Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (776.24 KB, 27 trang )
<span class="text_page_counter">Trang 1</span><div class="page_container" data-page="1">
<b><small>TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHỆ MIỀN ĐÔNGKHOA KHOA HỌC SỨC KHỎE</small></b>
<i><b><small>Giáo viên hướng dẫn:</small></b></i>
<b><small>TS. DS. Huỳnh Lời</small></b>
<i><b><small>Sinh viên thực hiện: Nhóm 21</small></b></i>
<small>1. Nguyễn Thị Nga - MSSV 01230002002. Lê Thị Trang - MSSV 01230001943. Trần Thị Nhung - MSSV 0123000231</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 2</span><div class="page_container" data-page="2">2.1.2. Đặc điểm của họ Thiến thảo (Rubiaceae)...6
1.2.2. Đặc điểm của chi Nhàu (Morinda citrifolia)...7
2.2. Đặc điểm thực vật cây ba kích (Morinda officinalis How)...7
2.2.1. Tên gọi...7
2.2.2. Mô tả thực vật...8
2.2.3. Phân bố – thu hái – chế biến...9
2.3. Đặc điểm phân biệt một số loài thuộc chi Nhàu (Morinda)...10
</div><span class="text_page_counter">Trang 3</span><div class="page_container" data-page="3">6.2.2. Trị thận hư, dương uỷ, di tinh...19
6.2.3. Trị thận hư, di niệu, đái nhiều lần...20
6.2.4. Trị lưng gối mỏi đau, mặt trắng nhợt nhạt, chân tay lạnh...20
6.2.5. Trị thốt vị, bìu sưng đau...20
<b>VII. CHẾ PHẨM TỪ CÂY BA KÍCH...21</b>
<b>TÀI LIỆU THAM KHẢO...22</b>
</div><span class="text_page_counter">Trang 4</span><div class="page_container" data-page="4"><b>DANH MỤC HÌNH</b>
Hình 1.1. Cấu trúc hố học của Glycosid tim...2
Hình 1.2. Nhân hydrocarbon có cấu trúc steran...3
Hình 2.1. Vị trí phân loại của cây Ba Kích...6
Hình 2.2. Hoa đồ chi Nhàu...7
Hình 2.3. Cây ba kích...9
Hình 3.1. Cấu trúc hố học Monotropein...13
Hình 3.2 Cấu trúc hố học Asperuloside...13
Hình 3.3 Cấu trúc hố học Morindolide...13
Hình 3.4. Hợp chất của Anthraquinon phân tích từ rễ Ba kích...14
Hình 3.5. Cấu trúc hố học Lacton (4R, 5S) 5 – hydroxy hexan – 4 olid...15
Hình 7.1. Chế phẩm từ cây ba kích...21
<b>DANH MỤC BẢNG BIỂU</b>Bảng 3.1. Thành phần hố học trong rễ cây Ba kích...12
Bảng 7.1. Các chế phẩm từ cây ba kích trên thị trường...21
</div><span class="text_page_counter">Trang 5</span><div class="page_container" data-page="5">Chúng em xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô Bộ môn (Tên bộ môn), Viện (Tênviện) đã giảng dạy, truyền thụ cho em những kiến thức quý báu để áp dụng thực hiệnnghiên cứu này.
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cơ Phịng đào tạo – Nghiên cứu khoa học –Hợp tác quốc tế; phịng Cơng tác sinh viên trường (Tên trường); thư viện trường (Têntrường) đã tạo điều kiện vô cùng thuận lợi và giúp đỡ em trong quá trình tìm kiếm tàiliệu cho đề tài này.
Cuối cùng, chúng em xin dành tình cảm và lịng biết ơn vơ hạn đến người thântrong gia đình, bạn bè đã giúp đỡ, động viên và chia sẻ khó khăn trong thời gian emhọc tập để hồn thành bài tiểu luận này.
</div><span class="text_page_counter">Trang 6</span><div class="page_container" data-page="6"><b>ĐẶT VẤN ĐỀ</b>
<i>Cây Ba kích (Morinda officinalis How) - Cịn được gọi là “Ba-Ji-Tian” trong Y</i>
học cổ truyền Trung Quốc, thuộc chi Rubiaceae và được sử dụng rộng rãi cho mụcđích y học ở Trung Quốc và các nước Đông Á khác [1]. Hơn 100 hợp chất hóa học đãđược phân lập từ loại cây này và thành phần chính được tìm thấy là polysaccharides,oligosaccharides, anthraquinones và iridoid glycoside. Chiết xuất thô và các hợp chấttinh khiết của cây này được sử dụng như tác nhân hiệu quả trong điều trị trầm cảm,loãng xương, mệt mỏi, viêm khớp dạng thấp và điều trị vơ sinh do chống trầm cảm,chống lỗng xương, hỗ trợ sinh sản, chống bức xạ, chống bệnh Alzheimer, chống thấpkhớp, chống mệt mỏi, chống lão hóa, bảo vệ tim mạch, chống oxy hóa, điều hịa miễndịch và chống viêm [2].
Morinda officinalis polysaccharide (MOP) là một trong những thành phần hoạtchất chính của Cây Ba kích - Morinda officinalis, giúp thúc đẩy sự hình thành xương,ức chế mất xương và có đặc tính chống oxy hóa và chống viêm [3].
Cây Ba kích ngồi tự nhiên đang bị khai thác cạn kiệt khiến lồi cây này lâmvào tình trạng gần như tuyệt chủng. Hiện nay, Ba kích thường được nhân giống bằnggiâm cành và gieo hạt [4]. Vì vậy, việc tìm kiếm tài liệu về Ba kích là cơng việc cầnthiết cho các nghiên cứu thực nghiệm về dược liệu này.
</div><span class="text_page_counter">Trang 7</span><div class="page_container" data-page="7"><b>I. GIỚI THIỆU VỀ NHÓM HỢP CHẤT GLYCOSID TIM1.1. Định nghĩa</b>
Glycosid tim là những glycosid steroid có tác dụng đặc biệt lên tim. Ở liều điều trịcó tác dụng cường tim, làm chậm và điều hoà nhịp tim. Các tác dụng trên được gọi là tácdụng theo quy tắc 3R của Potair (là renforcer = làm nhanh, ralentir = làm chậm,regulariser = điều hồ). Nếu q liều thì gây nôn làm chảy nước bọt, mờ mắt, tiêu chảy,yếu các cơ, loạn nhịp tim, nhĩ thất phân ly, ngoại tâm thu, giảm sức co bóp của tim vàcuối cùng làm ngừng tim thời kỳ tâm thu trên tim ếch và tâm trương trên tim động vậtmáu nóng.
Glycosid tim cịn được gọi là glycosid digitalic vì glycosid của lá cây digital(Digitalis) được dùng đầu tiên trên lâm sàng để chữa bệnh tim. [5].
<b>Nhân hydrocarbon: đây là nhân có cấu trúc steran hay 10,13-dimethyl</b>
cyclopentano-perhydrophenanthren. Đính vào nhân này có các nhóm chức có oxy.
</div><span class="text_page_counter">Trang 8</span><div class="page_container" data-page="8">Ở C-3 ln ln có đính nhóm OH, hầu hết các chất có trong cây đều hướng β, trừmột vài chất ví dụ carpogenin, carpogenol, epidigitoxigenin có OH C-3 hướng α.
<i><small>2Hình 1.2. Nhân hydrocarbon có cấu trúc steran</small></i>
Ở C-14 của hầu hết các glycosid tim có tác dụng sinh học đều có nhóm OH hướngβ. Một vài chất khơng có nhóm OH này do trong q trình thủy phân hoặc do sắc ký cộtcó xẩy ra sự dehydrat hóa tạo thành nối đơi ở C 14-15. Tuy nhiên, có một số chất do bảnchất tự nhiên khơng có nhóm OH này như các chất diffugenin, strophanthilin A, β-anhydro-uzarigenin.
Sự oxy hóa (gắn nhóm OH hoặc carbonyl) cịn có thể xảy ra thêm ở các vị trí như1, 5, 11, 12, 16, 19. Mức độ oxy hóa ở C-19 có thể là CH2OH, CHO, COOH. Các chấtcó mức độ oxy hóa khác nhau này thường cùng tồn tại trong cùng một cây. Chất G-strophanthidin có đến 6 OH trong phần aglycon. Nhóm OH có thể bị acyl hóa ví dụoleandrigenin, gitalixigenin. Có trường hợp các nhóm OH gần nhau tương tác với nhauđể tạo nhóm chức epoxy, ví dụ adynerin. Nhóm OH ở C-11 có thể tác dụng với COOH ởC-19 để tạo thành vòng lacton ví dụ chất sarmentosigenin E có trong Strophanthussarmentosus.
<b>Vịng lacton: Phần glycon của glycosid tim ngồi khung hydrocarbon nói trên,</b>
đặc biệt cịn có một vịng lacton nối vào vị trí C-17 của khung. Vịng lacton này được colà mạch nhánh.
Hầu hết các chất có tác dụng sinh học đều có vịng lacton ở hướng β. Một số ít ởhướng α do enzym epimerase có mặt trong cây chuyển hóa mà thành. Có hai loại vịnglacton: loại thứ nhất có 4 carbon với một nối đơi ở vị trí α-β, những aglycon nào có vịnglacton này thì có 23 carbon và được xếp vào nhóm “cardenolid”. Loại thứ hai có 5carbon có 2 nối đơi (vịng γ-pyron hay coumalin), những aglycon nào có vịng lacton này
</div><span class="text_page_counter">Trang 9</span><div class="page_container" data-page="9">thì có 24 carbon và được xếp vịa nhóm “bufadienolid” (do chữ bufo = cóc, dien = 2 nốiđơi. Trong nhựa cóc có các chất có cấu trúc hồn tồn giống như aglycon của nhóm này,ví dụ bufotalin).
Các glycosid tim trong thiên nhiên thường là loại cardenolid; một số ít thuộc loạibufadienolid như scillaren A có trong Hành biển (Urginea martima L.) hellebrin có trongcây Helleborus niger L.
<i>1.2.2. Phần đường</i>
Phần đường nối vào OH C-3 của aglycon. Cho đến nay người ta biết khoảng 40loại đường khác nhau. Ngồi những đường thơng thường như D- glucose, L-rhamnose,D-xylose, D-fucose có gặp trong những nhóm glycosid khác, cịn lại là những đường gặptrong glycosid tim . Trong những đường này, đáng chú ý là những đường 2,6-desoxy.
Các đường 2,6-desoxy có những đặc tính sau: dễ bị thủy phân, cho phản ứng màuvới thuốc thử Keller-Kiliani và thuốc thử xanthydrol.
Mạch đường có thể là monosaccharid hoặc oligosaccharid. Gitoxincellobiosidtrong Digitalis tía có mạch đường với 5 đơn vị đường đơn:
Gitoxincellobiosid = Gitoxigenin + (digitoxose)3 + (glucose)2
Người ta nhận thấy rằng ở glycosid tim glucose bao giờ cũng ở cuối mạch (xaaglycon).
<b>1.3. Phân bố</b>
Người ta tìm thấy glycosid tim có trong các họ thực vật: Apocynaceae,Asclepiadaceae, Celastraceae, Cruciferae, Euphorbiaceae, Leguminosae, Lili- aceae,Meliaceae, Moraceae, Ranunculaceae, Scrophulariaceae, Stereuliaceae, Tiliaceae.
Glycosid tim có trong mọi bộ phận của cây: lá, hoa, vỏ thân, rễ, thân rễ, dò, nhựamủ. Người ta còn phát hiện thấy glycosid tim có mặt trong một số cơn trùng nhưng lạicho rằng những côn trùng này không tổng hợp được glycosid tim mà do chúng lấy từthức ăn (cây chứa glycosid tim).
<b>1.4. Công dụng</b>
</div><span class="text_page_counter">Trang 10</span><div class="page_container" data-page="10">Tác dụng chính của glycozid tim là làm giảm vận chuyển natri ra khỏi tế bào timbằng cách ức chế men Na+-K+ATPase (bơm natri). Sự tích tụ natri dẫn đến tăng nồng độion calci nội bào do trao đổi Na+/Ca2+. Điều này gây ra tác dụng làm tăng tính co bópsợi cơ tim (inotrope dương tính) của glycozid tim. Bên cạnh đó, tác dụng chống rối loạnnhịp của các thuốc này có được là do tăng cường sự ức chế của thần kinh lang thang lêntính tự động của nút xoang và dẫn truyền nút nhĩ thất. Ở nồng độ cao, glycozid tim làmtăng tính tự động cơ tim do gây quá tải calci nội bào.
<b>Ba tác động chính của glycozid tim là:</b>
Tác động tăng co bóp cơ tim.
Giảm nhịp thất trong rung nhĩ hay cuồng động nhĩ, bằng cách giảm dẫn truyền nhĩthất. Tác động này bị giảm bớt khi vận động do giảm trương lực thần kinh lang thang.
Tăng tính tự động cơ tim ở nồng độ cao (độc tính), hay ở nồng độ 'điều trị' nếu cómặt các yếu tố khác như hạ kali máu.
</div><span class="text_page_counter">Trang 11</span><div class="page_container" data-page="11"><b>II. THỰC VẬT HỌC2.1. Đặc điểm của họ Cà phê và chi Nhàu</b>
<i>Lấu (Psychotria) có số lượng lồi nhiều nhất với 8 loài, chiếm 11,0% tổng số loàitrong họ Cà phê ở vườn quốc gia, kế đến là chi Trang (Ixora) có 6 lồi, chiếm 8,2%;tiếp theo là chi Xú hương (Lasianthus) và chi An điền (Oldenlandia), mỗi chi có 5lồi, chiếm 6,8%; chi Găng (Benkara) và chi Nhàu (Morinda), mỗi chi có 4 lồi,chiếm 5,5% và cuối cùng là chi Dành dành (Gardenia), Bướm bạc (Mussaenda), Dọt</i>
Giới Thực Vật (Plantae)
Cây Ba Kích (Morinda officinalis How)Họ Cà phê - tên khác là Thiến thảo
Bộ Hoa vặn - tên khác là Long đởm(Gentianales)
Chi Nhàu(Morinda citrifolia)
</div><span class="text_page_counter">Trang 12</span><div class="page_container" data-page="12"><i>sành (Pavetta) và Trèn (Tarenna), mỗi chi có 3 lồi, chiếm 4,1%. Các chi cịn lại có số</i>
lượng từ 1 đến 2 lồi[6].
<i>1.2.2. Đặc điểm của chi Nhàu (Morinda citrifolia)</i>
Hoa thức: K(4-5)C(4-5) A4-5G(2-5-8)
Hoa đồ:
<i><small>4Hình 2.2. Hoa đồ chi Nhàu</small></i>
<i>Trên thế giới, chi Nhàu (Morinda) thuộc họ Cà phê (Rubiaceae) với khoảng</i>
hơn 80 loài, phân bố ở tất cả các vùng nhiệt đới. Ở Việt Nam, Nhàu mọc rải rác trongrừng, thường xanh hoặc gần mép nước, mọc nhiều ở những vùng ẩm thấp dọc theo bờsuối, bờ sông, mương rạch hoặc ao, hồ ở khắp các tỉnh miền nam và một số tỉnh miềntrung, hay mọc hoang dại ở khắp nơi, cũng thường được trồng, ra hoa gần như quanhnăm. Một số loài thuộc chi Morinda được ghi nhận tại Việt Nam là Nhàu tán (M.longifolia) ở Thừa Thiên Huế, Nhàu nước (M. persicaefolia) ở Quảng Nam, Nhàu lôngmềm (M. villosa) ở Quảng Bình, Nhàu lá nhỏ (M. parvifolia) ở Thanh Hóa và HàTĩnh. Trong đó, Nhàu là một dược liệu được dùng rất rộng rãi trong y học dân gian ởnhiều khu vực thuộc Châu Á, để giảm đau trong các bệnh viêm xương khớp, nhuậntràng, giảm ho, hoạt huyết. Các nghiên cứu trước đây đã báo cáo về thành phần hóahọc có trong Nhàu khá đa dạng, bao gồm anthraquinon, carotenoid, lignan, flavonoid,glycosid, triterpenoid, sterol, các hợp chất thơm… Bên cạnh đó, các nghiên cứu về tácdụng dược lý cho thấy rằng lồi này có nhiều tác dụng như kháng ung thư, khángviêm, bảo vệ thần kinh, mạch máu và tăng cường hệ miễn dịch [7].
<b>2.2. Đặc điểm thực vật cây ba kích (Morinda officinalis How)</b>
</div><span class="text_page_counter">Trang 13</span><div class="page_container" data-page="13"><i>2.2.1. Tên gọi</i>
Cây ba kích có tên khoa học là Morinda officinalis How, họ Cà phê(Rubiaceae). Ngồi ra cịn có các tên gọi khác như: ba kích thiên, dây ruột gà, chẩuphóng xì (Hải Ninh), thau tày cáy (Tày), chồi hồng kim, sáy cày (Thái), chày kiangdịi (Dao), liên châu ba kích, Medicinal indian mulberry (Anh). Ba kích phân bố ở mộtsố tỉnh thuộc vùng núi thấp và trung du phía bắc nước ta, bao gồm Cao Bằng, LạngSơn, Quảng Ninh, Lào Cai, Yên Bái, Tuyên Quang, Bắc Cạn, Phú Thọ, Vĩnh Phúc,Thái Ngun, Bắc Giang, Sơn la, Hịa Bình, Hà Tây, Thanh Hóa; cũng được tìm thấyvà phát triển trong một số tỉnh phía nam: Quảng Nam, Gia lai,... Các bộ phận hoa, lá,quả và rễ của ba kích đều được sử dụng làm thuốc, trong đó rễ là bộ phận được sửdụng nhiều nhất. Thành phần hóa học chính của ba kích là anthranoid và irridoids.Ngồi ra cịn có các hợp chất glucosides, sterol, saponintriterpen, lacton, ceton(officinalisin), một vài acid amin. Riêng vitamin C chỉ có trong ba kích tươi [8].
<i>2.2.2. Mơ tả thực vật</i>
Cây Ba kích (Morinda officinalis) là lồi thân thảo, sống lâu năm. Thân có dạngdây leo bằng thân quấn vào cành cây khác hay giàn giá đỡ, thân cây có thể dài tới hàngmét. Thân cây màu xanh, tròn, phân nhánh. Khi thân, cành cịn non thì có lơng baophủ, thân cành già nhẵn, màu nâu. Lá dạng đơn nguyên, mọc đối. Cuống lá khôngphân nhánh chỉ mang một phiến lá, khi lá rụng cả cuống và phiến cùng rụng một lúc.Lá kèm nhỏ hợp thành màu xám nâu. Phiến lá nguyên hình elip thn dài có cấu tạolưng bụng với chức năng quang hợp và có hệ thống gân lá nổi rõ, tương ứng với các bódẫn ở bên trong làm nhiệm vụ vận chuyển. Gân lá hình lơng chim, lá non có lơng, lágià khơng có lơng. Cây Ba kích có hoa tập trung thành cụm tán tròn ở đầu cành, dài0,3 – 1,5 cm, gồm 8 – 10 hoa. Hoa mẫu 4 (4 lá đài, 4 cánh hoa, 4 nhị), lúc non màutrắng sau hơi vàng. Đài hoa hình chén hay hình ống gồm những lá đìa nhỏ hình tamgiác đều phát triển không đều nhau. Tràng hoa 4 cánh màu trắng, dính liền ở dướithành ống ngắn. Nhị đính ở đáy của ống tràng. Bầu hạ, hợp, vòi nhụy chẻ đơi ở đỉnh.Rễ có dạng rễ củ hình trụ trịn, cong queo, thắt thành từng đoạn như ruột gà (nên cịngọi là cây ruột gà), đường kính 1,5 – 2,0 cm. Vỏ ngồi màu nâu nhạt hoặc hồng nhạt,nhám, có vân dọc. Bên trong là lớp thịt củ dày màu trắng, không mùi, vị ngọt nhưnghơi chát, trong cùng là lõi củ, thông thường khi chế biến phần lõi được loại bỏ. Rễ Ba
</div><span class="text_page_counter">Trang 14</span><div class="page_container" data-page="14">kích có hình xoắn dài từ 20 – 60 cm, cây lâu năm có thể có rễ dài hơn, đường kính từ 1– 3 cm [9].
<i><small>5Hình 2.3. Cây ba kích</small>2.2.3. Phân bố – thu hái – chế biến</i>
Trên thế giới, Ba kích có nguồn gốc từ Đông Nam Á, trên thế giới Ba kích phânbố ở Ấn Độ, Trung Quốc, Việt Nam, Malaysia, Úc, New Guinea và Polynesia. Riêng ởTrung Quốc, Ba kích có phân bố tự nhiên khá rộng ở các tỉnh Quảng Đông, PhúcKiến, Tứ Xuyên, Quảng Tây và đảo Hải Nam. Ở Việt Nam, Ba kích mọc hoang, phânbố nhiều ở vùng đồi núi thấp của miền núi và trung du các tỉnh phía Bắc. Ba kích cónhiều ở Quảng Ninh, Bắc Giang, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Tuyên Quang, Thái Nguyên,Cao Bằng, Lạng Sơn, Yên Bái, Hà Giang, Hà Tây, Hịa Bình [10].
<i>Tại khu vực Trung Trung bộ của Việt Nam, lồi ba kích (M. officinalis.) có</i>
phân bố rải rác ở các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế và Quảng Namtrên địa bàn thuộc 8 huyện và 12 xã. Tại đây, loài phân bố chủ yếu ở các tiểu vùngsinh thái gò đồi và núi thấp. Giới hạn phân bố phía nam về vĩ độ của lồi hiện thờiđược xác định là 15°23'7" vĩ bắc. Đặc trưng khí hậu của các địa phương có ba kíchphân bố: nhiệt độ trung bình từ 21 - 24<small>o</small>C; độ ẩm trung bình từ 84 - 89%; lượng mưatrung bình năm từ 2.000 – 3.500mm. Độ cao phân bố tập trung từ 100 đến 750 mét sovới mực nước biển, cá biệt có nơi lên tới 1.200 m; Độ dốc phổ biến từ 15 - 20 độ. Bakích phân bố trên đất feralit màu đỏ vàng từ đá sét và biến chất (Fs) và đất feralit màuvàng đỏ từ đá macma axít (Fa). Độ dày tầng đất trung bình, có nơi hơi mỏng. Trạngthái thực bì phổ biến là trảng cây bụi phục hồi sau nương rẫy và rừng tự nhiên thườngxanh nghèo đến trung bình. Độ tàn che tầng cây gỗ từ 0,1 đến 0,6, phổ biến từ 0,2 -
</div><span class="text_page_counter">Trang 15</span><div class="page_container" data-page="15">0,4. Hầu hết các quần thể được phát hiện được đều có phạm vi phân bố khơng gianhẹp, mật độ cá thể thấp, tình trạng tái sinh tự nhiên không thực sự khả quan. Hiệnthời, mức độ tác động tiêu cực do con người lên các quần thể ở mức báo động ởnhiều địa phương, chủ yếu do khai thác quá mức [11].
Rễ đào quanh năm nhưng tốt nhất vào mùa đông. Đào về rửa sạch đất cát, phơihay sấy, khi gần khô người ta đập dẹp rồi phơi lại cho thật khô. Sau khi chế biến, dượcliệu là những mẫu cong queo, thịt đứt thành từng đoạn để lộ lõi gỗ nhỏ bên trong. Rễdài 10 - 20cm, đường kính 0,7 - l,4cm trở lên. Vỏ ngồi màu nâu nhạt, trên mặt cónhiều vân dọc. Thịt màu hổng tím, vị hơi ngọt. Loại rễ to, thịt màu tía là loại tốt [5].
<b>Trong đơng y ba kích được chế biến trước khi dùng, có ba cách :</b>
- Ba kích thiên: Ba kích nhặt hết tạp chất, đcm hấp chc mém rổi rút lõi gỗ, cắtthành từng đoạn phơi khơ.
- Chích ba kích : sắc nưđc cam thảo, bỏ bã, cho ba kích vào đun đến khi xốpmềm và nước cam thảo gần cạn thì lây ra rút lõi gỗ khi cịn nóng, phơi khơ là được. Cứ100kg ba kích thì đùng 6,40kg cam thảo.
- Diêm Ba Kích : Ba Kích sạch trộn đều vđi nước muối, cho vào chõ đồ, rút lõigỗ, phơi khô ( 100 kg ba kích thì dùng 2 kg muối và lượng nưđc vừa đủ hịa tan).
Cây Ba kích có tác dụng bổ thận, tăng cường gân cốt, tăng sức đề kháng, sứcdẻo dai và trị phong thấp, giảm huyết áp, hạ đường huyết, bổ não, giúp ăn ngủ ngon,giúp điều trị rối loạn cương dương, phụ nữ kinh nguyệt không đều [12]. Bên cạnh đó,
<i>nhiều nghiên cứu cịn cho thấy, cao chiết rễ cây Ba kích (Morinda officinalis) đã</i>
chứng minh có tác dụng tăng cường chức năng sinh dục nam trên các mô hình thửnghiệm sinh học [8, 13].
<b>2.3. Đặc điểm phân biệt một số loài thuộc chi Nhàu (Morinda)ST</b>
1. <i><sup>Morinda</sup><sub>Citrifolia</sub></i>
Cây nhỏnhẵn.
Lá mọc đối, mặttrên láng bónghình bầu dục, cómũi ngắn ở
Hoa màu trắng,tập hợp thànhhình đầu ởnách lá,
Quả hình trứngdài 2,5 - 4cm,quả
kép do nhiều
</div>