Tải bản đầy đủ (.pdf) (11 trang)

IBN SÉOUD (1881-1953) VÀ MỘT QUỐC GIA GIỮA SA MẠC_4 trăm ngàn dân du mục dắt pot

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (103.85 KB, 11 trang )

IBN SÉOUD (1881-1953) VÀ MỘT
QUỐC GIA GIỮA SA MẠC

Hàng trăm ngàn dân du mục dắt lạc đà, dê, cừu đi lại các giếng nước,
vừa đi vừa tụng kinh y như để dự những cuộc lễ, nhộn nhịp không kém
cuộc di cư của dân Mỹ trong thế kỷ trước để tìm vàng ở miền Tây.

Có nước rồi thì thêm ruộng, thêm vườn, thêm gia súc. Một bọn kỹ sư
canh nông Mỹ lại được mời qua để nghiên cứu đất đai và phương pháp
trồng trọt. Những đất đã bỏ hoang từ mấy ngàn năm, nhờ có nước mà
phì nhiêu lạ lùng, hơn cả miền Texas ở Mỹ. Lúa mì, lúa mạch, cà chua,
cà rốt, dưa, tỏi, cà chỉ cần gieo xuống là mọc lên xum xuê. Mỗi mẫu ở
Texas chỉ sản xuất được bốn tạ rưỡi lúa mì, thì ở đây sản xuất được tới
mười bảy tạ. Ibn Séoud vội vàng lập ra một bộ canh nông mà từ xưa tới
nay xứ Ả Rập chưa hề có.


Sản xuất được nhiều rồi thì phải nghĩ đến vấn đề vận tải, giao thông.
Không thể dùng hoài phương pháp cổ lỗ là chở trên lưng lạc đà, mà
phải lập những đường xe lửa. Nhưng tiền đâu? Lợi tức của dân quá
thấp, dân số lại ít, sa mạc thì mênh mông, không thể tăng thuế quá sức
chịu đựng của dân được. Vấn đề quả thực là nan giải.

May thay, một phép mầu nữa lại xuất hiện, nhờ Allah phù hộ. Năm
1920, một người Anh tên là Frank Holmes, đào giếng ở cù lao Bahrein,
trên vịnh Ba Tư, ngoài khơi Hasa, chủ ý là để kiếm nước mà không ngờ
lại kiếm được dầu lửa, mà người Âu gọi là “hắc kim” (vàng đen), là cái
“gân của chiến tranh”.

Từ thời thượng cổ, người Chaldée đã biết dùng chất đó để làm hồ cất
nhà, người Ai Cập dùng để ướp xác. Họ không biết lọc, để nguyên chất


ở dưới mỏ đào lên mà dùng. Rồi tới giữa thế kỷ XIX, một đại tá Mỹ tên
là Drake tìm được nhiều mỏ ở Pennsylvannie, dầu lửa mới dùng để đốt
đèn. Đầu thế kỷ XX, người Anh khai được nhiều mỏ ở Ba Tư.

Frank Holmes mua được mỏ Bahrein của một hào mục bản xứ, về Luân
Đôn gạ bán lại cho các công ty dầu lửa Anh. Nhưng những công ty này
đương khai thác những mỏ ở Ba Tư không xuể, vả lại không tin rằng ở Ả
Rập có những mỏ lớn, cho nên không thèm mua, Holmes phải bán lại
cho một công ty nhỏ của Mỹ, công ty Gulf Oil.

Rồi bỗng tới năm 1930, người ta thấy một nhóm du mục Bắc Phi
(Bédouin) đổ bộ lên Hasa, có kẻ rất khả nghi. Ả Rập gì mà không tụng
kinh, không biết tiếng Ả Rập, mà đi đâu cũng lén lút, lẩn mặt, không
muốn tiếp xúc với ai cả. Ibn cho điều tra kín. Ty mật vụ phúc trình rằng
họ là những người ngoại quốc giả trang. Ibn Séoud ra lệnh bắt, tra hỏi.
Họ thú là người Mỹ lại tìm mỏ dầu lửa. Ông thả họ ra và để họ tự ý hoạt
động. Họ đào nhiều nơi, thấy rằng có một lớp dầu lửa liên tục từ dãy
núi Caucase ở Nga tới Ả Rập, ngang qua Mésopotamie và Ba Tư. Dầu
lửa tìm được rất tốt mà có lẽ cũng rất nhiều.

Tin đó bay ra, các cường quốc nhao nhao lên. Mỹ, Anh, Hòa Lan, Đức,
Nga, cả Nhật nữa phái đại diện tới xin yết kiến Ibn Séoud.

Phòng khách bộ Tài chính lúc nào cũng chật những nhà kinh tài. Nhà
nào cũng năn nỉ được tiếp kiến trước, nhà nào cũng nguyện làm lợi cho
Ả Rập chớ không nghĩ đến tư lợi. Sao mà họ tốt thế? Nhưng nhà vua
không gấp. Có người tâu rằng bắt họ đợi cả tuần lễ, e phật lòng họ, ông
đáp:

- Để mặc Trẫm, Trẫm là nhà tu hành, biết cách cư xử với hạng tín đồ

hành hương đó mà!

Ông suy nghĩ kỹ, sau cùng nhận lời của công ty Gulf Oil, tức công ty đã
mua lại quyền khai thác những mỏ ở Bahrein của Holmes. Có người hỏi
sao ông lại chọn lựa một công ty nhỏ nhất, ông đáp:

- Công ty đó là công ty Mỹ. Công ty Mỹ không bị chính phủ Mỹ chi phối
mạnh mẽ, vả lại Mỹ ở xa ta, ít dòm ngó ta; lẽ nữa là người Mỹ đã giúp
ta được nhiều việc như đào giếng, cải thiện nông nghiệp.

Bạn bảo là khôn ư? Không, dại đấy. Ông chưa biết những mánh khoé
của bọn kinh doanh Anh, nên đã đi sái một nước cờ.

Anh bị hất cẳng, đổ quạu, tìm cách phá. Thời đó các công ty Anh làm
chúa tể trên khu vực từ Ba Tư tới Ai Cập. Hầu hết các mỏ dầu lửa lớn là
về họ. Họ muốn làm mưa làm gió gì thì làm. Lịch sử cạnh tranh về dầu
lửa ở Tây Á[14] trong nửa thế kỷ nay, giá chép kỹ lại thì hàng ngàn trang
vẫn chưa đủ. Những bậc thông minh nhất trong giới kinh tài, chính
khách, luật gia của mọi cường quốc đấu trí với nhau kịch liệt, tìm mọi
cách để hất cẳng nhau, ngầm phá nhau, nay kết liên rồi mai phản bội,
thôi thì đủ mánh khoé trâng tráo nhất, tài tình nhất, chúng ta không thể
nào tưởng tượng nổi. Tôi chỉ xin tóm tắt trong ít hàng vụ Gulf Oil thôi.

Tôi đã nói Ibn Séoud đi lỡ một nước cờ; ông không ngờ bị người Anh
phá, viện những hiệp ước này nọ ký với Pháp, Thổ, Ba Tư, Đức, Hòa
Lan để yêu cầu công ty Gulf Oil đừng đào thêm giếng nào nữa, nếu
không có sự thỏa thuận của công ty quốc tế dầu lửa, và nếu không nghe
lời thì chết, chịu, vì tất cả các công ty kia sẽ phá giá, ngăn cản trong việc
chở chuyên. Ibn Séoud có ngờ đâu Anh muốn giữ độc quyền dầu lửa ở
miền Tây Á và thành trì của họ kiên cố đến thế.


Chú chích choè Gulf Oil đành chịu thua, bán lại quyền khai thác cho
công ty Mỹ Bahrein Oil, mà công ty này chỉ là chi nhánh của công ty
khổng lồ Standard Oil ở Californie. Bán với giá rẻ mạt : năm vạn Mỹ kim.
Trong lịch sử hiện đại chưa có vụ nào mà hời cho người mua như vậy.
Công ty Standard Oil lại hợp tác với công ty Texas Oil cũng của Mỹ,
thành công ty California Arabian Standard Oil, viết tắt là C.A.S.O.C, như
vậy đủ sức cạnh tranh với những công ty của Anh trên thị trường Á
châu. Ở đời này, phải có nanh vuốt mới sống được.

Từ đó dầu lửa Ả Rập mới sản xuất mạnh mẽ, năm 1935 là 174.000 tấn,
năm năm sau tăng lên tới 3.000.000 tấn. Các nhà máy lọc dầu mọc lên
như nấm ở bờ vịnh Ba Tư, tàu bè ra vô tấp nập, mà vàng cứ tiếp tục
tuôn vào kho của Ibn Séoud. Ông khôn khéo, không bán đứt, ông bảo
đất cát trong xứ là của toàn dân chứ không phải của ông, ông chỉ bằng
lòng cho thuê trong một thời hạn nào đó thôi, hết hạn nghĩa là tới năm
2.000 thì tất cả máy móc, nhà cửa sẽ về ông hết.

Và ông lo xa, dạy dỗ dân chúng để đến năm 2000, người Ả Rập có thể
tự khai lấy phú nguyên của họ, khỏi phải nhờ người ngoại quốc, nên
một mặt ông phát triển những đường giao thông, nhất là đường hỏa xa,
một mặt mở trường dạy chữ, dạy nghề. Trong một diễn văn, ông bảo:

“Độc lập về chính trị mà làm gì nếu không có sự độc lập về kinh tế?
Chúng tôi tân thức hóa xứ này không phải để cho nó mất tự do, mà
chính là để cho nó có thể hưởng được sự tự do. Xin các bạn phương
Tây đừng hiểu lầm tôi Xưa kia, dân tộc Ả Rập ngài ngại người ngoại
quốc thật đấy, vì nỗi khốn khổ của họ luôn luôn do người ngoại quốc
gây ra cả; nhưng tinh thần đó đã thay đổi rồi, vì tôi thấy giới thượng lưu
Ả Rập rất thân thiện với các kỹ thuật gia ngoại quốc.


“Nhưng xin các bạn ngoại quốc đừng nuôi ảo vọng: tình thân thiện đó,
muốn giữ nó thì các bạn phải biết trọng tục lệ và tín ngưỡng của chúng
tôi. Tôi muốn rằng các bạn tới đây với tư cách giáo sư, chứ không phải
với tư cách ông chủ, tới đây làm khách chứ không phải làm kẻ xâm lăng.
Xứ Ả Rập nhờ Trời lớn lắm, có thể thỏa mãn tất cả các tham vọng, trừ
tham vọng này: chiếm đất của nó”.

Thực là không còn úp mở gì cả. Ibn Séoud nhắm ai đó? Các kỹ thuật gia
đó là dân nước nào vậy, chắc độc giả còn nhớ. Nhưng chính những kỹ
thuật gia đó nghe diễn văn lại không thấy khó chịu, còn mến phục nữa.
Vì chính họ cũng là những dân thuộc địa đã tự giải phóng, chính họ đã
phải chiến đấu như người Ả Rập để giành lại quyền tự do.


Mới bắt đầu thịnh vượng được trong mấy năm thì đại chiến lại nổ. Lần
này, Ibn Séoud không chưng hửng nữa. Ông đã đoán trước nó phải tới.
Vả lại ông đã là một quốc vương đáng kể rồi, chứ không còn là hạng
tầm thường hồi 1914 nữa.

Chiến tranh vừa phát, ông đem ngay đội quân thiện chiến Ikwan lên
đóng ở phương Bắc và phương Tây. Biết đâu chừng đại chiến thứ nhất
làm cho đế quốc Thổ sập thì đại chiến này chẳng làm cho đế quốc Anh
sập theo. Và nếu đế quốc Anh sập thì ông sẵn sàng để thay thế họ,
chiếm lấy Irak và cả một miền theo bờ Địa Trung Hải, từ Ai Cập tới Thổ.

Chỉ sau mấy tháng, Pháp phải nằm bẹp dưới gót giày của Đức, rồi Anh
lâm nguy. Chính thủ tướng Churchill phải nhận rằng những năm 1940,
1941, “người Anh chỉ rán giữ cho khỏi chìm lỉm cũng đủ mệt đừ rồi”.
Nhưng nguy thì nguy, họ vẫn cố nắm lấy miền Tây Á, để khỏi phải mất

cái “gân của chiến tranh” tại Ba Tư, khỏi mất liên lạc với Ấn Độ, hòn
ngọc của đế quốc Anh. Cho nên họ đem quân Ấn lại đổ bộ ở Bassorah,
bất chấp cả hiệp ước Anh-Irak.

Irak chống lại, họ nhanh tay dẹp được. Dẹp xong, Churchill tuyên bố
giữa quốc hội: “Hú hồn, nhưng nay mọi sự đã yên rồi”.

Kế đó, Anh đuổi được người Pháp ra khỏi Syrie mặc dầu bị tổn thất rất
nặng.

Sau cùng họ mới quay lại yêu cầu Ibn rút hết quân đội đóng ở biên giới
Koweit đi, đừng dòm ngó mồi đó nữa. Ibn biết chưa phải lúc, đành nghe
lời, đợi cơ hội khác.

Anh đã khôn, chiếm Bassorah trước vì căn cứ đó quan trọng vào bực
nhất trong đại chiến vừa rồi. Tướng Rommel của Đức cũng đã nhắm
điểm đó, hẹn với Nhật sẽ gặp nhau ở đó, nhưng Anh cố giữ và Đức
không dám tấn công.

Nhờ làm chủ vịnh Ba Tư, Anh mới tiếp tế được khí giới, nguyên liệu cho
Nga từ năm 1941 trở đi. Anh, Nga phân công với nhau: Anh chở tới
Bassorah rồi Nga chở tiếp tới dãy núi Caucase.

Anh gởi cho Nga cao su Singapore, thiếc Mã Lai, chì Miến Điện và Úc,
nhưng bao nhiêu cũng không đủ. Staline cứ đòi tăng hoài, tăng gấp đôi
gấp ba vẫn chưa bằng lòng. Churchill đành cầu cứu Roosevelt.
Roosevelt vui vẻ nhận liền, cuối năm 1942 tuyên bố rằng Mỹ sẽ lo hết
vấn đề tiếp tế Nga để cho Anh được rảnh tay. Bạn Đồng Minh với nhau
mà! Và một khi Mỹ đã tận lực giúp thì phải biết là đắc lực! Năm 1943
chở được 3.000.000 tấn cho Nga, và con số đó năm sau tăng lên nữa.

Thôi thì đủ thứ : 4.100 phi cơ, 138.000 xe cam nhông, 912.000 tấn thép,
100.000 tấn thuốc súng, hằng trăm cây số đường rầy, 1.500.000 tấn
thức ăn, 9.000 tấn hạt giống và vô số máy móc đủ loại.

Cảng Bassorah hẹp quá vì nằm trên sông, không tiếp nhận hết những
vật đó, người Anh muốn mượn hải cảng và đường lộ của Ả Rập Séoud,
trên vịnh Ba Tư.

Ibn Séoud lúc đó đương túng tiền, đã mượn trước 6.800.000 Mỹ kim
của công ty C.A.S.O.C. để mua khí giới cho đội quân Ikwan mà vẫn còn
thiếu, cần dùng 10.000.000 Mỹ kim nữa. Cho nên ông đáp:

“Bà con muốn mượn đường thì được nhưng xin trả tiền cho chúng tôi!
Muốn mượn hải cảng cũng được, nhưng xin trả tiền cho chúng tôi! Mà
trả bằng vàng ròng hoặc bằng Mỹ kim kia, chứ chúng tôi không chịu
nhận Anh kim”.

Anh đổ quạu. Quân vô ơn này, trước kia ngửa tay xin mình năm ngàn
Anh kim một tháng mà bây giờ lên chân, đòi tống tiền mình mà lại chê
không thèm Anh kim! Anh muốn trừng phạt cho biết tay, nhưng Mỹ vội
can: “Tụi Ả Rập đó là tụi cuồng tín. Tấn công nó thì nó chống cự lại tới
cùng. Nó có thể đốt hết các mỏ dầu lửa được lắm. Mà thuật du kích của
nó cũng đáng sợ dấy. Tôi mới cho bác mượn 425.000.000 Mỹ kim, thôi
thí cho nó 10.000.000 đi”. Anh bắt buộc phải nghe lời. Ibn mỉm cười
nhận tiền vì có nhân viên cho hay trước rằng tiền đó chẳng phải là của
Anh đâu.

Sở dĩ Roosevelt chơi cay với Anh như vậy vì mấy năm trước, người con
trai của ông, đại úy James đã lãnh sứ mạng qua dò xét tình hình miền
Tây Á, Trung Á rồi về tường trình rằng dân chúng miền đó không ưa

người Anh, mà tài nguyên lại rất nhiều, Mỹ nên len chân vào đi.

Anh trao tiền cho Ibn Séoud và đòi hỏi những quyền lợi này nọ về chính
trị. Mỹ đâu chịu để cho Anh dùng tiền của Mỹ để làm lợi cho Anh, phản
đối lại liền, ghi ngay Ả Rập vào danh sách những xứ được hưởng luật
cho mượn và cho thuê; thế là tha hồ muốn tiếp tế cho Ibn Séoude bao
nhiêu cũng được, chẳng cường quốc nào nói ra nói vào nữa, vì hồi đó
Anh, Pháp đều phải ngửa tay xin Mỹ viện trợ cả.

Chính ra đạo luật đó chỉ để giúp những nước dân chủ bị bọn phát xít
hăm dọa. Ả Rập Séoud không bị phát xít hăm dọa mà lại càng không
phải là một nước dân chủ. Nhưng Thượng nghị viện không chất vấn và
thông qua với đại đa số thăm thuận.

Tới tháng hai năm 1945, Roosevelt nhân ghé Ai Cập, mời Ibn Séoud lại
đó để cùng nhau hàn huyên. Ông đã không mời Churchill dự mà đến
phút chót mới nói qua cho Churchill hay. Churchill tím mặt. Cái thân
tình trong trường ngoại giao nó như vậy.

Roosevelt tiếp đãi Ibn cực kỳ long trọng, y như một gentleman tiếp một
công chúa Ả Rập vậy. Mỹ phái một khu trục hạm đặc biệt tới Djeddah
để đón, rồi biết tánh nhà vua quen ngủ lều, nên may một cái lều trắng
căng trên boong tàu.

Khi hai bên gặp nhau, Roosevelt nhã nhặn chào trước:

- Được gặp nhà vua, tôi mừng quá. Tôi có thể giúp Ngài được gì?

×