắng đặc, loãng, màng vỏ, vỏ và lớp keo mỡ bao bọc ngoài
vỏ trứng. Thời gian trứng lưu lại trong ống dẫn trứng từ 20-24 giờ. Khi trứng rụng
và qua các phần của ống dẫn trứng tới tử cung, đầu nhọn của trứng bao giờ cũng đi
trước, nhưng khi nằm trong tử cung quả trứng được xoay 1 góc 180
0
, cho nên trong
điều kiện bình thường gà đẻ đầu tù của quả trứng ra trước.
2.3.3. Những yếu tố ảnh hưởng đến sức sản xuất trứng
Theo Đặng Hữu Lanh và cs (1999), dẫn theo Nguyễn Trọng Thiện (2008)
[39], sức sản xuất trứng chịu sự chi phối của các tập hợp gen khác nhau; các gen
quy định tính trạng này nằm trên nhiễm sắc thể thường và bị hạn chế bởi giới tính.
SLT được truyền lại cho đời sau từ bố mẹ. Hayer và cs (1970) [65] cho rằng sức đẻ
trứng của gà mái chịu sự ảnh hưởng của 5 yếu tố di truyền cá thể là: thời gian kéo
dài chu kỳ đẻ trứng sinh học, cường độ đẻ, tính nghỉ đẻ mùa đông, tính ấp bóng, tuổi
thành thục sinh dục.
9
Tuổi thành thục sinh dục: Thường tuổi thành thục sinh dục của gà dao động
trong khoảng 19 – 24 tuần tuổi. Tuổi thành thục sinh dục càng sớm thì thời gian
gian đẻ trứng càng dài, NST càng cao. Tuy nhiên, nếu tuổi thành thục sinh dục sớm,

tuổi thành thục về thể vóc thì sức bền đẻ trứng không cao vì cơ thể gà mái chưa
thành thục về thể vóc, vẫn đang sinh trưởng phát dục để hoàn thiện cấu chúc chức
năng cơ thể, nhưng chất dinh dưỡng không thể tập trung cho hoàn thiện cấu trúc cơ
thể được mà phải cung cấp cho quá trình tạo trứng nên ảnh hưởng đến sức sản xuất
trứng về sau. SLT 3-4 tháng đầu tiên có mối tương quan dương với SLT cả năm. Vì
vậy, để xác định chỉ tiêu về sức đẻ trứng người ta thường tính SLT 3-4 tháng đầu để
có phán đoán sớm và kịp thời trong công tác giống. Brandsch và Biilchel (Nguyễn
Chí Bảo dịch (1978) [7] cho biết hệ số di truyền của tính trạng tuổi đẻ quả trứng
đầu tiên là 0,14-0,15.Tuổi thành thục sinh dục sớm hay muộn phụ thuộc vào giống,
loài, giới tính, thời gian nở trong năm… Cụ thể, giống gà hướng trứng có tuổi thành
thục sinh dục sớm hơn giống gà hướng thịt, gà thành thục sinh dục sớm hơn vịt và
ngỗng. Gà con nở vào mùa thu thường có tuổi thành thục sinh dục sớm hơn các mùa
khác trong năm.
Cường độ đẻ: cường độ đẻ trong 3-4 tháng đầu có tương quan rất chặt chẽ với
sản lượng trứng của gia cầm. Nếu cường độ đẻ trứng càng cao thì sản lượng trứng
cao và ngược lại.
Thời gian kéo dài chu kỳ đẻ trứng sinh học: chu kỳ đẻ trứng sinh học được
tính từ khi gia cầm đẻ quả trứng đầu tiên đến khi gia cầm nghỉ đẻ để thay lông, đó là
chu kỳ thứ nhất và lại tiếp tục chu kỳ thứ hai. SLT phụ thuộc vào thời gian kéo dài
chu kỳ đẻ trứng sinh học, thời gian này càng dài càng tốt. Chỉ tiêu này có tương
quan dương với tuổi thành thục sinh dục, sức bền đẻ trứng, chu kỳ đẻ trứng khác
nhau tuỳ từng cá thể. Những gia cầm đẻ tốt có chu kỳ đẻ trứng dài, nhịp độ đẻ trứng
đều và thời gian nghỉ đẻ ngắn, còn những gia cầm đẻ kém có dấu hiệu ngược lại.
Nói chung, thời gian kéo dài chu kỳ đẻ trứng sinh học có tính di truyền và phụ thuộc
nhiều yếu tố khác nhau, nhất là chế độ chăm sóc, dinh dưỡng, mùa vụ.
10
Tính nghỉ đẻ mùa đông: vào mùa đông, nhiệt độ thấp nên cơ thể phải huy
động năng lượng để chống rét. Tuy nhiên, với những giống gà tốt thì thời gian nghỉ
đẻ rất ngắn thậm chí là không có. Tính nghỉ đẻ có mối tương quan nghịch với NST,
tính nghỉ đẻ mùa đông càng dài thì NST càng thấp.

Tính ấp bóng: ấp bóng là gà mái ấp không có trứng theo tập tính, tính ấp bóng
càng dài thì năng suất trứng càng thấp. Hiện nay quá trình chọn lọc nghiêm ngặt nên
đã loại trừ bản năng ấp trứng của gà mái.
Ngoài 5 yếu tố di truyền cá thể, sức đẻ trứng còn bị ảnh hưởng bởi các yếu tố
khác nhau như giống, dòng gia cầm, tuổi gia cầm, dinh dưỡng, chế độ chăm sóc,
tiểu khí hậu chuồng nuôi…
- Giống, dòng ảnh hưởng lớn đến sức sản xuất trứng của gia cầm. Giống gia cầm
khác nhau sức sản xuất trứng khác nhau. Trong cùng một giống các dòng khác nhau
cho năng suất trứng khác nhau; những dòng được chọn lọc kỹ thường cho sản lượng
trứng cao hơn những dòng chưa được chọn lọc kỹ khoảng 15-20%.
- Tuổi gia cầm có liên quan đến NST. Ở gà, SLT giảm dần theo tuổi, trung bình năm
thứ hai giảm 15-20% so với năm thứ nhất.
- Mùa vụ ảnh hưởng rõ rệt đến sức đẻ trứng của gia cầm. Ở nước ta, mùa hè sức đẻ
trứng giảm xuống nhiều so với mùa xuân và đến mùa thu sức đẻ trứng lại tăng lên.
- Nhiệt độ môi trường cũng ảnh hưởng đến SLT. Nhiệt độ thích hợp đối với gia cầm
đẻ trứng là 14-22
0
C. Khi nhiệt độ thấp hơn nhiệt độ giới hạn thấp, gia cầm phải huy
động năng lượng để chống rét; nếu nhiệt độ cao hơn nhiệt độ giới hạn trên, gia cầm
thải nhiệt nhiều làm giảm SLT.
- Ánh sáng ảnh hưởng đến SLT qua thời gian chiếu sáng và cường độ chiếu sáng.
Yêu cầu thời gian chiếu sáng với gà đẻ là 12-16 giờ với cường độ chiếu sáng là 3,0-
3,5 W/m
2
. Ở nước ta, cường độ đẻ cao nhất vào khoảng 8-12 giờ, chiếm hơn 60-
70% (Nguyễn Mạnh Hùng và cs (1994) [18].
- Thay lông cũng biểu thị sự ảnh hưởng đến NST vì sau mỗi chu kỳ đẻ trứng sinh
11
học gia cầm nghỉ đẻ và thay lông. Trong điều kiện bình thường, lúc thay lông lần
đầu tiên là thời điểm quan trọng để đánh giá gia cầm đẻ tốt hay xấu. Những đàn gà

thay lông sớm, thời gian thay lông bắt đầu từ tháng 6-7 và quá trình thay lông diễn
ra chậm kéo dài 3-4 tháng là những đàn gà đẻ kém. Ngược lại, có những đàn gà thay
lông muộn thời gian thay lông bắt đầu từ tháng 10-11, quá trình thay lông lại diễn ra
nhanh là những đàn gà đẻ tốt. Đặc biệt ở một số đàn cao sản, thời gian nghỉ đẻ chỉ
4-5 tuần và đẻ lại ngay khi chưa hình thành xong bộ lông mới, có những con đẻ ngay
trong thời gian thay lông. Như vậy, thay lông liên quan mật thiết đến SLT của gia cầm.
Trong chăn nuôi có một yếu tố ảnh hưởng rất quan trọng đến hiệu quả kinh tế
suốt cả quá trình chăn nuôi là tác động của con người. Ngày nay, mô hình chăn nuôi
từng bước đã thay đổi, dù là cơ sở chăn nuôi lớn hay chăn nuôi nhỏ đều rất quan
tâm đến các tiến bộ kỹ thuật về mọi lĩnh vực trong chăn nuôi như: con giống, dinh
dưỡng, quy trình chăn nuôi …Dưới ảnh hưởng của công tác giống, điều kiện thức
ăn, nuôi dưỡng đã không ngừng nâng cao hiệu quả của chăn nuôi nói chung và chă
nuôi gia cầm nói riêng.
2.3.4. Khối lượng trứng
Roberts (dẫn theo Phan Cự Nhân (1998) [35], cho rằng giá trị trung bình về
KLT đẻ ra trong một chu kỳ là một tính trạng do nhiều gen có tác động cộng gộp
qui định, nhưng hiện còn chưa xác định rõ số lượng gen qui định tính trạng này. Sau
SLT, KLT là chỉ tiêu quan trọng cấu thành năng suất của đàn gà bố mẹ. Khi cho lai
hai dòng gia cầm có KLT lớn và bé, trứng của con lai thường có KL trung gian
(Khavecman (1972)[20].
Tính trạng KLT có hệ số di truyền cao, do đó có thể đạt được nhanh chóng
thông qua con đường chọn lọc (Kushner (1974)[21]. Ngoài các yếu tố về di truyền,
KLT còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố ngoại cảnh như chăm sóc, nuôi dưỡng, mùa vụ,
tuổi gia cầm. Trứng của gia cầm mới bắt đầu đẻ nhỏ hơn trứng gia cầm trưởng thành
20-30%. KLT mang tính đặc trưng của từng loài và mang tính di truyền cao. Hệ số di
truyền của KLT là 48-80% (Brandsch và Biilchel, Nguyễn Chí Bảo dịch (1978) [7].
12
Theo Nguyễn Văn Thiện (1995) [37], hệ số di truyền về KLT của gà là 60-74%.
Trong cùng giống, cùng đàn, nhóm có KLT lớn nhất hoặc bé nhất đều cho tỷ lệ nở
thấp. Trứng gia cầm non cho tỷ lệ nở thấp, KLT lớn thì sẽ kéo dài thời gian ấp nở.

2.3.5. Khả năng thụ tinh và ấp nở
Kết quả thụ tinh là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá về khả năng sinh sản
của con trống và con mái. Tỷ lệ thụ tinh phụ thuộc vào nhiều yếu tố như tuổi, tỷ lệ
trống mái, mùa vụ, dinh dưỡng, chọn đôi giao phối,
Tỷ lệ nở là một chỉ tiêu đánh giá sự phát triển của phôi, sức sống của gia cầm
non. Đối với những trứng có chỉ số hình thái chuẩn, KL trung bình của giống sẽ cho
tỷ lệ ấp nở cao nhất.
Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ ấp nở như: chất lượng trứng, thời
gian và chế độ bảo quản trứng, chế độ độ ấp (nhiệt độ, ẩm độ, thông thoáng, đảo
trứng, ). Hệ số di truyền về tỷ lệ trứng thụ tinh là 11-13%, hệ số di truyền của tỷ lệ
ấp nở 10-14% (Nguyễn Văn Thiện (1995) [37]).
2.4. Khả năng sinh trưởng, cho thịt và tiêu tốn thức ăn của gia cầm
2.4.1. Khả năng sinh trưởng
Trần Đình Miên, Nguyễn Kim Đường (1992) [29] sinh trưởng là quá trình
tích lũy hữu cơ do đồng hóa và dị hóa, là sự tăng chiều cao, chiều dài, bề ngang,
khối lượng của các bộ phận và toàn bộ cơ thể con vật trên cơ sở tính chất di truyền
của đời trước. Sinh trưởng là sự tích lũy dần các chất, chủ yếu là protein nên tốc độ
và khối lượng tích lũy các chất, tốc độ và sự tổng hợp protein cũng là tốc độ hoạt
động của các gen điều khiển sự sinh trưởng của cơ thể. Đối với gia cầm, sự sinh
trưởng được chia làm hai giai đoạn chính: thời kì hậu phôi và thời kì trưởng
thành.Như vậy, sinh trưởng sẽ thông qua 3 quá trình: phân chia tế bào để tăng số
lượng, tăng thể tích của tế bào và tăng thể tích giữa các tế bào. Khi nghiên cứu về
sinh trưởng không thể không nói đến phát dục. Phát dục là quá trình thay đổi về chất
tức là tăng thêm và hoàn chỉnh các tính chất, chức năng của các bộ phận của cơ thể.
13
Phát dục của cơ thể con vật hình thành từ khi trứng thụ tinh, trải qua nhiều giai đoạn
phức tạp cho đến khi trưởng thành.
Cách đánh giá khả năng sinh trưởng
Các nhà chọn giống gia cầm có khuynh hướng sử dụng cách đo đơn giản và
thực tế: khối lượng ở từng thời kỳ dù chỉ là một chỉ số sử dụng quen thuộc nhất về

sinh trưởng (tính theo tuổi) song chỉ tiêu này không nói lên được mức độ khác nhau
về tốc độ sinh trưởng trong một thời gian. Đồ thị khối lượng còn gọi là đồ thị sinh
trưởng tích luỹ. Khối lượng thường được theo dõi theo tuần tuổi.
Để đánh giá khả năng sinh trưởng chúng ta còn sử dụng tốc độ sinh trưởng
tuyệt đối và tốc độ sinh trưởng tương đối.
- Sinh trưởng tuyệt đối: là sự tăng lên về khối lượng cơ thể trong khoảng thời gian
giữa hai lần khảo sát (TCVN 2.39 (1977) [51]). Đồ thị sinh trưởng tuyệt đối có dạng
parabol, sinh trưởng tuyệt đối thường tính bằng g/con/ngày hoặc g/con/tuần.
- Sinh trưởng tương đối: là tỷ lệ phần trăm tăng lên của khối lượng cơ thể từ lúc kết
thúc khảo sát so với lúc bắt đầu khảo sát (TCVN 2.40 (1977) [52]). Đồ thị sinh
trưởng tương đối có dạng hyperbol. Sinh trưởng tương đối giảm dần qua các tuần
tuổi.
- Đường cong sinh trưởng: Đường cong sinh trưởng biểu thị tốc độ sinh trưởng của
vật nuôi. Theo Chambers (1990) [61], đường cong sinh trưởng của gà có 4 điểm
chính gồm 4 pha sau:
+ Pha sinh trưởng tích luỹ tăng tốc độ nhanh sau khi nở.
+ Điểm uốn của đường cong tại điểm có tốc độ sinh trưởng cao nhất.
+ Pha sinh trưởng có tốc độ giảm dần sau điểm uốn.
+ Pha sinh trưởng tiệm cận với giá trị khi gà trưởng thành.
Thông thường, người ta sử dụng khối lượng ở các tuần tuổi, thể hiện bằng đồ thị sinh
trưởng tích luỹ và được thể hiện đơn giản theo đường cong sinh trưởng.
14
Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng của gà:
- Dòng/giống: Letner và Asmundsen (1938) [68] đã so sánh tốc độ sinh trưởng của các
giống gà Leghorn trắng và Plymouth Rock tới 24 tuần tuổi và cho rằng gà Plymouth
Rock sinh trưởng nhanh hơn gà Leghorn ở 2-6 tuần tuổi và sau đó không có sự khác
nhau. Nguyễn Mạnh Hùng và cs (1994) [18] cho biết sự khác nhau về KL giữa các
giống gia cầm rất lớn, giống gà kiêm dụng nặng hơn gà hướng trứng khoảng 500-700g
(13-30%). Khi nghiên cứu tốc độ sinh trưởng trên 3 dòng thuần (V1, V3, V5) của
giống gà Hybro HV8, Trần Long (1994) [25] cho rằng tốc độ sinh trưởng ở 3 dòng

hoàn toàn khác nhau ở 42 ngày tuổi.
Theo Godfrey và Joap (1952) [64], sự di truyền các tính trạng về khối lượng cơ
thể do 15 cặp gen tham gia trong đó ít nhất có một gen về sinh trưởng liên kết giới tính
(nằm trên nhiễm sắc thể X). Vì vậy, có sự sai khác về khối lượng cơ thể giữa con trống
và con mái trong cùng một giống (gà trống nặng hơn gà mái 24-32%).Nguyễn Ân và
cs (1983)[2] cho biết hệ số di truyền về khối lượng cơ thể ở 3 tháng tuổi ở gà là
26-50%. Kết quả nghiên cứu của Kushner (1978)[22], hệ số di truyền khối lượng
của gà 1 tháng tuổi là 33%; 2 tháng tuổi là 46%; 3 tháng tuổi là 43%. Cook R.E
và cs (1956)[62] xác định hệ số di truyền 6 tuần tuổi về khối lượng là 50%.
- Giới tính: Các loại gia cầm khác nhau về giới tính thì có tốc độ sinh trưởng khác
nhau, con trống lớn nhanh hơn con mái, ngoại trừ chim cút (con trống nhỏ hơn con
mái). Theo Jull (1923, dẫn theo Phùng Đức Tiến (1996) [43]), gà trống có tốc độ
sinh trưởng nhanh hơn gà mái 24-32%. Tác giả cũng cho biết, sự sai khác này do
gen liên kết giới tính, những gen này ở gà trống (2 nhiễm sắc thể giới tính) hoạt
động mạnh hơn gà mái (1 nhiễm sắc thể). North M.O và Bell P.D (1990)[69] cho
biết khối lượng gà con 1 ngày tuổi tương quan dương với khối lượng trứng, song
không ảnh hưởng đến khối lượng cơ thể gà lúc thành thục và cường độ sinh trưởng
ở 4 tuần tuổi. Lúc mới nở gà trống nặng hơn gà mái 1%, tuổi càng tăng sự khác
nhau càng lớn, ở 2 tuần tuổi hơn 5%; 3 tuần tuổi hơn 11%; 8 tuần tuổi hơn 27%.
- Tốc độ mọc lông: Trong cùng một giống, cùng giới tính ở gà có tốc độ mọc lông
15
nhanh cũng có tốc độ sinh trưởng và phát triển tốt hơn. Kushner (1974)[21] cho
rằng tốc độ mọc lông có quan hệ chặt chẽ tới tốc độ sinh trưởng, thường gà lớn
nhanh thì mọc lông nhanh và đều hơn ở gà chậm lớn. Hayer và Carthy (1970)[65]
đã xác định trong cùng một giống thì gà mái mọc lông đều hơn gà trống và tác giả
cho rằng ảnh hưởng của hoocmon có tác dụng ngược chiều với gen liên kết giới tính
qui định tốc độ mọc lông.
- Chế độ dinh dưỡng: Sinh trưởng là tổng số của sự phát triển các phần cơ thể như thịt,
xương, da. Tỷ lệ sinh trưởng các phần phụ thuộc vào độ tuổi, tốc độ sinh trưởng và phụ
thuộc vào mức độ dinh dưỡng (Chambers (1990) [61]). Mức độ dinh dưỡng không chỉ

ảnh hưởng tới sự phát triển các bộ phận của cơ thể mà còn ảnh hưởng tới sự phát triển
của mô này đối với mô khác.
Cũng theo tài liệu của Chambers (1990) [61], có rất nhiều gen ảnh hưởng đến
sự sinh trưởng và phát triển của gà. Có gen ảnh hưởng đến sự sinh trưởng, phát triển
nói chung, có gen ảnh hưởng đến sự phát triển nhiều chiều, có gen ảnh hưởng đến
nhiều tính trạng, có gen thì lại ảnh hưởng đến một vài tính trạng riêng. Sự khác nhau
giữa khối lượng cơ thể còn do giới tính, gà trống nặng cân hơn gà mái khoảng 24-
32%. Những sai khác này cũng được biểu hiện về cường độ sinh trưởng, được quy
định không phải do hoocmon sinh dục mà do các gen liên kết với giới tính. Những
gen này ở gà trống hoạt động mạnh hơn gà mái.
Như vậy, tốc độ sinh trưởng liên quan chặt chẽ tới điều kiện nuôi dưỡng đàn
bố mẹ, chế độ chăm sóc nuôi dưỡng đàn gà, điều kiện tiểu khí hậu chuồng nuôi,
điều kiện phòng bệnh. Ở nước ta, điều kiện khí hậu ở hai vụ Đông-Xuân và Hè-Thu
cũng gây ảnh hưởng tới tốc độ sinh trưởng. Nhiệt độ cao làm cho khả năng thu nhận
thức ăn giảm dẫn đến sự gia tăng khối lượng kém.
2.4.2 . Khả năng cho thịt
Khả năng cho thịt của gà được đánh giá trên hai góc độ: năng suất thịt và chất
lượng thịt. Chất lượng thịt được phản ánh qua thành phần hóa học của thịt. Các chỉ
tiêu đánh giá thường là hàm lượng vật chất sấy khô, tỷ lệ protein, lipit, khoáng tổng
16
số … Vật chất khô thể hiện độ chắc cuả thịt, protein thể hiện giá trị dinh dưỡng, mỡ
thể hiện độ béo của thịt, khoáng tạo nên độ đậm đà. Giá trị dinh dưỡng của thịt còn
phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như: hàm lượng và tỷ lệ các axit amin, khoáng,
DHA, cholesterol…
2.4.3. Tiêu tốn thức ăn
Cơ sở tiêu tốn thức ăn/1kg tăng khối lượng là tỷ lệ chuyển hóa thức ăn để đạt
được tốc độ tăng trọng. Vì tăng trọng là một chức năng chính của quá trình chuyển
hóa thức ăn hay nói cách khác tiêu tốn thức ăn là hiệu suất tiêu tốn thức ăn trên kg
tăng khối lượng.
Chi phí thức ăn chiếm 70% giá thành sản phẩm. Tiêu tốn thức ăn/kg tăng

khối lượng càng thấp thì hiệu quả kinh tế càng cao và ngược lại. Đối với gà thịt,
thưc ăn ăn vào một phần để duy trì và một phần dùng để tăng khối lượng. Khi hai cơ
thể có cùng một khối lượng xuất phát để đạt được khối lượng nhất định nào đó thì
cơ thể sinh trưởng chậm mất thời gian dài hơn, trong thời gian dài hơn đó gà tăng
trọng chậm phải mất năng lượng duy trì cao hơn nhiều so với gà tăng trọng nhanh,
điều đó dẫn tới tiêu tốn thức ăn cao. Mặt khác, tăng trọng nhanh thì cơ thể đồng hóa
và dị hóa tốt hơn, khả năng trao đổi chất tăng cường hơn, làm hiệu quả sử dụng thức
ăn cao hơn, dẫn đến tiêu tốn thức ăn thấp. Chambers và cs (1984) [60] đã xác định
được hệ số tương quan di truyền giữa khối lượng cơ thể và tăng trọng với tiêu tốn
thức ăn là rất cao (0,5-0,9), còn tương quan di truyền giữa sinh trưởng và chuyển
hóa thức ăn là âm và thấp từ -0,2 đến -0,8. Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng còn
phụ thuộc vào độ tuổi, khi con vật còn non thì chỉ tiêu này còn thấp, càng về sau
lượng thức ăn tiêu tốn/1kg khối lượng càng cao.
Tiêu tốn thức ăn là một chỉ tiêu có ý nghĩa quyết định đến hiệu quả kinh tế
trong chăn nuôi gà thịt. Do vậy, có rất nhiều công trình nghiên cứu về chế độ dinh
dưỡng nhằm xác định chế độ dinh dưỡng thích hợp cho các tổ hợp lai, từ đó phát
huy tiềm năng sinh trưởng và đem lại hiệu quả kinh tế cao.
3. Cơ sở khoa học của công tác lai tạo
17
3.1. Cơ sở khoa học của việc lai kinh tế
Trong chăn nuôi thường có hai hướng để nâng cao năng suất vật nuôi, đó là:
- Cải tiến bản chất di truyền của vật nuôi
- Cải tiến phương pháp chăn nuôi
Bên cạnh việc nhân giống thuần chủng để cải tiến bản chất di truyền của vật
nuôi còn có con đường lai tạo. Cho đến nay, việc tạo ra các loại sản phẩm như: thịt,
trứng, sũa… phần lớn được sản xuất từ các giống lai tạo, nhằm sử dụng ưu thế lai
làm cho sức sống của con vật, sức đề kháng đối với bệnh tật, cũng như các tính
trạng về kinh tế được nâng cao.
Trong các phương pháp lai: lai kinh tế, lai luân chuyển, lai cải tiến, lai cải tạo,
lai phối hợp… thì lai kinh tế là phương pháp phổ biến nhất.Lai kinh tế là lai giữa

các cá thể thuộc các dòng khác nhau của giống, giữa hai giống khác nhau hoặc
thuộc hai giống khác loài(chủng) để sử dụng con lai F1 làm sản phẩm, con lai này
không thể làm giống mà chỉ lấy sản phẩm. Lai kinh tế được coi là lai công nghiệp vì
con lai F1 có thể được sản xuất hàng loạt có chất lượng đồng đều trong thời gian
tương đối ngắn. Lai kinh tế được tiến hành nhằm sử dụng ưu thế lai vì ưu thế lai
nhằm làm tăng mức tính trạng trung bình giữa hai giống gốc, hai dòng thuần, nhất là
những tính trạng số lượng, con lai có thể mang các tính trạng trội của giống gốc bố
mẹ, có thể phối hợp được đặc tính của bố mẹ, có thể giữ nguyên tính bảo thủ của
một trong hai giống gốc.
Để tạo các tổ hợp lai có năng suất cao người ta có thể tiến hành lai kinh tế
đơn giản (chỉ gồm hai giống, hai dòng) hoặc lai phức tạp (gồm ba giống, ba dòng trở
lên). Trong lai kinh tế, người ta quan tâm đến khả năng phối hợp giữa các cá thể
trong các dòng, thường cho lai các loại gen có khả năng kết hợp các đặc điểm trong
cùng một cơ thể sinh vật. Vì vậy, phải chọn những dòng trong các giống hoặc các
dòng trong cùng một giống có khả năng kết hợp.
18
Đối với gia cầm cho giao phối giữa hai hay nhiều dòng trong cùng một giống
hay giữa nhiều giống sẽ phối hợp được nhiều đặc tính có lợi, vì vậy mỗi chức năng
sinh lý, sinh hóa của chúng được tăng cường và do đó năng suất càng được tăng lên.
Trong chăn nuôi gia cầm, tùy theo mục đích khác nhau mà người ta sử dụng
lai đơn hay lai kép.Lai đơn là phương pháp lai kinh tế sử dụng ưu thế lai cao nhất.
Lai đơn thường được sử dụng khi lai giống gà địa phương với giống gà cao sản nhập
nội. Đây là phương pháp phổ biến để tạo ra gà kiêm thịt trứng hoặc trứng thịt, nhằm
tận dụng khả năng dễ nuôi, sức chống chịu cao của gà địa phương và khả ăng lớn
nhanh, sức đẻ cao, ấp nở tốt, khối lượng, sản lượng trứng cao của gà nhập nội.Lai
kép là phương pháp lai tạo ra gà thương phẩm cao sản trứng, thịt hiện nay. Lai kép
sử dụng ưu thế lai nhiều lần và tăng khả năng phối hợp. Lai kép có thể lai giữa ba,
bốn, sáu hoặc tám dòng, trong đó nhiều dòng đã là các dòng lai. Trong lai kép ngoài
việc sử dụng ưu thế lai với các gà thương phẩm người ta còn lợi dụng được các tính
trạng di truyền liên kết giới tính để phân biệt trống, mái một ngày tuổi thông qua tốc

độ mọc lông và màu lông.
3.2. Cơ sở khoa học của ưu thế lai
Theo Vũ Kính Trực (1992) [56] việc sử dụng ưu thế lai đúng ra được nghiên
cứu chú ý từ lâu trên 200 năm nay. Song, trong tài liệu khoa học danh từ “Ưu thế
lai” mới được làm quen từ năm 1914 do Sull (nhà di truyền học Mỹ) đề nghị sử
dụng. Ưu thế lai là hiện tượng sinh học, biểu hiện sự phát triển mạnh mẽ, của những
cá thể lai được tạo ra từ các cặp bố mẹ không cùng huyết thống. Con lai hơn hẳn bố
mẹ về sức sống, tốc độ sinh trưởng, khả năng sinh sản, chất lượng thịt… và những
đặc tính kinh tế có lợi khác. Để xác định mức độ biểu hiện ưu thế lai, các tác giả
như Johansson I. (1972) [19], Lasley J.F (1974) [23], Nguyễn Văn Thiện vcs
(1995) [38] cho rằng ưu thế lai là hiệu số giữa giá trị tính trạng của con lai với trung
bình của bố mẹ chúng và thường là vượt lên trung bình của bố mẹ.
M con lai > M mẹ + M bố
19
2
Theo Lasley J.F (1974) [23], ưu thể lai thường được thể hiện bằng giá trị % và tính
theo công thức sau:
H (%)=
F1 – (bố + mẹ)/2
x 100
(bố + mẹ)/2
Gần đây, các nhà khoa học trong chăn nuôi rất ít dùng công thức này vì nó
quá đơn giản, đặc biệt là nó đã bỏ qua ảnh hưởng của ngoại cảnh mẹ và ngoại cảnh
bố đối với con lai nên độ tin cậy rất thấp và thiếu sức thuyết phục.
Để tính được ưu thế lai một cách chính xác hơn, các nhà chăn nuôi thường
dùng công thức của tác giả Đặng Vũ Bình (2006) [6] sau đây:
1/2(AB +BA) - 1/2 (A+B)
H(%) = 100
1/2 (A+B)
Trong đó, H(%) là ưu thế lai

AB là giá trị kiểu hình trung bình của con lai bố A, mẹ B
BA là giá trị kiểu hình trung bình của con lai bố B, mẹ A
A là giá trị kiểu hình trung bình của giống (hoặc dòng) A
B là giá trị kiểu hình trung bình của giống (hoặc dòng) B
Để tính được ưu thế lai theo công thức này, người ta phải cho lai thuận và nghịch
(bố A, mẹ B và bố B, mẹ A). Cách tính này có độ chính xác cao, độ tin cậy lớn
nhưng phải làm rất kỳ công, tốn kém.
*Bản chất ưu thế lai có thể giải thích dựa trên ba giả thuyết sau:
Thuyết trội (Domiance): Những tính trạng số lượng như sức sống, khả năng
sinh sản… thường do nhiều gen điều khiển, sau quá trình tạo dòng chuyên hóa bằng
phương pháp cận huyết, các gen thường tập hợp dưới dạng đồng hợp tử trội hoặc
lặn. Các dòng thuần có thể có năng suất không cao, nhưng khi lai với nhau con lai
20
F1 có năng suất cao hơn trung bình của bố mẹ, đó là biểu hiện của ưu thế lai. Thế hệ
con lai sẽ được biểu hiện tác động của các gen trội, có thể từ bố hoặc từ mẹ so với
các gen lặn trương ứng trên cùng locut gen. Khi cha mẹ có quan hệ huyết thống
càng xa thì xác suất để mỗi cặp cha mẹ truyền lại cho con những gen trội khác nhau
càng tăng lên, từ đó tăng mức độ ưu thế lai.
Thuyết siêu trội (Overdominance): Tác động của các alen dị hợp tử lớn hơn
tác động của các alen đồng hợp tử trội và lặn. Trạng thái siêu trội biểu hiện rõ nhất ở
trạng thái dị hợp, sự tương tác giữa hai alen khác nhau có tác động lớn vào sự biểu
hiện của kiểu hình. Kết quả nghiên cứu của Hull (1973) [67] cho thấy cơ thể ở dạng
Aa phát triển mạnh hơn cơ thể ở dạng AA và aa. Ưu thế lai của cơ thể Aa thể thiện
là do mỗi alen trong quá trình tổng hợp sinh hóa đảm đương một chức năng ít nhiều
khác với alen cùng loại, kết quả là gây ánh hưởng bổ sung cho nhau, từ đó tăng hiệu
quả tác động.
Thuyết gia tăng tác động tương hỗ của các gen không cùng locut: tác
động tương hỗ của các gen không cùng locut cũng tăng lên. Ví dụ: đồng hợp tử AA
và BB chỉ có một loại tương hỗ giữa A và B, nhưng trong dị hợp tử Aa và Bb có 6
loại tác động tương hỗ: A-B-, a-b-, A-b-, a-B-, A-a, B-b. Trong đó A-a và B-b là tác

động tương hỗ giữa các gen cùng alen, còn 4 loại còn lại là tác động tương hỗ giữa
các gen không cùng alen.
Kết hợp cả ba giả thuyết chúng ta thấy dó là quan niệm về sự thay đổi trạng
thái hoạt động hóa sinh của hệ thống enzim,… trong cơ thể sống, đó là tính dị hợp
và tương tác với nhau của các cặp alen mới có ưu thế lai.
Theo Trần Đình Miên, Nguyễn Kim Đường (1992) [29] thì ưu thế lai phụ
thuộc vào hai yếu tố: trạng thái hoạt động của dạng dị hợp và sự khác nhau của hai
quần thể xuất phát. Mức độ ưu thế lai cao hay thấp còn phụ thuộc vào tương quan
dương hay âm giữa môi trường và kiểu di truyền. Ưu thế lai cao nhất ở đời F1 rồi từ
đó giảm dần, sự giảm ưu thế lai ở đời sau do có sự thay đổi trong sự tác động tương
hỗ và tương quan giữa các gen thuộc các locus khác nhau, hơn nữa biểu hiện của
21
tính trạng không chỉ chịu ảnh hưởng của điều kiện ngoại cảnh, hay nói cách khác
mức độ ưu thế lai cao hay thấp còn phụ thuộc vào sự tương quan âm hay dương
giữa môi trường và kiểu di truyền. Ưu thế lai thể hiện mức độ khác nhau và thường
được thể hiện ở các tính trạng số lượng, còn tính trạng chất lượng thì ít được thể
hiện. Các tính trạng có hệ số di truyền cao (như tốc độ mọc lông, thành phần hoá
học của thịt ) thì ít chịu ảnh hưởng của ưu thế lai.
Hiểu biết về bản chất di truyền của ưu thế lai giúp chúng ta dự đoán giá trị
giống của các tổ hợp lai khi chưa được khảo sát. Ví dụ, đối với một tính trạng mà
không có ảnh hưởng của mẹ, chúng ta có thể xác định được giống của tổ hợp lai đó:
Bảng 1. Ưu thế lai của các tổ hợp lai
Genotyp Giá trị giống = Trung bình giống bố - mẹ + Ưu thế lai
Giống A 10 = 10 + 0
Giống B 12 = 12 + 0
Giống C 16 = 16 + 0
Giống (AxB) 16 = 11 + 5
Giống A x (Bx C) 17 = 12 + 5
Giống A x (Ax B) ? = 10,5 + ?
Vậy ưu thế lai của tổ hợp A x (A x B) là bao nhiêu? Để xác định được ưu thế

lai của tổ hợp lai đó, trước hết chúng ta nắm vững bản chất di truyền của ưu thế lai.
Khi thế hệ con nhận hai gen từ hai giống khác nhau thì khoảng cách di truyền của
các gen sẽ lớn hơn. Nói cách khác, khoảng cách của các gen từ hai giống bao giờ
cũng lớn hơn so với từ một giống, khoảng cách di truyền càng xa thì ưu thế lai càng
lớn. Đó chính là bản chất của ưu thế lai.
- Sự biểu hiện của ưu thế lai trong chăn nuôi:
Ba biểu hiện của ưu thế lai:
22
+ Ưu thế lai cá thể (H
1
): Ưu thế lai do kiểu gen của chính con vật tạo nên.
+ Ưu thế lai của mẹ (H
m
): Ưu thế lai do kiểu gen mà mẹ con vật tạo nên thông qua
điều kiện ngoại cảnh cung cấp cho nó (ngoại cảnh mẹ).
+ Ưu thế lai của bố (H
b
): Ưu thế lai do kiểu gen mà bố con vật tạo nên thông qua
điều kiện ngoại cảnh cung cấp cho nó (ngoại cảnh bố). Ưu thế lai của bố không
quan trọng bằng ưu thế lai của mẹ.
Bố mẹ càng khác nhau, ưu thế lai càng cao. Ví dụ, theo Ronald O. B. ( 1993)
[70] cho biết khi sử dụng hệ thống lai luân chuyển của hai giống gia súc, gia cầm thì
tổ hợp lai sẽ có ưu thế lai là 67% trong khi đó lai luân chuyển 4 giống thì ưu thế lai
là 90%. Đối với các chỉ tiêu nuôi thịt, ưu thế lai dao động từ 6%-10% đối với trường
hợp lai giữa hai giống, trường hợp lai giữa ba giống ưu thế lai là 9%-13%.
Sự biểu hiện ưu thế lai trên cơ thể lai trong chăn nuôi rất đa dạng, khác nhau ở các
tính trạng. Sự ưu việt của con lai không chỉ biểu hiện bằng sự lớn hơn về giá trị của
tính trạng so với trung bình bố mẹ, mà còn biểu hiện bằng mức độ tối ưu của tính
trạng, sự biểu hiện ưu thế lai có thể phân làm các loại sau : (Nguyễn Ân và cộng sự
(1983) [2]), (Kushner K.F (1974) [21]), (Trần Đình Miên, Nguyễn Văn Thiện

(1995) [30])
+ Con lai F1 của những công thức lai xa khác giống vượt bố mẹ về thể chất, tuổi
thọ, sức làm việc, nhưng mất một phần hay mất hoàn toàn khả năng sinh sản. Điển
hình là trường hợp con La như đã nêu trên hay con Mullard (lai giữa vịt và ngan).
+ Con lai F1 vượt hơn trung bình của bố mẹ về khối lượng cơ thể và sức sống, có
khả năng sinh sản bình thường hoặc tốt hơn bố mẹ. Điển hình là trường hợp lai giữa
một số giống bò thịt hoặc một số giống lợn mà ở nước ta nhiều nhà khoa học đã
thực hiện.
+ Con lai F1 có khối lượng cơ thể chỉ ở mức trung gian, song khả năng sinh sản,
mức sống cao hơn hẳn bố mẹ. Điển hình là trường hợp lai giữa gà Leghorn trắng và
gà New Hampshire, gà Plymouth Rock và gà Australorp.
23
+ Con lai F1 biểu hiện ưu thế lai đặc biệt là trường hợp nếu xét về một tính trạng
riêng lẻ thì có kiểu di truyền trung gian nhưng sản phẩm cuối cùng một mặt nào đó
lại vượt hơn trung bình bố mẹ. Trường hợp này có thể xẩy ra ở bò, lợn, gà.
Tóm lại: trên cơ thể lai, ưu thế lai không biểu hiện đồng loạt ở tất cả các tính trạng,
trên tất cả các giai đoạn. Sự biểu hiện này còn phụ thuộc vào từng cặp lai cụ thể, các
yếu tố ngoại cảnh, giai đoạn phát triển và từng cá thể.
3.3 Các thành phần di truyền và ưu thế lai cấu thành sản phẩm
Các thành phần cơ bản cấu tạo nên giá trị thực của bất kì một tính trạng nào ở các tổ
hợp lai gồm: Di truyền cộng gộp trực tiếp (Ad), di truyền cộng gộp của bố (Ab), di
truyền cộng gộp của mẹ (Am), ưu thế lai trực tiếp (Dd), ưu thế lai của cá thể bố lai
(Db) và ưu thế lai của cá thể mẹ lai (Dm).
3.3.1 Các thành phần di truyền cấu thành sản phẩm:
Di truyền cộng gộp trực tiếp. Di truyền cộng gộp trực tiếp (Ad) là tỉ lệ gen
của mỗi giống thuần tham gia đóng góp trực tiếp cho mỗi cá thể tổ hợp lai. Tổng tỉ
lệ nguồn gen của tất cả các giống thuần trong mỗi hệ thống tạo tổ hợp lai luôn bằng
100%.
Di truyền cộng gộp của cá thể bố. Di truyền cộng gộp của cá thể bố (Ab) là tỉ
lệ nguồn gen của các giống ở vị trí làm bố đóng góp cho mỗi cá thể của tổ hợp lai

do chính bố đó tạo nên. Tổng tỉ lệ nguồn gen của tất cả các bố trong mỗi hệ thống
tạo tổ hợp lai luôn bằng 100%.
Di truyền cộng gộp của cá thể mẹ. Di truyền cộng gộp của mẹ (Am) là tỉ lệ
nguồn gen của mỗi cá thể giống ở vị trí làm mẹ đóng góp cho tổ hợp lai do chính cá
thể mẹ đó đẻ ra. Tương tự như di truyền cộng gộp của bố, tổng tỉ lệ nguồn gen của
các cá thể giống đóng vai trò làm mẹ cũng bằng 100%.
3.3.2 Các thành phần cơ bản về ưu thế lai
Từ trước đến nay, ở nước ta đã có nhiều công trình nghiên cứu về ưu thế lai,
khẳng định các cá thể lai của gia súc đều có khả năng chống chịu bệnh, năng suất
24
vật nuôi, chất lượng sản phẩm tốt hơn và hiệu quả kinh tế cao hơn so với trung bình
bố mẹ thuần chủng tạo nên chúng (Phan Cự Nhân (1994) [33]; Nguyễn Văn Thiện,
(1995) [37]). Song, các công trình này chủ yếu mới chỉ nghiên cứu ưu thế lai tổng
cộng mà chưa nghiên cứu sâu từng thành phần của ưu thế lai ở các tổ hợp lai. Vì
vậy, các công trình đó chưa xác định được mức độ đóng góp trực tiếp của chính mỗi
cá thể lai là bao nhiêu (%), đóng góp của cá thể bố lai là bao nhiêu (%) và cá thể mẹ
lai là bao nhiêu (%) cho mỗi tổ hợp lai. Vì lẽ đó dẫn đến một hạn chế lớn trong
ngành chăn nuôi ở nước ta, đó là chưa biết chính xác nên dùng giống gì làm bố,
giống gì làm mẹ và hệ thống lai nào để khi lai tạo từng tổ hợp lai để có ưu thế lai tốt
nhất đối với mỗi tính trạng sản xuất trong từng dòng giống vật nuôi.
Rõ ràng, để hiểu được bản chất tại sao các tổ hợp lai thường cho năng suất tốt
hơn so với trung bình bố mẹ tạo nên chúng, trước hết cần phải đi sâu tìm hiểu giá trị
đóng góp cho từng tính trạng của mỗi tổ hợp lai bao gồm những thành phần ƯTL
nào tạo nên. Trong chăn nuôi nói chung, có 3 loại ƯTL chính thường được đề cập
đến, đó là: ƯTL của cá thể lai (ƯTL trực tiếp), ƯTL của mẹ lai và ƯTL của bố lai.
Ưu thế lai trực tiếp. Ưu thế lai trực tiếp (Dd) là thành phần ƯTL do chính cá
thể lai đó tạo nên. ƯTL trực tiếp là tỉ lệ đóng góp của mỗi giống thành viên trong chính
bản thân tổ hợp lai đó. ƯTL trực tiếp cao nhất ở các tổ hợp lai có 100% nguồn gen là dị
hợp tử. Các tổ hợp lai có 100% ƯTL trực tiếp là tổ hợp lai F
1

, tổ hợp lai 3 giống tạo
thành từ lần đầu. Trong khi đó, ƯTL trực tiếp của các tổ hợp lai F
2
, F
3
, lai trở lại, tỉ lệ
đóng góp của thành phần ƯTL trực tiếp là một tỉ lệ tương ứng với giá trị ƯTL của tổ
hợp lai đó.
Ưu thế lai của bố lai và mẹ lai. ƯTL của bố lai (Db) và mẹ lai (Dm) là thành
phần ƯTL do cá thể bố lai và mẹ lai đóng góp vào cho tổ hợp lai của chúng sinh ra.
ƯTL của cá thể bố lai và mẹ lai chỉ có khi con lai được tạo ra từ bố và mẹ là các tổ
hợp lai. Dĩ nhiên, trong trường hợp bố hoặc mẹ là thuần chủng thì ƯTL của bố hoặc
mẹ đóng góp cho con lai của chúng là 0%.
Trong chăn nuôi nói chung, hầu hết các tổ hợp lai 3 giống thường chỉ có ƯTL
25

×