Mục lục
CHƯƠNG II 45
2.1 Một số đặc điểm về chủ đề : 46
2.1.1. Lấy chất liệu từ những ca khúc quen thuộc: 46
2.1.2 Lấy chất liệu từ làn điệu dân ca: 48
2.1.3 Sử dụng âm hưởng của âm nhạc dân gian: 50
2.1.4 Sử dụng kết hợp giữa chất liệu của âm nhạc Việt Nam với âm nhạc phương Tây :53
2.2 Hòa âm – phức điệu : 57
2.2.1 Hòa âm : 57
2.2.2 Phức điệu : 66
2.3 Thủ pháp phối khí : 73
2.4 Mối quan hệ giữa nhạc cụ độc tấu với dàn nhạc: 75
Tiểu kết chương II 78
Kết luận chung 80
Tài liệu tham khảo 84
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài :
Quá trình hình thành và phát triển âm nhạc thính phòng – giao hưởng
cùng chung với con đường phát triển của nền âm nhạc mới Việt Nam, tuy
xuất hiện muộn hơn, mới chỉ từ thập niên 60 của thế kỷ XX, còn trước đó chỉ
là những tiền đề cần thiết cho loại hình nghệ thuật này. Âm nhạc thính phòng
giao hưởng ở giai đoạn này là sự tiếp thu tinh hoa của âm nhạc thế giới dựa
trên cơ sở nền tảng của âm nhạc truyền thống, làm phong phú cho nền âm
nhạc Việt Nam bằng những hình thức, thể loại mới thông qua các nhạc khí
phương Tây. Sự ra đời của âm nhạc thính phòng – giao hưởng đã thể hiện một
bước mới của nền âm nhạc chuyên nghiệp Việt Nam qua trình độ của các nhà
soạn nhạc, trình độ biểu diễn của các nghệ sĩ cũng như công tác đào tạo âm
nhạc chuyên nghiệp. Các tác phẩm âm nhạc thính phòng giao hưởng Việt
Nam không chỉ phong phú về hình thức và thể loại mà ngôn ngữ âm nhạc khá
đậm đà bản sắc dân tộc để biểu hiện hình tượng đất nước, con người Việt
Nam thời đại. Đề tài, nội dung phản ánh sôi động những sự kiện, con người
Việt Nam trong hai cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc, hoặc những đề tài về
lịch sử hay truyền thuyết của dân tộc. Song song là những đề tài về cuộc sống
lao động xây dựng đất nước, là cảm xúc, trăn trở suy tư của tác giả trước
những thay đổi của đất nước.
Sau khi đất nước hoàn toàn thống nhất, sự giao lưu âm nhạc với nước
ngoài được mở rộng, không chỉ những nước thuộc khối XHCN cũ mà cả
những nước thuộc Tây Âu, Mỹ và các nước trong khu vực. Nền âm nhạc nói
riêng và văn hóa nghệ thuật nói chung của Việt Nam có cơ hội giới thiệu với
các bạn bè năm châu. Các tác phẩm âm nhạc thính phòng và giao hưởng ở
giai đoạn này có những bước phát triển mới, không những đa dạng về thể loại,
thủ pháp sáng tạo mà còn phong phú về hình tượng cũng như ngôn ngữ âm
nhạc. Ở thời kỳ này còn xuất hiện thêm loại hòa tấu nhạc cụ với dàn nhạc
giao hưởng, nhạc cụ dân tộc cổ truyền với dàn nhạc giao hưởng – đó chính là
thể loại concerto – thể loại mà ở trên thế giới đã được định hình và phát triển
từ những năm cuối của thế kỷ XVII với những tác phẩm của Corelli, Händel,
Vivaldi và Bach.
Những tác phẩm Concerto của các nhạc sĩ Việt Nam tuy số lượng chưa
nhiều nhưng cũng đạt được những giá trị nghệ thuật : Concertino cho Piano
và dàn nhạc của nhạc sĩ Ca Lê Thuần, “Tuổi trẻ” của nhạc sĩ Chu Minh, “Tổ
quốc tôi” của nhạc sĩ Nguyễn Đình Lượng, concertino cho violon và dàn nhạc
của Nguyễn Đình Phúc, concerto cho đàn tranh với dàn nhạc giao hưởng của
Quang Hải, concerto cho sáo trúc với dàn nhạc giao hưởng của Trí
Thanh….Những tác phẩm thính phòng giao hưởng trong đó có concerto của
2
các nhạc sĩ Việt Nam không chỉ được biết đến trong nước, mà còn được biểu
diễn, in ấn, thu âm ở nước ngoài. Vì thế nền âm nhạc thính phòng giao hưởng
của Việt Nam tuy còn non trẻ nhưng đã bước đầu được thế giới biết đến. Bên
cạnh đó âm nhạc thính phòng giao hưởng Việt Nam cũng trở thành đối tượng
được quan tâm nghiên cứu từ góc độ âm nhạc học, hay góc độ lịch sử phát
triển trong các luận án, luận văn, khóa luận, tiểu luận của sinh viên khoa Lý
luận - Sáng tác - Chỉ huy, trong các bài viết trên các báo, đài và gần đây nhất
là các công trình cấp bộ và nhà nước.
Tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa có công trình nào đi sâu vào tìm hiểu
thể loại concerto của các nhạc sĩ Việt Nam, một thể loại âm nhạc mới được
phát triển ở Việt Nam sau ngày đất nước hoàn toàn thống nhất.Với lý do đó
trong luận văn này, chúng tôi lựa chọn hướng nghiên cứu với đề tài:
“Thể loại concerto trong âm nhạc giao hưởng của các nhạc sĩ Việt
Nam”.
2. Mục đích nghiên cứu :
- Mục đích chính của luận văn nhằm tìm hiểu những đặc điểm về hình
thức, về bút pháp sáng tác và sự tiếp thu những phương tiện diễn tả của âm
nhạc phương Tây với việc khai thác nguồn chất liệu dân tộc trong một số bản
concerto tiêu biểu của các nhạc sĩ Việt Nam.
- Rèn luyện năng lực nghiên cứu và giảng dạy bộ môn “Hình thức âm
nhạc” cho chính bản thân người nghiên cứu.
3. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu :
Những tác phẩm concerto của các nhạc sĩ Việt Nam có số lượng không nhiều
và không phải tác phẩm nào cũng có điều kiện giới thiệu rộng rãi tới công
chúng, nên việc tiếp cận với tác giả, nhạc bản hay âm thanh đều rất hạn chế.
Chính vì vậy, trong luận văn của mình, chúng tôi sẽ không tìm hiểu được hết
những tác phẩm concerto mà chỉ tìm hiểu một số tác phẩm đã được biểu diễn
3
trong và ngoài nước, được vang lên trước công chúng, trên Đài phát thanh và
Truyền hình. Đó là các tác phẩm:
- Concertino viết cho Piano và dàn nhạc GH “Tuổi trẻ” của NS Chu Minh
- Concerto viết cho Piano và dàn nhạc GH “Tổ quốc tôi”của NS Nguyễn Đình
Lượng.
- Concerto viết cho Piano và dàn nhạc GH “Bất khuất” của NS Đỗ Dũng
- Concerto Fantastic viết cho Violon và dàn nhạc GH của NS Phúc Linh
- Concerto viết cho Violon và dàn nhạc GH của NS Đỗ Hồng Quân
- Concerto viết cho Piano và dàn nhạc GH của NS Thế Bảo
- Concerto viết cho Piano và dàn nhạc GH của NS Ca Lê Thuần
4. Lịch sử đề tài :
- Công trình nhiều tác giả “Âm nhạc mới Việt Nam - tiến trình và thành tựu”
(Viện âm nhạc 2000). ( Mục 4: Hòa tấu cho nhạc cụ và dàn nhạc, Chương 25
– 20 trang )
- Công trình nghiên cứu của nhạc sĩ Nguyễn Thị Nhung với đề tài “Âm nhạc
thính phòng giao hưởng Việt Nam” (Viện âm nhạc 2001). ( Mục 4: Concerto
cho nhạc khí với dàn nhạc, Phần II – Chương 2 – 43 trang )
- Nguyễn Thanh Trà – “Phân tích một số tác phẩm Piano và Violon viết ở
những hình thức và thể loại lớn” – luận văn thạc sĩ nghệ thuật học ( Mục 4.1
Thể loại concerto 1 chương viết cho Piano và dàn nhạc – 16 trang )
- Vũ Tú Cầu – “Tìm hiểu một số tác phẩm viết cho đàn Piano ở thể loại
concerto” - khóa luận tốt nghiệp Đại học lý luận 1996 ( 44 trang )
- Nguyễn Minh Tân – “Tìm hiểu bản concerto viết cho đàn Violon và dàn
nhạc của NS Nguyễn Đình Phúc” - khóa luận tốt nghiệp Đại học lý luận 2001
( 63 trang )
- Trần Ngọc Thanh – “Tìm hiểu bản concerto viết cho Piano và dàn nhạc của
Ns Ca Lê Thuần” - khóa luận tốt nghiệp Đại học lý luận 2001 ( 61 trang )
4
5. Phương pháp nghiên cứu :
Luận văn của chúng tôi sẽ sử dụng những phương pháp : thu thập tài
liệu, thống kê, phân tích, so sánh và phân loại…sau đó là tổng kết để rút ra
những đặc trưng của đối tượng nghiên cứu.
6. Bố cục luận văn :
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 2 chương :
Chương I : Phân tích tác phẩm
1.1. Lịch sử phát triển của thể loại concerto
1.1.1. Những khái niệm về "Concerto" qua các thời kỳ
1.1.2. Đặc điểm của "Concerto" qua các thời kỳ
a) Concerto cổ điển
b) Concerto Lãng mạn
c) Concerto thời kỳ cận Hiện đại
1.2. Concerto viết cho nhạc khí với dàn nhạc của các nhạc sĩ VN
1.2.1 Thể loại concerto 1 chương
1.2.2 Thể loại concerto nhiều chương
1.3 Hình thức Sonate
1.4 Một số hình thức khác
Tiểu kết chương I
Chương II - Đặc điểm âm nhạc
2.1 Một số đặc điểm về chủ đề
2.1.1 Lấy chất liệu từ những ca khúc quen thuộc
2.1.2 Lấy chất liệu từ làn điệu dân ca
2.1.3 Sử dụng âm hưởng của âm nhạc dân gian
2.1.4 Sử dụng kết hợp giữa chất liệu của âm nhạc Việt Nam với âm
nhạc phương Tây
5
2.2 Hoà âm - phức điệu :
2.2.1 Hòa âm
2.2.2 Phức điệu
2.3 Phối khí
2.4 Mối quan hệ giữa nhạc cụ độc tấu và dàn nhạc giao hưởng
Tiểu kết chương II
Kết luận chung.
CHƯƠNG I
1.1. Lịch sử phát triển của thể loại concerto :
(1)
1.1.1. Những khái niệm về "Concerto" qua các thời kỳ:
Vào khoảng năm 1600, lần đầu tiên trong trường phái Viên, tên gọi
“concerto” để chỉ chung các tác phẩm hoặc viết cho nhiều ban hợp xướng,
hoặc phối hợp giữa thanh nhạc và khí nhạc. Cuối thế kỷ XVII, khái niệm
“concerto” được coi như là một nguyên tắc thể loại để tạo nên các dạng như:
concerto grosso, triosonate, các motet dành cho solo hay hợp xướng. Đỉnh cao
của thể loại này là vào khoảng từ 1700 đến 1750, có các tác giả như: Corelli,
Händel, Vivaldi và Bach. Từ lúc ra đời đến nay, concerto đã lần lượt mang
nhiều ý nghĩa khác nhau:
1
Thể loại âm nhạc (Nguyễn Thị Nhung – NVHN 1993) và
một
số bài viết, bài dịch về “Lịch sử phát triển của
thể loại concerto” trên internet.
6
a) Để gọi tên một tác phẩm viết cho một hay nhiều bè giọng hát có
nhạc cụ đệm.
b) Đó là một tác phẩm được viết cho vài nhạc cụ, trong đó có nhạc cụ
diễn loại bè trầm đánh số (figured bass, basso continuo) và thường có giai
điệu tương phản với các nhạc cụ khác. Thể loại concerto này tồn tại trong thế
kỷ XVII và đầu thế kỷ XVIII. :
- Concerto grosso là một tác phẩm dàn nhạc có vài chương, trong đó, có
những đoạn dành cho một nhóm nhạc cụ độc tấu diễn tấu tương phản với
đoạn tutti do toàn thể dàn nhạc .
- Concerto độc tấu là loại concerto mà chúng ta thường gặp ngày nay,
trong đó, có một nhạc cụ độc tấu diễn tấu cùng dàn nhạc. Khái niệm này có từ
đầu thế kỷ XVIII, và lúc đó, violon là nhạc cụ thường được dùng để độc tấu.
Vào cuối thế kỷ XVIII, concerto độc tấu đã trở thành một thể loại thông
dụng, và có nhiều concerto cho đàn phím được viết bởi C.P.E. Bach, Haydn
và Mozart. Cũng có những concerto theo phong cách trên đây nhưng được
viết cho nhiều nhạc cụ khác nhau, như: “Concerto cho Flute và đàn Harpe”
(K.299) và “Concerto cho 2 đàn piano” (K.365) của Mozart.
c) Khái niệm “Concerto” còn được các nhà soạn nhạc hiện đại dùng
cho một nhóm nhạc cụ hòa tấu. Ví dụ: Concerto cho dàn nhạc của Belá
Bartók.
d) Concerto theo phong cách Ý (Concerto nach Italienischen Gusto)
thường được gọi là “concerto Ý”, là một tác phẩm độc tấu của đàn clavecin,
mô phỏng theo thể loại concerto độc tấu với dàn nhạc bằng cách làm nổi bật
sự tương phản giữa nghệ sĩ độc tấu với phần “Tutti” .
1.1.2. Đặc điểm của "Concerto" qua các thời kỳ:
a) Concerto cổ điển :
7
Thể loại concerto cổ điển được hình thành từ Mozart. Đó là một tác
phẩm thường gồm 3 chương, có cấu trúc tương tự như một bản sonate hoặc
giao hưởng. Mục đích chính của nhà soạn nhạc khi viết loại concerto này là
nhằm vào nhạc cụ độc tấu, phần đệm do dàn nhạc gồm có bộ gỗ, bộ đồng, bộ
gõ và dây đảm nhiệm. Do đó, chất liệu chủ đề phải đảm bảo điều kiện tạo
thuận lợi nhất cho nhạc cụ độc tấu, và dàn nhạc chỉ làm nhiệm vụ tô điểm, tạo
phần nền hấp dẫn cho phần độc tấu bên trên.
- Chương I của concerto thường ở hình thức sonate allegro nhưng có
đặc điểm khác với hình thức sonate của bản giao hưởng và bản sonate ở
những điểm sau:
* Có 2 phần trình bày: lần đầu do dàn nhạc biểu diễn, lần thứ hai do
nhạc cụ độc tấu nhắc lại có mở rộng.
* Trước phần tái hiện hay trước phần coda có một đoạn dành cho nghệ
sĩ độc tấu chơi ngẫu hứng để trổ các ngón kỹ thuật. Đoạn này gọi là cadenza,
được thực hiện với phần dàn nhạc ngưng diễn tấu. Theo nguồn gốc, đây sẽ là
phần để nghệ sĩ độc tấu chơi ngẫu hứng trên các chủ đề của chương I. Sau
này, đoạn cadenza thường không là hoàn toàn ngẫu hứng, nhưng được các tác
giả vừa là người biểu diễn viết trước. ví dụ ở Beethoven, Brahms, Paganini,
Rubinstein,v.v (Đôi khi còn có một cadenza ngắn hơn xuất hiện ở chương II
và hoặc chương kết.)
- Chương 2 là chương chậm, thường được viết theo hình thức 3 phần
( 3 đoạn đơn hay 3 đoạn phức )
- Chương 3, chương kết có tốc độ nhanh, thường viết ở hình thức rondo
hay biến tấu (variation).
Ở concerto phải có sự phối hợp cần thiết giữa bè độc tấu với bè đệm để
cả hai cùng thể hiện một nội dung nhất định. Có lúc dàn nhạc ngừng nghỉ để
người độc tấu trổ tài nghệ; có lúc dàn nhạc lại như ngắt lời người độc tấu để
8
nổi bật lên; cũng có lúc hai bè lại như đối thoại với nhau, hoặc hòa lẫn vào
nhau.
b) Concerto Lãng mạn :
Vào cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX, xuất hiện nhiều nhà soạn nhạc
vừa là nghệ sĩ biểu diễn tài năng như: Weber, Mendelssohn, Schumann,
Chopin, Liszt, Brahms và Rubinstein. Họ đã góp phần đáng kể cho việc phát
triển và hoàn thiện thể loại concerto. Cũng có những nghệ sĩ biểu diễn violon
vừa là nhà soạn nhạc, như: Spohr, Paganini, Vieuxtemps, Sarasate, Wieniawski
và Joachim đã viết những concerto tuyệt vời cho nhạc cụ chuyên môn của họ.
Những bản Concerto ở thế kỷ này thường chỉ được xem như một tác
phẩm dùng để làm cho khán thính giả phải sửng sốt trước tài nghệ điêu luyện
của nghệ sĩ độc tấu. Với mục đích này, vai trò dàn nhạc như bị lu mờ và cốt
chỉ để làm nền cho phần độc tấu. Tuy có những đoạn chen của dàn nhạc, dành
chỗ cho nghệ sĩ độc tấu nghỉ ngơi, nhưng trung tâm của sự chú ý vẫn là ở
nghệ sĩ độc tấu với kỹ thuật tinh luyện của mình. Tuy nhiên ở concerto Lãng
mạn cũng có một số ngoại lệ. Chẳng hạn, Brahms đã viết các giao hưởng với
phần piano (hay violon) bắt buộc, hay nói cách khác, là một thành phần chính
của dàn nhạc thay vì là phần độc tấu của nhạc cụ đó đối ứng với dàn nhạc;
Liszt cũng có những giao hưởng thơ viết cho piano và dàn nhạc (chứ không là
concerto cho piano và dàn nhạc).
Ở concerto của các tác giả hậu Lãng mạn như: Tchaikovsky,
Rubinstein, Grieg, v.v… không còn quan hệ đối giọng (antiphony) giữa bè
độc tấu và dàn nhạc nữa và sự cân bằng về mức độ quan trọng của mỗi bè
cũng biến mất.
Nhìn chung, concerto Lãng mạn vẫn còn giữ cấu trúc hình thức của
concerto cổ điển đã được Mozart thiết lập. Nghĩa là vẫn gồm 3 chương với
chương đầu được viết ở hình thức sonate allegro, sau đó là một chương chậm
9
và chương kết. Ngoài ra, Liszt là người muốn tách khỏi cấu trúc phổ cập này
của concerto. Trong 2 concerto cho piano nổi tiếng viết ở cung La thứ và Mi
giáng trưởng của mình, ông đã thử nghiệm cách xóa nhòa các yếu tố phân biệt
các chương để tạo thành loại concerto một chương.
c) Concerto thời kỳ cận Hiện đại :
Concerto cận hiện đại có khuynh hướng tái tạo lại phần dàn nhạc để giữ
vai trò nghệ thuật cân bằng với kỹ thuật của nghệ sĩ độc tấu. Như vây, nghệ sĩ
độc tấu không còn là trung tâm thu hút khán thính giả nữa. Và đã có lúc, thể
loại concerto độc tấu gần như biến mất khỏi các chương trình biểu diễn. Trên
sân khấu xuất hiện nhiều nhà chỉ huy tài danh và họ trở thành đối tượng thu
hút khán thính giả, thay cho các nghệ sĩ độc tấu trước kia. Mà đã không có
nghệ sĩ độc tấu thì không có được thể loại concerto chính thống. Trong thời
gian gần đây, thể loại concerto theo phong cách Cổ điển và Lãng mạn đang có
dấu hiệu hồi phục.
Concerto cận hiện đại gắn liền với tên tuổi các nhà soạn nhạc như:
Stravinsky, Rachmaninov, Sibelius, Berg, Bartók và Prokofiev ở châu Âu ;
Piston, Copland, Sessions, Gershwin và Barber ở Mỹ.
1.2. Concerto viết cho nhạc cụ với dàn nhạc của các nhạc sĩ Việt Nam
(2)
Ở Việt nam, Concerto viết cho nhạc cụ độc tấu với dàn nhạc giao hưởng
là một thể loại mới được một số nhạc sĩ quan tâm viết từ sau năm 1975, khi
đất nước đã hoàn toàn thống nhất. Thể loại concerto cho nhạc cụ độc tấu với
dàn nhạc giao hưởng gồm một chương : concertino viết cho Piano và dàn
nhạc của nhạc sĩ Ca Lê Thuần, Chu Minh, concerto viết cho Piano và dàn
nhạc của nhạc sĩ Nguyễn Đình Lượng, hoặc liên khúc sonate gồm nhiều
chương: concerto viết cho Violon và dàn nhạc của nhạc sĩ Nguyễn Đình Phúc,
Đỗ Hồng Quân, concerto cho Piano và dàn nhạc ( Es.dur) của nhạc sĩ Ca Lê
2
Nguyễn Thị Nhung : Âm nhạc thính phòng – giao hưởng Việt Nam, sự hình thành và phát triển, tác phẩm
và tác giả. ( trang 342-384)
10
Thuần… Một số tác phẩm này đã được các nghệ sĩ Việt Nam độc tấu với dàn
nhạc giao hưởng hoặc do các nghệ sĩ nước ngoài biểu diễn. Về phương tiện
thể hiện rất phong phú, nhưng phần lớn viết cho các nhạc cụ có tính diễn tấu
đa dạng và linh hoạt : Piano, Violon, Cello, Flute…Nhạc sĩ Quang Hải còn
viết hai concerto cho đàn tranh với dàn nhạc giao hưởng : Quê tôi giải
phóng, Đất và hoa, nhạc sĩ Trí Thanh còn viết concerto cho sáo trúc với dàn
nhạc…Bên cạnh đó còn có một số tác phẩm viết cho một nhóm nhạc cụ độc
tấu với dàn nhạc : Concerto viết cho Violoncello, mezzo soprano, hợp xướng
nữ với dàn nhạc giao hưởng của nhạc sĩ Nguyễn Văn Nam, hoặc concerto viết
cho dàn nhạc giao hưởng của nhạc sĩ Trọng Đài …
1.2.1. Thể loại concerto 1 chương :
• Bản Concerto “Bất khuất” viết cho Piano và dàn nhạc của nhạc sĩ
Đỗ Dũng được sáng tác trong khi cuộc chiến tranh Việt Nam ở giai đoạn khốc
liệt nhất, đất nước gần tiến đến ngày thống nhất. Tác phẩm thể hiện sự bất
khuất của dân tộc trong lửa đạn chiến tranh, thể hiện bản lĩnh của người nhạc
sĩ – chiến sĩ và gửi gắm những tâm sự công dân trước nhiệm vụ lịch sử của
dân tộc. Tác giả đã dựa vào bài “Tình ca” của nhạc sĩ Hoàng Việt để làm ý đồ
phát triển cho tác phẩm. Bên cạnh đó ở phần phát triển ông còn sử dụng chất
liệu của bài “Diệt phát xít” của nhạc sĩ Nguyễn Đình Thi để tăng “sức nặng”
của phần này.
• Bản concerto “Tổ quốc tôi” viết cho Piano và dàn nhạc của nhạc sĩ
Nguyễn Đình Lượng là tác phẩm tốt nghiệp Đại học sáng tác của nhạc sĩ tại
Nhạc viện Tchaikovsky năm 1986, với lợi thế là nghệ sĩ Piano trước khi đến
với con đường sáng tác, trong tác phẩm concerto “Tổ quốc tôi”, Nguyễn Đình
Lượng đã khai thác được nhiều kỹ thuật thể hiện khác nhau của cây đàn Piano
để thể hiện các hình tượng âm nhạc của tác phẩm. Bản concerto của ông
không chỉ là tác phẩm hòa tấu cho nhạc khí với dàn nhạc, mà còn mang tính
11
chất của thể loại giao hưởng thơ rõ nét bởi nội dung cũng như hàm ý tiêu đề
của tác phẩm.
Thông qua cây đàn Piano và dàn nhạc, tác giả đã khắc họa hình ảnh quê
hương Việt Nam trong những năm tháng cơ cực đã vùng dậy đấu tranh để
dành lại quyền tự do cho Tổ quốc. Những hình tượng âm nhạc đó được tác giả
thông qua các chủ đề âm nhạc từng phần.
• Bản Concertino “Tuổi trẻ’ viết cho Piano và dàn nhạc của nhạc sĩ
Chu Minh được hoàn thành năm 1986 nhân dịp chào mừng Đại hội Đảng lần
thứ VI và chuẩn bị cho 30 năm thành lập Hội Nhạc sĩ Việt Nam (do nghệ sĩ
Piano Hữu Tuấn trình bày với Dàn nhạc Giao hưởng Nhạc viện Hà Nội). Tác
phẩm “Tuổi trẻ” của nhạc sĩ Chu Minh thể hiện những cảm xúc, suy tư của
tác giả về tuổi trẻ Việt Nam với những khí thế khát khao xây dựng một xã hội
mới, một cuộc sống mới.
• Bản Concerto Fantastic của nhạc sĩ Phúc Linh viết cho Violon và
dàn nhạc, sáng tác năm 2001. Đây là một tác phẩm trong đó chứa đựng những
nội dung và hình tượng mới mẻ, cấu trúc mở rộng và linh hoạt, trong đó có sự
kết hợp hài hòa giữa nền âm nhạc mới trên thế giới với những nhân tố đặc
trưng của nền âm nhạc dân gian Việt Nam. Trong tác phẩm này, tác giả đã áp
dụng một phương pháp sáng tác mới để xây dựng chủ đề âm nhạc, đó là
Dodépenta – một sự kết hợp giữa âm nhạc serie với âm nhạc ngũ cung của
Việt Nam.
1.2.2. Thể loại concerto nhiều chương :
• Bản Concertino viết cho Violon và dàn nhạc của nhạc sĩ Nguyễn
Đình Phúc được viết vào năm 1979 khi ông đang thực tập tại Nhạc viện Quốc
gia Sofia – Bulgarie. Tác phẩm được viết theo hình thức liên khúc sonate
gồm 3 chương.
Chương I : Hình thức Sonate - Allegro moderato, molto energioco
12
Chương II : Hình thức 3 đoạn phức – Andantino cantabile
Chương III : Hình thức Rondo - Allegro vivace
Trong tác phẩm của mình, nhạc sĩ Nguyễn Đình Phúc đã khai thác các chất
liệu âm nhạc dân gian để xây dựng chủ đề các chương nhạc, đặc biệt qua
những kỹ thuật diễn tả đặc biệt của cây đàn violon trong những đoạn trổ ngón.
• Tác phẩm Concerto viết cho Violon và dàn nhạc của nhạc sĩ Đỗ
Hồng Quân là tác phẩm hoàn thành trong những năm nhạc sĩ đang theo học
nghiên cứu sinh chuyên ngành sáng tác tại Nhạc viện Tchaikovsky. Tác phẩm
đã được Dàn nhạc Giao hưởng Nhạc viện Hà nội trình bày dưới sự chỉ huy
của chính tác giả với nghệ sĩ violon Vũ Hoạt nhân kỷ niệm 40 năm thành lập
Nhạc viện Hà nội (1996). Tác phẩm là một liên khúc Sonate 3 chương truyền
thống.
Chương I : Hình thức Sonate
Chương II : Hình thức 3 đoạn phức
Chương III : Hình thức Rondo – sonate
Ở tác phẩm này, tác giả đã xây dựng các chủ đề âm nhạc trên các chất
liệu âm nhạc dân tộc và phát huy các khả năng thể hiện các kỹ thuật khác
nhau của cây đàn độc tấu, cũng như từng nhạc cụ trong dàn nhạc để thể hiện
hình tượng âm nhạc. Bên cạnh đó, Đỗ Hồng Quân còn khai thác triệt để khả
năng thể hiện của bộ gõ (gõ giao hưởng + gõ dân tộc) kết hợp với bè violon
solo tạo nhiều ấn tượng rất đặc biệt và có hiệu quả.
• Bản concerto viết cho Piano và dàn nhạc (Es.dur) của nhạc sĩ Ca Lê
Thuần được hoàn thành vảo năm 2006 nhân kỷ niệm 25 năm ngày thành lập
Hội Âm nhạc Thành phố Hồ Chí Minh. Tuy là một liên khúc sonate 3
chương, mỗi chương được viết ở hình thức khác nhau, nhưng với việc khai
thác và biến đổi chủ đề từ một âm hình chủ đạo xuyên suốt, nhạc sĩ đã làm
13
cho các chương của tác phẩm có mối liên hệ mật thiết với nhau, có tính thống
nhất cao về nội dung, hình tượng tác phẩm.
Chương I : Hình thức Sonate – Andante con moto
Chương II : Hình thức Fuga 3 bè – Adagio sustenuto
Chương III : Hình thức Rondo - Allegro con fuoco
1.3. Hình thức Sonate trong các bản concerto :
Đối với hình thức Sonate trong chương I (với những tác phẩm viết theo
hình thức liên khúc sonate nhiều chương) và những bản concerto 1 chương
viết cho nhạc cụ có nhiều tính chất đặc biệt : có phần trình bày kép (truyền
thống này được khẳng định trong các concerto của Mozart và các nhạc sĩ cổ
điển khác), tính đối thoại đặc biệt giữa bè độc tấu với dàn nhạc, sự nhấn mạnh
tính chất kỹ thuật điêu luyện của cây đàn độc tấu…Nhưng nét điển hình nhất
trong chương I của các concerto cho nhạc cụ đó chính là phần cadenza, được
hình thành ngẫu hứng từ chất liệu chủ đề. Thời kỳ cổ điển, cadenza thường
xuất hiện giữa phần tái hiện và coda, còn ở thời kỳ lãng mạn, đoạn trổ ngón
này thường nằm giữa phần phát triển và tái hiện, cũng có trường hợp đặc biệt
cadenza được mở đầu tác phẩm như trong bản concerto số 5 viết cho Piano và
dàn nhạc của Beethoven hay concerto số 2 viết cho Piano và dàn nhạc của
Brahms.
1.3.1 Phần trình bày :
Với 4 tác phẩm concerto 1 chương (“Tuổi trẻ - Chu Minh, “Bất Khuất” -
Đỗ Dũng, “Tổ quốc tôi” của Nguyễn Đình Lượng, “Concerto fantastic” –
Phúc Linh) và 3 chương trong những tác phẩm concerto viết theo hình thức
liên khúc sonate (chương I concerto viết cho Piano và dàn nhạc của NS Thế
Bảo, Ca Lê Thuần, concerto viết cho Violon và dàn nhạc của Đỗ Hồng Quân)
mà chúng tôi đã phân tích thì hầu hết đều được viết ở hình thức sonate, và
không có phần trình bày kép. Ngoại trừ bản concerto fantastic của nhạc sĩ
14
Phúc Linh. Thông thường với một bản concerto được viết theo truyền thống
cổ điển thì đều có 2 phần trình bày (phần trình bày kép). Đầu tiên là phần
trình bày của dàn nhạc, sau đó là của cây đàn độc tấu. Tuy nhiên trong tác
phẩm của mình, các nhạc sĩ Việt Nam đã không dập khuôn máy móc mà đều
có sự sáng tạo riêng. Họ vẫn quan tâm đến tính thể loại, đó là khi chủ đề được
xuất hiện ở dàn nhạc, khi ở phần độc tấu làm cho người nghe cảm nhận được
sự đối thoại, thi thố tài năng giữa phần solo và dàn nhạc ( Điều này cũng có ở
những tác phẩm concerto của một số nhạc sĩ thời lãng mạn và hậu lãng mạn:
S.Rachmaninov, P.I.Tchaikovsky, J.Brahms…).
Phần trình bày bản concertino “Tuổi trẻ” của nhạc sĩ Chu Minh bao
gồm 3 bộ phận đó là : chủ đề 1 – nối tiếp – chủ đề 2 ( không có kết phần trình
bày ). Cùng với âm hưởng của phần mở đầu với tính chất vừa trang trọng, tha
thiết, vừa thôi thúc giục giã - giai điệu của chủ đề 1 được xây dựng trên quãng
2 thứ và 4 tăng vang lên mạnh mẽ sôi nổi do bộ dây trình bày, như thể hiện
khí thế nhiệt huyết của tuổi trẻ. Đi đối vị với chủ đề là nét chạy nửa cung
mạnh mẽ của đàn Piano. Sau 12 nhịp, chủ đề được nhắc lại và biến đổi trên bè
Piano solo. Chủ đề 1 được viết ở hình thức đoạn nhạc (a), giọng la thứ
(a.moll)
VD 1.1 : Chu Minh – Concertino “Tuổi trẻ”
Chủ đề 1
15
Tương phản với chủ đề 1 là chủ đề 2 cũng được viết ở hình thức đoạn
nhạc (a), nhưng ở giọng Mi trưởng (E.dur). Âm nhạc như khắc họa một miền
quê thanh bình, yên tĩnh với những giai điệu được hình thành từ những quãng
đặc trưng có trong dân ca Việt Nam. Chủ đề 2 ban đầu do bè Piano solo trình
bày, sau đó được chuyển sang phần dàn nhạc.
VD 1.2 : Chu Minh – Concertino “Tuổi trẻ”
Chủ đề 2
Còn ở bản Concerto “Bất khuất” viết cho Piano và dàn nhạc của nhạc sĩ
Đỗ Dũng, tác giả dựa vào ca khúc “Tình ca” của nhạc sĩ Hoàng Việt để làm ý
đồ phát triển cho tác phẩm. Cũng tương tự như tác phẩm của nhạc sĩ Chu
Minh, bố cục của phần trình bày bao gồm: chủ đề 1 – nối tiếp – chủ đề 2.
Chủ đề 1 (mi thứ) của phần trình bày được xây dựng từ giai điệu của bài
Tình ca (Hoàng Việt) nhưng được nhạc khí hóa, tạo cho chủ đề tính chất hào
16
hùng, hoành tráng. Với 14 nhịp được viết ở hình thức đoạn nhạc, chủ đề 1 do
bộ dây và bộ gỗ trình bày theo kiểu đối đáp. Sau đó chủ đề được nhắc lại ở bè
Piano.
VD 1.3 : Đỗ Dũng , Concerto“Bất khuất”
Chủ đề 1
Sau chủ đề 1 là phần nối với đầy đủ 3 giai đoạn với các thủ pháp mô
tiến chất liệu chủ đề, mô phỏng chủ đề và chuẩn bị chất liệu cho chủ đề 2 :
+ Giai đoạn 1 ( 11 nhịp ) : sử dụng thủ pháp mô tiến với chất liệu của
phần mở đầu.
+ Giai đoạn 2 ( 17 nhịp) : mô phỏng chủ đề 1 trên giọng pha thứ.
+ Giai đoạn 3 ( 6 nhịp) : chuẩn bị cho sự xuất hiện của chủ đề 2.
Chủ đề 2 được viết ở hình thức 2 đoạn đơn phát triển ( a b ) do Piano và
các nhạc cụ đối đáp với nhau, mang âm hưởng của dân ca Nam Bộ, tính chất
dàn trải, trữ tình ở giọng Fa trưởng. Chủ đề 2 sau đó được bè Piano nhắc lại
một lần nữa nhưng có thay đổi.
VD 1.4 : Đỗ Dũng , Concerto“Bất khuất”
Chủ đề 2
17
Bố cục phần trình bày ở chương I, bản Concerto viết cho Piano và dàn
nhạc nhỏ của nhạc sĩ Thế Bảo chỉ có 2 bộ phận đó là chủ đề 1 và chủ đề 2.
Chủ đề 1 được viết ở hình thức 2 đoạn đơn phát triển, giọng si thứ (h.moll)
ban đầu do bè Piano độc tấu. Trong 4 nhịp đầu của đoạn a như mô phỏng lại
ngữ điệu câu nói của Hồ Chủ Tịch : “Không có gì quý hơn độc lập tự do”.
Nhân tố âm nhạc mô phỏng ngữ điệu câu nói của Hồ Chủ Tịch được tác giả
sử dụng xuyên suốt trong chương I, cũng như chương III ( chương kết) của
tác phẩm. Chủ đề 1 còn được bộ dây nhắc lại một lần nữa rồi mới chuyển
sang chủ đề 2.
VD 1.5 : Thế Bảo, Concerto cho Piano & dàn nhạc nhỏ
Chương I, chủ đề 1
Chủ đề 2 của chương I được viết ở hình thức một đoạn nhạc, giọng Rê
trưởng do kèn Saxophone trình bày với giai điệu trữ tình, mượt mà, tốc độ
vừa phải (Moderato con molto). Sau đó chủ đề 2 được nhắc lại ở bộ dây trên
nền những hợp âm 3, 7 của đàn Piano chơi từ âm vực trầm cho tới cao. Cuối
cùng chủ đề 2 được trình bày một lần nữa ở các bè Piano solo, Saxophone và
violon 1 theo kiểu canon 2 bè.
VD 1.6 : Thế Bảo, Concerto cho Piano & dàn nhạc nhỏ
Chương I, chủ đề 2
18
Còn đối với bản concerto của nhạc sĩ Ca Lê Thuần, sau 16 nhịp mở đầu
do dàn nhạc trình bày với những nhân tố của chủ đề 1, mang tính chất tự sự,
chậm rãi, là chủ đề 1 được viết ở hình thức 2 đoạn đơn phát triển. Chủ đề là
sự kết hợp giữa giọng Đô thứ (c.moll) và Đô Nam. Tính chất âm nhạc ở đây
hoạt bát và du dương như diễn tả không khí rộn ràng ngày hội (Allegretto
tranquillo). Điều này được thể hiện rõ qua kỹ thuật nảy ngón (staccato) ở bè
tay trái piano solo, và các nhạc cụ trong dàn nhạc diễn tấu những âm hình nốt
đen nhưng đi lệch nhịp nhau.
Sau phần trần thuật chủ đề của Piano, chủ đề 1 được mô phỏng ở giọng
Mi giáng thứ rồi sau đó mới chuyển sang phần trình bày của dàn nhạc.
VD 1.7 : Ca Lê Thuần , Concerto cho Piano & dàn nhạc
Chương I, chủ đề 1
19
Chủ đề 2 tuy được viết ở giọng Mi thứ nhưng vẫn mang âm điệu của
điệu Mi Oán, hình thức 3 đoạn đơn phát triển với giai điệu trữ tình, phóng
khoáng mang đậm âm hưởng dân ca Nam bộ, được Piano thể hiện bằng
những quãng 8 đầy đặn.
VD 1.8 : Ca Lê Thuần , Concerto cho Piano & dàn nhạc
Chương I, chủ đề 2
Phần trình bày của bản Concerto viết cho Piano và dàn nhạc Tổ quốc tôi
của NS Nguyễn Đình Lượng được viết ngắn gọn gồm 81 nhịp với 2 chủ đề.
Tiếp sau phần mở đầu với tốc độ nhanh do kèn Cor diễn tấu dưới sự hỗ trợ
của trống định âm như thôi thúc kêu gọi toàn dân đứng lên bảo vệ Tổ quốc, là
chủ đề 1 do kèn Oboe solo ở tốc độ chậm, với lối tiến hành giai điệu quãng 4
và quãng 7 trên điệu ngũ cung A-H-D-E-G như thể hiện sự bi thương cơ cực
khi đất nước bị áp bức, chiếm đóng. Chủ đề 1 do đàn Piano diễn tấu cũng trên
giai điệu đó nhưng với tốc độ nhanh, âm hưởng mạnh mẽ dứt khoát như thể
hiện ý chí quyết tâm, thôi thúc. Chủ đề 1, phần nối cũng như chủ đề 2 của
phần trình bày không có cấu trúc và điệu tính rõ ràng, nhưng được phân ngắt
bởi tính chất âm nhạc.
VD 1.9 : Nguyễn Đình Lượng , Concerto“Tổ quốc tôi”
Chủ đề 1
20
Chủ đề 2 của tác phẩm thể hiện tính sinh động náo nhiệt do đàn Piano
trình bày với phần phụ họa của bộ dây mang âm hưởng Tây Nguyên .
VD 1.10 : Nguyễn Đình Lượng , Concerto“Tổ quốc tôi”
Chủ đề 2
Đặc biệt, trong phần trình bày cũng như ở chương I của bản Concerto
cho violon và dàn nhạc của nhạc sĩ Đỗ Hồng Quân, có cấu trúc sonate với 2
chủ đề âm nhạc khác nhau, được tác giả viết theo phong cách vô điệu tính
(atonality). Tuy tác phẩm được viết theo cấu trúc liên khúc sonate truyền
thống, nhưng chương I của tác phẩm là một sự đổi mới trong ngôn ngữ phối
khí dàn nhạc. Ở chương này, nhạc sĩ Đỗ Hồng Quân chỉ sử dụng bộ gõ của
dàn nhạc kết hợp với ba trống dân tộc để đối đáp cùng cây đàn violon solo.
21
Bè độc tấu và bộ gõ luân phiên biểu hiện các trạng thái tình cảm khác nhau
của con người, từ trăn trở suy tư cho đến day dứt hoài nghi.
Chủ đề 1 do violon độc thoại có tính tự sự với lối cấu trúc âm thanh theo
kiểu “sinh sôi, tích tụ”; từ 2 âm đến 3, 4 âm theo kiểu chồng quãng. Đối đáp
với violon solo là những hồi trống định âm (timpani) với 5 âm cơ bản : F – G
– C# – F# – G# và tamburo (trống nhà binh) kết hợp với tomtom (trống dân
tộc). Nhịp cũng liên tục biến đổi từ 4/4 – 5/4 – 3/4 như thể hiện các trạng thái
tình cảm của con người.
VD 1.11 : Đỗ Hồng Quân , Concerto cho Violon & dàn nhạc
Chương I, chủ đề 1
Chủ đề 2 mang tính chất trữ tình và có lối tiến hành giai điệu rõ ràng hơn
so với chủ đề 1.
VD 1.12 : Đỗ Hồng Quân , Concerto cho Violon & dàn nhạc
Chương I, chủ đề 2
1.3.2 Phần phát triển : đây là trung tâm của hình thức, chứa đựng các
nhân tố của các chủ đề được trần thuật ở phần trình bày. Bên cạnh những thủ
pháp phát triển quen thuộc như các thủ pháp phức điệu, mô tiến, mô phỏng,
biến đổi và xé lẻ chủ đề… (điển hình là bản concerto của nhạc sĩ Ca Lê
Thuần), trong phần phát triển của các tác phẩm mà chúng tôi đã nêu trên còn
có sự xuất hiện những đoạn chen, chứa đựng những nhân tố mới, tương phản
với các chất liệu chủ đề.
22
Phần phát triển tác phẩm “Bất khuất” của nhạc sĩ Đỗ Dũng được chia
thành 3 giai đoạn :
+ Giai đoạn 1 : ( 80 nhịp, từ nhịp 145-224 ) đây là giai đoạn nhạc sĩ sử
dụng chất liệu của chủ đề 1 và 2 bằng các thủ pháp chuyển điệu, mô phỏng,
mô tiến…
+ Giai đoạn 2 : (14 nhịp, từ nhịp 225-238 ) xuất hiện chất liệu mới trên
giọng Đô trưởng được phát triển từ bài Diệt phát xít của Nguyễn Đình Thi.
+ Giai đoạn 3 : ( 49 nhịp, từ nhịp 239-287 ) Tiếp tục phát triển chất liệu
CĐ 1 – CĐ “Diệt phát xít” và chủ đề 2.
VD 1.13: Đỗ Dũng , Concerto “Bất khuất”
Phần phát triển, chủ đề đoạn chen
Cũng tương tự như phần phát triển của tác phẩm “Bất khuất” (Đỗ Dũng),
nhạc sĩ Chu Minh cũng sử dụng một đoạn chen mang tính chất hành khúc rắn
rỏi, nhưng lại không có những giai đoạn phát triển chất liệu các chủ đề. Phần
phát triển cũng có độ dài khiêm tốn hơn phần trình bày (62 nhịp so với 72).
Sở dĩ như vậy theo chúng tôi, ngay trong phần trình bày sau khi trần thuật,
chủ đề đã được biến đổi và phát triển trong các giai đoạn nối tiếp. Chủ đề
đoạn chen mang tính chất hành khúc này gồm 24 nhịp do đàn Piano diễn tấu,
sau đó là sự biến đổi và phát triển chủ đề đó ở dàn nhạc.
VD 1.14 : Chu Minh, Concertino“Tuổi trẻ”
Phần phát triển, chủ đề đoạn chen
23
Phần phát triển của tác phẩm “Tổ quốc tôi” (Nguyễn Đình Lượng) cũng
hết sức ngắn gọn so với phần trình bày (gồm 48 nhịp so với 62), sự xuất hiện
của chủ đề mới do kèn Oboe diễn tấu với tốc độ chậm, trữ tình, dưới sự hỗ trợ
của đàn Harpe, làm cho cấu trúc sonate của tác phẩm có tính tương phản cần
thiết ( vì cả chủ đề 1 và 2 đều mang tính chất sinh động, náo nhiệt ). Chủ đề
này sau đó được nhắc lại ở bè Piano và các nhạc khí khác. Chủ đề âm nhạc
của phần phát triển này có tính chất sử thi, trữ tình, ngâm ngợi.
VD 1.15: Nguyễn Đình Lượng, Concerto “Tổ quốc tôi”
Phần phát triển, chủ đề đoạn chen
1.3.3 Phần tái hiện :
Sau khi phân tích, chúng tôi nhận thấy các nhạc sĩ Việt Nam đã vận dụng
rất linh hoạt phần tái hiện của hình thức Sonate. Chủ đề khi tái hiện thường có
sự thay đổi về đường nét giai điệu, âm hình tiết tấu, về khuôn khổ và hình
thức. Kết cấu của phần tái hiện cũng rất đa dạng, bao gồm tái hiện theo trình
tự như phần trình bày, tái hiện ngược hướng, tái hiện rút gọn. Cũng có những
24
tác phẩm phần tái hiện còn mang chức năng kép : vừa là tái hiện, vừa là đoạn
trổ ngón kỹ thuật của cây đàn độc tấu (cadenza).
Trong bản concertino “Tuổi trẻ”của nhạc sĩ Chu Minh, phần tái hiện
có trình tự như sau :
Chủ đề 2 - đoạn nối dẫn vào cadenza - Cadenza -
Chủ đề 1 (rút gọn ) - chủ đề hành khúc (rút gọn) - Coda.
Ở phần tái hiện trên, tác giả như nhấn mạnh ý đồ thể hiện sức mạnh của tuổi
trẻ Việt Nam đang tiếp nối cha ông xây dựng đất nước phồn vinh, thịnh
vượng.
Còn đối với phần tái hiện của tác phẩm “Bất khuất” của nhạc sĩ Đỗ
Dũng, trình tự được thay đổi so với phần trình bày. Chủ đề 2 được tái hiện
trước và rút gọn cấu trúc so với phần trình bày, sau đó đến phần tái hiện của
chủ đề 1. Cách thức diễn tấu cũng thay đổi, nếu như ở phần trình bày là sự đối
đáp giữa nhạc cụ độc tấu và dàn nhạc, thì ở phần tái hiện là sự cùng hoà điệu
của cả dàn nhạc để tiến đến phần kết của tác phẩm.
Đặc biệt là phần tái hiện của tác phẩm “Tổ quốc tôi”, nhạc sĩ Nguyễn
Đình Lượng đã biến phần này có tính chất như là đoạn trổ ngón kỹ thuật
(cadenza). Phần này gồm 74 nhịp do Piano độc tấu với các nhân tố của chủ đề
được họa lại (chủ đề Episode, chủ đề 1,2) và phát triển trên các kỹ thuật biểu
hiện khác nhau của cây đàn Piano.
VD 1.16 : Nguyễn Đình Lượng, Concerto “Tổ quốc tôi”- phần tái hiện
25