GVHD: Trần Thị Minh
SVTH: Nhóm 7
1. Hoàng Thị Minh Nhật
2. Trần Thị Huỳnh Tư
3. Võ Doãn Trung
4. Trần An Phương
5. Võ Quốc Cường
6. Nguyễn Khánh Ly
7. Nguyễn Thùy Trang
8. Nguyễn Thị Ngọc Anh
9. Phạm Hoàng Ngọc Thủy
BIOTECHNOLOGY
K13S2
o0o
I/ Khái quát về kháng sinh
II / Ứng dụng CNSH động vật sản xuất kháng sinh
I/ Khái quát về kháng sinh
1. Định nghĩa
2. Kháng sinh tác động lên VSV như thế nào?
3. Phân loại kháng sinh
1/. Định nghĩa
Kháng sinh là những chất ngay ở nồng độ thấp đã
có khả năng:
–
Ức chế
–
Hoặc tiêu diệt VSV 1 cách đặc hiệu
2/. Kháng sinh tác động lên VSV như thế
nào?
Ức chế sự thành lập vách TB
Ức chế nhiệm vụ của màng TB
Ức chế sự tổng hợp protein
Ức chế sự tổng hợp acid
nucleid
3/. Phân loại kháng sinh
Loại Tác động (hoạt tính)
KS đặc hiệu một loại VK hay một nhóm VK nhất
định
KS phổ rộng nhiều loại VK khác nhau
KS phổ hẹp một hay một số ít VK
Kháng sinh Vacxin
Ức chế và tiêu diệt vi khuẩn ( một số
miễn dịch với vius )
Tạo kháng nguyên giúp cơ
thể miễn dịch với 1 số tác
nhân gây bệnh cụ thể
Chỉ dùng cho bệnh nhiễm khuẩn,
không dùng cho bệnh nhiễm vius
(Tuy vậy, trong một số bệnh truyền
nhiễm do virus nhưng bị bội nhiễm
thêm vi khuẩn thì phải dùng kháng
sinh để điều trị)
Miễn dịch với vi khuẩn và
virus
Trong sử dụng kháng sinh có hiện
tượng kháng kháng sinh và bị tác
dụng phụ như: dị ứng, mẫn cảm…
Trong sử dụng vaccine có
hiện tượng bị tác dụng phụ:
dị ứng
So sánh kháng sinh và vacxin
II / Ứng dụng CNSH động vật sản xuất
kháng sinh
1. Kháng sinh tự nhiên
2. Ứng dụng công nghệ chuyển gene tạo động vật
chuyển gene nhằm sản xuất kháng sinh
1/. Kháng sinh tự nhiên
Trong mỗi cơ thể Động vật ( gia súc, gia
cầm,thủy sản và con người ) đều có chứa một hàm
lượng kháng sinh bảo vệ cơ thể.
Trong sữa người mẹ có chứa lactoferrin:
Lactoferrin là một chất kháng sinh tự nhiên và
nó rất hữu ích đối với trẻ em có hệ miễn dịch
yếu
Mật ong là một loại kháng sinh tự nhiên nhờ 1
Enzyme trong ong đảm bảo chất hydrogen
peroxide luôn được tạo thành trong mật ong
giúp nó rất hữu hiệu với những vết viêm nhiễm,
tiêu diệt khoảng 60 loại vi khuẩn
Kháng sinh tự nhiên được tìm thấy trong da
ếch:Chuỗi peptid chống vi trùng (AMPS) là tuyến
phòng thủ đấu của hệ thống miễn dịch phải chiến đấu
với các vi trùng ngay tại những vị trí đấu tiên của
chúng cố gắng thâm nhập
Sữa dê là “kháng sinh tự nhiên” chữa lành các vết
thương dạng nhẹ như dị ứng, chớm xuất hiện những
tế bào lao, viêm khớp, các bệnh liên quan đến những
triệu chứng của ruột và viêm loét.
Các nhà khoa học tìm thấy trong chất béo của
sữa dê acid capric chứa sáu đơn chất cacbon (một
mắt xích trong chuỗi acid béo) tạo thành màng
ngăn chống lại sự xâm nhập của vi trùng
bảo vệ cơ thể khỏi sự tấn công của virus, vi khuẩn
bị lên men và vi khuẩn gây bệnh ở ruột.
Đồng thời, chúng không cần tới sự trợ giúp
của muối ở dịch mật mà trực tiếp hoà tan, nhanh
chóng tạo thành năng lượng bổ sung cho cơ thể.
Trong lòng trắng trứng gà chứa Enzyme lyzozyme, E
này có khả năng kháng khuẩn, chống lại một số vi
khuẩn gram dương.
2. Hiện nay, các nhà khoa học đã sử dụng những kỹ
thuật khoa học hiện đại tạo ra “ động vật chuyển
gen” nhằm sản xuất kháng sinh với mục đích
- Tăng hàm lượng kháng sinh
- Tránh làm mất hoạt tính kháng sinh
- Tạo ra nhiều loại kháng sinh mới dùng để chữa bệnh
ung thư, viêm nhiễm, tiêu hóa,…
- Khả năng tương thích cao, tránh hiện tượng kháng
thuốc của VSV
Phương pháp
Công cụ
Enzyme đặc biệt: enzyme cắt hạn chế và enzyme
nối
Các mẫu dò ( probe )
Vector: plasmid
Tế bào vật chủ: VK Ecoli
Các đoạn gen cần chuyển
Động vật cần chuyển gen
Các bước tiến hành
Hình ảnh: động vật chuyển gen có mang gen
kháng sinh
Tạo DNA tái tổ hợp chuyển
vào phôi bò
(1)gen của người chịu tránh
nhiệm sản xuất một loại kháng
sinh mong muốn, được cô lập
trong phòng thí nghiệm
(2) Bò được cho điều trị nội tiết
để sản xuất số lượng lớn phôi
và phôi thai được thu nhận từ
các noan quản
(3) Các gen con người sẽ được
chèn vào trong chứng thụ tinh
thông qua vi tiêm. DNA của
pronucleus được tiêm vào phôi
thụ tinh
(4) Các phôi chuyển gen được
được đặt vào trong tử cung của
bò, sinh trưởng và phát triển.
(5) Bò con mới sinh có mang
gen được chuyển
Sau đó, các nhà khoa học tiến
hành thu nhận gen. Phân tích
và kiểm tra.
Những thành tựu đạt được
Các nhà khoa học đã cấy gen người vào những con chuột đực,
rồi cho chúng giao phối với chuột cái. “Kết quả phân tích
cho thấy sữa của chúng chứa lactoferrin, một loại protein
chỉ có trong sữa người. Lượng lactoferrin trong sữa những
con chuột mẹ này khá lớn, khoảng 160gam/lít”
` Sau đó các nhà nghiên cứu quyết định thử
nghiệm trên dê ,tác động vào gene để tạo ra
những con dê cái có thể tiết ra loại sữa giống hệt
sữa người, thu được lactoferrin với hàm lượng
cao hơn so với hàm lượng trong sữa người
dùng làm nguyên liệu để sản xuất thuốc chữa
bệnh hữu hiệu như : bệnh ung thư, các bệnh
liên quan đến hệ miễn dịch và hệ tiêu hóa.
Nhiều công trình nghiên cứu về tác dụng của
mật ong cho thấy có một số loại mật ong không chỉ
rất ngon mà còn có tác dụng chữa bệnh. Thậm chí
hiệu quả hơn cả thuốc kháng sinh, đặc biệt trong
việc chữa lành nhanh các vết loét do nhiễm trùng và
những vết thương nông trên da.
Tác dụng chữa lành vết thương của hai loại
mật ong Manuka và Jelly Bush (sản phẩm của New
Zealand và Australia) hoàn toàn không bị giới hạn,
nghĩa là có thể ngăn ngừa tất cả các mầm gây bệnh,
chống lại cả những vi khuẩn đã từng nhờn thuốc
kháng sinh
Sản xuất thuốc kháng sinh
Các nhà khoa học Úc đang thu thập máu cá
sấu để phát triển một loại kháng sinh mới hiệu
quả cho con người, sau khi có các cuộc thử nghiệm
cho thấy hệ miễn dịch của loài bò sát này có thể
tiêu diệt virus HIV.
Các nhà khoa học Trung Quốc vừa công bố
( 13/12/2009) đã tiềm thấy một loại gene trong chuột
dường như phụ trách việc tạo ra một hoạt chất có
khả năng chống lại vi khuẩn xâm nhập theo đường
sinh dục.
Peng Li và các đồng nghiệp tìm thấy trong bộ
phận sản xuất tinh dịch của chuột một gene kiểm soát
một loại peptide có tên là Bin1b. Các cuộc thử
nghiệm cho thấy peptide Bin1b có tính kháng sinh,
ngăn chặn sự tăng trưởng của một loại vi khuẩn quen
thuộc là Ecoli. Từ đó các nhà nghiên cứu cho rằng
Bin1b tạo ra một tuyến phòng vệ trong cơ quan sinh
dục của chuột đực, bảo vệ tinh dịch chống lại sự xâm
nhập của các loại vi khuẩn.