Tải bản đầy đủ (.pdf) (6 trang)

DNA microarray doc

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (98.06 KB, 6 trang )





DNA microarray (còn gọi là DNA
chip hay gene chip) là một tấm
thủy tinh hoặc nhựa trên đó có gắn
các đoạn DNA thành các hàng siêu
nhỏ.
Các nhà nghiên cứu sử dụng các
con chip như vậy để sàng lọc các
mẫu sinh học nhằm kiểm tra sự có
mặt hàng loạt trình tự cùng một lúc.
Các đoạn DNA gắn trên chip được
gọi là probe (mẫu dò). Trên mỗi
điểm của chip có hàng ngàn phân
tử probe với trình tự giống nhau.
Lịch sử ra đời
Còn quá sớm để nói về lịch sử của
DNA microarray vì kỹ thuật này
tương đối mới và thuộc về tương
lai hơn là quá khứ. Đầu tiên phải kể
đến các mô tả đầu tiên về cấu trúc
DNA của Watson & Crick (1953),
cho thấy DNA có thể bị biến tính,
phân tách thành hai mạch đơn khi
xử lý bằng nhiệt hoặc dung dịch
kiềm. Năm 1961, Marmur & Doty
mô tả quá trình ngược lại, hồi tính,
cơ sở của tất cả các phương
pháp PCR và lai phân tử. Điều này


gợi ra cách phân tích mối liên hệ
trình tự của axit nucleic và các
phương pháp phân tích dựa trên lai
phân tử phát triển nhanh chóng.
Vào cuối những năm 1960, Pardue
& Gall; Jones & Roberson đã tìm
ra phương pháp lai in situ có sử
dụng mẫu dò đánh dấu huỳnh
quang, FISH. Phương pháp cố định
các nhiễm sắc thể và nhân trên
phiến kính (sao cho DNA tạo thành
mạch kép với mẫu dò) ngày nay
được sử dụng để đặt DNA lên
phiến kính trong phương pháp
microarray. Vào thời gian này, hoá
học hữu cơ cũng phát triển, cho
phép tổng hợp tự động các mẫu
dò oligonucleotide vào năm 1979.
Kỹ thuật phân tích sử dụng phương
pháp gắn đồng thời nhiều trình tự
đích lên một bộ lọc hay màng theo
thứ tự, phương pháp thấm
điểm (dot blot), được Kafatos và
cộng sự (1979) đưa ra. Với kỹ thuật
này, các trình tự đích được cố định
trên vật đỡ và lai với mẫu dò
(thường là trình tự axit nucleic đã
đánh dấu). Saiki và cộng sự (1989)
đưa ra một cách khác, dot blot
ngược, trong đó gắn nhiều mẫu dò

theo thứ tự trên màng và đích để
phân tích được đánh dấu. Cùng thời
gian này, các array đầu tiên với giá
thể không thấm nước được tạo ra
trong phòng thí nghiệm của
Maskos (1991). Đầu những năm
1990, kỹ thuật đánh dấu phát huỳnh
quang đa màu được Ried và cộng
sự; Balding & Ward giới thiệu.
Vào năm 1993, array chứa các
oligonucleotide ngắn, dưới 19
nucleotide được tổng hợp in situ.
Năm 1994, Hoheisel và cộng sự
tăng mật độ chấm (spot) bằng cách
dùng robot để lấy và đặt mẫu dò lên
giá thể. Phương pháp tự động hoá
này làm tăng tốc độ quá trình, giảm
các sai sót chắc chắn mắc phải khi
thực hiện những thủ tục có tính lặp
lại cao bằng tay, và tăng tính chính
xác vị trí, tăng tính đồng hình của
các spot mẫu.
Tất cả các thí nghiệm tiên phong ở
trên là cơ sở của kỹ thuật array hiện
nay. Người ta đánh giá rằng, kỹ
thuật này có thể sẽ phát triển đến
mức chỉ vài năm nữa có thể so sánh
nó với kỹ thuật PCRkhông thể
thiếu trong sinh học hiện nay


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay
×