©
1
GIÁO TRÌNH MÔ PHỎNG TIỀN LÂM SÀNG
Mục lục:
1. Giới Thiệu Môn Mô Phỏng Nha Khoa 2
2. Đại Cương Về Mô Phỏng Nha Khoa 4
3. Hệ Thống Micromotor Nha Khoa 7
4. Hệ Thống Micromotor Ewl-4910/4965 8
5. Sử Dụng Và Quản Lý Các Loại Mũi Khoan Dùng Trong Nha Khoa 15
6. Giao Tiếp Trong Nha Khoa 30
7. Nghệ Thuật Giao Tiếp Với Bệnh Nhân 33
8. Cách Hỏi Để Làm Bệnh n 38
9. Hướng Dẫn Sử DụngTay Khoan Super Torque 652 D 40
10. Cách Tổ Chức Một Phòng Khám Và Điều Trò Nha Khoa 43
©
2
GIỚI THIỆU MÔN MÔ PHỎNG NHA KHOA
I. MỤC TIÊU MÔN HỌC
:
1. Thực hiện đúng tư thế làm việc của người Bác só RHM trong thực hành MPNK.
2. Thao tác đúng các kỹ thuật điều trò nha khoa trên mô hình thực tập.
3. Thăm khám răng miệng một cách có hệ thống trên mô hình và trên người.
4. Đóng vai đúng vai trò của người Bác só và đúng tình huống của bệnh nhân.
5. Sắp xếp tổ chức được nơi làm việc của Nha só. Bảo trì được máy móc thiết bò.
6. Đóng vai đúng trong xử lý các trường hợp cấp cứu răng hàm mặt.
7. Thực hiện được các vấn đề mà người BS cần lưu ý khi giao tiếp với BN.
II. NỘI DUNG CHƯƠNG TRÌNH
:
BỘ MÔN MÔ PHỎNG NHA KHOA
Tổng số giờ giảng
STT
Các chứng chỉ – học phần
LT TH
1
2
3
• Mô phỏng Tổng quát (MP. 1)
• Mô phỏng Tiền lâm sàng (MP. 2)
• Mô phỏng Lâm sàng (MP. 3)
Tổng cộng:
15
15
45
489 *
51
585
1. HỌC PHẦN MÔ PHỎNG TỔNG QUÁT ( MP. 1 )
Mục tiêu
Sau khi học xong học phần, Sinh viên có khả năng:
1/ Trình bày được các đặc điểm của phương pháp mô phỏng trong Nha khoa.
2/ Giải thích được những đặc điểm và yêu cầu về HLH lao động trong NK
3/ Trình bày và quản lý, sử dụng được các trang thiết bò, dụng cụ và vật liệu ở
Labo MP. TLS.
4/ Trình bày và thực hiện được các kỹ thuật căn bản trong thực hành mô phỏng
Nha khoa.
Đối tượng
: - Lớp RHM. 3 (Học kỳ. II)
©
3
2. HỌC PHẦN MÔ PHỎNG TIỀN LÂM SÀNG (MP. 2)
Các bộ môn tham gia:
Nha chu, Nhổ răng–Tiểu phẫu thuật, Phục hình R, Chữa R, Nội nha, Chỉnh hình
răng mặt, Răng trẻ em.
Mục tiêu:
Sau khi học xong học phần, Sinh viên có khả năng:
1/ Sử dụng được các trang thiết bò, dụng cụ và vật liệu ở Labo MP. TLS.
2/ Thực hiện được các yêu cầu về hợp lý hoá lao động trong Nha khoa.
3/ Liệt kê được những đặc điểm và thực hiện được các bài thực hành chuyên biệt về
Labo mô phỏng tiền lâm sàng.
Đối tượng
: - Lớp RHM. 4 (Học kỳ. I và II)
- Lớp RHM. 3 (Học kỳ. II)
3. HỌC PHẦN MÔ PHỎNG LÂM SÀNG ( MP. 3 )
Các bộ môn tham gia:
Bệnh học miệng, Nha chu, Nhổ răng–Tiểu phẫu thuật, Cắn khớp, Phục hình R,
Răng trẻ em.
Mục tiêu
:
Sau khi học xong học phần, Sinh viên có khả năng:
1. Sử dụng được các trang thiết bò cơ bản để khám và điều trò Nha khoa.
2. Thực hiện được các thao tác về khám trong và ngoài miệng.
3. p dụng được các kỹ thuật căn bản của phương pháp mô phỏng để thực hiện các bài
tập chuyên biệt ở phần mô phỏng lâm sàng và lâm sàng
4. Thực hành giao tiếp và thực hiện được một số thủ thuật điều trò Nha khoa trên người.
Đối tượng
: - Lớp RHM. 4 (Học kỳ. I )
©
4
ĐẠI CƯƠNG VỀ MÔ PHỎNG NHA KHOA
MỤC TIÊU BÀI GIẢNG
:
1. Đònh nghóa được Mô phỏng trong Nha khoa.
2. Nêu được các yêu cầu của mô hình mô phỏng trong Nha khoa.
I/ GIỚI THIỆU MÔN MÔ PHỎNG NHA KHOA:
- Từ lâu Phương pháp Mô phỏng được xem như một phương pháp học tập cơ bản trong
giáo dục và đào tạo để phát triển kỹ năng thuộc về khái niệm (Conceptuel), về tâm thần
vận động (Psychomotor) với một số lý do rất hiển nhiên là:
• Bảo đảm an toàn cho người đang học và đối tượng thực hành.
• Hạn chế hư hỏng trang thiết bò, dụng cụ.
• Giúp đạt được từng phần kỹ năng đối với các công việc phức tạp.
- Tuy nhiên người ta thường quan niệm chỉ có thể đạt được qua phương pháp mô
phỏng các kiến thức và kỹ năng thuộc mức độ thấp và các hình thức mô phỏng thường
được sử dụng là trò chơi đóng vai (Role play) và thực hành trên mô hình tại lớp. Ngày
nay phương pháp mô phỏng được quan tâm nhiều hơn, đặc biệt từ khi quan niệm học tập
tương tác (Inter-active learning) bắt đầu thònh hành và có sự xuất hiện của các phương
pháp mô phỏng sư phạm tinh vi nhờ những tiến bộ trong Tin học tạo ra.
- Từ khi được hình thành (1942), Phân ban Nha khoa Đại học Y Hà nội đã sử dụng
phương pháp mô phỏng trên mô hình trong giảng dạy tạo lỗ trám.
- Trường đại học Nha khoa Sài gòn, từ khi thành lập (1965), đã có một Labo Tiền
lâm sàng, sử dụng các phương tiện giảng dạy và thực tập được xem là tiên tiến vào thời
đó.
- Sau năm 1975, Khoa RHM tiếp tục sử dụng các Labo ấy trong điều kiện có nhiều
thiếu thốn và không được nâng cấp. Có nhiều “cải tiến” đã được đề ra và việc thực tập
TLS, ngày càng xa rời thực tế Lâm sàng.
- Từ năm 1995 trở lại đây, vấn đề thực tập ở Labo TLS đã được xem xét lại trong
điều kiện các phương tiện mô phỏng đã có nhiều đổi mới trên thế giới. Đòi hỏi về cải tổ
việc dạy và học ở tất cả các khâu Labo - Tiền lâm sàng - Lâm sàng trở nên cấp thiết đối
với thực hành toàn diện trong đào tạo và đào tạo liên tục Bác só RHM.
- Ở Khoa RHM, việc thành lập Bộ môn Mô phỏng Nha khoa bắt đầu từ năm học
1998-1999. Sau này đổi thành Khu Thực hành TLS.
©
5
II/ ĐỊNH NGHĨA MÔ PHỎNG TRONG ĐÀO TẠO NHA KHOA:
Nếu chỉ đònh nghóa Mô phỏng là tất cả những tình huống mà trong đó các mô
hình được sử dụng để hỗ trợ cho việc dạy và học trong Nha khoa thì chỉ mới chú ý
đến phần hình thức của phương pháp mà chưa nói hết được ý nghóa sư phạm của nó. Có
thể nói Mô phỏng là tình huống dạy và học mà trong đó việc bảo đảm các yếu tố an toàn
và kinh tế hay tính chất phức tạp của công việc, đòi hỏi phải thông qua một quy trình mô
phỏng (Simulation process) và / hoặc phải sử dụng mô hình mô phỏng (Simulator).
Cốt yếu của Mô phỏng là làm giống như việc thật hay một phần của việc thật để
phát triển hay để học một kỹ năng nhằm làm biến đổi hoặc tác động trên việc thật
đó.
Người học cần đi vào bên trong vấn đề, nhìn thấy, cảm nhận được vấn đề và phải
hành động như một người sẽ phải thực hiện thao tác, chứ không phải chỉ nhìn vấn đề như
một quan sát viên. Như vậy mới có thể tiến từ “chưa biết việc” đến “biết việc” rồi
“thạo việc”. Phải học tập một cách tích cực chứ không phải tiếp nhận sự giảng dạy
một cách thụ động.
III/ VỊ TRÍ CỦA PHƯƠNG PHÁP MÔ PHỎNG TRONG GIÁO DỤC
NHA KHOA
:
Phương pháp mô phỏng không chỉ giới hạn cho việc huấn luyện thao tác mà còn
có thể sử dụng để giáo dục các kỹ năng thuộc về truyền thông, giải quyết vấn đề, xây
dựng chiến lược quản lý, quản lý hồ sơ… tất cả các kỹ năng này đều có thể phân tích
được, học tập đến nhuần nhuyễn và đánh giá được.
Hầu hết các môn Nha khoa cơ bản như: Chữa răng, Nội nha, Phục hình, Chỉnh
hình… đều đạt kết quả tốt. Ngoài ra phương pháp mô phỏng ngày càng được sử dụng
nhiều hơn trong các lớp đào tạo lại, đào tạo liên tục của các chuyên khoa như Nội nha,
Cắm ghép, Phẫu thuật…
Ngày nay ranh giới giữa môn đào tạo kiến thức và môn đào tạo tay nghề không
còn tồn tại. Các kỹ năng lâm sàng đòi hỏi phải kiểm soát được đồng thời các vấn đề liên
quan đến kiến thức, xã hội và điều kiện làm việc trong lâm sàng. Phương pháp mô
phỏng là một cách tiếp cận rất gần thực tế, vả lại cho phép lập đi lập lại nhiều lần một
kinh nghiệm lâm sàng, cho nên đó là một công cụ rất tốt để học tập kỹ năng lâm sàng.
Các kỹ năng này có thể tập hợp lại thành những tình huống ngày càng phức tạp hơn.
©
6
IV/ CÁC PHƯƠNG TIỆN ĐỂ GIẢNG DẠY MÔ PHỎNG TRONG
GIÁO DỤC NHA KHOA
:
Mô phỏng là thao tác trên mô hình để phỏng lại việc thật, nhằm để học các kỹ năng
cần phải thực hiện trong một tình huống thật.
Các Labo TLS và các đầu mô hình (Phantom) thường được dùng trong thực hành
Nha khoa nhưng chưa thể xem là simulator trừ khi chúng cho phép đạt được thao tác
chuyên biệt cần thiết.
Oral Simulator có thể là những công cụ rất đơn giản, có thể là mẫu hàm, là đầu mô
hình, là người thật… Miễn nó đáp ứng được các yêu cầu sau đây:
• Được thiết kế để hỗ trợ học tập.
• Phù hợp về mặt hợp lý hoá lao động.
• Cho phép lập đi lập lại một việc nhiều lần và kinh tế.
• Cho phép học kỹ năng truyền thông.
• Cung cấp thông tin phản hồi sớm cho người học.
• Dùng để học tập kỹ năng để thực hiện một phần hoặc toàn bộ công việc.
• Phải đáp ứng đủ các đặc tính về chức năng và hình thức.
Thường được sử dụng cho: Khám, Chữa răng, Nha chu, Gây tê tại chỗ, Nhổ răng,
Cắm ghép Nha khoa, Phục hình răng, Răng trẻ em…
Tóm lại, việc dạy và học theo PP Mô phỏng trong thực hành Nha khoa sẽ giúp cho
người học tự tin hơn khi sửa soạn R một cách chính xác, nhanh chóng, hiệu quả và quan
trọng là tạo được niềm tin cho BN khi đến điều trò.
©
7
HỆ THỐNG MICROMOTOR NHA KHOA
I/ KHÁI NIỆM:
Hệ thống Micromotor Nha khoa được sử dụng trong Labo là thiết bò dùng để mài
chỉnh và đánh bóng các loại phục hình nha khoa.
II/ NGUYÊN LÝ CẤU TẠO VÀ HOẠT ĐỘNG:
1. Cấu tạo: gồm hai phần chính
1.1. Tay khoan Micromotor:
- Là bộ phận chủ yếu và đắt tiền nhất trong hệ thống. Bên trong có chứa một
rotor cực nhỏ. Rotor này nối kết với hệ thống trục truyền động; tận cùng là một búp sen
có tác dụng giữ mũi mài ở đầu tay khoan.
1.2. Hộp điền khiển:
- Gồm có biến thế & các vi mạch. Nó tiếp nhận điện năng từ nguồn cung cấp và
điều khiển mọi hoạt động của tay khoan.
Ngoài ra có thể có thêm một công tắc điều khiển ở chân (Foot switch).
Một số hãng sản xuất thiết kế Hộp điều khiển bao gồm cả chức năng của Foot
switch.
Các loại tay khoan MICROMOTOR Các loại hộp điều khiển
2. Nguyên lý hoạt động:
- Hệ thống Micromotor hoạt động nhờ sự tương tác Điện - Từ trường. Sự tướng
tác này tạo ra momen quay làm quay rotor trong tay khoan. Sự quay này sẽ làm quay
“Búp sen” nhờ hệ thống trục truyền động cơ học ở phần thân tay khoan.
©
8
HỆ THỐNG MICROMOTOR EWL-4910/4965
I. NGUYÊN LÝ CẤU TẠO VÀ HOẠT ĐỘNG
1. Cấu tạo:
1.1. Tay khoan Micromotor K5 EWL-4910
1) Vòng cao su bảo vệ Búp sen
2) Chốt thẳng (Chốt thay thế).
3) Phần đầu tay khoan; nơi chứa Búp sen.
4) Phần thân tay khoan; nơi chứa trục truyền động.
5) Phần đuôi tay khoan; nơi chứa Micro motor.
6) Búp sen; có tác dụng giữ mũi mài.
©
9
THÔNG SỐ KỸ THUẬT
§ Dài : 149 mm.
§ Đường kính phần thân : 28 mm.
§ Đường kính phần đuôi : 26 mm.
§ Trọng lượng : 220 gam.
§ Công suất : 85 watt.
§ Lực Torque : 4 Ncm.
§ Tốc độ : 1.000 – 35.000 R.P.M
§ Đường kính Búp sen : 2,35 mm.
1.2. Hộp điều khiển K-Control EWL-4965:
1) Nút điều chỉnh tốc độ
2) Công tắc chính
3) Đảo chiều quay của tay khoan (tốc độ quay ngược tối
đa 5.000 vòng/phút)
4) Chọn tốc độ tối đa trên 30.000 vòng/phút
5) Bảng đèn hiển thò tốc độ (x1.000) hoặc báo lỗi
©
10
HỘP ĐIỀU KHIỂN K-Control (nhìn từ phía sau)
6) Nơi nối với nguồn điện chính
7) Cầu chì
8) Nơi nối với tay khoan
9) Nơi nối với Foot Switch
THÔNG SỐ KỸ THUẬT
§ Ngang : 95 mm.
§ Cao : 235 mm.
§ Sâu : 280 mm.
§ Trọng lượng : 3 Kg.
§ Điện thế : 110 hoặc 220 Volt.
§ Tần số : 50 hoặc 60 Hz.
§ Công suất : 220 Watt.
FOOT SWITCH (CÔNG TẮC Ở CHÂN)
ON OFF
©
11
2. Nguyên lý hoạt động:
- Hộp điều khiển K-Control EWL-4965 tiếp nhận điện năng từ nguồn cung cấp
(110 hoặc 220 Volt) qua một biến thế để tạo thành dòng điện 30 Volt cung cấp cho tay
khoan. Sự tương tác giữa dòng điện này với từ trường bên trong tay khoan K5 EWL-
4910 sẽ tạo ra một momen quay làm quay Rotor ở phần đuôi tay khoan. Khi Rotor quay
sẽ làm quay Búp sen ở đầu tay khoan nhờ sự kết nối giữa Rotor và Búp sen qua hệ thống
trục truyền động ở phần thân tay khoan.
II. PHƯƠNG PHÁP SỬ DỤNG
1. Trước khi sử dụng:
- Kiểm tra xem điện thế của hộp K-Control có phù hợp với nguồn điện cung cấp
không.
- Kết nối các bộ phận của hệ thống lại với nhau
- Kiểm tra xem đã lắp mũi mài vào tay khoan chưa?
TUYỆT ĐỐI KHÔNG THỬ TAY KHOAN KHI KHÔNG CÓ MŨI MÀI HAY CHỐT
THAY THẾ
2. Trong khi sử dụng
Cần tuân thủ trình tự sau đây:
- Lắp mũi mài vào tay khoan theo cách sau :
NỚI LỎNG BÚP SEN SIẾT CHẶT BÚP SEN
©
12
TIẾN HÀNH CÁC BƯỚC SỬ DỤNG THEO TRÌNH TỰ SAU:
1 2 3 4
Mở điện Điều chỉnh tốc độ vòng quay
KHI CẦN ĐIỀU CHỈNH:
KHI KHI
CẦN CẦN
TỐC ĐẢO
ĐỘ CHIỀU
TỐI QUAY
ĐA TAY
> 30.000 R.P.M KHOAN
5 6
KHÔNG NÊN SỬ DỤNG TỐC ĐỘ TRÊN 25.000 VÒNG/ PHÚT
3. Sau khi sử dụng:
v Tắt công tắc hoặc rút điện nguồn
v Tháo mũi mài ra, lắp chốt thẳng vào.
©
13
v Đặt tay khoan lên phần nâng đỡ.
III. CÁCH BẢO QUẢN
v Việc sửa chữa và bảo trì đònh kỳ mỗi ba tháng sẽ do kỹ thuật viên của nhà cung
cấp đảm trách. Khi gặp sự cố, người sử dụng không nên tự sửa chữa mà phải gọi
ngay cho nhà cung cấp.
v Việc sửa chữa và bảo trì đònh kỳ mỗi ba tháng sẽ do kỹ thuật viên của nhà cung
cấp đảm trách. Khi gặp sự cố, người sử dụng không nên tự sửa chữa mà phải gọi
ngay cho nhà cung cấp.
v KHÔNG DÙNG CÁC DUNG DỊCH LÀM SẠCH ĐỂ VỆ SINH.
v KHÔNG VỆ SINH TAY KHOAN BẰNG CÁCH XỊT HƠI VÀO.
©
14
TRÌNH TỰ THÁO LẮP VÀ VỆ SINH BÚP SEN
©
15
HP LÝ HOÁ LAO ĐỘNG TRONG NHA KHOA
MỤC TIÊU BÀI GIẢNG
1. Đònh nghóa được hợp lý hoá lao động (HLHLĐ).
2. Nêu được vấn đề HLHLĐ về trang thiết bò, dụng cụ và cách sử dụng trong Nha
khoa.
3. Nêu được vấn đề HLHLĐ về âm thanh học.
4. Nêu được vấn đề phòng tránh các bệnh nghề nghiệp khi làm việc trong ngành
Nha khoa.
I/ ĐỊNH NGHĨA VÀ ĐẠI CƯƠNG VỀ HP LÝ HOÁ LAO ĐỘNG
:
- Theo M. Chovet (Abrégé d’ergonomie odontologique – Masson, 1978) thì thuật
ngữ “ERGONOMIE” (Ergonomic) do kết hợp của 2 từ Hy lạp:
• ERGON: Lao động
• NOMOS: Quy tắc, quy luật
Như vậy, Ergonomic (tạm dòch là Hợp lý hoá lao động – HLHLĐ) được đònh nghóa
như là một ngành khoa học nghiên cứu tổng hợp về lao động của hệ thống Người – Công
cụ (Homme – Machine). Nó sử dụng nhiều dữ kiện và những khảo sát của nhiều ngành
khoa học như giải phẫu, sinh lý cơ – thần kinh, sinh lý học lao động, tâm lý học, cơ –
sinh học (Biomécanique), thống kê học, nhân chủng học, nhiệt học, âm học, chiếu sáng
và thò giác, thính giác, nghiên cứu về bụi và ô nhiễm…v…v…
- HLHLĐ không chỉ quan tâm đến công việc lao động đơn thuần mà còn mở rộng
đến những hoạt động khác của cuộc sống con người. Nó khảo sát lao động của những
người có sức khoẻ tốt và kết luận của những cuộc khảo sát đó cũng có thể áp dụng cho
những người kém sức khoẻ hoặc bò tật nguyền.
- HLHLĐ còn nghiên cứu sự thích nghi của con người lao động với hoàn cảnh môi
trường và điều kiện lao động, tổ chức lao động, sử dụng công cụ lao động, những khả
năng và cả những thói quen của người lao động, để tìm ra cách bảo hộ lao động, bảo
đảm cho người lao động dự phòng và tránh được những bệnh nghề nghiệp. Nhưng mục
đích chính của HLHLĐ là xác đònh những điều kiện tối ưu cho người lao động bằng cách
giảm bớt những căng thẳng về tâm sinh lý trong khi làm việc.
- Trong ngành Nha khoa, tất cả những vấn đề nêu trên cần được hiểu biết và giải
quyết tốt. Bác só Nha khoa (BSNK) và nhân viên làm việc ở lâm sàng và labo là những
người thường xuyên phải hoạt động trong môi trường và điều kiện lao động kỹ thuật đa
dạng và phức tạp. Nếu không có những kiến thức về HLHLĐ thì chính họ là người gánh
chòu mọi hậu quả tai hại. Điều đáng quan tâm hơn nữa là lao động của người BSNK và
KTV không phải là loại lao động giản đơn, mà là loại lao động kỹ thuật, một loại lao
©
16
động nhiều trí tuệ, đòi hỏi một “sức khoẻ” tinh thần tốt, có khả năng tư duy cao, để khi
cần bàn luận, phân tích một ca bệnh, có thể chọn được một giải pháp điều trò thích hợp
và tối ưu.
II/ VẤN ĐỀ TRANG THIẾT BỊ DỤNG CỤ VÀ CÁCH SỬ DỤNG:
- Khi sử dụng máy ghế để điều trò cho BN, cũng như khi làm việc ở labo, rất khó
thực hiện việc “làm việc ngồi”, vì bản chất đa dạng của kỹ thuật phục hình khác công
việc chữa trò R. Ví dụ: trong kỹ thuật lấy dấu hàm thì người trợ thủ phục vụ BS phải
chuẩn bò vật liệu và phải thực hiện nhiều động tác khác nhau, phải di chuyển chỗ nhiều
lần, đến nhiều vò trí và ở nhiều tư thế khác nhau.
- Các công việc ở labo Phục hình R cũng đòi hỏi người KTV phải thay đổi nhiều
lần, nhiều vò trí và tư thế làm việc khác nhau do phải sử dụng nhiều dụng cụ, máy móc
khác nhau…Tính ra, người làm kỹ thuật Phục hình R đã phải di chuyển gấp 2-3 lần so với
các đồng nghiệp khác.
- Vì tính đặc thù của kỹ thuật PHR, nên máy móc sử dụng nhiều loại, yêu cầu hiểu
biết cách sử dụng và bảo trì máy phải được xem là điều bắt buộc. Bác só, Trợ thủ cũng
như KTV phải biết những tai nạn nào có thể xảy ra cho người sử dụng nếu không thực
hiện đúng những kỹ thuật đã được quy đònh…
III/ ĐIỀU KIỆN LAO ĐỘNG
:
- Công việc điều trò R (cả ở lâm sàng và labo) không đơn điệu, một mặt tránh được
sự mệt mỏi, chán nản do phải làm mãi một loại công việc, một loại động tác, nhưng mặt
khác lại có nhiều sự thay đổi về loại hình, kỹ thuật, về yêu cầu sử dụng nhiều dụng cụ
máy móc khác nhau nên có thể gây ra tình trạng căng thẳng về mặt tâm sinh lý. Điều
này làm người BS, KTV và trợ thủ dễ bò chi phối bởi ảnh hưởng của hoàn cảnh, môi
trường công tác và sinh hoạt. Đôi khi chỉ một sự việc nhỏ cũng có thể dẫn đến hậu quả
lớn do mọi người đang ở trong tình trạng căng thẳng (Stress) từ nhiều phía.
IV/ VẤN ĐỀ ÂM THANH HỌC
:
Thường được phân biệt:
- Âm trầm, có tần số từ 20 đến 400 Hertz.
- Âm trung bình, tần số từ 400 đến 1.600 Hertz.
- Âm cao, tần số từ 1.600 đến 2.000 Hertz.
Tai của chúng ta không bắt được âm thanh có tần số trên 2.000 Hertz. Đó là lãnh
vực siêu âm.
Âm độ
: (Intensité sonore) được biểu hiện bằng:
• Âm lực (Puissanse) trên một diện tích (tính theo watts/m
2
).
©
17
• Hoặc bằng áp lực âm ba (pression vibratoire) đo theo đơn vò Pascal. Tai bắt đầu
nhận được âm thanh khi áp lực âm thanh là 2.10
-5
pascal; nếu vượt quá 100
pascal thì tai có cảm giác đau nhói.
• Hoặc thường được phát biểu theo décibel (ký hiệu dB). Theo tiêu chuẩn vệ sinh
lao động: TCVN 3985 – 1999, TCVN 5964 – 1995, và BYT 505.
Mức tiếng ồn liên tục cho phép tại nơi làm việc không quá 85 dB/ 8 giờ.
Nếu thời gian tiếp xúc với tiếng ồn giảm ½ mức ồn cho phép tăng thêm 5 dB.
dB
2 giờ 95 dB
Tiếp xúc 4 giờ tăng thêm 5 dB mức cho phép là 90
1 giờ 100 dB
30 phút 105 dB
15 phút 110 dB
<15 phút 115 dB
Mức cực đại không quá 115 dB
Thời gian lao động còn lại trong ngày làm việc chỉ được tiếp xúc với tiếng ồn
dưới 80 dB.
Phòng làm việc tốt nhất phải giữ tiếng ồn ở khoảng 55 – 60 dB, nhưng đối với khu
Lâm sàng và Labo rất khó thực hiện vì:
- Khu vực Lâm sàng có máy siêu tốc rít rất chói tai.
- Labo thì có nhiều máy mài siêu tốc, máy đánh bóng… cùng chạy một lúc.
- Tiếng máy nén hơi cũng rất ồn, Bên cạnh đó, dễ gây tiếng ồn do tập
trung nhiều người nói chuyện trong khi làm việc.
Ngoài ra, với quá trình tích tuổi (già đi), thính lực bò giảm dần. Đàn ông từ 32 tuổi,
phụ nữ từ 37 tuổi, tai bò giảm thính lực rõ rệt. Các BS. TMH cho biết cứ 1 tuổi qua đi, tai
chúng ta giảm nghe 01 dB.
V/ VẤN ĐỀ ÁNH SÁNG:
Tiêu chuẩn trích dẫn: ISO 8995 – 1989, TCVN 3743 – 83
Tiêu chuẩn này quy đònh về “yêu cầu vệ sinh chiếu sáng” tại các vò trí và nơi làm
việc trong môi trường lao động cần có ánh sáng
Chiếu sáng tại các vò trí làm việc cần đạt được 5 yêu cầu sau: chiếu sáng đủ,
không gay chói, độ tương phân thích hợp, màu sắc chuẩn, không gây sắp bóng.
©
18
Đối với ngành nha khoa:
CƯỜNG ĐỘ CHIẾU SÁNG (LUX) NHỎ NHẤT
NƠI LÀM VIỆC
LOẠI
CÔNG
VIỆC
KHI DÙNG ĐÈN HUỲNH
QUANG
KHI DÙNG ĐÈN
NUNG SÁNG
CHIẾU SÁNG CHUNG
A - B 500 25
CHIẾU SÁNG TẠI CHỖ A - B 10.000 5.000
A : - Công việc yêu cầu rất chính xác
B : - Công việc yêu cầu chính xác cao
VI/ VẤN ĐỀ PHÒNG TRÁNH CÁC BỆNH NGHỀ NGHIỆP:
1/ Đối với BS. Nha khoa
:
- Trong ngành Nha khoa, với những kiểu sửa soạn R phức tạp, thời gian mài sửa
soạn lâu và phải ngồi ở nhiều tư thế cho thích hợp nên người BS. Nha khoa có thể mắc
bệnh do tư thế làm việc như đau vai, đau cổ, đau thắt lưng, cột sống, đau thần kinh toạ,
thậm chí có thể mắc cả bệnh tim mạch. Để khắc phục vấn đề này ta phải ngồi đúng tư
thế khi làm việc, không còng lưng, vặn vẹo cột sống, lưng phải thẳng và hai đùi phải
song song với sàn nhà.
- Bệnh bụi phổi, do hít phải bụi đá mài, bụi vi khuẩn và các mảnh vụn thức ăn
trong khi sửa soạn răng. Tốt nhất ta nên mang khẩu trang hoặc kính bảo hộ. Khi mài R
tay khoan phải có nước và có thêm máy hút nước bọt.
- Để tránh giảm thò lực và thính lực, ánh sáng phải đầy đủ và tay khoan các loại
không được gây tiếng ồn. Nhất là hiện nay sử dụng chất trám Composit với đèn Halogen,
ta nên mang kính cản quang để tránh bò đục thuỷ tinh thể (Catarac).
2/ Đối với Kỹ thuật viên Phục hình
:
- Ngoài các bệnh gặp phải như BS, người KTV còn chòu ảnh hưởng của điều kiện
làm việc nếu không biết cải thiện hoặc tuân thủ các quy đònh bảo hiểm lao động. Người
KTV có thể bò điếc hoặc giảm thính lực do chòu đựng thường xuyên tiếng ồn. Bò bệnh bụi
phổi do không khí trong Labo đầy đặc bụi đá mài, bụi thạch cao, bụi nhựa hàm giả cũ,
mới…Họ còn bò lây nhiễm do nhiều loại vi khuẩn bám trên hàm giả cũ, trên dấu hàm
mang từ ghế NS vào Labo, vi khuẩn còn bám trên những bộ hàm khi thử mẫu sáp, thử R…
mà khi giao cho họ, người trợ thủ chưa ngâm rửa sạch bằng thuốc sát trùng.
- Điều đáng lo ngại là ở những người làm việc lâu năm trong ngành Nha khoa (cả
ở lâm sàng và labo), thường thấy ở họ là những người thích nói to (vì đã bò điếc ở một
mức độ nào đó), cột sống lưng không còn thẳng nữa (còng), mắt bò khô và thò lực bò
©
19
giảm, cánh tay bò tê và rung ngoài ý thức (không điều khiển được) do sửa soạn R hoặc
mài hàm nhựa lâu ngày bò rung động cơ bắp…
VII/ KẾT LUẬN
:
Nói chung, có những bệnh nghề nghiệp mà bản thân người BS, KTV có thể tự
phòng tránh được nếu họ biết tuân thủ những quy đònh về bảo hiểm lao động. Ngoài ra,
cơ quan phải tạo điều kiện tốt nhất để họ làm việc thoải mái để có thể tránh được những
bệnh nghề nghiệp không đáng có. Chẳng hạn:
- Ngăn không cho tiếng ồn từ ngoài vào và tiếng ồn do máy móc gây ra quá mức
chòu đựng ở nơi làm việc. Kê máy móc trên những tấm cao su cách âm, không cho nhiều
máy cùng chạy một lúc để tránh hiện tượng cộng hưởng âm và nhất là chúng ta lại ngồi
làm việc ở vùng tâm cộng hưởng. Sử dụng các tay khoan siêu tốc còn tốt và phải vô dầu
bôi trơn thường xuyên để tránh gây tiếng rít khó chòu cho BS cũng như cho bệnh nhân và
phòng làm việc phải có máy hút bụi thường xuyên.
- BS và trợ thủ phải mang gants, khẩu trang hoặc kính bảo hộ để tránh tiếp xúc
trực tiếp với nước bọt của bệnh nhân và tránh hít phải bụi của mô R, eugénate hoặc
mảnh vụn thức ăn… do tia nước của tay khoan bắn ra.
- Đối với người KTV phục hình, thường xuyên phải dùng tay trần, tiếp xúc với
nước bọt bệnh nhân và các loại vi khuẩn bám trên hàm giả cũ, mới… thường xuyên hít
phải những hoá chất bay hơi như nước nhựa Acrylic, acide khi hàn kim loại… nên cũng
phải mang gants, khẩu trang nếu có thể được để phòng tránh những bệnh đường hô hấp
và sức khoẻ chung.
- Cơ quan, Bệnh viện phải tạo điều kiện để họ được đi nghỉ dưỡng sức nhiều và
giảm giờ lao động trong ngày như một số nước đã làm.
©
SỬ DỤNG VÀ QUẢN LÝ CÁC LOẠI MŨI KHOAN
DÙNG TRONG NHA KHOA
MỤC TIÊU BÀI GIẢNG:
1/ Mô tả được sự nguy hại khi sử dụng tay khoan siêu tốc không có tia nước
phun sương.
2/ So sánh được các loại mũi khoan dùng trong Nha khoa.
3/ Mô tả được việc sử dụng phối hợp giữa các loại mũi khoan.
I/ ĐẠI CƯƠNG:
- SINGER và HOWE : phát minh chiếc máy may, nhờ đó MORRISON sáng chế
chiếc máy Nha khoa đầu tiên đạp bằng chân rất nổi tiếng.
- 4 thập niên đầu của thế kỷ 20: máy Nha khoa có thêm chiếc động cơ điện.
- Cuối những năm 1930 phát triển loại dụng cụ cắt bằng kim cương của Đức.
- 1947 : bắt đầu xuất hiện các loại mũi khoan thép
- 1950 : Tay khoan chạy bằng hơi ra đời (Air turbine) thay thế các loại tay khoan
chạy bằng dây trân.
- Với loại tay khoan chạy < 12.000 vòng/ phút thời bấy giờ, người Nha só rất cực
nhọc khi mài R và BN không được thoải mái do độ rung của mũi khoan.
- Sau đó, nhờ sự xuất hiện của tay khoan có tốc độ > 100.000 vòng/ phút đã giúp
cho việc mài R dễ dàng và đầy đủ hơn.
II/ LÀM MÁT BẰNG NƯỚC VÀ HƠI NÉN
:
- Khi mài khô trên R với tốc độ cao sẽ làm phỏng ngà R gấp 3 lần khi mài R có tia
nước phun sương và với nhiệt độ này sẽ làm tuỷ R bò viêm hoặc bò hoại tử.
- Khi mài khô 0,5mm ngà R với mũi khoan siêu tốc sẽ tạo ra nhiệt độ 118
o
C
(245
o
F), nhưng chỉ cần tăng thêm 10
o
C sẽ có 60% trường hợp Tuỷ R sẽ bò hoại tử. Thậm
chí đối với các R đã chết Tuỷ, do ứng xuất của nhiệt nếu mài không có nước cũng sẽ tạo
những vết nứt cực nhỏ trên men R và làm hỏng đường hoàn tất của cùi R sau này.
- Ta không thể dùng hơi thay thế cho nước phun sương để làm mát cùi R. Do sự khử
nước kéo dài có thể làm tổn thương tuỷ R.
- Với lượng nước yếu cũng có thể làm cháy ngà R cục bộ. Ngoài ra, với lượng nước
phun sương mạnh sẽ rửa sạch các mảnh vụn mô R dính trên mũi khoan và làm tăng hiệu
quả của dụng cụ khi mài R. Với lượng nước từ 7 đến 21ml/phút sẽ tạo ra một áp lực nước
từ 50g đến 150g là đạt hiệu quả.
- Có người cho rằng tia nước phun sương sẽ cản trở tầm nhìn của họ, nhưng thực tế
cho thấy nhờ tia nước phun sương sẽ thổi đi máu và các mảnh vụn mô R nên ta nhìn rõ
hơn. Có thể nhìn trực tiếp khi mài R, nếu nhìn gián tiếp qua kiếng khám, hơi nước có thể
©
21
làm mờ mặt gương, để khắc phục tình trạng này người trợ thủ có thể dùng hơi thổi lên
mặt kiếng khi người Nha só đang mài R.
- Tóm lại, khi mài R với tốc độ cao ta nên sử dụng nước phun sương để hạn chế
tổn thương tuỷ R và nên có một ống hút nước bọt thích hợp. Vì theo quan điểm của
bệnh nhân, thà chòu một ít nước trong miệng còn hơn phải chòu đựng mùi của mô R bò
cháy khét.
III/ CÁC LOẠI MŨI KHOAN
:
Mũi khoan dùng để sửa soạn R, có thể chia thành 3 loại:
- Mũi khoan kim cương: dùng để mài bề mặt mô R.
- Mũi khoan Tungsten: dùng để cắt mô R nhờ những lưỡi cắt nhỏ.
- Mũi khoan tạo lỗ (Twist drills): dùng để tạo những lỗ có đường kính nhỏ
trong mô R nhờ những gờ cắt trên đầu mũi khoan . (Hình số 1)
1. MŨI KHOAN KIM CƯƠNG
:
Gồm những hạt kim cương nhỏ, hình dạng không đều, có cạnh sắc được mạ điện
dán lên thân những cốt bằng Nicken hay Chrome. Mỗi hạt có thể cắt một lượng lớn mô R
tuỳ theo hình dạng và kích cỡ của hạt, được dùng để mài mô R và sứù. Nó có thể mài R
nhanh gấp 2 đến 3 lần so với mũi khoan thép không rỉ. Các hạt được sắp xếp đều đặn từ
1 đến 3 lớp trên bề mặt của mũi khoan và được phân loại theo hình dạng và kích cỡ của
các hạt kim cương thô hay mòn. Tuỳ theo nhà sản xuất và tuỳ cách sử dụng mà kích cỡ
các hạt và hình dạng mũi khoan có khác nhau, như:
- Mũi khoan kim cương nón trụ đầu tròn (the round-end tapered).
- Mũi khoan kim cương nón trụ đầu bằng (flat-end tapered).
- Mũi khoan kim cương đầu nhọn dài (long-needle).
- Mũi khoan kim cương đầu nhọn ngắn (short-needle).
- Đá mài kim cương hình bánh xe bờ tròn nhỏ (small round-edge wheel diamonds)
(hình số 2).
Ngoài ra, có 2 loại cũng thường được sử dụng là loại “Torpedo” và loại hình ngọn
lửa (flame). Mũi khoan thép không rỉ cũng có hình dạng và kích cỡ như loại “Torpedo”
và loại ngọn lửa (hình số 3).
(Xem kích cỡ các loại mũi khoan này trong bảng 3-2).
Tất cả các mũi kim cương có đường kính nhỏ hoặc đầu mũi khoan có đường kính
nhỏ như mũi khoan kim cương đầu nhọn…, phải sử dụng một cách cẩn thận vì rất dễ bò
cong vẹo, khi mài mũi khoan quay không đồng trục sẽ phá huỷ mô R nhiều và không
theo ý muốn của người sử dụng.
©
-Tóm lại, để bảo quản cấu hình của dụng cụ và ngăn chặn việc mòn quá mức
các hạt kim cương, ta không nên mài khô với áp lực lớn sẽ làm các hạt kim cương dễ
bò bong ra.
2. MŨI KHOAN TUNGSTEN
:
Loại mũi khoan Tungsten là loại mũi khoan tốt nhất để thực hiện những loại Phục
hình đòi hỏi sự chính xác và làm cho bề mặt men và ngà mòn hơn, nhất là tạo đường
hoàn tất. Mũi khoan Tungsten cũng được sử dụng để cắt kim loại, và cả 2 loại mũi
khoan tungsten và kim cương đều có thể sử dụng để mài cắt ngà R rắn chắc.
- Kim loại ở đầu mũi khoan Tungsten được làm từ đá túp (sintering), hoặc được dập
khuôn từ bột Carbure Tungsten và Cobalt dưới hơi nóng và áp suất chân không. Mũi
khoan Tungsten được cắt ra từng phần nhỏ hình trụ và được hàn dính với một trụ thép để
tạo thành phôi tiền (hình số 4).
- Dùng máy với đóa kim cương để thực hiện đầu mũi khoan có hình dạng chuyên
biệt theo từng loại mũi khoan (hình số 5).
- Phần đầu mũi khoan bám dính với cốt thép rất chắc chắnén (hình số 6), và hiếm
khi bò sút ra.
- Khi quy trình đã được hoàn tất thì phần đuôi của mũi khoan sẽ được làm ngắn lại,
tạo khía hoặc thu nhỏ cho vừa với đường kính của tay khoan (hình số 7).
Đa số mũi khoan thường có 6 lưỡi hoặc 8 lưỡi cắt. Những mũi khoan dùng để hoàn
tất cùi R thường có 12 lưỡi, có loại 20 hoặc thậm chí có loại 40 lưỡi cắt.
- Bờ cắt của mỗi lưỡi có 3 mặt: mặt trước, mặt tiếp xúc khi mài và mặt sau (face,
land, back) (hình số 8).
- Góc thoát (Clearance angle) là góc tạo thành bởi mặt tiếp xúc của lưỡi cắt và
mặt bò cắt bởi mũi khoan. Có từng loại góc thoát tối ưu cho mỗi loại đường kính của mũi
khoan. Người ta quy đònh đường kính mũi khoan rộng hơn thì góc thoát sẽ nhỏ hơn,
lưỡi cắt sẽ mạnh hơn. Tuy nhiên, nếu góc thoát quá nhỏ, mặt tiếp xúc của lưỡi cắt có
thể cọ xát đập vào mặt phẳng bò cắt, tạo sức nóng và sẽ giảm tác dụng của mũi khoan.
- Góc được tạo bởi mặt trước của lưỡi cắt và đường kéo dài từ bờ cắt đến tâm của
mũi khoan gọi là góc cắt (rake angle) (hình số 9).
- Hai góc thoát và cắt sẽ xác đònh độ sắc bén của bờ cắt, việc mài cắt sẽ hiệu quả
hơn. Nếu góc cắt dương thì bờ cắt yếu hơn, vì các lưỡi cắt này mảnh nên ít hiệu quả khi
cắt. Do đó, lưỡi cắt thường được làm hoặc góc cắt âm hoặc góc cắt bằng không (neutral
rake angle), và chân đế rộng hơn.
- Các lưỡi cắt thường được làm xoắn quanh mũi khoan, và cách nhau bởi những cái
rãnh. Số lượng các vòng xoắn, hoặc góc xoắn (helical angle) của các lưỡi cắt có ảnh
hưởng đến tính đặc thù của từng loại mũi khoan. Góc xoắn càng lớn mặt mài sẽ mòn
©
hơn, và giảm tiếng rít hoặc độ rung của mũi khoan trên mặt Răng. Điều này cũng
làm giảm độ lụt của mũi khoan Tungsten trong suốt thời gian mài trên R, và ngăn không
cho các mảnh vụn mô R bít kín các rãnh giữa các lưỡi cắt.
- Một vài loại mũi khoan có các lưỡi cắt bò gián đoạn bởi các đường cắt ngang qua
lưỡi cắt. Lưỡi cắt của loại mũi khoan này có hình dạng răng cưa và có phần hiệu quả hơn
các loại mũi khoan không có răng cưa. Tuy nhiên, các loại mũi khoan không răng cưa
vẫn được thích sử dụng để sửa soạn các kiểu phục hình đúc. Loại mũi khoan răng cưa
thường để lại các rãnh sâu, những đường sọc vuông góc với hướng lắp của răng được sửa
soạn.
- Mũi khoan thép, có loại hình nón trụ dài và ngắn, có loại mũi khoan tròn số 4
(hình số 10). Để loại bỏ mùn ngà ở phía sâu, có loại mũi khoan tròn số 6 dùng cho tay
khoan tốc độ chậm.
- Loại mũi khoan hình nón trụ được sử dụng để sửa soạn răng cho mão đúc kim
loại hay cho phục hình sứ. Ngoài ra, nó có thể được sử dụng để tạo rãnh hoặc tạo hình
hộp cho xoang inlay. Đặc biệt nó được sử dụng để mài mặt đứng của răng. Mũi khoan số
179 có 6 lưỡi cắt không đủ dài để mài mặt trục của R, và đầu mũi khoan tương đối nhỏ
có thể làm đường hoàøn tất bờ vai thẳng bò gồ ghề. Có loại mũi khoan hình nón trụ có
chiều dài và đường kính lớn hơn để mài hoàn tất. Những loại mũi khoan có kích cỡ
thông dụng trong hình số 11 và kích cỡ của nó được trình bày trong bảng 3-3.
- Ngoài ra có những loại mũi khoan thường được sử dụng như hình nón ngược số
34, mũi khoan tròn số ½, và mũi khoan tạo lỗ có đường kính 0.6mm (.024-in) (hình
số12).
3. MŨI KHOAN XOẮN TẠO LỖ (TWIST DRILLS)
- Loại mũi khoan này được làm bằng thép, chỉ dùng để khoan lỗ vào R theo trục dài
của mũi khoan. Nó có 2 rãnh xoắn đôi sâu, uốn khúc xung quanh thân mũi khoan (hình
số 13), giúp lấy ra mô R từ trong lỗ khoan. Loại khoan này được sử dụng để tạo những lỗ
nhỏ có đường kính đồng đều, các thành lỗ song song với nhau trong ngà R để giữ chặt
những cái chốt nhỏ (pin) cho vật phục hình.
- Để làm những loại phục hình có chốt (Pinlay - Pinledge),đường kính của mũi
khoan rộng hơn chốt sau khi đúc một chút nên rất khít khao khi gắn bằng ciment sau
này. Mức làm việc của loại mũi khoan này phải có chiều dài từ 3mm đến 5mm.
- Mũi khoan dùng cho chốt có ren xoắn trôn ốc dùng để lưu nhựa Composite và
Amalgam thì đầu mũi khoan nhỏ hơn đường kính của chốt pin. Mũi khoan loại này có
khấc chỉ để khoan được chiều sâu 2mm thôi (hình số 14).
- Loại mũi khoan này sử dụng khác loại mũi khoan thông thường. Nó không cắt
qua men R được mà có khuynh hướng đi trượt khi đầu mũi khoan chạm vào mặt R. Do
đó, trước khi dùng mũi khoan này tạo lỗ, ta nên dùng mũi khoan tròn nhỏ có đường kính
©
1/2mm tạo một lỗ cạn trước để hướng dẫn mũi khoan này đi đúng hướng và chạy với tay
khoan tốc độ chậm có tia nước để thổi sạch các mảnh vụn mô R và làm nguội chỗ khoan.
Người ta không chế tạo mũi khoan xoắn tạo lỗ sử dụng với tay khoan siêu tốc vì không
đủ làm mát chỗ khoan dù có tia nước và nó thường làm vở mô R hoặc làm rộng lỗ khoan.
- Khi khoan tạo lỗ, ta không được dừng lại khi đầu mũi khoan còn nằm trong lỗ vì
nó có thể bò kẹt hoặc bò gẫy và rất khó lấy ra khỏi mô R. Nếu bò kẹt trong mô R, cách an
toàn nhất là tháo mũi khoan ra khỏi tay khoan rồi dùng ngón trỏ và ngón cái xoay ngược
lại để lấy mũi khoan ra, cách này tránh mũi khoan không bò gẫy trong mô R.
IV/ SỰ PHỐI HP GIỮA MŨI KHOAN KIM CƯƠNG VÀ MŨI KHOAN
TUNGSTEN
- Như trên đã trình bày, mũi khoa kim cương mài R hiệu quả hơn mũi khoan thép,
nhưng nó lại tạo bề mặt mài gồ ghề và đường hoàn tất không đều. Còn mũi khoan
Tungsten tạo đường hoàn tất mòn hơn và tạo hình dạng mặt bên trong xoang rõ ràng hơn.
Do đó, cách tốt nhất là ta nên kết hợp hai loại mũi khoan này khi sửa soạn R. Sư ûdụng
mũi khoan kim cương để mài mô R cho nhanh, rồi sau đó dùng mũi khoan thép để hoàn
tất cùi R hoặc để tạo rãnh, tạo xoang…
- Ta nên sử dụng 2 loại mũi khoan có cùng hình dạng và kích cỡ tương xứng nhau
(hình số 15).
- Ngoài yếu tố cùi R phải thoát,bề mặt mô R khi hoàn tất cũng phải mòn thì khi lấy
dấu sẽ chính xác hơn. Nếu bề mặt cùi R thô nhám, nó có thể làm khó khăn khi gỡ dấu ra
khỏi miệng bệnh nhân nếu không làm dấu bò biến dạng và làm mất đi các chi tiết nhỏ
trên chốt đai thạch cao sau này. Có lẽ điều quan trọng hơn cả là nếu đường hoàn tất quá
gồ ghề sẽ làm cạnh mão sau này không khít sát hoàn toàn với cùi R khi gắn mão. Quan
sát qua kính hiển vi sẽ thấy các vết sướt của mũi khoan thép có chiều sâu khoản 2µm và
của mũi khoan kim cương hạt mòn là 10µm đủ sâu để làm tăng sự lưu giữ mà không ảnh
hưởng đến độ chính xác của dấu.
- Ở hình số 16a và 16b, quan sát kỷ mặt đứng của cùi R mão veneer được sử dụng
mũi Torpedo kim cương cho thấy đường hoàn tất bờ cong bò gồ ghề sẽ rất khó lấy dấu
chính xác ở đường hoàn tất. Trong khi đó sử dụng mũi khoan thép Torpedo có 12 lưỡi
cắt để hoàn tất cùi R sau khi đã sử dụng mũi khoan kim cương cùng cỡ, cho thấy bề mặt
mô R mòn hơn và đường hoàn tất ít khiếm khuyết hơn (hình số 17a và b). Do đó, cạnh
mão sẽ khít sát với đường hoàn tất hơn.
Việc sử dụng rộng rãi đỉa cắt kim cương không được mô tả trong bài này vì nó rất
nguy hiểm cho bệnh nhân và rất dễ mài lố khi sử dụng nó.
©
Tóm lại, biết cách sử dụng và bảo quản dụng cụ mài trong Nha khoa giúp ta sửa
soạn R chính xác, nhanh chóng, hiệu quả và sử dụng được lâu dài. Từ đó tạo niềm tin
cho Bệnh nhân khi đến điều trò.
H.1:
3 loại mũi khoan để sửa soạn R: H.2: 5 loại mũi khoan kim cương thường được sử dụng
- Mũi khoan kim cương để sửa soạn cùi R. Từ trái qua phải :
- Mũi khoan Tungsten - Nón trụ đầu tròn (số 856-016)
- Mũi khoan tạo lỗ (twist drill) - Nón trụ đầu bằng (số 847- 016)
- Đầu nhọn dài (số 30006-012)
- Đầàu nhọn ngắn (số 852-012)
- Bánh xe nhỏ bờ tròn (số 909-040)
Hình 3: Từ trái qua phải:
- Mũi khoan kim cương trụ đầu nhọn (số 877-010)
- Mũi khoan thép trụ đầu nhọn (số 282-010)
- Mũi khoan kim cương hình ngọn lửa (số 862-010)
- Mũi khoan thép hình ngọn lửa (số H48L-010)
( Những mũi khoan này hình dạng và kích cỡ giống nhau )