Viêm khớp phong thấp tính
(Kỳ 2)
3.1.1. Phong hàn thấp tý.
- Thời kỳ đầu thường đau từ 1 khớp đến nhiều khớp, đau cục bộ,
không sốt, không đỏ, chỉ gặp lạnh thì đau tăng, gặp nóng thì đau giảm; thường
biến đổi theo thời tiết (thiên khí biến hóa) mà đau nặng hay nhẹ. Lưỡi nhợt, rêu
lưỡi trắng mỏng; mạch trầm huyền hoặc trầm khẩn.
- Pháp điều trị: trừ phong trục thấp - ôn kinh tán hàn.
- Phương thuốc: “ôn kinh quyên tý thang”.
Đương qui 20g Dâm dương hoắc 15g
Quế chi 15g Cam thảo 5g
Khương bán hạ 15g Ô tiêu xà 10g
Chế xuyên ô 10g Địa miết trùng 10g
Phong lịch 10g Lộc hành thảo 10g.
Nếu đau di chuyển bất định là hành tý, phải thì gia thêm: thảo cốt
phong, khương hoạt, độc hoạt.
Nếu khớp chi thể nặng, phù thũng là trước tý nặng thì phải gia thêm:
thương truật, sinh ý dĩ nhân, sao bạch giới tử
Nếu bệnh nhân thích nóng, sợ lạnh, gặp nhiệt đỡ đau, gặp hàn đau
nặng là thể hàn tý thì phải thêm: phụ tử chế, ngô công, toàn yết
Nếu đau khớp nặng, nhức như kim châm, như cắn gọi là thống tý thì
phải gia thêm: tam thất, một dược, diên hồ sách, đào nhân, hồng hoa, kê huyết
đằng để hoạt huyết - hóa ứ.
3.1.2. Tý lâu ngày hóa nhiệt thương âm.
Các khớp sưng, nóng, đỏ, đau; cứng khớp. Mới đầu gặp lạnh đau
giảm, nếu lạnh lâu không có cảm giác thích, gặp nóng lại đỡ. Miệng khô mà đắng,
mất ngủ, phiền táo; lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng hoặc vàng nhờn; mạch huyền tế sác.
- Phương trị: tán hàn trừ thấp - thanh nhiệt thông lạc.
- Phương thuốc: “quế chi thược dược tri mẫu thang” gia giảm.
Quế chi 30g Xích thược 20g
Bạch thược 20g Tri mẫu 15g
Chế xuyên ô 15g Chế thảo ô 15g
Ô tiêu xà 15g Sinh địa 10g
Đương qui 15g Cương tàm 10g
Địa long 10g Cam thảo 10g.
- Gia giảm: nếu nhiệt thắng thì giảm bớt:quế chi, xuyên ô, thảo ô; mà gia
thêm: hổ trượng, hoàng bá để bài thủy thạch. Nếu âm hư nội nhiệt, đại tiện táo kết
nặng dùng thêm sinh địa 30 - 40g.
3.1.3. Can thận hao tổn, tỳ hư tà suy.
Chi thể cơ nhục teo nhẽo, các khớp cứng biến dạng đau nhức liên
tục không giảm, đau nặng gây mất ngủ kéo dài, ngày nhẹ đêm nặng, hình thể gầy
gò, mặt vàng bủng (nhợt), mệt mỏi thiểu lực, lưng gối mỏi đau, đầu choáng, tai ù,
ăn kém (nạp ngại), tiện nát, khí đoản, lưỡi nhợt, rêu trắng; mạch trầm tế hơi huyền.
- Pháp điều trị: bồi nguyên - ích thể - quyên tý- thông lạc.
- Phương thuốc: “ích thận quyên tý hoàn”.
Sinh địa 20g Thục địa 20g
Đương qui 20g Kê huyết đằng 20g
Dâm dương hoắc 20g Ô tiêu xà 10g
Nhục thung dung 20g Lộc hành thảo 10g
Cương tàm 10g Địa miết trùng 10g
Thảo cốt phong 10g Hổ trượng 10g
Chi trường noãn 10g Chích ngô công 10g
Khương lang 10g Chích toàn yết 10g.
- Gia giảm:
Nếu thiên về hư thìgia thêm: hoàng kỳ, đẳng sâm.
Thêm dương hư thì gia thêm: cốt toái bổ, bổ cốt chi.
Huyết hư thì gia thêm: đương qui, kê huyết đằng, kỷ tử, a giao.
Thiên âm hư thì gia thêm: thạch hộc, mạch đông, thiên môn đông, qui bản,
miết giáp.
Nếu khí trệ huyết ứ thì gia thêm: đào nhân, hồng hoa.
Hiện nay, phương thuốc trên đã được phổ cập. Sau điều trị, các chỉ tiêu sinh
hoá, huyết học, miễn dich đều được cải thiện rõ rệt; các khớp giảm viêm; chức
năng khớp cùng với chức năng can, thận đều được cải thiện tốt.
3.2. Các phương pháp điều trị khác.
+Điện châm các huyệt:
-Chi trên: khúc trì, thiếu hải, nội quan, hợp cốc, thần môn, ngoại quan, kiên
ngung, kiên trinh, kiên tỉnh, khúc trạch, đại lăng, dương trì.
-Chi dưới: hoàn khiêu, trật biên, thừa phù, bát liêu, yêu du, bạch hoàn du,
ân môn, ủy trung, tất dương quan, độc tỵ, tất nhãn, túc tam lý, dương lăng tuyền,
huyền chung, giải khê, thái xung.
Thường được chỉ định chọn huyệt tương ứng với vị trí thống điểm (điểm
đau - á thị huyệt), chia làm 2 nhóm luân lưu, cách ngày một lần. Nếu có đợt tiến
triển cấp, có thể châm hàng ngày, thậm chí có thể 3 giờ châm một lần (thay thế
cho thuốc giảm đau; từ 7 - 10 ngày là một liệu trình; 3 - 4 liệu trình là một đợt điều
trị.