đẩy mạnh sản xuất, tăng cường quản lý thị trường, có chính sách khuyến khích đúng mức
để tăng mạnh nguồn thu từ nội bộ nền kinh tế, chống thất thu. Mặt khác phải căn cứ vào
nguồn thu mà bố trí chi tiêu, không chi vượt quá khả năng thu của ngân sách, triệt để tiết
kiệm chỉ tiêu về mọi mặt.
Bằng phương thức kế hoạch hoá gián tiếp, thúc đẩy xí nghiệp phấn đấu giảm giá thành,
tăng tích luỹ cho Nhà nước. Để đảm bảo nguồn thu tài chính Nhà nước phải thực hiện thu
thuế theo đúng thời giá và đối tượng không khoan nhượng đối với những đối tượng
không chấp hành hoặc cố tình không nộp thuế. Xúc tiến nghiên cứu và có sự điều chỉnh
hợp lý đối với các loại thuế nông nghiệp, thuế vườn, thuế thuỷ sản, thuế thu nhập… Mau
chóng củng cố tổ chức ngành thuế, loại trừ số nhân viên tiêu cực, thực hiện hệ thống song
trùng l•nh đạo.
Nhà nước thực hiện thường xuyên chế độ thanh tra tài chính xử lý nghiêm theo pháp luật
để nhanh chóng thiết lập trật tự kỷ cương về tài chính, phát động quần chúng kiểm soát
giám sát để chống tệ tham nhũng, lãng phí.
Đối với chính sách tín dụng: Nhà nước cần phải chuyển mạnh chính sách tiền tệ và hoạt
động ngân hàng phù hợp với cơ chế thị trường góp phần ổn định sức mua của đồng tiền
Việt Nam, kiềm chế lạm phát, ổn định giá trị đồng tiền, quản lý ngoại tệ, vàng bạc đá
quý. Tổ chức tốt hệ thống quỹ tín dụng nhân dân. Quản lý chặt chẽ hoạt động của các
ngân hàng thương mại và các chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Có biện pháp đồng bộ để
giảm dần l•i suất, tạo điều kiện cho đầu tư phát triển. Có chính sách tỉ giá hối đoái và
quản lý ngoại hối hợp lý thúc đẩy xuất khẩu và điều tiết được nhập khẩu từng bước làm
cho đồng Việt Nam có giá trị chuyển đổi đầy đủ và là phương tiện lưu thông duy nhất
trong nước.
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
Nhà nước phải ban hành các văn bản pháp quy về tín dụng ngoại hối và ngân hàng đồng
thời thực chi việc kiểm tra quá trình thực hiện của các ngân hàng, áp dụng các biện pháp
quản lý nhằm đảm bảo sự tôn trọng các nguyên tắc hoạt động nghiệp vụ của các tổ chức
tín dụng. Ngân hàng Nhà nước cấp giấy phép hoạt động và kiểm tra các tổ chức tín dụng
trong chấp hành pháp luật về tiền tệ tín dụng thanh toán ngoại hối và ngân hàng thi hành
các biện pháp an toàn nhằm đảm bảo khả năng chi trả kịp thời đẩy đủ theo yêu cầu khách
hàng của các tổ chức tín dụng. Ngân hàng có quyền bắt buộc các tổ chức tín dụng duy trì
các dự trữ pháp định các nguồn tiền khác sẵn sàng thanh toán các khoản tiền gửi và nợ
theo quy định. Ban hành tỉ lệ dự trữ tối thiểu bắt buộc và tỉ lệ an toàn khác tuỳ theo loại
hình của tổ chức tín dụng ngân hàng Nhà nước quy định các giới hạn về các nghiệp vụ,
hoa hồng lệ phí, dịch vụ
Đối với chính sách tiền tệ: Nhà nước cần có hệ thống chính sách thích hợp, thực chi một
chính sách đúng đắn điều hoà cung cầu tiền tệ theo nhịp độ tăng trưởng kinh tế, cải tổ hệ
thống ngân hàng hoạt động theo thông lệ của kinh tế thị trường. Ngân hàng Nhà nước
quản lý về mặt tiền tệ như: Chính sách lãi suất, điều tiết khối lượng tiền tệ phù hợp như
bơm hút tiền vào lưu thông qua hệ thống ngân hàng thương mại để tác động vào cung
cầu, dùng lực lượng dự trữ để can thiệp khi cần thiết. Nhà nước cần phải xem xét tuỳ theo
thực trạng kinh tế và tình hình cụ thể của quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá mà thực
hiện chính sách tiền tệ theo hướng thắt chặt hay mở rộng.
Đối với chính sách giá cả: Nhà nước phải vận dụng tổng hợp nhiều quy luật trong đó quy
luật giá trị có tác động trực tiếp. Giá cả phải phù hợp với giá trị đồng thời phù hợp với
sức mua của đồng tiền và tính đến quan hệ cung cầu. Chính sách giá cả cần phải ổn định
và kích thích các cơ sở sản xuất và mọi người lao động làm ra nhiều sản phẩm hàng hoá
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
hạ giá thành. Không nên ổn định giá cả bằng cách giữ giá một cách cứng nhắc, bất chấp
sức mua của đồng tiền, bất chấp quan hệ cung cầu và sự biến động của các yếu tố hình
thành giá cả. Mặt khác phải có biện pháp tích cực khắcphục từng bước tính tự phát của
giá cả thị trường tự do. Nhà nước cần phấn đấu thi hành chính sách một giá đó lá kinh
doanh thương nghiệp cần sớm ban hành cơ chế định giá và quản lý giá đúng đắn.
3.4. Giải pháp trong vấn đề quản lý
3.4.1. Xác định đúng phương hướng của cơ chế quản lý
Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kì (khoá VII) đã xác định “đưa đất nước chuyển
dần sang một thời kì phát triển mới, thời kì đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hoá”. Coi
đó là nhiệm vụ trung tâm trong thời gian tới. Phương hướng và nội dung của cơ chế quản
lý mới đối với quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá trong giai đoạn nàylà: “Đa dạng có
định hướng”. Đa dạng hướng phát triển ngành, có định hướng ngành mũi nhọn. Đa dạng
công nghệ, có lựa chọn công nghệ thích hợp, hiện đại. Đa dạng vùng phát triển, có định
hướng vùng trọng điểm
Với những định hướng như vậy Nhà nước phải có những biện pháp để khuyến khích và
thúc đẩy quản lý quá trình công nghiệp hóa hiện đại hoá. Nhà nước cần có chính sách tài
trợ cho một số lĩnh vực, mặt hàng, sản phẩm khuyến khích hoặc đáp ứng yêu cầu thực
hiện mục tiêu kinh tế xã hội. Việc tài trợ này không cần phân biệt thành phần kinh tế,
thành phần nào làm được thì hưởng ưu đãi. Đồng thời với việc đảm bảo tính dân chủ,
phải đảm bảo tính bình đẳng giữa các thành kinh tế, vùng kinh tế tạo điều kiện phát huy
đầy đủ năng lực và vị trí của các thành phần kinh tế. Trong điều kiện hiện nay muốn sự
nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá thành công và phát triền bền vững thì mọi thành
phần kinh tế phải được hoạt động một cách bình đẳng, có hiệu quả, có sức cạnh tranh
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
cao. Điều này cần được thể hiện trong việc hoạch định các chính sách của Nhà nước phải
đảm bảo nguyên tắc hai mặt: Đối xử giống nhau đối với mọi thành phần kinh tế để đảm
bảo công bằng theo chiều ngang và đối xử khác nhau đối với các thành phần để đảm bảo
công bằng theo chiều dọc.
Phân định rõ chức năng và quan hệ phân công phối hợp giữa các cơ quan các đơn vị với
nhau. Xác định cụ thể trách nhiệm của từng đơn vị công chức trong thực hiện công việc,
nhiệm vụ. Xác định rõ những bộ phận chỉ đạo điều hoà tổng hợp ở các cơ quan quản lý
tổng hợp. Ví dụ như ở văn phòng chính phủ, văn phòng uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố
và nhất là trong chỉ đạo điều hoà quá trình xây dựng cơ sở hạ tầng thì phải chỉ đạo phối
hợp chặt chẽ hoạt động của các đơn vị liên quan, thực hiện nghiêm ngặt quy định thi
công một lần.
Tạo điều kiện giao lưu quốc tế rộng r•i cho mọi đối tượng, trong khuôn khổ pháp luật mà
Nhà nước quy định. Quan hệ giao lưu quốc tế cần mở rộng trước hết là trong lĩnh vực
nghiên cứu khoa học công nghệ và vốn. Cùng với các biện pháp về kỹ thuật công nghệ,
về kinh tế tổ chức, các biện pháp để thực hiện một cơ chế quản lý chặt chẽ có hiệu quả
nêu trên sẽ có tác dụng tạo thuận lợi cho việc triển khai công nghiệp hoá hiện đại hoá
theo đúng những mục tiêu đã đề ra và đạt kết quả tốt. Tính đồng bộ của các biện pháp là
một yêu cầu cần được nhấn mạnh đòi hỏi Nhà nước phải giải quyết thoả đáng đề phát huy
cao nhất hiệu lực của các biện pháp quản lý.
3.4.2. Xây dựng hệ thống luật kinh tế
Nhà nước pháp quyền trước tiên phải được thể hiện ở những bộ luật đồng bộ, đầy đủ và
khoa học sau đó là việc thực hiện pháp luật trên thực tế một cách nghiêm minh bảo đảm
sự bình đẳng hoàn toàn cho mọi công dân trước pháp luật.
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
Kinh tế thị trường gắn liền với Nhà nước pháp quyền và Nhà nước sẽ quản lý chủ yếu
bằng pháp luật. Kinh tế thị trường lành mạnh chỉ có thể hoạt động trong khuôn khổ luật
pháp. Đây là công cụ cực kỳ quan trọng tạo nên hành lang năng động và có trật tự cho
các chủ thể kinh doanh. Theo hướng đó Nhà nước cần phải dày công tạo dựng, bổ xung,
hoàn chỉnh, chống đặc quyền hành chính bình đẳng giữa các chủ thể sản xuất kinh doanh.
Trước hết ban hành luật kinh doanh chuyển từ nguyên tắc “xin phép” sang nguyên tắc
“được làm cái mà luật không cấm”. Theo từng nấc thang của kinh tế thị trường mà có thể
chế hoá các quan hệ kinh tế. Trước mắt cần hoàn chỉnh bổ sung các luật liên quan đến tư
cách pháp nhân như bổ sung và sửa đổi luật doanh nghiệp tư nhân, luật công ty ban hành,
luật doanh nghiệp Nhà nước, luật hợp tác xã, các luật liên quan đến điều kiện sản xuất
kinh doanh. Nâng pháp lệnh ngân hàng thành luật, luật đất đai, bổ sung sửa đổi luật thuế,
các luật liên quan đến hậu quả sản xuất kinh doanh như luật phá sản, thất nghiệp hiểm
kinh doanh.
Để có thể làm được việc này Nhà nước cần phải thực hiện các nguyên tắc và quan điểm
sau:
Trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật kinh tế, chúng ta phải đối mặt với một khó khăn
lớn là phải tạo lập một hệ thống pháp luật trong đó cơ chế pháp lý của nó phản ánh đa
dạng của các chủ thể kinh doanh và lợi ích kinh doanh. Nhưng lại phải theo định hướng
xã hội chủ nghĩa. Hệ thống pháp luật đó phải giải quyết hài hoà mối quan hệ giữa lợi ích
kinh doanh và công bằng xã hội. Một mô hình như thế chưa từng tồntại trên thực tế, chưa
kể đến quan hệ kinh tế thị trường cũng chỉ mới bước đầu phát sinh ở nước ta và pháp luật
chỉ mới bắt đầu biết đến nó. Vì vậy việc hoàn thiện một cách nóng vội, muốn có đầy đủ
ngay một hệ thống pháp luật ban hành dưới hình thức pháp luật cao sẽ không tránh khỏi
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
những nhược điểm thiếu sót. Việc hoàn thiện pháp luật kinh tế phải được tiến hành từng
bước vững chắc, có chương trình, trật tự ưu tiên sau khi pháp luật được ban hành và đưa
vào điều chỉnh trong thực tế thì việc sửa đổi bổ sung pháp luật là một khâu quan trọng
của hoạt động luật pháp phục vụ công nghiệp hoá hiện đại hoá.
Nền kinh tế thị trường ở nước ta mới bắt đầu hình thành các quan hệ kinh tế chưa ổn
định. Vì vậy cần thiết phải sửa đổi bổ sung thường xuyên. Mặt khác đặc biệt quan trọng
là phải siết chặt kiểm tra thực hiện luật. Tiến hành thường xuyên việc tổ chức tổ chức
kiểm nghiệm lại hiệu lực thi hành của các văn bản pháp luật đã ban hành là vấn đề quan
trọng nhằm giúp cho việc sửa đổi bổ sung kịp thời đáp ứng hoạt động kinh doanh có hiệu
quả hiệu lực. Điều cần hết sức tránh là ở chỗ một văn bản mớ ban hành chưa thực thi thì
đã có ngay một quyết định hoãn hoặc xoá bỏ nó như thời gian qua.
Trong nền kinh tế thị trường quyền tự do kinh doanh là trung tâm, mục tiêu động lực thúc
đẩy sự phát triển của kinh tế. Tuy nhiên tự do kinh doanh không có nghĩa là vô chính
phủ, là vô hạn mà nó được thực hiện trong sự tôn trọng lợi ích của x• hội, của nhân dân,
của các chủ thể kinh doanh khác. Pháp luật không thể là những quy định hạn chế quyền
tự do kinh doanh mà phải tạo tiền đề pháp lý cho sự ổn định các quan hệ kinh doanh làm
cho mọi thành phần kinh tế, mỗi doanh nghiệp và công dân yên tâm huy động mọi tiềm
năng sáng tạo và tiềm năng kinh tế vào hoạt động kinh doanh. Vì vậy pháp luật về kinh tế
phải rất rộng về nhiều phương diện và các bộ phận hợp thành.
Luật công ty và luật doanh nghiệp tư nhân được Quốc hội ban hành vào ngày 21/12/1990
và có hiệu lực từ ngày15/4/1992 nhưng cho đến nay việc thi hành hai luật này còn nhiều
lúng túng lắm phiền hà bởi vì không một cơ quan có trách nhiệm nào của Nhà nước có
văn bản hướng dẫn quy trình xét duyệt cho phép thành lập công ty doanh nghiệp tư nhân
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
theo luật định vậy cần nhanh chóng sửa đổi luật công ty và luật doanh nghiệp tư nhân
trên những nguyên tắc cơ bản của nền kinh tế thị trường. Cần nhanh chong xây dựng và
ban hành luật phá sản của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp có quá trình ra đời hoạt động
kinh doanh thì tất yếu có quá trình phá sản nếu không được chấp nhận. Do đó cần phải có
quy định rõ ràng để nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp thúc đẩy quá trình
công nghiệp hoá hiện đại hoá.
Kết luận
Trong thời đại ngày nay việc nâng cao vai trò quản lý kinh tế của Nhà nước là xu hướng
khách quan đối với mọi quốc gia không phân biệt thể chế chính trị. Ngày nay không có
một Nhà nước nào đứng ngoài đời sống kinh tế, không có một nền kinh tế thị trường nào
hoạt động thuần tuý mà ở những mức độ khác nhau đều có sự can thiệp của Nhà nước.
Nhà nước không còn được quan niệm giản đơn là người giữ trật tự, làm trọng tài mà Nhà
nước nằm trong cơ cầu kinh tế, điều tiết từ bên trong nền kinh tế. Mọi quốc gia các
trường hợp kinh tế phát triển thành công hay suy thoái, giàu hay nghèo, ổn định hay rối
loạn đều tìm thấy nguyên nhân chủ yếu ở vai trò kinh tế của Nhà nước. Vì thế chuyển
sang kinh tế thị trường chỉ là điều kiện cần còn điều kiện đủ phải là vai trò kinh tế của
Nhà nước. Do vậy việc chuyển nền kinh tế nước ta vận hành theo cơ chế thị trường có sự
quản lý của Nhà nước là phù hợp với xu hướng phát triển tất yếu khách quan của nền
kinh tế, phù hợp với xu hướng quốc tế hoá đời sống kinh tế, là con đường đúng đắn nhất
mà Đảng và Nhà nước ta đã chọn để đưa đất nước tiến lên sánh vai cùng cường quốc năm
châu như lời chủ tịch Hồ Chí Minh đã dặn: “ cơ chế mới với nhiều thách thức mới do đó
hơn bao giờ hết cần thiết phải có vai trò kinh tế của Nhà nước để đảm bảo cho sự phát
triển là hiệu quả nhất và giữ vững được định hướng xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đã xác
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -
định bằng mồ hôi và xương máu trong suốt hai cuộc chiến tranh trường kì. Điều đó đòi
hỏi phải nâng cao hơn nữa vai trò quản lý của Nhà nước trong quản lý vĩ mô như cải cách
chính sách tài chính, chuyển giao công nghệ, thương mại thuế quan để phát huy các tiềm
năng trong nước cũng như thu hút được vốn và công nghệ tiên tiến của nước ngoài đồng
thời phát triển nguồn nhân lực phát huy nhân tố con người tiếp nhận được tri thức, thành
tựu khoa học hiệnđại của thế giới để có thể cải tiến công nghệ và từng bước tiến tới sáng
tạo công nghệ mới nhằm đẩy mạnh công cuộc công nghiệp hoá hiện đại hoá, đạt được
yêu cầu tăng trưởng nhanh, ổn định, vững chắc.
Tài liệu tham khảo
1. Vũ Tuấn Anh - Vai trò của Nhà nước trong quản lý kinh tế.
- NXB Khoa học xã hội 1999.
2. Kinh tế học của D.Beed tập 1 chương IV.
3. Ngô Đình Giao - Suy nghĩ về công nghiệp hoá hiện đại hoá ở nước ta 1996.
4. Nguyễn Duy Hùng - Vai trò quản lý kinh tế của Nhà nước trong kinh tế thị trường -
Kinh nghiêm các nước ASEAN.
5. Phạm ích Khiêm - Nguyễn Đình Phan - Công nghiệp hoá hiện đại hoá Việt Nam và các
nước trong khu vực. - NXB Thống kê - 1994.
6. Võ Đại Lược - Chính sách phát triển công nghiệp Việt Nam trong quá trình đ
ổi mới.
- NXB Khoa học xã hội 1996.
7. Công nghiệp hoá hiện đại hoá Việt Nam đến năm 2000.
- NXB Khoa học xã hội 1996.
8. Những xu hướng phát triển của thế giới và sự lựa chọn mô hình công nghiệp ở nư
ớc ta.
- NXB Khoa học xã hội1994.
Simpo PDF Merge and Split Unregistered Version -