Tải bản đầy đủ (.doc) (8 trang)

NƯỚC MẮT NHÀ THƠ MÀU TÍM HOA SIM

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (180.61 KB, 8 trang )

NƯỚC MẮT NHÀ THƠ MÀU TÍM HOA SIM
Tôi vào Đồng Nai tháng 8 năm 1987, sang năm 1988, tôi được kết
nạp là hội viên Hội văn học Nghệ thuật Đồng Nai.Tháng 6 năm đó,
Hội mở trại sáng tác văn học Long Hải –Bà Rịa (lúc này Bà Rịa đang
thuộc Đồng Nai).


Về dự trại là niềm vui lớn của anh em văn nghệ, vì họ được viết, được giao
lưu gặp gỡ làm quen anh em, bạn bè. Ở trại này ngoài những bậc đàn anh
kính thân biết trước như nhà văn Hoàng Văn Bổn, Lê Huy Khanh, anh em
bạn hữu như: Nguyễn Thái Hải (Khôi Vũ), Đàm Chu Văn, Cao Xuân Sơn,
Nguyễn Đức Thọ, Lê Đăng Kháng, Phạm Thanh Quang, Hoài Tố Hạnh, tôi
còn được quen thân thêm Trương Nam Hương, Nguyễn Hoài Nhơn, Nguyệt
Cầm…Anh Hoàng Văn Bổn, Đàm Chu Văn, Khôi Vũ, Cao Xuân Sơn đã tận
tình giúp đỡ tôi những ngày tha phương cầu thực Đa phần các cây viết ngày
ấy đều đã trở thành hội viên Hội nhà văn Việt Nam. Và thật may mắn trong
đời tôi, tôi được gặp nhà thơ lừng danh: Màu tím hoa sim – Hữu Loan! Tôi
không thể nào diễn tả nổi cảm mến kính phục của mình trước một bậc thật
tài, thật nổi tiếng mà cũng thật chua chát đớn đau trước nghịch lý của đời!
Tôi nhớ khi lên Biên Hoà thì xe của Hội chở anh em sáng tác đã đi
rồi, tôi đành nhảy xe đò xuống Long Hải. Khoảng chập choạng thì về
đến nơi, anh em tay bắt mặt mừng hỏi han đủ chuyện và kéo nhau đi
ăn cơm.Thật là những bữa ăn ngon mà những người làm mướn như tôi
không thể thưởng được.
Lúc về phòng viết, tôi đi ngang qua phòng khách thấy một ông lão
dáng người tầm thước, mảnh mai tóc trắng như cước xoã ra hai bên
thái dương. Người ấy đang đưa nhẹ hai tay vuốt cho hai mái tóc chảy
xuôi. Dưới ánh nê-ông trắng bạc trông ông như một ông tiên trong
truyện cổ tích của trẻ em.Tôi tự lẩm bẩm: Tiên lão có tướng thật đẹp
và nghĩ chắc là các bậc trưởng lão của tỉnh hay của Trung ương đến
an dưỡng ở đây.


Định bước đi thì Đàm Chu Văn, Cao Xuân Sơn, Nguyễn Đức Thọ,
Trương Nam Hương, Hoài Tố Hạnh, Nguyệt Cầm gọi với ra bảo tôi
vào chơi.
Nguyễn Đức Thọ giới thiệu đây là nhà thơ Hữu Loan. Ôi nhà thơ
Hữu Loan! Người vừa đứng ở phòng khách là ông đấy ư? Tôi ngắm
nhìn nhanh ông. Ông năm ấy cũng đã 70 tuổi rồi nhưng trong ông còn
nhanh nhẹn, nhẹ nhàng, không như nhiều người ở vào độ tuổi ông
thương run rầy, mỏi mệt. Tôi khẽ khàng chào ông và ngồi xuống cùng
bạn bè nghe ông trò chuyện. Từ bé tôi đã nghe danh nhà thơ Màu tím
hoa sim. Bây giờ được gặp ông, tôi thật xúc động. “Màu tím hoa sim
“, mẹ tôi và các anh chị trong làng tôi thường hay hát bài hát này cùng
với các bài “Đêm đông” , “Hồn vọng phu”, “Tiêu tương” . Sau này
học lên và qua chuyền tay, tôi có dịp đọc và thuộc bài thơ Màu tín hoa
sim.: “Ngày hợp hôn, nàng không đòi may áo mới. Tóc nàng chưa
kìn búi Em ơi lần cuối…Nàng có hai người anh đi bộ đội Được
tin em gái mất,trước tin em lấy chồng”…Không chết chàng trai
khói lửa, mà chết em gái nhỏ hậu phương!” Thuở bé, tôi chưa hiểu
được nội dung và mỹ nhạc nhưng tôi cũng như bao người đều bị cuốn
hút từ trong tâm linh bài thơ được phổ nhạc.Tuy các anh chị phải hát
chui, nghĩa là không được hát trên loa phóng thanh, hát giữa hội nghị
nhưng rồi ai cũng thuộc, ai cũng hát. Khi nhập ngũ, xung phong tham
gia cuộc kháng chiến chống ngoại xâm của đân tộc, tôi càng thấm thía
cái bất tử của thi phẩm. Dù phải qua bao thăng trầm vì sự hiểu biết
hạn hẹp của con người nhưng những giá trị nhân văn đích thực thì dân
tộc nâng niu và chấp nhận.Tôi đồng cảm và hiểu được lòng nhân đạo,
nhân ái vượt qua nhận thức thời đại của nhà thơ! Hữu Loan không chỉ
nổi tiếng với “ Màu tím hoa sim”, nhà thơ còn có “Đèo Cả”, “Người
không chết” viết về tướng Nguyễn Sơn. “Một đám tang đi. Đi không
bao giờ đến huyệt”. Hữu Loan không viết nhiều.Trong đời thơ dài
như vậy, ông có chừng trên dưới 30 bài thơ đựoc in nhưng sức nặng

và tiếng vang của nó thì những nhà thơ nghìn bài cũng phải nể trọng!
Bây giờ tôi đã được gặp nhà thơ ngoài đời thật. Tôi kính cẩn đến bắt
tay và chào nhà thơ.Ông nắm chặt tay tôi. Bàn tay ông cứng chắc và
thực là gân guốc khác hẳn với dáng dấp tiên phong đạo cốt của ông.
Ông vẫn tươi cười rạng rỡ, còn tôi thật bồi hồi xúc động trước một kỳ
nhân mà sao chân tình giản dị dễ cảm mến ngay vừa gặp gỡ! Trừ nhà
văn Hoàng Văn Bổn, còn tất cả anh em chúng tôi lúc đó chưa ai thành
danh mà sau này có chút tên tuổi văn chương thì làm sao so được với
“Màu tím hoa sim”! Mà Hữu Loan cũng chưa nghe tên ai trên văn đàn
trong đám chúng tôi. Thế nhưng ông vẫn đối đãi với chúng tôi như
những thi hữu bằng vai, bằng lứa.Tôi nghĩ vui và cũng vinh dự cho
đến bây giờ: là Trại sáng tác văn nghệ Long Hải được khai mạc từ lúc
cuộc tiếp xúc với nhà thơ Hữu Loan. Đêm ấy thực sự là đêm thơ văn
nghệ Đồng Nai. Sau khi tôi, Cao Xuân Sơn, Đàm Chu Văn, Nguyễn
Đức Thọ, Trương Nam Hương, Hoài Tố Hạnh, Nguyệt Cầm đọc
thơ…là đến lượt đại thi nhân Hữu Loan đọc thơ và nói chuyện thơ.
Ông đọc nguyên bản bài thơ “Màu tím hoa sim” mà không có sách
báo nào lúc ấy in đúng như ông sáng tác. Ông đứng lên giữa cử toạ.
Dù đây chỉ là cuộc tao ngộ ngẫu hứng. Giọng ông đọc thơ vang và
khoẻ, mang nặng âm sắc tiếng Thanh Hoá không pha trộn. Trước khi
nói hoặc khi đọc, ông đều đưa tay vuốt hai mái tóc bạc như cước cho
ngay ngắn rồi mới cất giọng. Lúc này tôi mới nhìn kỹ ông. Tại sao
một con người tài ba đỗ tú tài Tây toàn phần, khi cách mạng thành
công ông giữ chức bốn Ty trưởng mà toàn những Ty có chữ như: Ty
Giáo dục,Ty Tuyên truyền, Ty Canh nông, Ty Văn hoá mà cuộc đời
ba đào làm vậy? Thời điểm ấy và cả ngay bây giờ ít người tin vào
tướng số tử vi nhưng nhìn ông tôi thấy ông cũng bị nhân tướng học
chi phối. Ông có trán rộng nhưng hơi thấp, hàm én ngang tàng nhưng
cằm ngắn. Mái tóc nhô ra giữa đỉnh trán thành hình chữ V thì không
thể hanh thông trên đường hoạn lộ. Nhưng bù lại giữa hai lông mày

của ông được đóng chữ Xuyên và có một nét lớn dài như vành trăng
khuyết giống như dấu trên trán Bao Công tỏ rõ ông là người kỳ tài và
trường thọ!
Sau cuộc hội ngộ giữa các anh chị hậu sinh với lão thi nhân
thì hầu như lúc nào rảnh viết chúng tôi đều tụ tập đến ông hầu chuyện.
Ông đủ khối chuyện. Chuyện nhà thơ Trần Mai Ninh, Hoàng Lộc,
Trần Hữu Thung, Hoàng Cầm, Trần Dần, Lê Đạt, Phùng Quán,
Trương Tửu, Nguyễn Mạnh Thường…Hay nhất là chuyện Trương
Tửu hầu rượu Tản Đà. Sau này Trương Tửu có viết về việc này và trở
thành một tư liệu quí về đại thĩ sỹ Nguyễn Khắc Hiếu và thứ nữa là
chuyện thi sỹ Hoàng Cầm diễn vỡ kịch Kiều Loan của mình mà lấy
được người đẹp. Buồn nhất là Lê Đạt. Anh em cho nhà thơ này là lá
mặt, lá trái. Có người viết Lê Đạt “ Con cú đội lốt lông công đêm
đêm ngồi trên ghế đá”( Nhân văn – Giai phẩm trước toà án lương
tâm – Nhà xuất bản Sự Thật năm 1958) . Lê Đạt cùng một số người
tham gia tán kích bài thơ “Chiếc bình vôi” đả kích lãnh tụ: “Có người
sống lâu trăm tuổi/ Ì như một chiếc bình vôi/ Càng sống, càng tồi/
Càng tồi, càng
Bé!
nhưng sau này Lê Đạt quay lại làm thơ ca ngợi lãnh tụ. Có câu được Hội
đồng thơ Việt Nam lấy làm thơ hay nhất thả lên trời trong ngày Hội
thơ Xuân năm Bính Tuất – 2006: “Những lời thơ hay nhất là viết về
Bác Hồ”.
Hữu Loan có sự đánh giá khá chính xác thơ ca kháng chiến chống
Pháp. Đấy là cuộc cách tân mạnh dạn và thành công. Không kể các
bậc khai quốc công thần nền văn nghệ kháng chiến thì những tên tuổi
như :Trần Mai Ninh, Hữu Loan, Hoàng Lộc, Trần Hữu Thung, Hoàng
Trung Thông, Chính Hữu…có vị trị xứng đáng trong nền văn học
cách mạng! Biết tôi có dịch thơ Đường, ông khen tôi dịch bài “Chiến
Thành Nam” của Lý Bạch có hai câu xuất sắc là: “ Rửa gươm trong

sóng bể dâu, Ngựa ăn cỏ máu tận đầu Thiên Sơn”. Ông bảo thơ
Đường là đỉnh cao của thơ ca Trung Quốc và cũng của nhân loại.
Không nhà thơ Việt Nam nào không học thơ Đường, không ảnh
hưởng Đường thi! Rồi ông đọc bài thơ ông dịch “Tương tiến tửu” của
Lý Bạch. Bài thơ dịch sát với nguyên bản và giữ đúng hình thức trong
nguyên văn. Tôi còn nhớ mở đầu Lý Bạch viết: “Quân bất kiến!
Hoàng Hà chi thuỷ thiên thượng lai”. Hữu Loan dịch: “Thấy chăng
ai! Dòng nước Hoàng Hà từ trên trời chảy xuống!” Đó cũng là một
bài dịch thành công của Hữu Loan.
Đàm đạo, tâm tình với Hữu Loan tôi mới biết đời ông thực sự trầm
luân sau vụ Nhân văn- Giai phẩm. Ông thì không bị liên luỵ và hệ luỵ
gì như các bậc đàn anh khác, nhưng với tính khí cương cường thẳng
thắn, trung thực ông ghét cay, ghét đắng đám hãnh tiến xu thời, nhân
cớ dậu đổ bìm leo bán rẻ bạn bè để mưu cầu lợi ích cá nhân. Với lại
người đời chưa hiểu hết sức nghĩ, sức cảm trong “ Màu tím hoa sim”
vu cho ông hết tội này đến tội khác, ông chán đám quan tham ô lại,
ông phủi tay không bỏ về quê thồ đá nuôi vợ con!
Kể đến năm 1988, ông đã có thâm niên hơn 30 năm thồ đá. Một vóc
dáng thư sinh như ông mà làm cái công việc của lực điền trong hơn 30
năm quả là một việc hi hữu. Nhưng đám trương tuần, hương vệ đời
mới có để cho ông yên thồ đá kiếm sống đâu. Khi thì chúng xầm xì:
quân Nhân văn - Giai phẩm, khi thì chúng hỏi giấy tờ gốc chuyển về.
Không có giấy tờ dù ở giữa bổn quán chúng vẫn nói ông là dân lậu.
Chúng không cho ông nhập khẩu dài dài. Ngay bây giờ không có hộ
khẩu đã khó sống, huống hồ thời ấy, huống hồ người có dính líu đến
Nhân văn – Giai phẩm và có bài thơ nhạc vàng!
Ông đau xót kể lại: “ Có một lần mình thồ đá dọc bờ sông Mã, đám
công an xóm đến hạch sách mình. (Hồi ấy và cho đến năm 2004 công
an địa phương chưa có sắc phục riêng như bây giờ nên không dễ phân
biệt với người thường). Chúng nó bảo:- Cho xem giấy tờ?

Mình quát: -Tôi người làng đây giấy tờ gì!
Chúng bảo: - Vẫn biết ông là người làng, nhưng ông bỏ làng bao
nhiêu năm, ông làm gián điệp cho Mỹ –Diệm thì ai biết!
Tôi tức quá tôi chưởi: - Mồ cha chúng mày, chúng mày nhìn ai cũng
là gián điệp cả!
- Không gián điệp thì cũng Nhân văn –Giai phẩm, Nhạc vàng còn
hơn cả gián điệp! - Chúng xỉa xói.
- Bọn mày chưa vỡ bọng cứt mà đã học đòi tố láo! Gọi cha mày ra
đây!- Tôi chưởi lớn.
Thế là chúng xông vào đánh tôi nằm bẹp trên mặt đê, còn hai sọt đá
chúng xô xuống sông!
Bài học vỡ lòng chua chát ấy tôi khắc ghi khi trở lại sống ở bổn
quán. Cuộc sống thôn dã cũng có nhiều mặt tốt của nó nếu như dân trí
được nâng lên và tình thương cao hơn. Còn với dân trí thấp, bạo lực
lộng hành thi sống ở thôn dã quả là rùng rợn. Tôi biết những kẻ thừa
hành công vụ cũng chỉ là người ngu tối. Vì những ngày đó có nhiều kẻ
làm to gầp nhiều lần công việc của tôi mà nhận thức xã hội, học lực
văn hoá còn quá yếu huống gì đám trương tuần, dân quân, du kích,
công an xóm, công an xã. Đến như tôi, tôi cũng chưa hiểu nhân văn
giai phẩm sai lầm ở chỗ nào và bài hát Màu tím hoa sim nhạc vàng ở
đâu, huống gì người mù chữ.
Thật ra trong nhiều anh em mà đời gọi họ là Nhân văn –Giai phẩm,
họ là những con người tốt, muốn đất nước mình tiến nhanh hơn, cuộc
sống tươi đẹp hơn, chống bạo quyền, chống tham ô, lãng phí. Khi tôi
bỏ về quê, tôi đã biết có nhiều người vì quá cực đoan mà vu oan cho
họ.
Còn đối với tôi, chưa bao giờ tôi nghĩ Màu tím hoa sim là thơ vàng
hay nhạc vàng gì cả. Đây là bài thơ hoàn toàn riêng của tôi, tôi viết
cho người vợ hiền thảo của mình chết còn quá trẻ. Người thật, việc
thật, chi tiết nào trong bài thơ đều cũng là sự thật. Đến như sự mất mát

hy sinh cũng là sự thật nữa là. Vợ tôi tên là Lê Đỗ Nhật Ninh, khi cưới
tôi thì hai người anh trai của nàng là bộ đội đang chiến đấu ở vùng
Đông Bắc không về dự cưới em gái được. Đám cưới kháng chiến, mà
nhà tôi cũng khó khăn nên nàng đã phá vỡ tục lệ là không may áo
cưới. Đúng thật trăm phần trăm như vậy. Còn nàng ở hậu phương lại
bị chết còn tôi người lính xông pha lửa đạn thì không chết. Cuộc chiến
tranh xảy ra ở đất nước ta nó dữ dội là vậy và sự thật là vậy, có gì
khác nữa.!
Thời điểm năm 1988 không được như bây giờ nhưng cũng hơn vạn
lần thời Hữu Loan bỏ về quê thồ đá. Màu tím hoa sim tuy không
được phổ biến nhưng người ta cũng không nặng nề nữa. Xã hội đã có
cái nhìn cỡi mở. Điều ấy cũng là may mắn cho Hữu Loan và nhiều
người như ông.
Hữu Loan ở trại sáng tác Long Hải đến ngày thứ năm, tôi mới biết ông đến
dự trại cũng với “tư cách” chui. Nghĩa là không phải tiêu chuẩn hội
viên Hội văn nghệ tỉnh Đồng Nai, cũng không phải khách mời của
Hội văn nghệ hay là của Tỉnh! Lúc này nhiều người như ông cũng
chưa được phục hồi Hội tịch. Tức là danh hiệu nhà thơ chưa được Nhà
nước công nhận. Nhân dân công nhận mà Nhà nước chưa công nhận
thì đi dự trại sáng tác của Hội văn nghệ địa phương cũng không có
tiêu chuẩn . Lúc này cả nước đang đói to .Lương cán bộ chỉ sống
khoảng dăm bảy ngày, gạo rất hiếm người ta phải bán bo bo thay
gạo.Ở Nam bộ có đỡ hơn ngoài Bắc nhưng cũng không thể phóng
khoáng mời tất cả anh em văn nghệ sỹ dự trại được. Khi tâm tình, tôi
hỏi nhà thơ vào du lịch Nam bộ do ai cho giấy mời thì Hữu Loan nheo
mắt cười khỉnh :
- Ma nào nó mời, tớ có hai đứa con trai là thợ xẻ, chúng nó vào
Nam bộ đi xẻ thuê, tớ bám vào luôn.
- Bác thì như vậy, còn con cái bác có sao không? -Tôi tò mò hỏi.
- Tôi có đứa con gái học giỏi lắm, thi đỗ đại học nhưng trên cũng chỉ cho đi

dạy cấp hai. Đám con trai lớn thì như vậy đấy.
Nghe ông kể, t ôi rưng rưng nước mắt. Đến con chó nó cũng được du lịch vũ
trụ, còn nhà thơ tài danh của mình theo con tha phương cầu thực!
Ông sống được nhiều ngày ở Nam bộ là nhờ được hai người đẹp mến mộ tài
danh ông là Hoài Tố Hạnh và Nguyệt Cầm. Hai nữ sỹ đầy nghĩa hiệp
mời ông về nhà, chăm lo ăn ở cho ông mấy tháng trời. Nguyệt Cầm
thì tôi không biết nhà riêng và chưa được mời về nhà, nhưng Hoài Tố
Hạnh thì tôi được Hạnh mời về nhà riêng ở lại lúc tôi đang lang thang
cơ nhỡ tại Biên Hoà. Đó là một buổi chiều đẹp nhưng tôi lại rất buồn
vì tiền đã hết mà việc không xin được. Ông Phó Tổng biên tập Đài
Phát thanh Đồng Nai nói rằng: “Đài rất cần người, Nam bộ rất thiếu
cán bộ nhưng nhận cán bộ là phải qua Ban Tổ chức tỉnh và phải có hồ
sơ chuyển đến đầy đủ, chứ không nhận tay ngang”. Hoài Tố Hạnh lúc
này đang làm phóng viên cho Đài phát thanh Đồng Nai thấy tôi đang
lang thang, cô bảo tôi về nhà nghỉ rồi sáng mai đi tiếp. Tôi đã nhờ
Hạnh viết giáy bảo lãnh cho tôi thay chứng minh thư, để bảo đảm an
ninh mà địa phương cư ngụ của Hạnh yêu cầu. Tôi được Hạnh cho ăn
cơm và tối đó được ngủ riêng tại nhà Hạnh.Tôi nghĩ chỉ những người
bỏ quê kiếm sống mới có những nghĩa cử vượt qua nếp thường như
vậy và đẹp như vậy Tôi là người con trai đã có vợ con, Hạnh lúc đó là
gái chưa chồng. Tôi hết sức trân trọng, cảm kích sự cưu mang của
Hạnh .
Với Hữu Loan, Hoài Tố Hạnh và Nguyệt Cầm cũng cưu mang như vậy!
Khi họ đi dự trại văn nghệ tỉnh, họ kéo ông đi theo luôn.Tôi đồ rằng nếu
không có cuộc cãi vã to tiếng giữa hai người đẹp vì Hữu Loan thì chắc
rằng nhà thơ cứ yên tâm dự trại cho mãn khoá. Nhưng tối thứ năm xui
xẻo ấy, hai nữ sỹ lại túm tóc, lôi áo nhau ra giữa hội trường của nhà
sáng tác mà thượng cẳng chân, hạ cẳng tay cảnh giống hệt cảnh trong
tranh đánh ghen dân gian. Hữu Loan đứng giữa hai ngưỡi phải khóc
và nói thơ hoà giải:” Đừng ghét nhau chóng già, Hãy thương yêu

nhau như ngày qua!”
Ông giữ tay hòm chìa khoá, lo ăn uống cho trại sáng tác thì không thể “nghệ
sỹ” mãi được, cái gì đến thì nó đến. Nó đến thì Hữu Loan phải ra đi
.Sáng ngày thử bảy, Hữu Loan phải ôm gói trái bưởi lên đường. Anh
em thương lắm nhưng không làm gì được. Lúc này lại nhớ đến bài thơ
“Mưa thu làm tốc mái nhà” của Đỗ Phủ , học Đỗ Phủ ước có nhà
nghìn gian để che cho vạn hàn sỹ trong thiên hạ đang cơ nhỡ.
Đêm trước khi chia tay, anh em đến với ông rất đông. Tôi cũng được cùng
anh em lại hầu chuyện Hữu Loan. Ông chép thơ ông vào sổ tay nhiều
người bạn.Tôi cũng được ông chép một bài hiện còn trong sổ tay ở
quê nhà . Bài thơ có tựa đề là “Lời cây gỗ vuông.”. Chữ ông nghiêng
nghiêng, kiểu chữ người học trước cách mạng tháng Tám, nét hơi to
nhưng dễ đọc. Tôi nhớ mấy câu kết như thế này:
“Tôi cây gỗ vuông chành chạnh suốt đời.
Lăn long lóc,
Chân tín đấy!
Mặc rìu ,bào phó mộc!
Rồi ông ký cẩn thận và viết cho tôi thêm một vài lời:
“Chép tặng Đỗ Hoàng - Một người có tâm mà tôi tin tưởng sau này!”
Sáng chia tay nhà thơ lại là một sáng rất đẹp. Biển Long Hải nắng nôi tràn
trề, cây cối giữa mùa mưa lá nõn non xanh bất tận. Bà Rịa như một
cõi Bồng Nhược . Và cảnh trời nước như thế này thì chỉ có lên Niết
Bàn mới xứng đáng. Đâu phải sự chia ly đói nghèo với nhà thơ kính
yêu đã và đang chịu khổ nạn!
Hữu Loan vẫn măc bộ áo quần nâu cố hữu, tay cầm bọc áo quần gói bằng
tấm ni long đã ngã màu vàng úa, chân đi dép tông, gót dép đã mòn
như lưỡi dao cạo, đầu không đội mũ. Chiếc mũ cói rộng vành ông treo
hờ sau lưng trông như tráng sỹ Kinh Kha vượt sông Kinh Dịch báo
thù cho chủ. Mái tóc bạc như cước nổi bật giữa vạt nắng vàng là
không lẫn vào cảnh vật cỏ cây lúc này. “Tráng sỹ bạch đầu bi hướng

thiên,. Hùng tâm sinh kế lưỡng mang nhiên “(Người tráng sỹ bạc đầu
buôn rầu ngẫng nhìn trời. Chí lớn và đương ống hai cai đều mờ
mịt). Tuy hình hài bên ngoài trông quá trần ai như vậy nhưng dáng
dấp ông vẫn toát lên sự cao thượng, vẫn xứng với phong cách đạo cốt
tao nhân mặc khách. Cảnh chia tay diễn ra trong sự buồn thương, bi
hùng.
Hữu Loan đi đã khuất sau các trảng đồi bát úp nhưng mái đầu bạc của ông
như vẫn còn trước mặt chúng tôi. Biển Long Hải vẫn xô vào bờ từng
đợt sóng bạc trắng như tóc của thi nhân . Bất giác tôi nhớ lại bài thơ
“Bên sông tiễn Hạ Chiêm “của Đỗ Phủ viết gần hai nghìn năm trước:
“Bi quân lão biệt lệ triêm cân.
Thất thập vô gia vạn lý thân.
Đãn kiến chu hành phong hựu khởi.
Bạch đầu lãng lý, bạch đầu nhân!”
Tạm dịch:
Thương anh già cả lệ trào.
Mái nhà không có sống sao giữa đời?
Con thuyền, ngọn gió chia phôi.
Bạc đầu sóng,bạc đầu người ra đi !

Hà Nội 12-8-2005

×