Tải bản đầy đủ (.docx) (7 trang)

viện nghiên cứu hạt nhân đà lạt

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.3 MB, 7 trang )

Viện Nghiên Cứu Hạt Nhân Đà Lạt
I:Lịch sử thành lập và phát triển:
-1960: Khởi công xây dựng lò TRIGA Mark II.
12/1962: Hoàn thành công trình
26/2/1963: Lò TRIGA Mark II đạt tới hạn.
-04/3/1963: Khánh thành lò TRIGA, công suất danh địng 250 kW.
-1963-1968: Lò phản ứng hoạt động với 3 mục đích chính là huấn luyện,
nghiên cứu va sản xuất đồng vị.
-1968-1975: Lò phản ứng ở trạng thái dừng.
-1974-1975: Tháo dỡ các thanh nhiên liệu và vận chuyển về Hoa Kỳ.
-9/10/1979: Liên xô (cũ) và Việt Nam ký hiệp định khôi phục và mở
rộng lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt.
-15/3/1982: Khởi công xây dượng và nâng cấp lò phản ứng hạt nhân Đà
Lạt.
-01/11/1983: Lò phản ứng hạt nhân đạt tới hạn.
-20/3/1984: Khánh thành công trình khôi phục và mở rộng lò phản ứng
hạt nhân Đà Lạt, công suất danh định 500 kW.
-3/1984 đến nay: Lò phản ứng hoạt động cho các mục đích: sản xuất
đồng vị phóng xạ, phân tích kích hoạt notron, nghiên cứu cơ bản và ứng
dụng, triển khai các tiến bộ KHKT hạt nhân vào các nghành kinh tế - xã
hội, huấn luyện và đào tạo cán bộ.
II:Vị trí:
-Viện Nghiên cứu Hạt nhân Đà Lạt là một cơ quan nghiên cứu
thuộc Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam, nằm tại số 1 đường
Nguyên Tử Lực, thành phố Đà Lạt.Vào năm 1961,chính quyền Việt
Nam Cộng hòa cho thành lập Trung tâm Nghiên cứu Nguyên tử Đà Lạt
tại một khu vực có diện tích 21 hecta bên đường Nguyên Tử Lực, phía
đông bắc trung tâm Đà Lạt.
Hình 1.Viện hạt nhân đà lạt
III:Chức năng:
-Với thông lượng nơtron cao so với công suất của lò, thông lượng nơtron


nhiệt đạt 2x10
13
n.cm
-2
.s
-1
tại hốc chiếu trung tâm vùng hoạt và khoảng
4x1012 n.cm
-2
.s
-1
tại các hốc chiếu mẫu của mâm quay nằm trong vành
phản xạ ở phía ngoài vùng hoạt, LPƯ được sử dụng để chiếu xạ mẫu
theo các phản ứng (n, g) để nghiên cứu và điều chế nhiều loại đồng vị và
dược chất phóng xạ. 23 năm qua, gần 3.000 Ci đồng vị phóng xạ các loại
đã được ngành y tế sử dụng cho mục đích chẩn đoán và điều trị bệnh,
trong đó có thể kể đến: 131I dạng dung dịch tiêm và viên con nhộng,
32P dạng tấm áp và dung dịch, máy phát đồng vị 99mTc từ 99Mo, dung
dịch 51Cr, 153Sm, các loại KIT invivo và invitro,…phục vụ chẩn đoán
và điều trị bệnh cho hàng trăm ngàn lượt bệnh nhân mỗi năm.
-Đồng vị phóng xạ cũng được sử dụng để nghiên cứu đánh giá các quá
trình tự nhiên như hiện tượng trầm tích và sa bồi của các công trình thủy
lợi và thủy điện, nghiên cứu quá trình xói mòn đất, mất dinh dưỡng
đất , điển hình là các nghiên cứu đánh giá sự di chuyển bùn cát trong
luồng tàu Cảng Hải Phòng, Cảng Định An, nghiên cứu lựa chọn vị trí
các bãi đổ bùn cát phục vụ cho công tác duy tu, nạo vét luồng tàu; khảo
sát bồi lắng các lòng hồ thủy điện Trị An, thủy điện Thác Mơ,…
IV:Sơ đồ hệ thống công nghệ lò phản ứng:
Hình 2:Sơ đồ hệ thống lò phản ứng
Hình 3:Mặt cắt đứng lò

phản ứng
Hình 4:Sơ đồ bố trí vùng hoạt động lò phản ứng
Hình 5:Mặt cắt ngang của lò phản ứng
V:Các quy trình công nghệ và ứng dụng:
Hình 6:Sản xuất và cung ứng đồng vị phóng xạ
-Các ứng dụng của viện hạt nhân được sử dụng nhiều vào công tác phục
vụ nhu cầu của ngành y tế,phục vụ nhu cầu của ngành công nghiệp,phát
triển các kỹ thuật phân tích hạt nhân,nghiên cứu các quá trình trong tự
nhiên,nghiên cứu và bảo vệ môi trường,ứng dụng kỹ thuật hạt nhân
trong khử trùng,bảo quản và biến tính vật liệu,ứng dụng kỹ thuật hạt
nhân trong nông nghiệp và sinh học,dịch vụ đo liều bức xạ,thiết kế,chế
tạo các thiết bị điện tử hạt nhân,phát triển năng lượng hạt nhân phục vụ
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
VI:Kết luận và kiến nghị:
-Các công nghệ của Viện hạt nhân là những công nghệ hiện đại,phục vụ
tốt cho việc sản xuất đồng vị phóng xạ,đáp ứng được nhu cầu cần thiết
trong công tác phục vụ cho nền công nghiệp và nông nghiệp của Đất
nước.
-Kiến nghị: cần phải đảm bảo về thời gian bảo trì cho máy móc,tránh
tình trạng bị rò rỉ phóng xạ ra môi trường,gây ảnh hưởng nghiêm trọng
đến con người và môi trường xung quanh.

×