Tải bản đầy đủ (.pdf) (10 trang)

Đi tìm phong cách chung của văn học docx

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (169.63 KB, 10 trang )


Đi tìm phong cách chung
của văn học






t
rong các vấn đề về phong cách văn học ở ta, cho đến nay, trong các công trình,
giáo trình lí luận phần lớn đều nói tới vấn đề phong cách cá nhân của nhà văn. Các khía
cạnh khác của phong cách như phong cách thời đại, phong cách trào lưu, phong cách
dân tộc tuy cũng có được nhắc tới nhưng hầu như chưa được bàn bạc và vận dụng vào
thực tiễn bao lăm. Theo nhịp độ phát triển và giao lưu, hội nhập của cuộc sống hôm nay,
vấn đề phong cách chung được nhìn nhận rõ hơn và đã đến lúc cần xem xét cụ thể vấn
đề rất phức tạp này.
Nhìn vào lịch sử vấn đề, thì từ xa xưa cho đến hiện đại, trên phạm vi toàn thế
giới, vấn đề phong cách chung bao giờ cũng được xem xét bên cạnh phong cách cá
nhân, thậm chí là mẫu số chung để nhìn nhận ra phong cách cá nhân. Ở thời Hi Lạp
cổ, theo Aristote, phát ngôn lí tưởng là kết hợp hài hòa giữa logic và cảm xúc mà dấu
hiệu của nó là có kết cấu và có phong cách. Kết cấu đòi hỏi bài văn phải có bố cục
gồm nhiều phần liên kết hợp lí, còn phong cách đòi hỏi phải có các phẩm chất chung,
cơ bản và các phẩm chất cá nhân. Phong cách được hiểu chủ yếu là phong cách ngôn
ngữ, các phương tiện của nó là cách sử dụng đúng đắn các từ đồng nghĩa, đồng âm,
các tính ngữ, các ẩn dụ… Aristote viết trong Tu từ học (Rhetorica) như sau: “Phong
cách sẽ có được các phẩm chất cần phải có, nếu như nó tràn đầy tình cảm, nếu như
nó phản ánh được tính cách và phù hợp với tình hình thực tế của sự vật”. Các phẩm
chất cơ bản đó còn thể hiện qua nhịp điệu, bố cục… theo ông, phong cách (ngôn ngữ)
phải được trau chuốt và trang nhã. Đó chính là phong cách ngôn ngữ chung của ngôn
ngữ văn học. Đardi và Vamana, hai nhà lý luận văn nghệ cổ Ấn Độ trong các công


trình của mình (Kaviadarsa và Kavialankarasutra) cũng đã trình bày học thuyết về
các phẩm chất của phong cách chung - phong cách hay, bao gồm cả các yếu tố tu sức
ngôn từ tiêu biểu cho các tác phẩm, đặc biệt là nguyên tắc dhvani - ám thị, chứ không
biểu trực tiếp, làm cho văn bản giàu chất thơ. Các nhà lý luận cổ điển Trung Quốc
như Lưu Hiệp, Chung Vinh, Tư Không Đồ cũng nêu ra tư tưởng về chuẩn mực văn
chương như, “lục nghĩa” của Lưu Hiệp. Như vậy, phong cách chung như là chuẩn
mực của văn chương đã được đề xuất từ sớm.
Khái niệm phong cách cá nhân thực sự được đề xuất từ thế kỷ XVIII. Với
Buffon, phong cách là sự biểu hiện hoàn mỹ vào tác phẩm cái nhân cách, tư tưởng,
tình cảm của chủ thể sáng tạo. Xin lưu ý là khái niệm phong cách của Buffon không
chỉ áp dụng cho văn học, mà cho mọi sáng tác về tư tưởng như khoa học, triết học,
lịch sử. Về sau Marx cũng sử dụng khái niệm phong cách này để đánh giá tác phẩm
về kinh tế học của Prudon. Tư tưởng này được Dideraut, Flaubert (Pháp), Rauli (Anh)
tán thành.
Với Goethe, phong cách là sự thống nhất chủ quan và khách quan trong sáng
tác, khi nhà văn vừa vượt lên trên mọi sự mô phỏng giản đơn đối với tự nhiên, vừa
vượt lên trên cái tác phong, kiểu cách chủ quan của nhà văn. Với Hégel, phát triển tư
tưởng của Phôn Rumô, phong cách được hiểu là phương thức biểu hiện, quy luật
nghệ thuật của một loại hình nghệ thuật nào đó: phong cách thơ, phong cách nhạc
kịch.
Như vậy ở thế kỷ XVIII đến thế kỷ XIX, khái niệm phong cách không phải
chỉ nhấn mạnh vào phong cách cá nhân. Đi vào lĩnh vực sáng tạo nghệ thuật,
phong cách ngôn ngữ phải nhường chỗ cho các phương diện khác như cá tính, quy
luật nghệ thuật. Đáng chú ý là chính vào thế kỷ XVIII, khi khái niệm phong cách
cá nhân được đề xuất thì tại Đức, nhà mỹ học Winc Kelmann đã đưa ra khái niệm
phong cách như một phạm trù của lịch sử nghệ thuật. Ông đã nói đến phong cách
thời đại và phong cách cá nhân nghệ sĩ trong các dân tộc; do thời đại đổi thay mà
nghệ thuật có những phong cách khác nhau Ví dụ, ông chia nghệ thuật Hi Lạp cổ
làm 4 thời kỳ với 4 phong cách: Phong cách đường nét, Phong cách cao cả, Phong
cách đẹp, Phong cách chiết trung.

Sang thế kỷ XIX, H. Taine trong Triết học nghệ thuật (1865-1869), quan niệm
văn hóa lịch sử về văn học nghệ thuật dựa trên cơ sở mô phỏng đời sống, cũng nói tới
phong cách thời đại. Chẳng hạn, phong cách nghệ thuật Hi Lạp cổ, phong cách Cơ
đốc giáo, phong cách tao nhã quí tộc cung đình thời Louis XIX có ảnh hưởng tới hầu
như toàn châu Âu: Ý, Anh, Nga, Đức, Tây Ban Nha. Khi nào văn học xa rời thực tế
thì phong cách suy thoái .
Vào thế kỷ XX Ken Viper trong sách Lịch sử các phong cách của nghệ thuật
tạo hình (1910), Henrích Vônfơlin trong công trình Các khái niệm cơ bản của lịch sử
nghệ thuật - Vấn đề tiến hoá của phong cách trong nghệ thuật mới (1915), tác giả Mỹ
W. Fleming trong sách Nghệ thuật và quan niệm (1947), cũng đều lấy khái niệm
phong cách chung, phong cách thời đại, trào lưu để nghiên cứu mô tả quá trình lịch
sử của nghệ thuật. Nhà nghiên cứu văn học Nga D.S. Likhachov nhận định “Trong
thời đại chúng ta có thể nói về phong cách thời đại, như phong cách barôcô trong
chừng mực mà nó thể hiện trong tất cả các loại hình hoạt động nghệ thuật, trong
những giới hạn thời gian và giới hạn địa lý”. Phải chăng trong mọi thời đại đều tồn
tại cái mà chúng ta có thể gọi là phong cách thời đại . Xem thế đủ thấy trong lịch sử
văn học nghệ thuật khái niệm phong cách chung luôn luôn có vai trò của nó, bên cạnh
khái niệm phong cách cá nhân. Thậm chí nó còn có cả vai trò trong các thời đại, khi
điều kiện để xuất hiện phong cách cá nhân chưa chín muồi.
Các công trình lí luận đầu thế kỷ XX như của V. Girmunski, của E. Utitz đều
đặt khái niệm phong cách thời đại vào vị trí quan trọng của lí luận về phong cách.
Thế nhưng về phương diện lí luận, trong giới lí luận các nước xã hội chủ
nghĩa trước đây, đặc biệt từ khi lý luận hiện thực xã hội chủ nghĩa ra đời vào những
năm 30 của thế kỷ XX, người ta có xu hướng chỉ thừa nhận phong cách cá nhân như
là sự thể hiện đa dạng của phương pháp chung, sự thống nhất về phương pháp và sự
đa dạng của phong cách cá nhân, và như vậy đã thu hẹp phạm vi biểu hiện của hiện
tượng phong cách, xa rời một truyền thống nghiên cứu đã có hàng trăm năm.
Công trình Lí luận phong cách (1968) của N. Sokolov có thể coi là tác phẩm
đầu tiên trong các nước xã hội chủ nghĩa đặt lại vấn đề phong cách. Ông khẳng định
phong cách là một hiện tượng nghệ thuật, thể hiện quy luật của nghệ thuật, là phạm

trù thẩm mỹ trong tất cả mọi nghệ thuật. Bản chất của nó là sự thống nhất của mọi
thành tố nghệ thuật theo những quy luật đặc thù. Đi theo quan điểm của một loạt tác
giả như: H. Vônfơlin, V. Handenstein, Phơ rích, K. Viper, chủ yếu chỉ thừa nhận
phong cách như một hiện tượng lịch sử, xã hội, thời đại chứ không phải thừa nhận
phong cách cá nhân! Ngược lại với quan điểm quen thuộc của Trofimov, Timofiev,
Elsbes, M.B. Khravchenko N. Sokolov cho rằng “Xem phong cách là hiện tượng cá
nhân dễ đưa đến sự phủ nhận bản chất xã hội của nó. Không có phong cách cá nhân
tách rời xã hội”. Ông không xem cá tính sáng tạo cá nhân (theo cách hiểu của
Khravchenko) là nhân tố tạo thành phong cách, bởi vì theo ông, nếu đã xem phong
cách là một quy luật của nghệ thuật thì không được xem nó như là biểu hiện của cá
tính sáng tạo vốn là một hiện tượng tâm lý, bởi hai phương diện đó nằm ở hai bình
diện khác nhau. Xin lưu ý thêm, cũng vào lúc này (1967) G. Antoine ở Pháp đã nói
Saint Beuve không hiểu gì Stendhal bởi vì ông mải đi tìm tiểu sử của ngài Beile! Từ
đó ông cho rằng phong cách cá nhân là sự biểu hiện của phong cách chung, tức là
phong cách thời đại, phong cách trào lưu. Ông đã lập luận rằng, nếu phương pháp
chung có sự thể hiện riêng về mặt cá nhân thì đó sẽ là phương pháp riêng chứ không
phải là phong cách riêng. Còn đã nói phong cách cá nhân thì đã là sự thể hiện riêng
của phong cách chung phải phục tùng quy luật chung. Như vậy, người ta không thể
nghiên cứu phong cách riêng mà không xét đến phong cách chung.
Đã đến lúc phải đi tìm những biểu hiện và cơ sở lý luận của phong cách chung,
bởi vì sự vận động của văn học không thể chỉ là sự tích luỹ không ngừng các phong
cách cá nhân mà còn ở chỗ mỗi giai đoạn văn học đều mang lại cho lịch sử một
phong cách mới, và không có lý do gì để chỉ nói phong cách cá nhân mà dè dặt,
không nói đến phong cách chung. Mặt khác, phong cách cá nhân không thể tự nó
hình thành mà không có tác động của một phong cách chung nào đó. Trong truyền
thống nghiên cứu văn học Trung Quốc xưa, người ta đã phân biệt được phong cách
văn học Hán với phong cách thời Lục Triều, phân biệt được phong cách Đường với
phong cách Tống, phân biệt Nguyên, Minh, Thanh. Ở phương Tây, cùng là nghệ
thuật thời trung đại, nhưng người ta phân biệt phong cách Bizantin thời kỳ đầu với
phong cách La Mã tăng lữ và phong cách La Mã phong kiến; cùng là phong cách

Barroco nhưng người ta phân biệt phong cách Barroco Venise, phong cách Barroco
thời chống cải cách tôn giáo, phong cách Barroco quý tộc thời Louis XIV, phong
cách Barroco hạn chế của thời khôi phục vương triều. Những điều đó đã trở thành
thường thức các giáo trình về lịch sử nghệ thuật .
Vậy phong cách chung là gì? Nó có những đặc điểm gì?
Theo D.S. Likhachov, thứ nhất, phong cách chung là phong cách nghệ thuật
mà nó vượt lên trên chất liệu cụ thể như ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, thể loại, cá
tính, để có thể có đặc điểm chung, ảnh hưởng tới các loại hình nghệ thuật khác
nhau. Chẳng hạn như phong cách Barroco đã nói ở trên, thể hiện trong hội hoạ, kiến
trúc, điêu khắc, âm nhạc, văn học. Tương tự, phong cách lãng mạn trong văn học
1932-1945 của Việt Nam vừa thể hiện trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn, trong thơ
mới, trong âm nhạc và trong hội hoạ. Trong văn học, phong cách chung thể hiện ở
tất cả mọi thể loại, và đó là một lớp, một phạm trù phong cách bên cạnh các lớp
khác như phong cách cá nhân, phong cách dân tộc, phong cách trào lưu…
Thứ hai, phong cách chung, đặc biệt là phong cách thời đại là sự biểu hiện của
trình độ kỹ thuật biểu hiện, của trạng thái văn hoá, xã hội, tập quán tâm lý thời đại đã
hình thành nên phong cách. Phong cách thể hiện tập trung ở cách thể hiện thế giới và
con người, cảm thụ bản thân nghệ thuật. Chẳng hạn nghệ thuật Ai Cập cổ đại có nền
tảng là tôn giáo Ai Cập, tôn giáo về cái chết; trái lại, nền tảng của nghệ thuật Hi Lạp
cổ đại là thế giới quan yêu đời. Khi nào nội dung và hình thức cuộc sống đổi thay thì
nghệ thuật, vốn là biểu hiện của cuộc sống đó cũng thay đổi, và sự đổi thay đó “chính
là đổi thay phong cách” (E.Utitz: Phong cách là gì?).
Trong văn học Việt Nam giai đoạn 1930-1945, giới khoa học đã nói đến phong
cách cá nhân của các nhà văn, nhà thơ tiêu biểu; cũng đã nói đến phong cách hiện
thực, phong cách lãng mạn. Nhưng cũng có thể nói đến phong cách thời đại thể hiện
ở các điểm sau:
+ Một là, quan niệm lí tính đối với cuộc đời, niềm tin vào khoa học, tiến bộ, lẽ
công bằng, tư tưởng bình đẳng, tự do. Khi Thơ mới đòi hỏi thể hiện nhu cầu giải
phóng cá tính trong tình cảm cũng là lúc các tiểu thuyết Tự lực văn đoàn đấu tranh
cho các quyền con người của cá nhân; và cũng là lúc các tiểu thuyết hiện thực lên án

xã hội bất công chà đạp lên số phận con người sau luỹ tre làng. Một số nhà văn Tự
lực văn đoàn có phong cách hiện thực chính là do ảnh hưởng của phong cách thời đại
trong cảm hứng tố cáo và trữ tình. Văn học Cách mạng xuất hiện trong giai đoạn này
cũng mang tính lý tính và tính lý tưởng rất đậm.
+ Hai là, sự hiện đại hoá đồng loạt các thể loại văn học do tiếp thu ảnh hưởng
của văn học phương Tây. Thơ mới, tiểu thuyết, truyện ngắn, phóng sự, kịch nói, du
kí, tuỳ bút, phê bình văn học nhất loạt xuất hiện, thay thế hẳn các thể loại truyền
thống. Các hình thức truyền thống như thơ bảy chữ, năm chữ, lục bát,… đều được
cấu trúc lại.
+ Thứ ba, các nhà văn, nhà thơ dù sáng tác theo thể loại nào đều đã cắt đứt với
truyền thống tập cổ mà tự mình cấu tứ, sáng tạo, vai trò chủ thể của tác giả đặt lên
hàng đầu. Người ta phân biệt rõ ràng sáng tác và phóng tác, lịch sử và tiểu thuyết lịch
sử. Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố, Nam Cao… cùng một loạt
nhà Thơ mới đa dạng về phong cách cá nhân đã tiêu biểu cho ý thức chủ thể nổi bật,
như là một đặc trưng của phong cách thời đại.
+ Thứ tư, khác với lối văn truyền thống nặng về vần điệu đăng đối với điệu
ngâm nhịp nhàng, lối văn hiện đại chuyển hẳn sang văn xuôi: văn tiểu thuyết, truyện
ngắn, phóng sự mang hình thức khẩu ngữ, kịch hoá, thân mật, suồng sã trong khoảng
cách gần, lời thơ về cơ bản là mang hình thức điệu nói đầy giọng điệu giãi bày, tâm
tình.
Một yếu tố quan trọng nữa của phong cách là cách bố cục, kết cấu, tổ chức
nội dung tác phẩm, thể hiện cách cảm thụ của tác giả là người đọc kiểu mới. Điều
nổi bật của văn học giai đoạn này là kết cấu mở, mở từ giữa chừng và kết thúc lửng.
Văn đã vậy mà thơ cũng vậy.
Những đặc điểm trên đây xác định phong cách thời đại cơ bản trong văn học
1930-1945, cho phép phân biệt nó với văn học giai đoạn trước và sau đó.
Phong cách thời đại có những nét truyền thống nhưng không đồng nhất, nghĩa
là bên trong nó vẫn có sự phân hoá theo các yếu tố khác như phương pháp sáng tác,
cá tính sáng tạo, khuynh hướng tư tưởng xã hội, thẩm mỹ. Nhưng phong cách thời đại
do xây dựng trên nền tảng trạng thái văn hoá xã hội rộng lớn nên có tính thống nhất

không thể bác bỏ.
Phong cách văn học dân tộc không giản đơn chỉ là tính độc đáo dân tộc về đề
tài, chủ đề, ngôn ngữ, thể loại mà còn là quy luật riêng của sáng tạo nghệ thuật.
Phong cách dân tộc qua các thời kỳ đều có sự đổi thay và phát triển, cho nên theo
Sokolov, có thể nói đến các phong cách dân tộc.
Cũng vậy, phong cách trào lưu tuy một mặt có phạm vi bao quát nhỏ hơn
phong cách thời đại và dân tộc, song xét về mặt khác nó lại rộng hơn, có tầm vóc
quốc tế. Phong cách thời đại trong giai đoạn tăng cường giao lưu quốc tế cũng có tầm
vóc quốc tế. Trong các tương quan đó, dân tộc là phạm trù cho sự kết tinh phong cách
thời đại và trào lưu. Khi xét tới phong cách chung, thiết nghĩ phải tính đến các tương
quan ấy với nhau mới làm sáng tỏ một phong cách nào đó.
Xét về bản chất của phong cách, cho đến nay có nhiều cách hiểu khác nhau.
Tuy nhiên có thể nhìn phong cách theo bốn phương diện liên quan chặt chẽ với nhau
như sau.
1. Phong cách là dấu hiệu độc đáo, không lặp lại, đánh dấu phẩm chất thẩm
mỹ riêng biệt của một hiện tượng văn học nào đó. Phong cách hoặc là “con người”,
là sự sáng tạo, sự mới mẻ làm nên vẻ riêng biệt ít thấy ở hiện tượng văn học khác
nhưng lại nhất quán, xuất hiện thường xuyên ở hiện tượng văn học cụ thể. Cần hiểu
rằng sự bền vững, nhất quán nói ở đây là nói từ cái cốt lõi, cái trong bản chất, còn
trong quá trình triển khai thì phong cách lại đòi hỏi sự đa dạng và đổi mới. Muốn
đạt được yêu cầu ấy, phong cách cần phải có phẩm chất thẩm mỹ, nghĩa là khi nói
tới một hiện tượng văn học nào đó có phong cách thì hiện tượng văn học ấy phải
mang lại cho người đọc, người xem, người nghe một sự hưởng thụ thẩm mỹ dồi dào.
Ở đây cũng cần lưu ý thêm một điểm: phong cách phải có phẩm chất thẩm mỹ
nhưng phẩm chất này không chỉ thuần túy về mặt hình thức, kỹ thuật mà tùy thuộc
vào từng trường hợp cụ thể nó sẽ được biểu hiện chủ yếu ở phạm vi nội dung hay
phạm vi hình thức.
2. Phong cách là phẩm chất của chỉnh thể. Khi định nghĩa về phong cách, dù có
thể được diễn đạt bằng nhiều cách khác nhau, nhưng các định nghĩa đó đều đề cập
đến “tính hệ thống”, “tính thống nhất”, “tính tổng hòa” Điều này chứng tỏ, phong

cách là phẩm chất của hệ thống thể hiện qua các yếu tố chứ không phải là phẩm chất
do tổng cộng các thuộc tính của các bộ phận của tác phẩm. Phong cách là phẩm chất
xuyên suốt qua các yếu tố tác phẩm, qua các tác phẩm của một tác giả hoặc các tác
giả của một trào lưu nghệ thuật. Ngay cả khi nói phong cách nghệ thuật là tính độc
đáo của hình thức nghệ thuật thì cũng phải thấy rằng đó không phải là hình thức cụ
thể của một tác phẩm cụ thể, cá biệt là cái hình thức được lặp đi lặp lại, vừa thống
nhất vừa đa dạng trong nhiều tác phẩm khác nhau của một nhà văn, một trường phái
hay một thời đại văn học, nghệ thuật (khi chúng ta nói về phong cách Nguyễn Tuân,
phong cách Thơ mới Việt Nam giai đoạn 1932-1945, v.v là đứng trên quan niệm
này). Vì thế, có thể nói phong cách nghệ thuật là hình thức siêu hình thức cụ thể của
sáng tác nghệ thuật.
3. Phong cách là phẩm chất tương đối ổn định của sáng tác. Các đặc điểm của
nó được lặp đi lặp lại tương đối thường xuyên, ít thay đổi. Nhưng đây là ổn định
trong sự phong phú đa dạng, có biến đổi chứ không phải là sự lặp lại giản đơn, nghèo
nàn. Tuy nhiên cần lưu ý rằng sự ổn định là cơ bản, nhờ thế nó mới trở thành phong
cách để phân biệt với các phong cách khác. Chẳng hạn, có thể nói tới phong cách trữ
tình của Tố Hữu bởi nét trữ tình này về cơ bản là ổn định, được lặp đi lặp lại tương
đối thường xuyên trong các sáng tác của ông. Nhưng trữ tình trong Từ ấy không hoàn
toàn giống trữ tình trong Việt Bắc, nó cũng khác với trong Gió lộng, Ra trận, và đặc
biệt là khác với trữ tình trong Một tiếng đờn.
4. Phong cách là hình thức của chủ thể. Phong cách là gương mặt tinh thần,
Buffon đã từng khẳng định: phong cách là bản thân con người. Dĩ nhiên, người ở đây
không phải là con người trừu tượng, chung chung mà là người với những phẩm chất
trí tuệ, tình cảm, cá tính cụ thể. Nhưng cũng không thể giản đơn coi văn như con
người mà đó là tài năng tư duy, tổ chức của con người. M. Bakhtin khẳng định tính
tích cực của chủ thể trong sáng tạo hình thức, khẳng định cái nhìn mới là yếu tố căn
bản của phong cách nghệ thuật. M. Prust, D.S. Likhachov cũng đồng tình với quan
niệm này. Tư duy, hệ hình tư duy, thái độ cảm xúc, quan niệm giá trị tạo thành hình
thức cảm nhận của chủ thể. Hình thức cảm nhận của chủ thể dẫn đến những phát hiện
mới về hình thức, bút pháp, kỹ thuật, tạo thành nền tảng của phong cách. Nhà nghiên

cứu văn học Trung Quốc Lý Trạch Hậu cho rằng lịch sử của phong cách là lịch sử
tâm lý cảm nhận của nhân loại hay dân tộc. Đó là hình thức của chủ thể, cho nên
phong cách có quan hệ mật thiết với phương pháp nghệ thuật.
Như vậy có thể hiểu, bản chất nghệ thuật, thẩm mỹ của phong cách là: không
phải mọi hình thức chủ thể có thể tạo thành phong cách mà là các hình thức chủ thể
tạo thành giá trị nghệ thuật. Vì thế, Viper, Sokolov đều cho rằng có những tác phẩm
không có phong cách, có những giai đoạn giao thời không có phong cách.
*
Từ những phân tích trên đây có thể thấy, khi đề cập đến vấn đề phong cách thì
không chỉ nói đến một cấp độ phong cách nhà văn hay phong cách tác phẩm mà còn
phải nghiên cứu kỹ càng các cấp độ khác như phong cách thời đại, phong cách trào
lưu, trường phái Từ phong cách cá nhân nhà văn đến phong cách thời đại, trào lưu
đều được soi rọi dưới ánh sáng của phong cách chung. Ví dụ, khi chúng ta nói
đến phong cách hiện thực chẳng hạn. Chủ nghĩa hiện thực với tư cách là một trào lưu
văn học, ngoài sự thống nhất về phương pháp sáng tác còn có sự thống nhất về phong
cách. Trước hết là chi tiết chân thực của đời sống hàng ngày dùng để dệt nên bức
tranh đời sống như nó vốn có - đây là nguyên tắc mô tả nên nó thuộc phạm trù phong
cách. Đặc điểm thứ hai, như Engels nói, chủ nghĩa hiện thực không muốn bộc lộ
khuynh hướng một cách lộ liễu mà muốn nó được toát ra từ tình huống - đây lại thuộc
phương thức thuyết phục người đọc và phương thức biểu hiện cách chiếm lĩnh đời
sống như M.B. Khravchenko từng nói. Một đặc điểm nữa của phong cách hiện thực,
theo D.S. Likhachov diễn đạt, là khoảng cách gần gũi của người kể chuyện đối với
nhân vật, thâm nhập vào nội tâm, kể từ bên trong. Đặc điểm cuối cùng là sự bộc lộ
yếu tố cá nhân và phong cách cá nhân nhà văn.
Đặc điểm phong cách chung này làm cho hiện tượng phong cách cá nhân của
trào lưu hiện thực phong phú và đa dạng chưa từng có. Hay khi chúng ta nói phong
cách thời đại cũng vậy. Khái niệm phong cách thời đại dùng để chỉ một phong cách
chung, phong cách lớn bao trùm mọi thể loại trong một loại hình, mọi loại hình trong
thời đại ấy. Sự bao trùm này không chỉ ở một quốc gia, dân tộc mà nó chứa đựng tính
chất xuyên dân tộc, xuyên quốc gia cùng chịu sự chi phối chung của một ý thức hệ

nhất định, ví dụ như ý thức hệ tôn giáo trong phong cách Gotic bao trùm hầu hết các
dân tộc từ phương Tây đến phương Đông, hay ý thức hệ vô sản trong phong cách thời
đại của các nền văn học nghệ thuật từ thập niên 20 đến thập niên 90 của thế kỷ XX ở
các nước Nga, Trung Quốc, Việt Nam, Cu Ba, v.v
Thực tế này khiến chúng ta nghĩ rằng, không thể không nghiên cứu kỹ càng
vấn đề phong cách chung của văn học. Ngược lại, chúng tôi cho rằng cần phải thực
hiện hành trình “đi tìm” nó một cách cẩn trọng để cho thấy, sáng tác văn học trong
một thời đại nào đó, một dân tộc nào đó không phải là tổng cộng giản đơn các phong
cách cá nhân đa dạng mà giữa chúng có mối liên hệ nội tại tạo thành một phong cách
bao trùm lên các phong cách cá nhân mà ta có thể gọi là phong cách chung của văn
học

×