ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
ĐẠI HỌC KHOA HỌC
KHOA KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG VÀ TRÁI ĐẤT
GIÓ TRÊN TRÁI ĐẤT
Họ và tên: Nguyễn Thị Định
Lớp : CN Địa lý K5
Thái Nguyên, tháng 5 năm 2010
LỜI MỞ ĐẦU
Tai biến thiên nhiên (TBTN) là: sự thay đổi đột ngột và mãnh liệt của tự
nhiên do các nguyên nhân bất thưiờng và nó có ảnh hưởng ghê gớm tới điều kiên tự
nhiên và môi trường trên Trái Đất. Hàng năm trêm thế giới có hàng triệu người
thiệt mạng, thiệt hại hảng tỉ USD vì thiên tai. Gió là một lọai tài nguyên năng lượng
vô hạn, con người từ xa xưa đã biết sử dụng sức gió để phục vụ cho nhu cầu của
mình như sử dụng cối xay gió để làm bột, hay lợi dụng sức gió để đi lại trên biển.
Tuy nhiên, gió cũng mang lại tai hoạ cho con người như những trận gió to từ ngoài
biển vào đất liền mang theo mưa lớn ngoài việc cung cấp nước điều hoà khí hậu thì
kem theo đó là bão tố, lũ lụt, và kéo theo nhiều tai biên khác như lốc, vòi rồng,
trượt lở
2
NỘI DUNG
1. Khái niệm và các đặc trưng của gió
1.1 Khái niệm
Gió là sự chuyển động của không khí theo phương năm ngang so sánh tương
đối với mặt đất. Trong khí quyển không khí có thể chuyển động đi lên, đi xuống,
chuyển động loạn lưu, chuyển động xoáy, giật hoặc kết hợp nhiều dạng chuyển
động, chẳng hạn như xoáy thuận, kết hợp nhiều dạng chuyển động như với 1 xoáy
thuận nó đồng thời tham gia cả 3 dạng chuyển động như chuyển động xoáy tròn từ
ngoài vào trong, chuyển động tịnh tiến và chuyển động từ dưới thấp lên cao. Chỉ
những dạng chuyển động theo phương nằm ngang mới đước gọi là gió.
1.2 Các đặc trưng của gió
a. Hướng gió
Hướng gió là hướng chuyển động của dòng không khí. Hưíng giã lµ hưíng
tõ ®ã giã thæi tíi. Người ta có thể xác định hướng gió theo các cách sau:
- Hoa gió
Theo cách này gió có thể được xác định theo 16 hướng chính:
Người ta ký hiệu tên gọi các hướng gió theo chũ cái đầu của từ tiếng Anh hoặc từ
tiếng Việt:
Hướng Bắc ( N)
Hướng Nam ( S)
Hướng Đông ( E)
Hướng Tây ( W)
Hướng Đông Bắc (NE)
Hướng Đông Nam ( SE)
Hướng Tây Bắc ( NW)
Hướng Tây Nam ( SW)
Hướng Bắc Đông Bắc ( NNE)
Hướng Đông Đông Bắc ( ENE)
Hướng Đông Đông Nam ( ESE)
Hướng Nam Đông Nam ( SSE)
3
Hương Nam Tây Nam ( SSW)
Hướng Tây Tây Nam ( WSW)
Hướng Tây Tây Bắc ( WNW)
Hướng Bắc Tây Bắc (NNW)
- Biểu thị hướng gió bằng góc độ: Dùng vòng tròn chân trời để biểu diến
hướng gió theo độ lớn của góc chia độ
- Xác định hướng gió theo địa danh: ví dụ gió Lào, gió đất, gió biển
b. Tốc độ gió
Tốc độ gió là độ dài quãng đường mà khối không khí đi được trong một đơn
vị thời gian, Đơn vị đo tốc độ gió: m/s, km/h , hải lý/ giờ
1 hải lý = 1,852 km
Trong thực tế, tốc độ gió thường được biểu thị bằng cấp gió theo thang độ
Beaufort đưa ra:
Cấp
gió
Tên cấp
gió
Tốc độ gió Dấu hiệu nhận biết Độ cao
sóng
biển
m/s hải lý/h Km/h
0 Lặng gió 0 - 0,2 < 1 < 1 Khói lên thẳng 0,1
1 Gần lặng
gió
0,3 - 1,5 1 - 3 1 - 5 Khói hơi bị lay
động
0,1
2 Gió rất
nhẹ
1,6 - 3,3 4 - 6 6 - 11 Cây rung nhẹ, lá
xào xạc
0,2 - 0,3
3 Gió khá
nhẹ
3,4 - 5,4 7 - 10 12 - 19 Cành cây rung, cờ
bay nhẹ
0,6 - 1,0
4 Gió nhẹ 5,5 - 7,9 11 - 16 20 - 28 Bụi và giấy bị thổi
bay
1,0 - 1,5
5 Gió vừa 8,0 - 10,7 17 - 21 29 - 38 Cây nhỏ đu đua 2,0 - 2,5
6 Gió hơi
mạnh
10,8 - 13,8 22 - 27 39 - 49 Mặt ao, hồ gợn
sóng
3,0 - 4,0
7 Gió khá
mạnh
13,9 - 17,1 28 - 33 50 - 61 Dây điện kêu vu
vu
4,0 - 5,5
8 Gió mạnh 17,2 - 20,7 34 - 40 62 - 74 Người không đi
ngược chiều được
5,5 - 7,5
9 Gió rất
mạnh
20,8 - 24,4 41 - 47 75 - 88 Mái ngói nhà cấp
4 bị lật
7,0 - 10,0
10 Gió bão 24,5 - 28,4 48 - 55 89 - 102 Rễ cây to bật lên 9,0 - 12,0
11 Gió bão
lớn
28,5 - 32,6 56 - 63 103 - 117 Sức phá mạnh, hư
hại nhà kiên cố
11,5-16,0
12 Gió bão
dữ
32,7 - 37,9 64 - 71 118 - 133 Đại cuồng phong 14,0 - 8,0
2. Khí áp và sự phân bố khí áp trên Trái Đất
2.1 Khí áp
4
Khí áp hay còn gọi là áp suất khí quyển là trọng lượng của cột không khí
thảng đứng có tiết diện bằng 1 đơn vị diện tích và có chiều cao từ mực quan trắc
đến giứoi hạn trên của khí quyển. Càng lên cao, chiều cao cột không khí càng giảm
thì áp suất khí quyển càng giảm.
Đơn vị đo: mmHg, Pa, mb
Áp suất khí quyển trong điều kiện là 0
0
C, ở vĩ độ 45
0
trên mực nứơc biển là
áp suất tiêu chuẩn
Đường nối liền các điểm có áp suất giống nhau sau khi đã quy cùng độ cao
so với mực biển thì gọi là các đường đẳng áp.
+ Vùng các đường đẳng áp đóng kín với áp suất ở trung tâm thấp nhất gọi là
vùng áp thấp hay xoáy thuận.
+ Vùng các đường đẳng áp đóng kín với áp suất ở trung tâm cao nhất gọi là
vùng áp cao hay xoáy nghịch.
Trị số áp suất tiêu chuẩn bằng 760mmHg hay 1013 mb
2.2 Sự phân bố khí áp trên Trái Đất
- Các đai áp cao và áp thấp phân bố xen kẽ và đối xứng qua đai áp thấp xích
đạo.
+ Tại xích đạo có 1 vùng khí áp thấp bao quanh địa cầu đó là vành đai khí áp
thấp xích đạo.
+ Hai vành đai khí áp cao dọc theo vĩ tuyến 30 -35
0
bắc và nam bán cầu gọi
là 2 vành đai khí áp cao cận chí tuyến.
+ Từ 2 vành đai khí áp cao cận chí tuyến đến vĩ độ 66
0
33', khí áp giảm dần.
Giá trị khí áp cực tiểu ở khoảng vĩ tuyến 66
0
33' bắc và nam bán cầu. Vùng này
hình thành 2 vùng khí áp thấp gọi là áp thấp ôn đới.
+ Ở 2 địa cực hình thành 2 trung tâm khí áp cao gọi là áp cao địa cực.
5
- Các đai áp không phân bố thành dải liên tục mà nó bị chia cắt bởi các lục địa và
đại dương
3. Nguyên nhân sinh ra gió và phân loại gió
3.1 Nguyên nhân sinh ra gió
Nguyên nhân sinh ra gió là do sự phân bố của khí áp trên bề mặt Trái Đất
không đồng đều tại các địa điểm. khi có sự chuyển dịch khí áp theo phương nằm
ngang thì không khí sẽ chuyển dịch từ nơi có khí áp cao đến nơi có khí áp thấp tạo
thành gió. Có thể tóm tắt sự hình thành gió theo sơ đồ sau:
6
Qua sơ đồ trên ta thấy, giữa 2 vùng địa lý nếu có sự chênh lệch nhiệt độ thì
dẫn đến chênh lệch về khí áp và sinh ra gió.
- Xét về mặt "toàn cầu" thì bức xạ của Mặt trời trên các vùng của Trái đất lá
luôn luôn không cân bằng nhau: Mặt trời chỉ chiếu được một nửa Trái đất,thêm vào
đó vùng gần Xích đạo luôn nhận được bức xạ nhiều hơn 2 cực. Sự chênh lệch về
bức xạ này khiến nhiệt độ không khí của các vùng trên Trái đất khác nhau, tức áp
suất của từng vùng khác nhau và tạo ra sự lưu chuyển không khí.
- Sự khác nhau về nhiệt dung của đất và nước cũng là nguyên nhân gây ra sự
chênh lệch về nhiệt độ, tức chênh lệch về áp suất này: Ban ngày nhiệt độ Mặt đất
cao hơn Mặt nước nên thường có gió thổi từ biển hoặc sông (nếu đủ lớn) vào đất
liền (nếu không chịu tác động từ sự lưu chuyển của một dòng gió khác có độ lớn
hơn). Ngược lại vào ban đêm, Mặt đất nguội nhanh, có nhiệt độ thấp hơn nước
biển, nên gió lại thổi ngược từ dất liền ra biển (những ghe thuyền nhỏ đánh bắt gần
thường lợi dụng yếu tố này để ra khơi và về bến được nhanh chóng thuận tiện)
- Trục Trái đất nghiêng một góc so với quỷ đạo quay quanh Mặt trời cũng là
yếu tố tạo thành các dòng không khí theo mùa
Sự bốc hơi của nước, nhất là trên mặt đại dương, và sự chuyển động đối lưu
của không khí ở các vùng bị đốt nóng quá mạnh (chẳng hạn sa mạc) là một trong
những yếu tố quan trọng góp phần tạo thêm năng lượng cho gió (nhưng không phải
là nguyên nhân). Đó là lý do tại sao bảo thường được hình thành trên mặt biển hoặc
sa mạc (sự trống trải, không có vật cản để giảm đi năng lượng của gió ở sa mạc
hoặc trên biển cũng là một trong những nguyên nhân chính). Do ảnh hưởng của
hiệu ứng Coriolis, được tạo thành do sự tự quay quanh trục của Trái Đất, nên sự lưu
chuyển của không khí từ vùng áp cao vào vùng áp thấp không chuyển động thẳng
mà tạo thành các cơn gió xoáy có chiều quay là khác nhau ở vùng Bắc bán cầu và
Nam bán cầu.
3.2 Phân loại gió
a. Gió thường xuyên:
Gió thường xuyên hay gió hành tinh là loại gió thổi thường xuyên quanh
năm ở 1khu vực, hình thành những đai gió trên Trái Đất.
- Gió tín phong: hay còn gọi là gió mậu dịch thổi từ 2 chí tuyến về xích đạo.
- Gió tây ôn đới
- Gió đông địa cực
b. Gió địa phương
Gió địa phương là loại gió chỉ có 1 địa phương và thường được gọi bằng tên
địa phương như gió lào, gió đất, gió biển
c. Gió mùa: là loại gió địa phương có hướng và tính chất gió thay đổi theo mùa
trong năm. Gió mùa được hình thành từ sự chênh lệch khí áp giữa lục địa và đại
dương, hoặc giữa 2 bán cầu có mùa trái ngược nhau. Gió mùa ở Trung Phi, Đông
7
Phi , o Maagatxca, b bin Nam Rp, Bc c v ụng Braxin l giú mựa
chuyn t bờn ny ng xớch o sang bờn kia ng xớch o ca chõu Phi, chõu
c v chõu Nam M. Giú mựa trờn Thỏi Bỡnh Dng cng c hỡnh thnh tng
t, t bờn ny sang bờn kia ng xớch o v ngc li. Nhng tiờu biu nht l
giú mựa chõu hỡnh thnh t s chờnh lch nhit v khớ ỏp gia lc a chõu
ln nht v i dng Thỏi Bènh Dng rng nht, gia chõu v chõu c cú 2
mựa trỏi ngc nhau, vỡ nm 2 bỏn cu khỏc nhau. Phm vi hot ng ca giú
mựa chõu li rt rng ln: kộo di t ụng Bc , ụng , ụng nam n
Nam , qua nhiu min khớ hu khỏc nhau t gn bc cc n v tuyn 40
0
N. Giú
mựa thi rt mnh v rt cao: giú mựa mựa h thi n cao 5000m, cũn giú mựa
mựa ụng cng thi n cao 2000m.
4. Cỏc lc nh hng ti giú
4.1 Lc gradien khớ ỏp nm ngang
Khi có sự chênh lệch khí áp theo chiều nằm ngang, không khí luôn chịu tác
dụng của một lực vuông góc với các đờng đẳng áp, hớng từ nơi có áp suất cao
đến nơi có áp suất thấp. Lực này đợc gọi là là lực phát động gradient khí áp (G).
G = dP/.dL
trong đó : dP/dL là gradient khí áp nằm ngang
là mật độ không khí
4.2 Lc Coriolit
Mọi vật chuyển động trên mặt đất đều có khuynh hớng lệch khỏi hớng
chuyển động ban đầu của nó vì sự tự quay của qủa đất
Độ lớn: W = 2. . v. sin
Trong đó: . = 0.000073 là tốc độ quay của trái đất tính bằng radian/giây
v- Tốc độ gió,
là vĩ độ địa phơng.
BBC, phơng vuông góc với véc tơ chuyển động, chiều lệch về bên phải so
với véc tơ chuyển động
nam bán cầu thì ngợc lại: Phơng vuông góc với véc tơ chuyển động, chiều
lệch về phía trái so với véc tơ chuyển động
Lc Cụriụlit ch nh hng n hng ca dũng chuyn ng ch khụng nh
hng n tc ca dũng chuyn ng ú. Lc ny bóo gi cng tỏc ng theo
phng thng gúc vi hng ca dũng chuyn ng.
4.3 Lc ma sỏt
Khi chuyển động khối không khí luôn luôn chịu tác động của lực ma sát R.
Lực ma sát gây ra do ma sát bên trong và ma sát bên ngoài.
Ma sỏt trong xut hin gia cỏc lp khụng khớ v cỏc phn t khụng khớ
chuyn ng, vỡ cỏc lp v cỏc phõn ft khụng khớ thng cú vn tc v cú hng
chuyn ng khụng hon ton nh nhau.
Ma sỏt ngoi xut hin khi khụng khớ chuyn ng c sỏt, tip xỳc vi mt
m nh mt t, thm thc vt, nh ca
4.4 Lc ly tõm
8
Khi khối không khí chuyển động theo đờng cong thì bao giờ cũng xuất hiện
lực li tâm
C = V2/R.
Trong đó :V là tốc độ của chuyển động
R là bán kính của quỹ đạo chuyển động
5. Nguy c, thit hi do giú gõy ra
Cỏc loi giú thng xuyờn, quanh nm ch thi theo 1 hng nht nh, nờn
t xa xa cỏc nh buụn ó li dng nhng con giú ny a thuyn n nhng
vựng t mi.
cao a hỡnh nht l cỏc dóy nỳi nm ven bin, l iu kin iu kin
thun li lm ny sinh cỏc ỏp thp, ỏp cao bt thng ú. Dóy Trng Sn l 1 vớ
d. t thỏng 4 n thỏng 9, cỏc ng bng ven bin Trung B sn ụng Trng
Sn vo mựa khụ núng, hỡnh thnh ỏp thp hỳt giú t sn tõy phớa Lo, Thỏi Lan
sang Khi vt nỳi, khụng khớ gp lnh lờn cao, trỳt ma tm t bờn phớa Lo, nờn
khi sang n Vit Nam, khụng khớ khụ xung ng bng, cng xung cng núng
lờn, cú khi n 40
0
C, ú l giú Lo. Khi vựng bin bc u xut hin ỏp thp bt
thng, giú phn khụ núng cng c hỡnh thnh tng t khi khụng khớ t a
Trung Hi vt qua dóy Anp xung cỏc thung lng Thu S, o v c, lm
tan chy bng trờn nỳi cao, gõy l lt trờn cỏc con sụng, hoc gõt ra trt t trờn
cỏc vựng nỳi. Vo mựa hố khi a Trung Hi xut hin ỏp thp,giú t hoang mc
Xahara vt qua cỏc dóy nỳi Bc Phi to thnh cỏc ngn giú núng khc nghit
Xiroco t Xahara ra, giú Xiun núng bng n cỏc nc Rp, giú núng Habp n
Xyri, giú núng Khanxin n Ai Cp , giú hỏcmatan thi n vựng Tõy Phi. Nhng
loi giú núng ny cun theo cỏt sa mc lờn cao n hng trm một, mự mt c bu
tri, lamg khụ hộo c cõy v l 1 tỏc nhõn sa mc hoỏ vựng Bc Phi v trung cn
ụng. Trung Quc, giú t sa mc Gụ bi bng qua cao nguyờn hong th, lun
qua cỏc thung lng nỳi, em theo cỏt vng n th ụ Bc Kinh. Cn cung phong
vang l ni ỏm nh ca ngi Bc Kinh, c gi l "ting kờu ca qu", mi ln
thi qua cỏt p lỏch cỏch vo thnh xe, t tri mự mt khụng cũn thy ng i,
ph lp bi vng dy khp cỏc ng ph. Ngi Bc Kinh vớ von: " Mi khi cú
giú vng, Bc Kinh bin thnh cỏi gt tn thuc ( y bi) v nu cú ma xung s
thnh cỏi nghiờn mc ( y bựn)". Nm 1981, d ỏn "Vn lớ trng thnh xanh",
trng cõy xanh chng cung phong vng trờn cỏc nỳi trng c trờn 5 n cỏt ln
quanh bc Kinh, huy ng 1,5 triu cụng nhõn/ nm, c thc hin. Lng catys
vng ri xung Bc Kinh ó t 31 tn/ km
2
(1981) xung cũn 18 tn/ km
2
(1993)
trỏnh Bc Kinh thoỏt khi thm ha sa mc húa nh bc Phi.
V mựa ụng, a Trung Hi l mt bin m, hỳt giú t cỏc vựng nỳi chõu
u bng giỏ lm phỏt sinh loi giú lnh khng khip thi mnh n 100 km/h: ú
l giú Mixtran trong thung lng nỳi An P v giú Tramong tan trong thung lng nỳi
Pirene Phỏp, giú Bụra í v Nam T, giú Crivet Rumani, cú th trong vi
gi lm nhit khụng khớ gim xung 10
0
C, thm chớ n 20
0
C nh giú Crivet
thi t cỏc ng c úng bng Ucraina ra.
9
Ở Bắc Mỹ có gió nóng Sinuc, thổi từ dãy Thạch Sơn xuống vào mùa đông,
được mệnh danh là "kẻ ngốn tuyết", có thể làm tăng nhiệt độ không khí chỉ trong
vòng 2 phút từ -20
0
C lên đến 7
0
C, như đợt gió Sinuc thổi đến thành phố Xpiaphixo
bang Đacota (Mỹ) tháng 1 năm 1943. Vì thế gió Sinuc có thể làm tan lớp băng
tuyết ở những vùng gió đi qua trung bình 25mm/h. Sự tăng đột ngột nhiệt độ không
khí quá nhanh vào mùa đông có thể làm nổ tung cửa kính các nhà kho đòng kín.
Về gió lạnh, có gió Xănta ở phía nam Cali thổi với tốc độ 120 km/h. Ở bờ
phí đông Bắc Mĩ có gió lạng Bliza thổi dữ dội và lạnh khủng khiếp đến Mỹ và
Canada. Gió Bliza rất tai hại vì thường xuất hiện cùng lúc với đợt không khí lạnh từ
Bắc cực tràn xuống. Đợt gió Bliza lịch sử của thế kỉ 20 ở Mỹ là đợt thổi vào tháng
3/ 1993 ảnh hưởng đến 26 bang ở phía đông nước Mỹ, làm đình trệ mọi tuyến
đường bộ, đường sắt, đường hàng không,, làm chết 165 ngừơi, thiệt haịo vật chất
hêtý sức nặng nề. Năm 1994, lại một trận gió lạnh Bliza đổ đến phía bắc và phía
đông nước Mỹ làm 80 người chết . gấp 2 lần số người chết do động đất ở lốt
angiơlơt cùng năm đó. Ở Nam Mỹ, có gió lạnh Pampêrô từ dãy núi Andet thổi
xuống đồng bằng Pampa của Achentina, trong 2 giờ có thể làm tụt nhiệt độ xuống
trên 10
0
C
Gió mùa:do thổi từ vùng Xibia lạnh lẽo trên lục địa châu Á ra từ tháng 11
đến tháng 4, gió mùa mùa đông thường khô và lạnh. Còn gió mùa mùa hạ làm
chuyển động khối không khí xíh đạo và khối không khí chí tuyến trên biển Thái
Bình Dương âme ướt vào đất liền từ tháng 5 đên stháng 10 nên gió vừa mát mùa
mang đên rất nhiều mưa. Lượng mưa gió mùa mùa hạ đều rất lớn trên 1000mm vfa
thường chiêếmtrên 75% lượng mưa cả năm, nên dễ gây lũ lớn trên các con sông.
Mùa hè thu cũng đồng thời là mùa mưa bão, nếu bão cúng đem mưa to đến thì lũ
lụt là điều khó tránh khỏi trên các con sông lớn trong vùng. Gió mùa tạo nên nhịp
điệu canh tác và nhipọ điệu sinh hoạt cho dân cư trong vùng có gió mùa thổi nhưng
nó cũng dem nhiều taoi hoạ cho con người. Con số người chết do lũ lụt ở Nêpan,
Bănglađet, Ấn Độ , các nước Đông Nam Á và trung Quốc mỗi năm lên đên shàng
ngàn ngươì có khi lên đến hằng trăm ngàn người.
Ngoài ra gió còn đem đến các tai biến thiên nhiên khác như: gió lốc, lốc
xoáy, tố
Trận lốc xoáy khủng khiếp nhất trong lịch sử nước Mỹ là trận lốc xoáy quét
qua ba Bang - Missouri, Illinois, và Indiana - vào ngày 18 tháng Ba năm 1925, làm
khoảng 700 người thiệt mạng
Tố là hiện tượng gió tăng tốc đột ngột, hướng cũng thay đổi bất chợt, nhiệt
độ không khí giảm mạnh, ẩm độ tăng nhanh thường kèm theo dông, mưa rào hoặc
mưa đá
Ngày 2/4/2006,Tại Missouri, gió mạnh đã làm ít nhất 2 người thiệt mạng.
Tình trạng khẩn cấp đã được ban bố tại thành phố Caruthersville sau khi một cơn
lốc xoáy gây thiệt hại nặng nề tại nơi này.Còn tại Illinois, một người đàn ông 54
tuổi thiệt mạng khi một kho hàng đổ sập xuống do gió mạnh. Bão mạnh cũng đã
10
nhổ bật nhiều cây cối, làm đứt đường dây điện, làm lật ngược các xe kéo và khiến
nhiều người đi xe máy mất tay lái. Bão và lốc xoáy cũng khiến hơn 300.000 người
bị mất điện tại Illinois, Missouri và Indiana.
Tại Hoa Kỳ, luồng không khí lạnh di chuyển từ phía bắc xuống phía nam,
đến tận Florida, chỉ một đợt kéo dài trong 3 ngày vào tháng 12 năm 1983 đã làm
cho khoảng 400 người chết vì giá rét
6. Các loại gió ở Việt Nam
6.1 Gió phơn:
Trong khí tượng có hiện tượng gió vượt đèo được gọi là "Fơn" (foehn): từ
bên kia núi gió thổi lên (anabatic wind), không khí bị lạnh dần đi rồi ngưng kết nên
chút bớt ẩm nhưng cũng thu thêm nhiệt do ngưng kết toả ra, sau khi qua đỉnh gió
thổi xuống (katabatic wind) bên này núi, nhiệt độ của nó tăng dần lên do quá trình
không khí bị nén đoạn nhiệt, vì vậy đến chân núi bên này gió trở nên khô và nóng
hơn. Núi càng cao chênh lệch nhiệt độ càng lớn. (thí dụ với dãy núi cao 3km, nhiệt
độ không khí bên kia núi là 10oC, sang chân núi bên này nhiệt độ đã lên tới 18oC,
theo Nicholas M. Short, NASA).
Hiện tượng trên mỗi địa phương gọi mỗi tên khác nhau, “phơn” là tên gọi địa
phương của thứ gió khô và nóng thổi trong các thung lũng của nước Áo và Thụy sĩ,
ở phía bắc dãy núi An-pơ, ở tây nam nước Mỹ là "chinook", ở vùng giữa Alma-Ata
và Frunze (Liên xô cũ) là "kastek", ở Việt Nam ta gọi là "gió Lào" (vì thổi từ Lào
sang) hay gió tây khô nóng (gió có thể lệch tây). Gió khô nóng cũng là loại thời tiết
nguy hiểm.
Gió ẩm, sau khi vượt qua một chướng ngại vật cao (dãy núi cao chẳng hạn)
bị biến đổi tính chất, trở nên khô nóng hơn, và biến thành gió “phơn”. Quá trình
biến đổi tính chất như trên của gió gọi là quá trình “phơn”.
Vật chướng ngại càng cao thì quá trình “phơn” càng mạnh, ở mỗi miền trên
thế giới, gió “phơn” có tên gọi khác nhau (gió Lào ở Việt Nam, gió Chi-nuc ở Mỹ
và Canada, gió Xanta Ana ở Califoocnia…)
Ở nước ta những nơi có gió “phơn” thổi:
Nước ta có lắm núi, nhiều đồi, gió thổi qua các miền đồi núi dù cao hay thấp
đều biến thanh gió “phơn” cả.
Đặc biệt ở một số miền núi, có những loại gió “phơn” nổi tiếng mà chúng ta
đều biết, như gió Than uyên thổi xuống cánh đồng Mường Than (huyện Than Uyên
tỉnh Nghĩa Lộ, Tây Bắc), gió Ô quy hồ ở vùng Sapa. Nhưng điển hình nhất là gió
Lào thổi trong một vùng rộng lớn về mùa hè từ Nghệ An đến cực Nam Trung bộ.
Nguồn gốc của gió Lào:
Nguồn gốc của gió Lào chính là gió mùa mùa hè, mà thực chất là khối khí
Ben-gan. Sau khi thổi qua lãnh thổ Campuchia và Lào, gió đã mất đi một phần hơi
ẩm. Gặp dãy Trường Sơn, không khí bị đẩy lên cao và bị lạnh nên hầu hết hơi ẩm
đều bị ngưng lại thành mưa trút xuống bên sườn phía Tây của dãy núi. Khi gió thổi
sang bên sườn núi phía Việt Nam, gió trở nên khô và nóng, tức là “gió Lào”.
11
Nhưng động lực chủ yếu sinh ra gió Lào là vùng áp thấp thường hình thành ở
miền Hoa nam, có khi trung tâm áp thấp nằm ngay ở đồng bằng Bắc bộ. Vùng áp
thấp có tác dụng “gọi gió” hay “hút gió” vượt qua dẫy Trường Sơn. Vùng áp thấp
này càng sâu thì gió Lào càng thổi mạnh, và có trường hợp tỏa rộng ra Bắc bộ, lên
tới vùng Việt Bắc.
Trước khi gió Lào thổi thường có triệu chứng báo trước:
Trước khi gió Lào thổi, bầu trời thường trong xanh, gió yếu hay lặng gió.
Trên nền trời chỉ có một vài vệt mây li ti. Chân trời phía Tây thường có mù khô
màu vàng da cam, khí quyển rất trong có thể nhìn thấy một thứ nóng làm cho da
mặt hầm hập như trong cơn sốt nhẹ. Tiết trời rất khô. Đó là bối cảnh báo trước sau
một thời gian ngắn sẽ có gió Lào.
Đồng thời, nếu theo dõi diễn biến của các yếu tố khí tượng sẽ thấy như sau:
- Gió đổi hướng, yếu dần, rồi quay ngược chiều kim đồng hồ, chứng tỏ có vùng
áp thấp đang ngự trị.
- Khí áp liên tục giảm xuống, khi nào mức giảm lớn nhất thì gió Lào sẽ thổi
mạnh nhất.
- Tầm nhìn xa rất tốt.
Mùa gió Lào xảy ra vào thời gian:
Theo quy luật, ở miền Trung bộ, mùa gió Lào thường bắt đầu từ hạ tuần
tháng 4 đến trung tuần tháng 9, trong đó gió Lào thổi nhiều nhất vào tháng 6 và
tháng 7, mỗi tháng trung bình có 7-10 ngày, trong đó 2-4 ngày gió Lào thổi mạnh.
Gió Lào thường thổi thành từng đợt, đợt ngắn từ 2 đến 3 ngày, có đợt từ 10 đến 15
ngày, có đợt kéo dài tới 20 - 21 ngày.
Gió Lào là một dạng thời tiết đặc biệt về mùa hè ở Trung Bộ Việt Nam. Gió
Lào thổi theo hướng Tây nam. Trong một ngày, gió Lào thường bắt đầu thổi từ 8-9
giờ sang cho đến chiều tối, thổi mạnh nhất từ khoảng gần giữa trưa đến xế chiều.
Có khi gió Lào thổi liên tục suốt cả ngày đêm, có đợt kéo dài trong 10 ngày đêm
liền. Khi có gió Lào thổi, nhiệt độ cao nhất trong ngày thường vượt quá 37
o
C và độ
ẩm nhất trong ngày thường giảm xuống dưới 50%. Gió tây thổi từ tây qua đông dãy
Trường Sơn gây ra gió khô nóng chủ yếu ở khu vực miền Trung nước ta, thường
xảy ra vào tháng 4, 5 và 6 hàng năm, thành từng đợt, kéo dài trong nhiều ngày.
Thời tiết trong những ngày này rất khô, độ ẩm có khi xuống 30%, và nóng, nhiệt độ
có khi lên tới 43
o
C, bầu trời không một gợn mây, trời nắng chói chang, gió lại thổi
đều đều như quạt lửa, cây cỏ héo khô, ao hồ cạn kiệt, con người và gia súc bị ngột
ngạt, rất dễ sinh hoả hoạn. Các nơi khác ở nước ta cũng có gió khô nóng, song mức
độ thấp hơn so với Trung bộ, nên để định lượng hoá hiện tượng gió khô nóng các
nhà khí tượng nước ta đưa ra chỉ tiêu: ngày có nhiệt độ >35
o
C, độ ẩm <= 55% được
xem là ngày có gió khô nóng.
6.2 Không khí lạnh, gió mùa đông bắc
Không khí lạnh là hiện tượng thời tiết khi khối không khí rất lạnh từ lục địa
Châu Á di chuyển xuống khu vực nước ta, nơi đang có khối không khí ấm, gây ra
12
gió đông bắc mạnh trời trở rét và thời tiết xấu, thời gian đặc trưng là vào thời kỳ
gió mùa mùa đông nên còn gọi là "gió mùa đông bắc". Khối không khí lạnh này có
nguồn gốc cực đới, tràn qua lục địa Châu Á dưới dạng front lạnh, xuống đến nước
ta trong nhiều trường hợp không còn thể hiện rõ tính chất điển hình của một front
lạnh nên ta gọi chung là "không khí lạnh".
Khi không khí lạnh tràn về, đẩy không khí nóng chuyển động lên cao, tạo
thành một dải chuyển tiếp, người ta vẽ một đường phân cách giữa 2 khối không
khí, khác nhau cơ bản về nhiệt độ và độ ẩm, được gọi là front lạnh (thuật ngữ này
do Bjerknes (người Na-uy) đưa ra lần đầu vào lúc chiến tranh thế giới I đang đi đến
hồi kết nên ông "lấy hứng" đặt là "front" (mặt trận) và được giữ nguyên trong mọi
thứ tiếng).
Gió mùa đông bắc là hiện tượng thời tiết đặc biệt nguy hiểm, vì khi nó tràn
về ngoài khơi vịnh Bắc bộ gió có thể mạnh đến cấp 6 - 7, có thể đánh đắm tầu
thuyền, đất liền gió cấp 4 - 5, có thể làm hư hại nhà cửa, cây cối, các công trình
đang thi công trên cao, Đặc biệt những đợt mạnh còn gây ra mưa to, gió lớn,
thậm chí dông, tố lốc, có khi cả mưa đá. Vào những tháng chính đông (tháng 12,
tháng 1), đêm về trời quang mây, gây ra sương muối, băng giá, thậm chí có năm cả
tuyết rơi trên vùng núi cao; nếu kéo dài còn gây rét đậm, rét hại không những đối
với cây trồng, gia súc mà cả con người: từ cảm lạnh, viêm họng, viêm phổi, khớp,
hen suyễn Ở ta không khí lạnh thường từ tháng 9 -10 đến tháng 5 - 6 năm sau,
nhưng mạnh nhất vào các tháng chính đông, ảnh hưởng trực tiếp là khu vực phía
bắc, từ đèo Ngang trở ra, ít khi đến nam Trung bộ.
6.3 Gió đất, gió biển
Ở vùng ven biển, ban ngày khoảng từ 13-19 giờ gió thổi từ biển vào đất liền
mát dượi. Đêm đến khoảng từ 19 giờ đến sáng hôm sau gió lại thổi từ đất liền ra
biển.
Nguyên nhân là do ban ngày mặt nước biển nhận nhiệt chậm hơn trong đất
liền, biển mát, đất liền nóng nên gió thổi từ biển vào đất liền. Còn ban đêm, đất liền
tỏa nhiệt nhanh, lạnh hơn mặt nước biển nên gió lại thổi từ đất liền ra biển.
Ngư dân thường lợi dụng loại gió này để dương buồm ra khơi vào lúc đêm
về sáng và trở vào bờ lúc buổi chiều.
6.4 Gió cát
Ở ven biển nước ta gió đem cát vào xâm lấn đất trồng trọt thật mãnh liệt.
Theo đường số một qua Đèo Ngang vào đến Ba đồn Quảng Khê là .đã thấy cát
trắng trải mênh mông. Chổ bằng phẳng, chổ nhấp nhô rồi những đụn cát cao to, dài
trông như những con đê. Qua Quảng Bình, Vĩnh Linh thì đã thấy cát như muốn
trùm lên đường thiên lý. Suốt một quãng đường dài chừng 50 km, cát ăn sâu vào
nội địa từng quãng, nông thì chừng 3 – 4 km, sâu thì tới 5 – 7 km, chiếm một diện
tích rộng khoảng 17,500 ha.
Những cồn cát đang chuyển dần sâu vào trong nội địa, nhấp nhô trùng điệp
trùn lên tất cả mọi vật ở đây. Các động thường cao từ 20 – 30 m, có động cát cao
13
tới 70 m, nơi đây không một bóng cây xanh, chỉ lát đát đây đó vài cây cỏ gầy yếu,
thưa thớt, vàng úa, những bông hoa mua tím nhỏ, khô khan, những cành cỏ quắn
nhọn sắc.
Về mùa đông, gió mùa đông bắc lồng lộn các cồn cát, thổi cát vào sâu trong
đất liền tạo thành cát đồng cát mới, phủ lên nhà cửa, ruộng vườn. Theo năm tháng
cát đã vùi sâu biết bao đất trồng trọt màu mỡ.
Có nơi xưa kia là làng mạc trù phú thì nay là cồn cát trắng phau, cát đã dồn
làng vào tới hai ba chục mét.
Hai huyện Quảng Ninh và Lệ Thuỷ, mãnh đất phì nhiêu trù phú là thế mà
nay cát đã trù phủ trắng 1 vùng phía Tây làm cho cảnh hoang vắng, điều hiu.
Những ngày hè, nắng chói loà trên biển cát, lại thêm gió Lào từ Trường Sơn
thổi tới làm cho cả vùng khô nóng như rang. Gió cuốn cát trắng bay mù mịt, mang
cái khô bỏng đốt cháy xém da thịt, táp heo lá cây.
Cát xâm lăn đất liền, lấp kín các lạch nước chảy ra biển làm thành những
vùng nước úng ngay cạnh các đụn cát khô, Giữa các động cát này có 1 hồ nước gọi
là hồ Thuỷ Ứ, xưa kia từng là 1 cánh đồng tươi tốt, có những lạch nước chảy ra
biển sau khi cát lấp dần ứ lại thành 1 hồ nước ngọt rộng tới 350 ha.
Gió cát ở suốt 1 dải làng ven biển từ Quảng Bình đến Cửu Tùng là sự lấn
chiếm của giặc cát vào đất đai phì nhiêu của con người. Nhân dân đã chống lại
bằng cách trồng hững rừng phi lao ven biển. Gây được những cây phi lao đầu tiên
sống được trên cát thật khó khăn, nhưng nhân dân ở đây đã thắng được thiên nhiên
và giờ đây những vùng phi lao xanh đã như những bức thành cản gió, chắn cát bảo
vệ phần đất đai màu mỡ nơi đây.
Một số thiệt hại gần đây do gió, lốc gây ra ở Việt Nam
Đêm 21 rạng sáng 22/4/2010, tại tỉnh Thái Nguyên đã xảy ra gió lốc với
cường độ mạnh làm thiệt hại nhiều nhà cửa và hoa màu của người dân. Tại huyện
Đại Từ, gió lốc gây thiệt hại nặng ở 3 xã Tiên Hội, Bình Thuận và Phục Linh.
Hồi 19h30 ngày 9/5/2010, tại các huyện Mường Khương, Bát Xát, Bắc Hà,
Bảo Yên, Si Ma Cai và TP Lào Cai (tỉnh Lào Cai) đã xảy ra cơn lốc mạnh kèm theo
mưa lớn và mưa đá. Sở NN&PTNT tỉnh Lào Cai cho biết, hàng nghìn nhà dân,
trạm xá, trường học và các công trình công cộng khác bị hư hỏng, ước thiệt hại về
vật chất khoảng 5 tỷ đồng. Trong khi đó, tại huyện Bảo Lâm (tỉnh Cao Bằng) và thị
trấn Nông trường huyện Mộc Châu (tỉnh Sơn La) vào tối ngày 9-5 cũng xảy ra các
trận mưa kèm lốc lớn làm hàng trăm nhà dân, trường học bị tốc mái và hư hỏng.
7. Biện pháp khắc phục, giảm thiểu thiệt hại do gió gây ra
Gió lớn đi từ biển vào đất liền thường kem theo mưa to, bão, lũ lụt. Vì vậy
cần có những biến pháp dự báo tốc độ gió, hướng gió đặc biệt là cấp độ gió
Khi xảy ra thiên tai cần nhanh chóng thực hiện cứu trợ, khắc phục thiệt hại
do thiên tai gây ra,xem xét tổ chức cứu trợ, giúp đỡ về lương thực, thực phẩm,
thuốc men, kinh phí góp phần tạo điều kiện cho người dân bị thiệt hại sớm ổn định
cuộc sống,
14
Xây dựng phương án huy động lực lượng tại chỗ để tham gia giải tỏa cây
ngã, đổ, chướng ngại vật ngay khi sự cố xảy ra, đảm bảo trong thời gian sớm nhất
cho việc lưu thông thông suốt trên các tuyến đường và sinh hoạt tại các công viên.
Ngoài ra còn cần phòng tránh bão, lũ lụt, trượt lở, do gió lớn kèm theo mưa
lớn gây ra
Xây dựng cơ sở hạ tầng kiên cố
Cần có nhừng biện pháp dự báo, phòng tránh sương mưối, mưa đá, khi có
những đợt không khí lạnh đổ về
Với gió khô nóng, cần có biện pháp xây dựng các hồ chứa nước nhằm giảm
nhiệt độ không khí khi gió đi qua, trồng cây xanh để ngăn chặn tình trạng cát bay,
ngăn ngừa sa mạc hoá
Xây dựng hệ thống tưới tiêu hợp lý, có biện pháp dự trữ nước vào mùa gió
tây khô nóng
Một số biện pháp phòng, tránh, ứng phó với lốc xoáy, gió giật
Để hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại do lốc xoáy, gió giật gây ra và xử lý
tình huống lốc xoáy, gió giật xảy ra trên địa bàn, cần thực hiện một số biện pháp
phòng, tránh lốc xoáy, gió giật sau đây:
a. Đối với trên biển:
- Buộc chủ tàu thuyền khi ra biển phải có phao cứu sinh và toàn bộ thủy thủ,
thuyền viên phải mặc áo phao vào khi đang ở trên biển;
- Khi thấy biển động thì phải nhanh chóng trở vào bờ hoặc di chuyển tìm nơi
tránh, trú an toàn;
- Tổ chức hợp lý đội hình khai thác trên biển theo tổ, trong đó đảm bảo cự ly,
khoảng cách hợp lý giữa các tàu thuyền để hỗ trợ nhau khi gặp nạn.
b. Đối với trên đất liền:
- Xây dựng các công trình, nhà ở kiên cố, thường xuyên chằng chống nhà cửa để
tăng độ vững chắc nhằm đề phòng lốc xoáy, gió giật. Ở các cửa biển, ven biển, nơi
trống trải, nếu nhà ở lợp bằng lá, tôn tráng kẽm, fibro xi măng, ngói có thể dằn lên
mái nhà các loại thanh nẹp bằng gỗ, sắt, dây kẽm cỡ lớn hoặc các bao chứa cát để
hạn chế tốc mái khi có lốc xoáy, gió giật
- Chặt tỉa cành, nhánh của các cây cao, dễ gãy đổ, cây nằm gần nhà ở, lưới
điện…;
- Khi trời mưa lớn kèm theo dông, cần sơ tán người già và trẻ em ra khỏi những
căn nhà tạm bợ, đến những nơi an toàn, vững chắc hơn. Khi xảy ra lốc xoáy, gió
giật mọi người phải tìm những nơi trú ẩn an toàn như các nhà kiên cố, tránh núp
dưới bóng cây, nhà tạm bợ dễ bị ngã đổ gây tai nạn. Tuyên truyền, vận động đến
các hộ dân có nhà kiên cố tiếp nhận những người dân trú ẩn khi xảy ra lốc xoáy,
gió giật với tinh thần tương thân, tương trợ lẫn nhau.
Sau khi xảy ra lốc xoáy, gió giật, cần khẩn trương huy động lực lượng,
phương tiện, vật chất trang bị để nhanh chóng giải quyết hậu quả, tập trung một số
công việc:
15
- Cứu nạn cho người và tài sản;
- Sửa chữa, khắc phục nhà sập, nhà tốc mái ;
- Khắc phục các sự cố tàu thuyền bị đánh chìm, trôi dạt, hư hỏng và tổ chức tìm
kiếm người, tàu thuyền bị mất liên lạc;
- Cứu trợ các cá nhân, gia đình khó khăn;
- Thống kê và đánh giá thiệt hại
Ngoài ra, ta thấy rằng, gió là một nguồn tài nguyên năng lượng vô hạn,
không gây ô nhiễm môi trường cần có xu hướng phát triển Khoa học kỹ thuật để có
thể sử dụng nguồn năng lượng này.
1 số hình ảnh
1 tấm biển quảng cáo lớn bị đố gục do gió lốc ở Lào cai Sương muối
Nhiều cây xanh dọc các đường phố nội thị Lào Cai bị lốc bẻ gãy cành, bật gốc.
KẾT LUẬN
16
Thiên nhiên vốn khắc nghiệt nhưng cũng rất rộng rãi, nó đem lại cho con
người rất nhiều thứ nhưng nó cũng đem lại cho con người nhiều thiên tai, gây thiệt
hại lớn về người và của. Gió vừa là nguồn năng lượng vô hạn của con người nhưng
nó cũng là nỗi khiếp sợ của cả nhân loại. Những đợt gió nóng gây hạn hán, sa mạc
hoá, làm giảm diện tích canh tác, Những đợt gió lạnh đem đến nhưững đợt rét
lạnh với các hiện tượng thời tiết nguy hiểm gây thiệt hại về nông ngiệp, gia súc
chết, gây nhiều bệnh tật cho con người Những đợt gió từ biển thổi vào đem theo
hơi ẩm và mưa lớn, giúp điều hoà khí hậu, bảo đảm tưới tiêu nhưng nó cũng dem
đến những trận lụt, những cơn bão, lốc, xoáy gây thiệt hại lớn.
Tuy nhiên, mỗi quốc gia đều có những biện pháp dự báo, phòng tránh thiên
tai do gió gây ra, khắc phục những hậu quả của nó.
Khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển, chúng ta không chỉ dự báo chính xá
hơn về thiên tai để phòng tránh mà còn có thể sử dụng sức gió làm nguồn năng
lượng vô hạn cho chúng ta, thay thế cho những nguồn năng lượng đang được sử
dụng hiện nay.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
17
Tài liệu sách
1. Nguyễn Hữu Danh - Tìm hiểu thiên tai trên Trái Đất - - Nhà xuất bản Giáo dục
-2000
2. Giáo trình khí tượng nông nghiệp - Trường Đại học Nông Nghiệp I
Tài liệu internet
1. />2. />18