Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (57.66 MB, 212 trang )
<span class="text_page_counter">Trang 1</span><div class="page_container" data-page="1">
Người hướng dẫn khoa học: 1. PGS.TS Nguyễn Như Phát2. TS Nguyễn Am Hiểu
<small>Thi¡ xin cam đoan đây là tơng trình nghiên cứu</small>
tring thực. Những kết luận khoa học của luận
<small>công trình nào khác.</small>
Đồng Ngọc Ba
</div><span class="text_page_counter">Trang 3</span><div class="page_container" data-page="3">MỞ ĐẦU
<small>Chương 1</small>
<small>Chuong 2</small>
Những vấn đề lý luận cơ bản về doanh nghiệp
<small>Khái niệm doanh nghiệpPhân loại doanh nghiệp</small>
Pháp luật về doanh nghiệp
<small>Quan niệm pháp luật về doanh nghiệpHệ thống pháp luật về doanh nghiệp</small>
<small>Những yếu tố chi phối pháp luật về doanh nghiệp</small>
<small>Vai trò của pháp luật về doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường</small>
Thực trạng cấu trúc hệ thống pháp luật về doanh nghiệpThực trạng pháp luật về doanh nghiệp nhà nước
Thực trạng pháp luật về công ty, doanh nghiệp tư nhân và
hộ kinh doanh cá thể
<small>nước ngồi</small>
PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HỒN THIỆN PHÁP LUẬT
Quan điểm và định hướng hoàn thiện pháp luật về<small>doanh nghiệp</small>
Một số giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện pháp luật về<small>doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay</small>
NHỮNG CONG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIEN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN ĐÃ ĐƯỢCCÔNG BỐ
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
<small>201</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 4</span><div class="page_container" data-page="4"><small>1. Tính cấp thiết của đề tài</small>
<small>Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh</small>tế đều có quyền tự do kinh doanh và bình đẳng trước pháp luật. Quyền tự do kinhdoanh và bình đẳng của các doanh nghiệp chỉ thực sự được bảo đảm trên cơ sở
một hệ thống pháp luật hoàn thiện, mà trước hết là hệ thống pháp luật về tổ chức<small>doanh nghiệp.</small>
Trong thời kỳ đầu của quá trình đổi mới cơ chế kinh tế, pháp luật kinh tếnói chung và pháp luật về các hình thức tổ chức kinh doanh nói riêng, được xây
dựng trên nền tảng những đặc thù về chính trị, kinh tế - xã hội, có tính chất giảipháp tình thế, nhằm giải quyết những vấn đề bức xúc do thực tiễn kinh doanh đặt<small>ra. Các văn bản pháp luật về doanh nghiệp ngày càng được gia tăng nhanh chóngcả về số lượng và hình thức văn bản. Tuy nhiên chất lượng của các văn bản nàynhiều khi còn rất khác nhau.</small>
Với quan điểm xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường, định hướngXHCN, những năm gần đây Nhà nước ta rất quan tâm xây dựng và hoàn thiệnpháp luật về doanh nghiệp. Việc ban hành Luật Doanh nghiệp năm 1999 đượcxem như một bước phát triển quan trọng, với những tư duy pháp lý mới trong xâydựng pháp luật về doanh nghiệp ở Việt Nam. Tuy nhiên, hệ thống pháp luật hiệnhành về doanh nghiệp vẫn chưa đạt được mức độ hoàn thiện cần thiết, chưa đáp<small>ứng tốt các yêu cầu mà thực tiễn kinh doanh đang đặt ra. Những vấn đề pháp lý</small>về tổ chức doanh nghiệp được quy định trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau.Nội dung của các văn bản pháp luật này bộc lộ nhiều bất cập cả về nội dung pháp
lý và kỹ thuật lập pháp. Tính phức tạp, mâu thuẫn, chồng chéo là những biểu hiện
không hiếm thấy trong pháp luật hiện hành về doanh nghiệp. Thực tế này là
ngun nhân khơng nhỏ dẫn đến kìm hãm sự phát triển của hoạt động kinh
</div><span class="text_page_counter">Trang 5</span><div class="page_container" data-page="5">Chủ trương của Đảng và Nhà nước ta là tiếp tục “Đổi mới và hoàn thiện
khung pháp lý, tháo gỡ mọi trở ngại về cơ chế, chính sách và thủ tục hành chính
để huy động tối đa mọi nguồn lực, tạo sức bật mới cho phát triển sản xuất, kinh<small>doanh của mọi thành phần kinh tế với các hình thức sở hữu khác nhau...” [26, tr.188]. Trên tinh thần đó, Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam đãđưa Luật Doanh nghiệp (áp dụng cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần</small>kinh tế) vào chương trình chuẩn bị xây dựng Luật của Quốc hội nhiệm kỳ khóa<small>IX (2002-2007).</small>
Tuy nhiên, xung quanh vấn đề xây dựng Luật Doanh nghiệp chung, vẫncòn nhiều ý kiến khác nhau trong cả giới nghiên cứu và lập pháp. Bên cạnh
những ý kiến ủng hộ quan điểm xây dựng một đạo luật về doanh nghiệp, có quanđiểm cịn băn khoăn về sự cần thiết và tính kha thi [23; 60], thậm chí phản đối
việc pháp điển hóa pháp luật về doanh nghiệp theo cách này [46]. Trong điều
kiện như vậy, việc xây dựng luận cứ khoa học để hoàn thiện pháp luật về doanh
nghiệp là nhiệm vụ cấp bách, có ý nghĩa sâu sắc cả về lý luận và thực tiễn.2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Pháp luật về doanh nghiệp là một nội dung quan trọng của pháp luật kinhdoanh trong nền kinh tế thị trường, đang được nhiều nhà khoa học thuộc các lĩnh
một số cơng trình đã được cơng bố, đề cập đến một vài khía cạnh của pháp luật<small>về doanh nghiệp.</small>
Một số cơng trình nghiên cứu dé cập vấn dé pháp điển hóa pháp luật vé<small>doanh nghiệp, như: Nên có đạo luật chung cho tất cả các doanh nghiệp hoạtđộng kinh doanh của PGS. Võ Thành Hiệu, Tạp chí tài chính số 11, 1997; Dự</small>thảo Luật Doanh nghiệp - Một số vấn dé phương pháp luận của Nguyễn Như
</div><span class="text_page_counter">Trang 6</span><div class="page_container" data-page="6">số 05, 2004; Bàn về tính thống nhất của pháp luật về doanh nghiệp ở Việt Nam<small>hiện nay của Bùi Ngọc Cường, Tạp chí Luật học, số 6, 2004... Trong những</small>cơng trình nghiên cứu này, các tác giả đã tập trung luận giải một số vấn đề lýluận và thực tiễn xung quanh tính hợp lý và khả thi của việc ban hành một đạo
luật điều chỉnh chung tổ chức và hoạt động của các loại hình doanh nghiệp ở Việt<small>Nam. Tuy nhiên, nhìn chung các cơng trình này mới chỉ dừng lại ở khía cạnhhình thức văn bản pháp luật về doanh nghiệp, mà chưa đưa ra được những giải</small>pháp cụ thể để hoàn thiện nội dung các quy định về tổ chức doanh nghiệp.
<small>Ngồi ra, có một số cơng trình tiếp cận nghiên cứu pháp luật về từng</small>loại hình doanh nghiệp và một vài nội dung cụ thể của pháp luật về doanh
nghiệp, như: Một số vấn đề về cơng ty và hồn thiện pháp luật về cơng ty của
ThS Nguyễn Thị Thu Vân, Nxb Chính trị quốc gia, 1998; Công ty cổ phần
trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam, Luận án thạc sỹ luật học của ĐồngNgọc Ba, 2000; Địa vị pháp lý của doanh nghiệp tư nhân, Luận án tiến sỹluật học của Nguyễn Trí Tuệ, 2003; Hồn thiện pháp luật về các loại hìnhcơng ty trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam, Luận án tiến sỹ luật học của<small>Trần Ngọc Liêm, Hà Nội 2002; Luận án tiến sỹ luật học của Nguyễn Thanh</small>Hóa, 2002; Pháp luật về việc cấp Giấy phép thành lập doanh nghiệp và đăngký kinh doanh ở Việt nam - Thực trạng và một vài kiến nghị" của Dương<small>Đăng Huệ, Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 4, 1994; Hình thức pháp lýdoanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay nhìn từ góc độ luật so sánh của Nguyễn</small>Am Hiểu, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 4, 2003... Trong những cơng<small>trình này, các tác giả đã phân tích những vấn đề lý luận về một số loại hình</small>doanh nghiệp cụ thể; đánh giá thực trạng các quy định về địa pháp lý của các<small>doanh nghiệp này; trên cơ sở đó bước đầu đưa ra những giải pháp hoàn thiện</small>các quy định cụ thể về địa vị pháp lý của từng loại hình doanh nghiệp. Đánh
</div><span class="text_page_counter">Trang 7</span><div class="page_container" data-page="7">pháp hoàn thiện được đưa ra cũng mới chỉ dừng lại ở những nội dung cụ thể,
nhằm vào những bộ phận riêng lẻ của pháp luật về doanh nghiệp; về cơ bản,<small>chưa có những giải pháp hồn thiện đảm bảo tính thống nhất của tồn bộ hệ</small>thống pháp luật về doanh nghiệp.
<small>Từ việc đánh giá tình hình hình nghiên cứu pháp luật về doanh nghiệp ở</small>Việt Nam, cho phép khẳng định, cho đến nay, chưa có cơng trình nào đi sâu<small>nghiên cứu một cách cơ bản, toàn diện và có hệ thống các vấn đề lý luận và</small>thực tiễn về doanh nghiệp và pháp luật về doanh nghiệp nói chung, để trên cơ<small>sở đó chỉ ra cơ sở khoa học của việc hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp ởViệt Nam hiện nay. Đây là cơng trình đầu tiên nghiên cứu về vấn đề này ởnước ta, với cấp độ luận án tiến sỹ Luật học.</small>
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
<small>Mục đích của Luận án là làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn của việc</small>hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp ở Việt Nam.
Để thực hiện mục đích trên, Luận án đề ra các nhiệm vụ nghiên cứu sau:
- Phân tích, làm rõ những vấn đề lý luận về doanh nghiệp và pháp luật về
4. Đối tượng và phạm vỉ nghiên cứu của luận án
Đối tượng nghiên cứu của Luận án là: Các quan điểm, tư tưởng luật học về
doanh nghiệp và pháp luật về doanh nghiệp; Các văn bản pháp luật thực định của
</div><span class="text_page_counter">Trang 8</span><div class="page_container" data-page="8"><small>Pháp luật về doanh nghiệp là một lĩnh vực pháp luật có nội dung rộng vàphức tạp. Luận án tập trung nghiên cứu những nội dung cơ bản trong pháp luật về</small>tổ chức doanh nghiệp, đặc biệt là những nội dung có nhiều điểm bất cập, khơng<small>đảm bảo tính thống nhất của pháp luật về doanh nghiệp.</small>
<small>Phạm vi nghiên cứu của Luận án được giới hạn không bao gồm vấn đề hợptác xã và pháp luật về hợp tác xã. Mặc dù thực tiễn điều chỉnh pháp luật đối với</small>hợp tác xã luôn gắn liền với hệ thống pháp luật vé chủ thể kinh doanh, song về cơbản hop tác xã không thể hiện đầy đủ dấu hiệu bản chất của hình thức tổ chức<small>kinh doanh theo đúng ý nghĩa đích thực của khái niệm pháp lý này. Lý luận và</small>kinh nghiệm quốc tế về hợp tác xã cho thấy, hợp tác xã theo quan điểm phổ biếntrên thế giới được hiểu là một thiết chế kinh tế - xã hội, với những đặc điểm đặcthù, khơng hồn tồn mang bản chất của doanh nghiệp kinh doanh thuần túy, thểhiện cơ bản ở nguyên tắc tổ chức và hoạt động của nó. Các nguyên tắc tổ chức và
hoạt động của hợp tác xã cho thế kỉ 21 được Liên minh các Hợp tác xã quốc tế
xác định là: (i) Thành viên công khai và tự nguyện; (ii) Kiểm tra dân chủ thành<small>viên; (iii) Sự tham gia của các thành viên hợp tác xã trên lĩnh vực kinh tế tronghợp tác xã; (iv) Tự chủ và độc lập; (v) Giáo dục, đào tạo va thông tin; (v) Hợp tácgiữa các hợp tác xã; (vi) Quan tâm tới cộng đồng [6]. Tiếp thu có chọn lọc những</small>nguyên tắc này, pháp luật hiện hành của Việt Nam không quy định hợp tác xã là
doanh nghiệp, mà chỉ khẳng định hợp tác xã hoạt động “như một loại hình doanh
nghiệp" (Điều 1 Luật Hợp tác xã năm 2003). Thực tiễn ở Việt Nam cho thấy,<small>phần lớn các hợp tác xã hiện nay hoạt động trong lĩnh vực nơng nghiệp. Theothống kê đến 31/6/2002, trên cả nước có 10311 Hợp tác xã, trong đó hợp tác xã</small>nơng nghiệp chiếm khoảng 80%; vốn kinh doanh của các hợp tác xã nông nghiệp
chiếm 72,4% tổng số vốn kinh doanh của các hợp tác xã [12]. Trên thực tế, tính
</div><span class="text_page_counter">Trang 9</span><div class="page_container" data-page="9"><small>thiết chế kinh tế, song ln mang tính chất xã hội, cộng đồng sâu sắc. Trong hoạt</small>động, hợp tác xã phải tuân thủ những nguyên tắc thể hiện tính dân chủ, tính xã
hội và triết lí cơng bằng (phổ thông đầu phiếu), mục tiêu của hợp tác xã thường<small>khơng phải là tối đa hóa lợi nhuận, mà quan trọng hơn là tương trợ, giúp đỡ lẫnnhau trong cộng đồng. Việc xác định các hợp tác xã là doanh nghiệp, trong điềukiện như vậy sẽ có phần khiên cưỡng và đồng thời sẽ khó giải thích cho những</small>chính sách hỗ trợ của Nhà nước (để khuyến khích phát triển) đối với các hợp tác
xã, khi gắn với nguyên tắc bình đẳng giữa các doanh nghiệp trong cơ chế thị<small>trường. Các nhà lập pháp Việt Nam đã có phần hợp lý khi không quy định hợp</small>tác xã là một loại hình doanh nghiệp, cho dù trong trong quá trình tồn tại, chúng
có thể có những hoạt động như doanh nghiệp.
Luận án tiếp cận nghiên cứu vấn đề doannh nghiệp của các tổ chức chínhtrị, tổ chức chính trị xã hội (gọi tắt là doanh nghiệp đoàn thể) với quan điểm coidoanh nghiệp đồn thể là loại hình cơng ty TNHH một thành viên, hiện đang được
tổ chức và hoạt động theo quy định của Luật Doanh nghiệp (1999). Về lý luận
cũng như thực tiễn, doanh nghiệp đồn thể khơng phải là hình thức doanh nghiệpphổ biến và có vai trị đáng kể trong điều kiện kinh tế thị trường. Sự xuất hiện vàtồn tại của các doanh nghiệp đoàn thể thời gian qua ở Việt Nam, nhìn chung cótính chất "thời thế". Các doanh nghiệp đoàn thể lần đầu tiên được quy định trong
Quyết định số 268/CT ngày 30/7/1990 của Chủ tịch HĐBT (nay là Thủ tướng
Chính phủ) về đăng ký và hoạt động của các tổ chức làm kinh tế do các cơ quanhành chính và các đồn thể thành lập. Ngày 05/6/1992, Chủ tịch HĐBT đã banhành Quyết định số 196/CT, theo đó tất cả các tổ chức kinh tế đã thành lập và<small>đang hoạt động theo Quyết định số 268/CT ngày 30/7/1990 phải đăng ký lại theo</small>các quy định của pháp luật thời gian này về các loại doanh nghiệp phù hợp
</div><span class="text_page_counter">Trang 10</span><div class="page_container" data-page="10">đề chuyển đổi doanh nghiệp của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hộithành cơng ty TNHH một thành viên. Về nguyên tắc, kể từ khi Nghị định này cóhiệu lực, các doanh nghiệp đồn thể đã được xác định rõ bản chất là loại hìnhcơng ty TNHH một thành viên và được tổ chức hoạt động theo quy định của Luật<small>Doanh nghiệp (1999).</small>
<small>5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu</small>
Để làm rõ các vấn đề cần nghiên cứu nêu trên, Luận án sử dụng nhiều
phương pháp nghiên cứu khoa học khác nhau, như phương pháp tổng hợp và<small>phân tích, phương pháp thống kê, phương pháp so sánh và đối chiếu, kết hợp</small>nghiên cứu lý luận với thực tiễn... Các phương pháp nghiên cứu trong Luận ánđược thực hiện trên nền tảng của phương pháp duy vật lịch sử, duy vật biện
chứng; trên cơ sở các quan điểm, đường lối về chính trị, kinh tế, văn hóa và xã<small>hội của Đảng Cộng sản Việt Nam.</small>
6. Những đóng góp của luận án
Luận án có những đóng góp mới cơ bản sau:
- Xây dựng quan điểm pháp lý tiến bộ và hiện đại về chức năng, vai trò và
đặc điểm của pháp luật về doanh nghiệp; xác định rõ vị trí và sự lệ thuộc của pháp<small>luật về doanh nghiệp trong mối liên hệ với các lĩnh vực pháp luật khác của hệthống pháp luật, đặc biệt là trong mối liên hệ với pháp luật dân sự, mà nền tảng là</small>
<small>Bộ luật Dân sự;</small>
- Chi rõ những bất cập, đặc biệt là những nội dung lạc hậu, nhữngmâu thuẫn nội tại của pháp luật hiện hành về doanh nghiệp, đang ảnhhưởng xấu đến quyền tự do, bình đẳng trong kinh doanh, làm giảm hiệu
quả tổ chức vận hành doanh nghiệp của các nhà đầu tư;
</div><span class="text_page_counter">Trang 11</span><div class="page_container" data-page="11">với điều kiện cụ thể của Việt Nam và nhận thức phổ biến trên thế giới;
- Kiến nghị giải pháp sửa đổi, bổ sung quy định về tổ chức các loại hìnhdoanh nghiệp phổ biến và điển hình trong cơ chế thị trường, nhằm tạo sự rõ ràng,minh bạch của pháp luật về doanh nghiệp, đảm bảo cho các nhà đầu tư tổ chức
vận hành hoạt động kinh doanh một các hiệu quả, tự do và bình đẳng.
Những quan điểm và giải pháp hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp đượcđể xuất trong luận án có khả năng ứng dụng ngay để thiết lập sự thống nhất của
pháp luật về doanh nghiệp cả về nội dung và hình thức, phá tan sự mâu thuẫn nộitại của pháp luật về doanh nghiệp đã tồn tại ở Việt Nam trong nhiều năm qua.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung củaluận án bao gồm 3 chương.
</div><span class="text_page_counter">Trang 12</span><div class="page_container" data-page="12"><small>1.1.1. Khái niệm doanh nghiệp</small>
Với tính chất là một thực thể kinh tế - xã hội, doanh nghiệp là đối tượng
Nam, pháp luật hiện hành sử dụng khái niệm doanh nghiệp để chỉ các chủ thể
kinh doanh chủ yếu trong nền kinh tế. Tuy vậy, từ trước tới nay những vấn đề lý
luận về doanh nghiệp ít được đề cập dưới giác độ của khoa học pháp lý. Tác giả
Nguyễn Am Hiểu đã nhận xét rằng, “doanh nghiệp là gì? Trong lịch sử câu hỏi<small>này thường được khoa học kinh tế quan tâm hơn là khoa học pháp lý” [38, tr. 37].</small>Cũng có lẽ vì vậy mà xung quanh khái niệm doanh nghiệp cho đến nay vẫn cònnhiều vấn dé chưa được giải quyết triệt để cả trên phương diện lý luận cũng nhưluật thực định. Trong điều kiện như vậy, việc làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản
về doanh nghiệp có ý nghĩa quan trọng cho việc xây dựng và hồn thiện hệ thốngpháp luật kinh doanh nói chung và pháp luật về tổ chức doanh nghiệp nói riêng.
Lý luận và thực tiễn đã chứng minh sự ra đời và phát triển một cách khách
quan của hoạt động kinh doanh với tính chất là một nghề nghiệp trong xã hội. Cũng
như nhiều nghề nghiệp khác, nghề kinh doanh được tiến hành bởi những chủ thểnhất định và được tổ chức dưới những hình thức pháp lý nhất định. Trên bình diện
hành nghề kinh doanh là rất phong phú và đa dạng. Thực tiễn phát triển của khoa
học pháp lý và pháp luật thực định trên thế giới cũng như ở Việt Nam đã từng biết
đến nhiều khái niệm để chỉ những người hành nghề kinh doanh như chủ thể kinh
doanh, nhà kinh doanh, thương nhân, doanh nghiệp... mà không phải lúc nào nộihàm của các khái niệm này cũng được xác định rõ ràng và thống nhất. Trong luận án
</div><span class="text_page_counter">Trang 13</span><div class="page_container" data-page="13">này, thuật ngữ doanh nghiệp được tiếp cận với tính chất một thuật ngữ khoa học để<small>nghiên cứu mà không lệ thuộc vào việc có hay khơng có việc sử dụng thuật ngữ nàytrong pháp luật thực định ở mỗi quốc gia trong các thời kỳ khác nhau.</small>
<small>Nền kinh tế thế giới đã trải qua nhiều phương thức sản xuất với các hình</small>
triển kinh tế, với những đặc điểm về chính trị, văn hóa, phong tục, tập qn...,
nghề kinh doanh có vị trí, vai trị và được nhìn nhận khác nhau, theo đó những
chủ thể hành nghề kinh doanh được đối xử một cách không giống nhau trên cả<small>phương diện quan niệm xã hội và pháp luật. Có lẽ xuất phát từ thực tế đó mà</small>doanh nghiệp, dù tồn tại ở quốc gia nào trên thế giới, thì ngồi những đặc điểm<small>chung vẫn ln mang những nét đặc thù.</small>
<small>Về mặt ngữ vựng, doanh nghiệp (trong tiếng Anh là Enterprise) có nghĩa</small>
<small>là cơng việc kinh doanh (business venture or undertaking) [77, tr. 531]. Tuy</small>
<small>nhiên, trên thực tế khái niệm doanh nghiệp thường được dùng với nghĩa là hình</small>thức tổ chức các hoạt động kinh doanh. Trong giới nghiên cứu, có quan điểm hiểukhái niệm doanh nghiệp với nội hàm rất rộng, bao gồm tất cả những chủ thể hành
nghề kinh doanh (khơng phân biệt chủ thể đó là pháp nhân hay thể nhân):
“Doanh nghiệp được hiểu là đơn vị kinh doanh được thành lập nhằm mục đích<small>chủ yếu là thực hiện các hoạt động kinh doanh” [41, tr. 8]; “Doanh nghiệp là một</small>đơn vị kinh doanh được thành lập hợp pháp, nhằm mục đích thực hiện các hoạtđộng kinh doanh và lấy hoạt động kinh doanh làm nghề nghiệp chính” [65, tr. 5].
Theo quan điểm này, khái niệm doanh nghiệp được hiểu đồng nghĩa với kháiniệm về chủ thể kinh doanh hay nhà kinh doanh. Quan điểm khác lại cho rằngdoanh nghiệp chỉ bao gồm những chủ thể kinh doanh đáp ứng được những điềukiện nhất định (về cơ cấu tổ chức, tư cách pháp lý...): “Doanh nghiệp là tổ chứckinh tế có tên riêng, có tài sản riêng, tru sở giao dịch ổn định, được thành lập theo
quy định của pháp luật nhằm thực hiện hoạt động kinh doanh” [67, tr. 36]. Theo
đó, doanh nghiệp chi là một loại chủ thể kinh doanh. Từ đó có thể suy luận lơgic,sẽ có những chủ thể là chủ thể kinh doanh (thực hiện nghề nghiệp kinh doanh)
</div><span class="text_page_counter">Trang 14</span><div class="page_container" data-page="14">nhưng không được coi là doanh nghiệp (đơn cử là nếu chủ thé kinh doanh đókhơng có trụ sở giao dịch ổn định). Cách hiểu này có phần lệ thuộc vào các quy<small>định của luật thực định hiện hành ở Việt Nam (Luật Doanh nghiệp năm 1999) khi</small>
<small>xác định khái niệm doanh nghiệp.</small>
Bên cạnh đó cũng có quan điểm cho rằng, doanh nghiệp cần được hiểu
<small>sở sản xuất kinh doanh”; ở nghĩa hẹp, doanh nghiệp chỉ bao gồm các cơ sở kinhdoanh thuộc khu vực chính thức (có đăng ký tư cách theo quy định của phápluật), khơng tính các cơ sở thuộc khu vực phi kết cấu (non-structure) [40, tr. 278].</small>Quan điểm này cũng cho rằng, việc hiểu doanh nghiệp theo nghĩa rộng và theo<small>nghĩa hẹp có ý nghĩa quan trong trong việc hoạch định chính sách và thực hiện</small>
<small>các chế độ quản lý của Nhà nước đối với các cơ sở kinh tế.</small>
Khi phân tích một số vấn đề phương pháp luận về Dự thảo Luật Doanhnghiệp, tác giả Nguyễn Như Phát cho rằng “trong cơ chế thị trường hiện đại, đãvà sẽ xuất hiện rất nhiều mơ hình pháp lý của việc tổ chức các hoạt động kinhdoanh mà ta quen gọi là doanh nghiệp. Điều đó có nghĩa rằng, doanh nghiệp làkhái niệm chung, khơng có nội hàm pháp lý cụ thể và khơng biểu hiện một mơ
hình pháp lý cụ thể của việc tổ chức và quản lý các hoạt động kinh tế, thươngmại” [58, tr. 46]. Theo suy luận lôgic từ quan điểm này, việc đặt ra một định
nghĩa pháp lý chung về doanh nghiệp trong pháp luật thực định là rất khó đảm<small>bảo tính bao qt và ít có ý nghĩa thực tiễn.</small>
riêng có của nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường. Đại diện cho quan điểm<small>này là Gutenberg. Theo Gutenberg, xí nghiệp thì có cả trong nền kinh tế kế hoạch</small>hoá tập trung và nền kinh tế thị trường, nhưng doanh nghiệp là một hiện tượng đặcbiệt của kinh tế thị trường, vì chỉ ở đó mới có các đặc điểm cơ bản của các doanh
nghiệp. Các đặc điểm đó là: (i) Nguyên tắc tự chủ; (ii) Nguyên tắc thu nhập kinh
tế; (iii) Nguyên tắc sở hữu tư nhân và từ đó phát sinh quyền tự quyết định [79].
</div><span class="text_page_counter">Trang 15</span><div class="page_container" data-page="15">Guttenberg đã xuất phát từ góc độ điều kiện tồn tại và phát triển của doanh nghiệp
để khẳng định tính riêng có của doanh nghiệp trong cơ chế kinh tế thị trường. Vớiquan điểm này, nền kinh tế vận hành theo cơ chế kinh tế kế hoạch tập trung sẽ
không bao hàm các yếu tố cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.<small>Các đơn vị kinh tế trong cơ chế kinh tế kế hoạch tập trung như: nông, lâm trườngquốc doanh, xí nghiệp cơng nghiệp quốc doanh, xí nghiệp liên hợp hay liên hiệpcác xí nghiệp quốc doanh... khơng có cùng bản chất với doanh nghiệp.</small>
Quan điểm khoa học có ảnh hưởng nhất định đến nội dung luật pháp. Trên
thế giới hiện nay có nhiều trường phái pháp luật về doanh nghiệp. Pháp luật đa số
các nước quan niệm doanh nghiệp chỉ là những chủ thể kinh doanh thuần túy (có
nghề nghiệp chính là hoạt động kinh doanh). Tuy nhiên, ở một số nước (Cộng hòa
Liên bang Đức là một ví dụ), doanh nghiệp được hiểu khơng chỉ bao gồm các chủthể kinh doanh thuần túy (thương gia), mà còn bao gồm cả những tổ chức kinh tế<small>hoạt động vì mục tiêu cơng ích. Theo pháp luật Cộng hịa Liên bang Đức, "doanh</small>
<small>nghiệp bao gồm doanh nghiệp thành lập theo luật công và doanh nghiệp thành lậptheo luật tư. Khi phân biệt hai loại doanh nghiệp này, người ta dựa trên cơ sở phân</small>chia theo trật tự pháp luật công và pháp luật tư. Doanh nghiệp theo luật cơng có thể
là: xí nghiệp trực thuộc, những thực thể chính quyền, đơn vị sự nghiệp" [8O, tr.
332]. Tuy nhiên, pháp luật Đức có sự phân biệt rõ ràng trong cơ chế điều chỉnh
pháp luật về tổ chức và hoạt động của các doanh nghiệp thành lập theo luật công và<small>các doanh nghiệp thành lập theo luật tư. Cơ sở của sự phân biệt này là chức năngvà mục đích hoạt động của hai loại doanh nghiệp có sự khác nhau. Doanh nghiệpthành lập theo luật cơng có chức năng chủ yếu là hoạt động cơng ích; trong khi đó,các doanh nghiệp thành lập theo luật tư có chức năng chủ yếu là hoạt động kinh</small>doanh thu lợi nhuận. Qua nghiên cứu cho thấy, về mặt thực tiễn, hầu hết các nước
trên thế giới đều tồn tại những tổ chức kinh tế công (thông thường do nhà nước đầutư vốn) giống như ở Cộng hịa Liên bang Đức, song thơng thường những tổ chức<small>này khơng được coi là doanh nghiệp, hay chí ít thì cơ chế điều chỉnh pháp luật đốivới chúng cũng khác với những doanh nghiệp kinh doanh thuần túy.</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 16</span><div class="page_container" data-page="16">Đối với những doanh nghiệp kinh doanh thuần túy, hình thức pháp lý của<small>chúng được luật pháp quy định rất đa dạng. Luật pháp các nước thông thườngkhông quy định khái niệm chung về doanh nghiệp, mà chỉ đưa ra định nghĩa pháp</small>lý về từng loại hình doanh nghiệp cụ thể. Thực tiễn pháp luật các nước phản ánh
một quan điểm phổ biến coi doanh nghiệp là tất cả các đơn vị kinh doanh hợp<small>pháp; khái niệm doanh nghiệp (Enterprise) dường như đồng nghĩa với khái niệm</small>chủ thể kinh doanh (Business Entity), theo đó, doanh nghiệp là các chủ thể phápluật (cá nhân hoặc pháp nhân), được thành lập theo quy định của pháp luật để tiến<small>hành hoạt động kinh doanh.</small>
Khác với nhiều nước trên thế giới, pháp luật hiện hành ở Việt Nam có đưa<small>ra định nghĩa pháp lý về doanh nghiệp. Luật Doanh nghiệp tư nhân (1990), Luật</small>Cơng ty (1990) mà sau đó được thay thế bằng Luật Doanh nghiệp (1999), là cácvăn bản đưa ra định nghĩa chính thức về doanh nghiệp trong điều kiện kinh tế thị<small>trường ở Việt Nam. Trước khi có Luật Doanh nghiệp (1999), nội hàm của khái</small>niệm doanh nghiệp khơng được hiểu nhất qn trong tồn bộ hệ thống pháp luật.<small>Theo khái niệm doanh nghiệp được xác định trong Luật Cơng ty (1990) thi tất ca</small>các chủ thể có nghề nghiệp kinh doanh được xác lập tư cách hợp pháp đều là<small>doanh nghiệp. Điều 3 Luật Công ty (1990) quy định: “Doanh nghiệp là đơn vị</small>kinh doanh được thành lập nhằm mục đích chủ yếu là thực hiện các hoạt động<small>kinh doanh”. Với quy định này, khái niệm doanh nghiệp có nội hàm rất rộng. Có</small>thể hiểu tất cả các chủ thể có nghề nghiệp kinh doanh (chủ thể kinh doanh) được
xác lập tư cách theo thủ tục do pháp luật quy định đều là doanh nghiệp. Quan
điểm về doanh nghiệp trong Luật Công ty (1990) phù hợp với cách hiểu phổ biếntrên thế giới về chủ thể kinh doanh. Tuy nhiên, ở một số văn bản pháp luật khác<small>của Việt Nam, khái niệm doanh nghiệp được xác định với nội hàm hẹp hơn (Luật</small>Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và các văn bản hướng dẫn thi hanh...).
Luật Doanh nghiệp (1999) ra đời với nhiều đổi mới, trong đó có vấn déquan điểm về doanh nghiệp. Theo Luật Doanh nghiệp, chỉ có những chủ thể kinh<small>doanh thỏa mãn những điều kiện nhất định mới có tư cách doanh nghiệp. Điều 3</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 17</span><div class="page_container" data-page="17">(Khoản 1) Luật Doanh nghiệp quy định: “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tênriêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy
định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”. Phù hợpvới quan điểm chung về doanh nghiệp như vậy, các văn bản pháp luật về tổ chức<small>doanh nghiệp của Việt Nam hiện nay chỉ quy định rõ tư cách doanh nghiệp cho</small>các chủ thể kinh doanh: doanh nghiệp tư nhân, các loại công ty (quy định trong<small>Luật Doanh nghiệp), công ty nhà nước (quy định trong Luật Doanh nghiệp nhà</small>
<small>nước), doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (quy định trong Luật Đầu tư nướcngoài tại Việt Nam).</small>
Có thể nhận thấy, khái niệm doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp có nộihàm hẹp hơn khái niệm chủ thể kinh doanh theo cách hiểu thông thường. Đâycũng là cơ sở của quan điểm cho rang, “theo suy luận lôgic từ pháp luật hiện hànhthì hiện nay, khơng phải tất cả các đơn vị kinh doanh (chủ thể kinh doanh) được
thành lập “nhằm mục đích chủ yếu là thực hiện các hoạt động kinh doanh” đều<small>được coi là doanh nghiệp” [Š7, tr. 30]. Nhận định này là có cơ sở, bởi lẽ có những</small>chủ thể kinh doanh nhỏ (hộ kinh doanh cá thể) không thỏa mãn các điều kiệntheo định nghĩa pháp lý về doanh nghiệp nêu trên, và vì vậy không được gọi làdoanh nghiệp. Điều này dẫn đến trên thực tế, địa vị pháp lý của các chủ thể kinhdoanh được quy định không giống nhau giữa những chủ thể kinh doanh là doanhnghiệp và những chủ thể kinh doanh không phải là doanh nghiệp (vé các vấn dé<small>chủ yếu như: lựa chọn ngành nghề kinh doanh, kí kết hợp đồng kinh tế, tham giaquan hệ đầu tư trực tiếp nước ngồi, xử lý tình trạng phá sản...).</small>
Trên cả bình diện nghiên cứu cũng như pháp luật thực định có thể thấy,<small>quan niệm về doanh nghiệp hiện nay chưa có sự thống nhất. Sự khơng thống nhất</small>này có thể xuất phát từ nhiều nguyên nhân, có cả nguyên nhân chủ quan và<small>nguyên nhân khách quan, song điều đáng lưu ý là hiện đang tồn tại một sự khác</small>biệt lớn giữa quan điểm của Việt Nam (thể hiện trong pháp luật hiện hành) với đa<small>số các nước về khái niệm doanh nghiệp. Theo chúng tôi, với điều kiện các nước</small>có nên kinh tế đang chuyển đổi, trong đó có Việt Nam, quan niệm về doanh
</div><span class="text_page_counter">Trang 18</span><div class="page_container" data-page="18"><small>nghiệp với ý nghĩa tạo tiền đề lý luận cho việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật</small>về doanh nghiệp cần được tiếp cận phù hợp với xu hướng phổ biến, đáp ứng đòi
hỏi của hội nhập kinh tế. Để thống nhất cách hiểu về doanh nghiệp, theo chúng<small>tôi phải xem xét khái niệm này từ các góc độ kinh tế - xã hội và pháp lý, gắn vớinhững yếu tố của kinh tế thị trường.</small>
<small>(i) Tiếp cận khái niệm doanh nghiệp từ góc độ kinh tế - xã hội</small>
<small>Từ góc độ kinh tế - xã hội, các doanh nghiệp được coi là thành tố cơ bản của</small>hệ thống kinh tế - xã hội. Bản chất của doanh nghiệp là những thực thể xã hội, sinh<small>ra với chức năng chủ yếu là hoạt động kinh doanh. Doanh nghiệp được cấu thành</small>bởi nhiều yếu tố khác nhau như: cơ sở vật chất (vốn, tài sản), bộ máy quản lý điều
thể coi doanh nghiệp như một cái áo khoác để thực hiện ý tưởng kinh doanh, và<small>theo lơgic đó, mối quan tâm của kinh tế học không phải là tư cách pháp nhân của</small>doanh nghiệp, mà là chi phí để huy động vốn, tổ chức lao động, tiến hành kinh
doanh và các chi phí để phối hợp các yếu tố đó với nhau [54, tr. 250-251].
<small>Theo chúng tôi, với chức năng kinh doanh, doanh nghiệp sử dụng các yếu</small>tố đầu vào của quá trình sản xuất để tạo ra sản phẩm, hàng hóa và dịch vụ đáp<small>ứng nhu cầu của nền kinh tế cũng như toàn xã hội. Chức năng kinh doanh củadoanh nghiệp tạo cho doanh nghiệp vai trị của một "mắt xích" trọng yếu trongtoàn bộ hệ thống kinh tế - xã hội. Sự tồn tại của doanh nghiệp luôn được đặt trong</small>môi trường kinh tế - xã hội xác định. Không thể hiểu rõ bản chất cũng như xuhướng vật động, phát triển của doanh nghiệp nếu khơng xem xét nó trong mối
quan hệ vii những điều kiện kinh tế - xã hội cu thể. Các yếu tố của môi trường
kinh tế - :ã hội (cơ chế kinh tế, trình độ phát triển kinh tế, hệ thống luật pháp,<small>trình độ dần trí, phong tục tập quán, triết lý sống, văn hóa kinh doanh...) đều có</small>tác động dén sự tồn tại va phát triển của doanh nghiệp ở những phương diện va
<small>mức độ klác nhau.</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 19</span><div class="page_container" data-page="19"><small>Về mặt thực tiễn, sự hình thành các doanh nghiệp là hệ quả tất yếu của sự</small>phát triển hoạt động kinh doanh. Theo cách hiểu phổ thông, “kinh doanh là tổ
chức việc sản xuất, buôn bán, dịch vụ nhằm mục đích sinh lợi” [72]. Hoạt động<small>kinh doanh tồn tại với tính chất nghề nghiệp là cơ sở kinh tế - xã hội quyết định</small>sự xuất hiện các doanh nghiệp với tính chất là các thực thể xã hội. “Kinh doanh là<small>hoạt động mang tính nghề nghiệp, điều đó có nghĩa là trong xã hội đã có những</small>người, nhóm người, tổ chức mà nghề nghiệp chính của họ là kinh doanh, sống
bằng nghề kinh doanh” [20, tr. 13-14]. Thực tiễn đã chứng minh, kinh doanh với
tính chất là một nghề nghiệp chỉ ra đời và phát triển khi phân công lao động trongxã hội đã phát triển đến một trình độ nhất định và hình thành nền sản xuất hàng
hóa. Kinh doanh phản ánh quan hệ giữa các chủ thể xã hội trong quá trình sửdụng các nguồn lực xã hội hiện tại nhằm mục đích thu về giá trị lớn hơn trong
tương lai. Điều này cho phép khẳng định, những yếu tố tạo nên sự ra đời của nềnsản xuất hàng hóa cũng chính là cơ sở duy trì sự tồn tại và phát triển của hoạt<small>động kinh doanh.</small>
<small>Doanh nghiệp không phải là hiện tượng riêng có của nền kinh tế thị trường,</small>nhưng lý luận và thực tiễn đều chỉ ra rằng, chỉ trong điều kiện kinh tế thị trường,
doanh nghiệp mới có thể tồn tại và phát triển với đúng ý nghĩa đích thực của nó.<small>Trong nền kinh tế thị trường, nghề kinh doanh có vai trị đặc biệt quan trọng và</small>
<small>được xã hội tơn vinh. Với sự chi phối của các quy luật kinh tế khách quan, hoạt</small>
động kinh doanh và các mơ hình tổ chức kinh doanh trong nền kinh tế thị trường
ngày càng phong phú, đa dạng cả về hình thức và cách thức tổ chức vận hành.Trong nền kinh tế thị trường, mơ hình doanh nghiệp là phù hợp nhất để tổ chức và<small>thực hiện hoạt động kinh doanh.</small>
Điều kiện căn bản để hoạt động kinh doanh có thể phát triển với tính chất<small>một nghề nghiệp trong xã hội, đó là sự tồn tại của thị trường; "kinh doanh phải</small>gắn với thị trường, thị trường và kinh doanh đi liền với nhau như hình với bóng"[64, tr. 16]. Thị trường với những nguyên tắc khách quan của nó đã tạo ra động
lực mạnh mẽ nhất thúc đẩy sự phát triển hoạt động kinh doanh. Ngược lại, kinh
</div><span class="text_page_counter">Trang 20</span><div class="page_container" data-page="20">doanh có tác động sâu sắc tới sự vận hành của thị trường. Kinh doanh là yếu tố
quyết định thúc đẩy nền sản xuất hàng hóa phát triển đến giai đoạn kinh tế thị<small>trường. Tuy nhiên, nói như vậy khơng có nghĩa là kinh doanh chỉ tồn tại trong</small>nền kinh tế thị trường; và sẽ càng sai lâm nếu cho rằng kinh doanh chỉ tồn tại<small>trong điều kiện kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa. Thực tiễn vận hành nền kinhtế kế hoạch tập trung ở Việt Nam cũng như các nước xã hội chủ nghĩa trước đâyđã biết đến hoạt động kinh doanh, cho dù trong cơ chế kinh tế này, hoạt động</small>kinh doanh không diễn ra theo như cách hiểu phổ biến hiện nay. Khái niệm kinhdoanh xã hội chủ nghĩa đã được nhắc đến với cách hiểu là “tổng thể các hìnhthức, phương pháp và biện pháp nhằm tổ chức các hoạt động kinh tế dưới chủ<small>nghĩa xã hội. Nó phản ánh mối quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, quan hệ giữa</small>người với người trong qúa trình sản xuất, trao đổi và tiêu dùng của cải vật chất xã<small>hội, dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất. Mọi hoạt động kinh doanh xã</small>hội chủ nghĩa phải nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao, không ngừng nâng cao đời
sống vật chất và tinh thần của nhân dân lao động, luôn gắn với sản xuất và thúcđẩy sản xuất phát triển” [45, tr. 185]. Có thể khẳng định rằng, nền sản xuất hàng
hóa mới chính là cơ sở quyết định của sự tồn tại hoạt động kinh doanh. Trong khió, "sản xuất hàng hóa và lưu thơng hàng hóa là những hiện tượng thuộc về nhiều
chúng không giống nhau” [13, tr. 175]. Điều này dẫn đến một hệ quả là, nghề<small>kinh đoanh trong mỗi một cơ chế quản lý kinh tế đều có những nét đặc thù nhấtđịnh. Trong cơ chế kinh tế kế hoạch tập trung, "nhà nước xã hội chủ nghĩa không</small>chỉ thực hiện quyền lực chính trị, mà chính nó cịn kinh doanh" [46, tr. 7]; hoạt
động kinh doanh vi vậy bị chi phối sâu sắc (quyết định) bởi ý chí nhà nước thơng<small>qua hộ thống chỉ tiêu kế hoạch mang tính mệnh lệnh hành chính. Với cơ chế kinh</small>tế kế hoạch tập trung, các doanh nghiệp (các tổ chức kinh tế xã hội chủ nghĩa)không phải và không thể là nhân vật trung tâm của thị trường, mà thay vào vị trí
đó chính là nhà nước. Trong cơ chế kinh tế thị trường, nghề kinh doanh chủ yếuđược quy định va chi tí phối bởi các quy | luật kinh tế khách quan, hoạt động kinh
</div><span class="text_page_counter">Trang 21</span><div class="page_container" data-page="21">doanh vì vậy có điều kiện rất thuận lợi để phát triển. Đó cũng chính là động lựcthúc đẩy sự ra đời và phát triển mạnh mẽ của các loại hình doanh nghiệp. Trong<small>nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp giữ vai trò trung tâm trong các hoạt</small>động kinh tế, như có ý kiến đã cho rằng “các doanh nghiệp là những khối chủ<small>chốt của thị trường, sản xuất hàng hóa và cung cấp dịch vụ, tạo thành cơ sở của</small>trao đổi thị trường” [52, tr. 35].
<small>(ii) Tiếp cận khái niệm doanh nghiệp từ góc độ pháp lý</small>
Từ góc độ pháp lý, doanh nghiệp được hiểu là một loại chủ thể pháp luật(có tư cách chủ thể pháp lý độc lập) và có nghề nghiệp kinh doanh. Trong điềukiện kinh tế thị trường, doanh nghiệp trở thành đối tượng trung tâm chịu sự điềuchỉnh của hệ thống pháp luật kinh doanh. Điều này phần nào lý giải một thực tế<small>là khái niệm doanh nghiệp xuất hiện trong khoa học pháp lý cũng như luật thực</small>định đã từ lâu, nhưng khái niệm này chỉ được sử dụng một cách phổ biến trong<small>bối cảnh kinh tế thị trường. Trong cơ chế kinh tế thị trường, doanh nghiệp có</small>những đặc điểm pháp lý cơ bản sau:
Thứ nhất, doanh nghiệp là một loại chủ thể pháp luật. Trong điều kiện kinh
tế thị trường, với việc thừa nhận quyền tự do kinh doanh, tất yếu có sự tham giavào hoạt động kinh doanh (hành nghề kinh doanh) của các cá nhân, tổ chức thuộc<small>các thành phần kinh tế và hình thức sở hữu khác nhau. Khái niệm doanh nghiệp</small>trong luật pháp có ý nghĩa là danh tính pháp lý chỉ những chủ thể hành nghề kinhdoanh để phân biệt với những chủ thể khơng có nghề nghiệp này. Việc đặt ra khái
niệm doanh nghiệp với cách hiểu như vậy là tiền đề cần thiết để xây dựng cơ chếđiều chỉnh pháp luật đảm bảo sự bình đẳng trong kinh doanh, một đòi hỏi quan<small>trọng của cơ chế kinh tế thị trường.</small>
Với tư cách là một loại chủ thể pháp luật, doanh nghiệp có năng lực chủthể để tham gia các quan hệ pháp luật, trong đó trước hết và chủ yếu là các quan
hệ kinh doanh. Tư cách chủ thể pháp luật của doanh nghiệp có thể là tư cách cá
nhân hoặc tổ chức. Trong trường hợp doanh nghiệp cá nhân, năng lực chủ thể
</div><span class="text_page_counter">Trang 22</span><div class="page_container" data-page="22">pháp luật của doanh nghiệp chính là năng lực chủ thể pháp luật của cá nhân trong<small>việc tham gia các quan hệ kinh doanh theo quy định của pháp luật. Trong trường</small>hợp doanh nghiệp là một tổ chức, năng lực chủ thể của doanh nghiệp được phânbiệt với năng lực chủ thể của những người (tổ chức hoặc cá nhân) đã tạo ra nó.
Doanh nghiệp khơng đơn thuần chỉ là những “cơ sở kinh tế” hay “tài sản” của
<small>những người đã tạo ra doanh nghiệp, mà dưới góc độ pháp lý, doanh nghiệp có tư</small>cách của chủ thể pháp luật. Ngoại trừ trường hợp doanh nghiệp cá nhân, doanh
nghiệp tồn tại với tư cách pháp lý độc lập (tương đối) với chủ sở hữu của nó. Mối<small>quan hệ giữa chủ sở hữu của doanh nghiệp và doanh nghiệp không chỉ đơn thuần</small>là mối quan hệ giữa chủ sở hữu với đối tượng của quyền sở hữu, mà còn là mối
quan hệ giữa các chủ thể pháp lý độc lập. Đối với những doanh nghiệp là tổ chức,cần lưu ý tư cách tổ chức của doanh nghiệp không đồng nghĩa với tư cách phápnhân theo đúng nghĩa kinh điển của từ này. Thực tiễn pháp luật kinh doanh trên<small>thế giới cũng như ở Việt Nam đã ghi nhận những doanh nghiệp không phải là</small>pháp nhân và cũng không phải là cá nhân (như công ty hợp danh chẳng hạn).
Theo cách này, pháp luật kinh doanh đã thể hiện sự linh hoạt trong việc phát triển
<small>Tồn tại trong xã hội, doanh nghiệp tất yếu tham gia vào các quan hệ xã hộithuộc nhiều lĩnh vực khác nhau, trong đó trước hết và chủ yếu là các quan hệ kinh</small>doanh. Tổng hoà các mối quan hệ xã hội mà doanh nghiệp tham gia đã tạo cho
doanh nghiệp tính chất của “một tổ chức sống, có vịng đời (ra đời, tăng trưởng,phát triển và có thể diệt vong)” [41, tr. 8]. Về lý luận, các quan hệ xã hội phát<small>sinh từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trước hết và chủ yếu là các quan</small>hệ thuộc lĩnh vực pháp luật tư, vì vậy, vấn đề tổ chức hoạt động của doanh nghiệp
cần được tiếp cận điều chỉnh chủ yếu bằng phương pháp của luật tu; trên cơ sở đó
mới có thể đảm bảo tính độc lập cần thiết cho doanh nghiệp. Từ cách tiếp cậnnày, có thể chia sẻ với quan điểm cho rằng, "những chế định luật tư của pháp luật<small>kinh doanh, trong đó có pháp luật về công ty, cần nhấn mạnh quyền tự do hành</small>xử trong khuôn khổ pháp luật" [85, tr. 33]. Tất nhiên, quyền tự do, tính độc lập
</div><span class="text_page_counter">Trang 23</span><div class="page_container" data-page="23"><small>trong hoạt động của doanh nghiệp không phải là tuyệt đối. Trong hoạt động củamình, doanh nghiệp ln bị chi phối bởi các quy định của pháp luật, với nhữngđiều kiện liên quan đến môi trường xung quanh, với những hợp đồng mà doanh</small>
<small>nghiệp kí kết với đối tác.</small>
Tính chất chủ thể pháp lý độc lập của doanh nghiệp cho phép doanh nghiệpcó quyền tự chủ, đồng thời phải tự chịu trách nhiệm trong việc tổ chức hoạt động,<small>bất cứ là doanh nghiệp tự hoạt động kinh doanh hay những người làm công,</small>
những người được ủy quyền theo hợp đồng của doanh nghiệp thực hiện các hoạt<small>động kinh doanh nhân danh doanh nghiệp. Trách nhiệm pháp lý cơ bản của</small>doanh nghiệp về hoạt động kinh doanh thể hiện ở chỗ, những cam kết tài chính,<small>những nợ nần trong kinh doanh..., doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm bằng tồn</small>bộ tài sản của mình; và cịn có thể vượt ra khỏi phạm vi những tài sản đó trong<small>những trường hợp nhất định do pháp luật quy định (trường hợp những doanhnghiệp theo quy chế trách nhiệm vô hạn).</small>
<small>Thứ hai, doanh nghiệp được xác lập tư cách (thành lập và đăng ký kinh</small>
<small>doanh) theo thủ tục do pháp luật quy định. Việc thành lập và đăng ký kinh doanh</small>là cơ sở để xác định tính chất chủ thể pháp lý độc lập của doanh nghiệp, gắn với
những đặc điểm của hoạt động kinh doanh. Đặc điểm này xuất phát từ yêu cầu
của quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế thị trường.<small>Thủ tục xác lập tư cách pháp lý cho doanh nghiệp có sự khác nhau giữa các loại</small>hình doanh nghiệp, phù hợp với những đặc điểm về mặt tổ chức của từng loại<small>hình doanh nghiệp. Ngồi ra, về phương diện chủ quan, thủ tục thành lập và đăngký kinh doanh được quy định cho các doanh nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào quan</small>điểm cla các quốc gia trong việc sử dụng quyền lực nhà nước để can thiệp vào thịtrường. Tuy vậy, xuất phát từ yêu cầu của tự do kinh doanh, xu hướng phổ biến<small>hiện nzy trên thế giới là thủ tục xác lập tư cách pháp lý cho doanh nghiệp ngày</small>càng được đơn giản hóa nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư.
</div><span class="text_page_counter">Trang 24</span><div class="page_container" data-page="24">Thứ ba, doanh nghiệp có nghề nghiệp kinh doanh. Đặc điểm này biểu hiện<small>ở chỗ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được thực hiện có hệ thống, một</small>
<small>cách độc lập, trên danh nghĩa và trách nhiệm của doanh nghiệp, với mục đích</small>
<small>sinh lợi và trong điều kiện do pháp luật quy định. Tính chất có hệ thống của hoạt</small>động kinh doanh có thể hiểu theo ý nghĩa thơng thường của nó, tức là hoạt động<small>kinh doanh có khuynh hướng lâu dài, khơng gián đoạn trong một thời gian nhất</small>định và tiềm ẩn khả năng tái diễn thường kỳ. Tính chất hoạt động kinh doanh cóhệ thống là một dấu hiệu cơ bản để xác định nghề nghiệp kinh doanh của doanhnghiệp. Đây cũng là căn cứ quan trọng để phân biệt doanh nghiệp với các chủ thể
khác. Khi một chủ thể nào đó chỉ thực hiện hành vi kinh doanh có tính chất đơn
lẻ, vụ việc thì khơng thể xem là chủ thể đó hành nghề kinh doanh, và vì vậykhơng thể coi chủ thể đó là doanh nghiệp.
Ngoài ra, bản thân nghề nghiệp kinh doanh đã quy định mục đích thu lợi<small>nhuận trong các hoạt động của doanh nghiệp. Khi xác định mục đích lợi nhuận</small>trong hoạt động của doanh nghiệp, cần hiểu là, “ý định” thu lợi của doanh nghiệp<small>mới là tiêu chí quyết định, chứ việc đạt được lợi nhuận hay không cũng như việc</small>sử dụng lợi nhuận đạt được cho mục đích gì khơng phải là dấu hiệu quyết định.
Lợi nhuận hay lợi ích kinh tế của một doanh nghiệp có thể đánh giá theo quanđiểm về lợi nhuận của những thành viên (chủ sở hữu) của doanh nghiệp. Nhữngtổ chức được thành lập khơng phải vì mục đích kinh doanh cũng có thể hoạt độngkinh doanh trong những trường hợp nhất định, tuy nhiên hoạt động chính của tổchức này khơng phải là hoạt động kinh doanh, và vì vậy khơng thể được xem làmột doanh nghiệp, cho dù doanh số mà tổ chức đó thu được từ việc kinh doanh cóthể là rất lớn. ở đây cần nhắc lại một lần nữa là, cơ sở để phán đốn mục đích lợi<small>nhuận không phải là xem doanh nghiệp đạt được lợi nhuận hay khơng mà phải</small>xem xét tính chất của hoạt động để sinh lợi. Theo logic đó, việc đặt ra khái niệm“doanh nghiệp cơng ích” với cách hiểu chúng có cùng bản chất với doanh nghiệpsẽ là khiên cưỡng, không nói là thiếu cơ sở khoa học. Mặt khác, cũng cần hiểu
rằng, doanh nghiệp coi kinh doanh là nghề nghiệp, nhưng điều đó khơng có nghĩa
</div><span class="text_page_counter">Trang 25</span><div class="page_container" data-page="25">là doanh nghiệp chỉ thực hiện hoạt động kinh doanh. Với tinh chất là một thực thể
“sống” trong xã hội, để có thể tồn tại và hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp có
thể và cần phải thực hiện nhiều hoạt động khác không phải là hoạt động kinhdoanh nhằm đáp ứng nhu cầu của mình hoặc theo quy định của pháp luật. Điềunày làm xuất hiện trên thực tế có nhiều hoạt động phi kinh doanh được thực hiệnbởi doanh nghiệp. Đó cũng là cơ sở thực tiễn của khái niệm “hành vi kinh doanh<small>phụ thuộc” trong khoa học pháp lí và trong luật thực định của một số nước trên</small>thế giới. Thực chất đây là những hoạt động có bản chất dân sự (theo nghĩa hẹp),nhưng do doanh nghiệp tiến hành nhằm phục vụ cho hoạt động kinh doanh, nên<small>trong nhiều trường hợp được điều chỉnh bởi cơ chế của pháp luật kinh doanh.</small>
<small>1.1.2. Phân loại doanh nghiệp</small>
<small>1.1.2.1. Phương pháp phản loại doanh nghiệp</small>
Việc phân loại doanh nghiệp nhằm các mục đích khác nhau và được dựa<small>trên các tiêu chí khác nhau. Từ góc độ nghiên cứu và lập pháp, việc phân loạidoanh nghiệp có ý nghĩa quan trọng cho việc lựa chọn cơ chế điều chỉnh pháp</small>luật thích hợp đối với doanh nghiệp, cả về quản lý nhà nước và quản trị doanh<small>nghiệp. Phương pháp phân loại doanh nghiệp cũng có ảnh hưởng trực tiếp đến cấu</small>trúc của hệ thống pháp luật về doanh nghiệp. Lý luận và thực tiễn đã biết đến các
cách phân loại doanh nghiệp phổ biến sau đây:
Thứ nhất, phân loại doanh nghiệp căn cứ vào tính chất sở hữu và mục đích<small>hoạt động của doanh nghiệp. Theo tiêu chí này, doanh nghiệp được chia thànhdoanh nghiệp tư và doanh nghiệp công. Doanh nghiệp tư có bản chất kinh doanhthuần túy, hoạt động chủ yếu vì mục tiêu lợi nhuận và lấy lợi lợi nhuận là cơ sở</small>để tồn tại và phát triển. Các doanh nghiệp tư thường được hình thành từ sở hữu tư<small>nhân hoặc đa sở hữu. Doanh nghiệp công được thành lập với sự can thiệp và chi</small>phối của nhà nước trong chiến lược và mục tiêu hoạt động (thông qua nắm giữ
pháp luật không thể hiện rõ sự phân chia doanh nghiệp thành doanh nghiệp công
</div><span class="text_page_counter">Trang 26</span><div class="page_container" data-page="26"><small>và doanh nghiệp tu. Tuy nhiên, khái niệm doanh nghiệp nha nước công ich (theo</small>
<small>Luật Doanh nghiệp nhà nước năm 1995) có tính chất tương tự doanh nghiệp cơngtheo pháp luật các nước. Ngồi ra, từ góc độ sở hữu, còn phải dé cập đến một</small>cách phân loại doanh nghiệp khá phổ biến ở các nước đang chuyển đổi, trong đó<small>có Việt Nam, đó là phương pháp phân loại doanh nghiệp dựa vào tính chất sở hữucủa vốn và tài sản góp vào doanh nghiệp. Với cách phân loại này, doanh nghiệpđược phân chia thành các loại chủ yếu như: doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệptư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngồi... Việc phân loại doanh nghiệp</small>theo cách này có thể có ý nghĩa nhất định trong việc hoạch định chính sách của<small>nhà nước đối với các khu vực kinh tế khác nhau. Tuy nhiên, với yêu cầu đảm bảo</small>sự bình đẳng giữa các hình thức sở hữu, các thành phần kinh tế trong điều kiệnkinh tế thị trường, việc phân loại doanh nghiệp theo tiêu chí sở hữu ngày càng trở
nên khơng phổ biến và ít có ý nghĩa, đặc biệt là ở các nước có nền kinh tế thị
trường phát triển.
<small>Thứ hai, phân loại doanh nghiệp theo cơ cấu nhà đầu tư và phương thứcgóp vốn vào doanh nghiệp. Theo cách phân loại này, doanh nghiệp được chia</small>thành: doanh nghiệp một chủ sở hữu và doanh nghiệp nhiều chủ sở hữu. Chủ sởhữu của doanh nghiệp một chủ có thể là cá nhân hoặc tổ chức. Theo pháp luật<small>Việt Nam hiện hành, các doanh nghiệp một chủ sở hữu bao gồm: doanh nghiệp tư</small>
<small>nhân, công ty nhà nước, công ty TNHH nhà nước một thành viên, công ty TNHH</small>
một thành viên. Doanh nghiệp nhiều chủ sở hữu là doanh nghiệp được hình thànhtrên cơ sở sự liên kết của nhiều nhà đầu tư (do nhiều nhà đầu tư góp vốn thành<small>lập). Những doanh nghiệp nhiều chủ sở hữu thông thường được gọi là cơng ty.</small>Căn cứ vào tính chất của sự liên kết giữa các nhà đầu tư trong doanh nghiệp (theođặc trưng pháp lý), doanh nghiệp nhiều chủ lại được chia thành: hợp danh, hợpdanh hữu hạn (pháp luật nhiều nước gọi là công ty hợp danh và công ty hợp danhhữu hạn), công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần. Về bản chất, cơng ty nói
liên kết trong trường hợp công ty bao giờ cũng tạo ra một tư cách chủ thể pháp
luật mới, đó chính là cơng ty. Các nhà đầu tư tham gia vào cơng ty có thể thuộc<small>các thành phần kinh tế khác nhau, và theo Nguyễn Như Phát thì “cơng ty khơng</small>phải là một khái niệm để đặt tên doanh nghiệp theo dấu hiệu sở hữu và vì thế,hiểu theo nghĩa này, sẽ khơng có khái niệm thể hiện bản chất pháp lý về công ty<small>tư nhân hay công ty nhà nước” [57, tr. 33].</small>
<small>Cơ cấu nhà đầu tư vào doanh nghiệp quy định tính chất và mức độ phức tạp</small>
<small>doanh nghiệp một chủ, toàn bộ doanh nghiệp thuộc về sở hữu của một cá nhân</small>hoặc một pháp nhân duy nhất, vì vậy các vấn đề về tổ chức doanh nghiệp thườngdễ thực hiện, nhưng cũng đồng thời khó kiểm sốt hơn so với ở những doanh
nghiệp có cơ cấu nhiều chủ sở hữu.
<small>Việc phân loại theo tiêu chí cơ cấu nhà đầu tư có ý nghĩa lớn trong việc</small>quy định vấn đề tổ chức doanh nghiệp một cách phù hợp, bảo vệ quyền lợi củanhững chủ thể tham gia đầu tư vào doanh nghiệp cũng như người thứ ba. Thực
tiễn pháp luật doanh nghiệp trên thế giới cho thấy, đây là phương pháp phân loạidoanh nghiệp phổ biến được áp dụng để cấu trúc hệ thống pháp luật doanh nghiệp<small>cả về hình thức văn bản và nội dung quy phạm pháp luật.</small>
<small>Thứ ba, phân loại doanh nghiệp theo tư cách pháp lý của doanh nghiệp.</small>
<small>Với cách phân loại này, doanh nghiệp được phân chia thành: doanh nghiệp có tưcách pháp nhân và doanh nghiệp khơng có tư cách pháp nhân. Pháp nhân là một</small>khái niệm kinh điển trong khoa học pháp lý cũng như luật pháp. Việc xác lập tư<small>cách pháp nhân cho một doanh nghiệp có liên hệ mật thiết đến khả năng độc lập</small>
chịu trách nhiệm về tài sản (các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác) của doanh
<small>nghiệp đó. Các dấu hiệu pháp lý của pháp nhân thông thường được quy định cụ</small>thể trong luật pháp (Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 1995 quy định về các điềukiện của pháp nhân tại Điều 94). Trên nguyên tắc, những doanh nghiệp có sự tách
bạch về tài sản và độc lập chịu trách nhiệm về tài sản được gọi là pháp nhân.
</div><span class="text_page_counter">Trang 28</span><div class="page_container" data-page="28">Ngược lại, những doanh nghiệp không thực hiện nguyên tắc tách bạch về tài sản và<small>không độc lập chịu trách nhiệm về tài sản sẽ khơng có bản chất pháp nhân. Cần lư thêm rằng, những doanh nghiệp khơng có tư cách pháp nhân không chỉ là cácdoanh nghiệp cá nhân (hay cá nhân kinh doanh). Thực tiễn pháp lý ở Việt Nam đã</small>đề cập đến những doanh nghiệp không phải là cá nhân mà cũng không phải là pháp
nhân (công ty lợp danh, hộ kinh doanh cá thể do một hộ gia đình làm chủ). Việc<small>có được hưởng quy chế pháp nhân hay khơng đơi khi có ảnh hưởng rất lớn tới địavị pháp lý của doanh nghiệp. Quy chế pháp nhân theo pháp luật Việt Nam không</small>
<small>chỉ liên quan đến vấn đề trách nhiệm tài sản của doanh nghiệp, mà nó cịn ảnhhưởng đến địa vị pháp lý của của doanh nghiệp ở nhiều vấn đề khác. Theo pháp</small>
<small>luật Việt Nam hiện hành, doanh nghiệp khơng có tư cách pháp nhân bị hạn chế</small>
<small>tham gia một số quan hệ pháp luật cả nội dung và tố tụng. Về quan hệ pháp luậtnội dung, Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế 1989 (Điều 2) chỉ thừa nhận là hợp đồng</small>kinh tế nếu về mặt chủ thể hợp đồng có ít nhất một bên là pháp nhân. Như vậy
cũng có nghĩa là nếu các bên chủ thể đều là doanh nghiệp không có tư cách pháp<small>nhân thì hợp đồng khơng được coi là hợp đồng kinh tế. Về quan hệ tố tụng, quyền</small>u cầu tồ án bảo vệ lợi ích hợp pháp trong các tranh chấp kinh tế chỉ được quy<small>định cho cá nhân hoặc pháp nhân. Điều 1 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ ánkinh tế (1994) quy định: “Cá nhân, pháp nhân, theo thủ tục do pháp luật quy định,</small>có quyền khởi kiện vụ án kinh tế để u cầu Tồ án bảo vệ quyền và lợi ích hợp<small>pháp của mình”. Như vậy, các doanh nghiệp khơng phải là cá nhân và cũng khơng</small>phải là pháp nhân thì khơng thể nhân danh mình để khởi kiện các chủ thể khác tại
Tòa án để bảo vệ quyền lợi của mình (2). Cho dù cơ sở lý luận của những quy địnhnày có thể là hợp lí theo một cách lý giải nào đó, nhưng chúng đang thể hiện sự đi<small>ngược lại với đòi hỏi của thực tiễn kinh doanh.</small>
<small>Thứ tư, phân loại doanh nghiệp theo chế độ trách nhiệm tài sản. Đây làphương pháp phân loại doanh nghiệp dựa trên mức độ chịu trách nhiệm tài sảntrong hoạt động kinh doanh của chủ sở hữu doanh nghiệp. Thực tiễn pháp lý đã</small>
<small>biết đến hai loại chế độ trách nhiệm tài sản được áp dụng cho các chủ sở hữu</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 29</span><div class="page_container" data-page="29">doanh nghiệp là: chế độ trách nhiệm vô hạn và chế độ trách nhiệm hữu hạn. Như
một hè quả pháp lý phổ biến, những doanh nghiệp không phải là pháp nhân thường<small>phải chịu trách nhiệm tài sản theo quy chế trách nhiệm vơ hạn, cịn những doanhnghiệp có tư cách pháp nhân thường được áp dụng quy chế trách nhiệm hữu hạn.</small>
Đối với những doanh nghiệp theo quy chế trách nhiệm vô hạn, chủ sở hữu
doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ của doanh nghiệp bằng tồnbộ tài sản của mình. Điều này bắt nguồn từ sự không tách bạch giữa tài sản của<small>chủ sở hữu doanh nghiệp với tài sản của doanh nghiệp. Theo Nguyễn Như Phát,</small>“trách nhiệm vô hạn được hiểu là sự tận cùng hay đến cùng của việc trả nợ” [57,<small>tr. 39]. Điều này có nghĩa, chủ sở hữu doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm đến</small>cùng về các khoản nợ của doanh nghiệp, nói cách khác là “nợ bao nhiêu trả bấy<small>nhiêu”. Theo pháp luật hiện hành ở Việt Nam, chế độ trách nhiệm vô hạn theo</small>cách hiểu này được áp dụng đối với chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợpdanh của công ty hợp danh và chủ hộ kinh doanh cá thể. Cũng cần lưu ý, trong<small>thực tiễn pháp lý ở Việt Nam, đã có lúc chế độ trách nhiệm vơ hạn được áp dụng</small>theo ngun tắc “cịn bao nhiêu trả bấy nhiêu” (theo Luật Phá sản năm 1993, chế
độ trách nhiệm này được áp dụng đối với cá nhân chủ doanh nghiệp tư nhân). Với<small>chế độ trách nhiệm này, khi doanh nghiệp “vỡ nợ” (phá sản), chủ sở hữu doanh</small>nghiệp phải bằng toàn bộ tài sản của mình để trả các khoản nợ của doanh nghiệp;<small>trong trường hợp các khoản nợ khơng được trả đủ thì số nợ cịn lại cũng sẽ được</small>“xóa” và chủ sở hữu doanh nghiệp mắc nợ được giải thoát nghĩa vụ trả nợ.
<small>Đối với những doanh nghiệp theo quy chế trách nhiệm hữu hạn, chủ sở hữudoanh nghiệp chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của doanh nghiệp trong phạmvi giá trị vốn đã đầu tư vào doanh nghiệp. Thông thường, đây là những doanhnghiệp có tư cách pháp nhân. Những doanh nghiệp này có khả năng trả nợ đếnmức cao nhất là toàn bộ giá trị tài sản của chúng (đó cũng chính là giới hạn khảnăng trả nợ của doanh nghiệp).</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 30</span><div class="page_container" data-page="30">Ngoài những phương pháp phân loại doanh nghiệp nêu trên, thực tiễn xâydựng chính sách và pháp luật về doanh nghiệp cịn có các cách khác để phân loại
<small>doanh nghiệp như: phân loại doanh nghiệp theo quy mô, phân loại doanh nghiệp</small>
<small>theo ngành nghề kinh doanh... Những cách phân loại doanh nghiệp này tuy ít</small>được đề cập dưới góc độ pháp lý, song có ý nghĩa thực tiễn nhất định trong việc
xây dựng và áp dụng các chính sách phát triển doanh nghiệp.
1.1.2.2. Các loại hình doanh nghiệp theo pháp luật các nước trên thế giới
Sự phong phú, đa dạng của các hình thức tổ chức kinh doanh ln có xu<small>hướng vượt ra khỏi tầm bao quát của các nhà nghiên cứu cũng như các nhà lập</small>pháp. Doanh nghiệp theo pháp luật các nước trên thế giới được tổ chức dưới rấtnhiều hình thức pháp lý khác nhau, mà về lý luận khó có thể tổng kết thành quanđiểm phổ quát. Điều này xuất phát từ thực tế là “các nhà kinh doanh đã tạo ra
mn vàn hình thức hỗn hợp để thích ứng với hoạt động kinh doanh của họ” [37,
<small>thống pháp luật sau đây:</small>
<small>a. Các loại hình doanh nghiệp theo hệ thống Luật án lệ (Thông pháp)</small>
<small>Hệ thống Thông pháp được đại diện bởi pháp luật của Anh và Hoa Kỳ. Pháp</small>luật Vương quốc Anh có ảnh hưởng sâu sắc đến các hệ thống pháp luật của Hồng<small>Kông, Singapore, Malaisia và các nước thuộc Khối thịnh vượng chung. Trong khiđó, pháp luật về doanh nghiệp của Hoa Kỳ - được coi là hệ thống pháp luật về doanhnghiệp hiện đại nhất trên thế giới hiện nay (đặc biệt ở các quy định về công ty và thị</small>trường vốn) - có ảnh hưởng lớn đến quan điểm lập pháp của các nước như: Canada,
<small>thuộc hệ thống Thông pháp được quy định rất phong phú, đa dạng, và có những</small>điểm khác nhau nhất định ở từng nước. Tuy nhiên, ở mức độ tổng quát, có thể nhận<small>thấy, các nước theo hệ Luật Anh - Mỹ phân chia doanh nghiệp thành hai nhóm chủyếu là: hãng kinh doanh (business entities) và công ty (Company, Corporation).</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 31</span><div class="page_container" data-page="31"><small>(1) Hãng kinh doanh: Hãng kinh doanh được chia thành hai loại chủ yếu là</small>
<small>doanh nghiệp cá nhân (Sole Prioprietorship) và hợp danh (Partnership). Hãng</small>
<small>kinh doanh theo pháp luật Anh - Mỹ đều chịu trách nhiệm vơ hạn về tài sản trong</small>
<small>kinh doanh và khơng có tư cách pháp nhân. Doanh nghiệp cá nhân thực chất là</small>một cá nhân thực hiện nghề nghiệp kinh doanh. Cá nhân này có thể th những<small>người như người làm cơng, chuyên gia tư vấn, người đại diện hay những người</small>khác để tiến hành hoạt động kinh doanh, song tư cách chủ thể kinh doanh chỉ<small>thuộc về một cá nhân duy nhất. Không giống với các thành viên của hợp danhhay cơng ty, cá nhân kinh doanh hưởng tồn bộ lợi nhuận cũng như chịu toàn bộ</small>
<small>trách nhiệm từ hoạt động kinh doanh. Tại Hoa Kỳ, doanh nghiệp cá nhân được</small>
<small>nghiệp cá nhân, lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp được cộng vào thu nhập cá</small>nhân của chủ doanh nghiệp từ các nguồn khác để tính thuế thu nhập cá nhân; mọi<small>chi phí kinh doanh của doanh nghiệp do cá nhân chủ doanh nghiệp thông qua và</small>được trừ vào thu nhập chịu thuế thu nhập cá nhân của chủ doanh nghiệp. Ưu điểm<small>cơ bản của doanh nghiệp cá nhân là ở tính đơn giản của nó. Hình thức doanh</small>nghiệp này khơng địi hỏi bất kỳ một văn bản hay thỏa thuận pháp lý nào; hoạtđộng kinh doanh của doanh nghiệp có thể chấm dứt theo quyết định cá nhân của
chủ doanh nghiệp [78, tr. 419].
<small>Hợp danh là một dạng liên kết kinh tế có tính chất đối nhân giữa các nhàđầu tư. Hợp danh được phân biệt với công ty trên cả phương diện lý luận cũngnhư cơ chế điều chỉnh pháp luật. Tại Vương quốc Anh, mặc dù thuật ngữ công ty</small>thông thường được hiểu bao hàm cả hợp danh, song các luật gia Anh quốc hiện
đại đề cập đến công ty và luật công ty có sự phân biệt rõ với hợp danh và luật về
hợp danh. Những quy định về hợp danh được pháp điển hóa trong Luật Hợp danh
năm 1890 của Vương quốc Anh được dựa trên cơ sở luật về đại diện (Agency),theo đó mỗi thành viên trở thành đại diện của các thành viên khác (Điều 5 Luật
<small>Hợp danh 1890), vì vậy nó tạo ra một khung pháp lý phù hợp với những sự hợp</small>
<small>tác của một số ít người với sự tin tưởng và tín nhiệm lẫn nhau [82, tr. 3].</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 32</span><div class="page_container" data-page="32">Theo Luật Hợp danh thống nhất của Hoa Kỳ (Điều 6), hợp danh được định<small>nghĩa là sự liên kết của hai hay nhiều nhà đầu tư nhằm tiến hành hoạt động kinh</small>
<small>doanh thu lợi nhuận. Hình thức hợp danh theo pháp luật Hoa Kỳ được chia thànhcác loại khác nhau là: Hợp danh thông thường (General Partnerships), Hợp danhhữu han (Limited Partnerships) và Hợp danh trách nhiệm hữu han (LimitedLiability Partnerships). Hợp danh hữu hạn có hai loại hội viên là hội viên thơngthường (general partner) và hội viên hữu han (limited partner). Hội viên hữu han</small>
<small>chỉ chịu trách nhiệm cá nhân về các khoản đầu tư của họ mà không chịu tráchnhiệm về các khoản nợ của hợp danh. Tuy nhiên, hội viên hữu hạn không đượcphép tham gia vào việc quản lý, vận hành hợp danh. Các hội viên thơng thường có</small>quyền quản lý điều hành hợp danh, đồng thời phải chịu trách nhiệm cá nhân về
danh trách nhiệm hữu hạn, các hội viên của hợp danh trách nhiệm hữu hạn đều có<small>quyền tham gia quản lý hợp danh, nhưng chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ</small>của mình mà khơng chịu trách nhiệm về các khoản nợ của hợp danh hay nợ của
<small>các hội viên khác. Hợp danh trách nhiệm hữu hạn thường được thành lập trong lĩnh</small>
vực tư vấn pháp luật hoặc kiểm toán với ý nghĩa cơ bản là để bảo vệ mỗi hội viên<small>trước trách nhiệm từ hoạt động nghề nghiệp của các hội viên khác. Theo pháp luật</small>Australia, hợp danh cũng được định nghĩa là “sự liên kết giữa các chủ thể nhằm<small>thực hiện hoạt động kinh doanh thu lợi nhuận” (Parnership Act NSW s1). Hợp</small>danh theo pháp luật Australia được phân biệt rõ với các tổ chức kinh doanh khác,đặc biệt là công ty. Các vấn đề pháp lý về tổ chức và hoạt động của hợp danh được
quy định khác với công ty ở rất nhiều vấn dé như: thành lập, tổ chức quan lý,
chuyển nhượng vốn góp của thành viên, trách nhiệm của hợp danh trong quan hệ<small>với người thứ ba, chế độ thuế, quy chế chấm dứt hoạt động... [89, tr. 581-626].</small>
<small>(ii) Công ty: mặc dù pháp luật của Vương quốc Anh va Hoa Kỳ có những</small>điểm khác nhau nhất định trong các quy định về công ty, song nhìn chung cơngty theo hệ thống pháp luật Anh - Mỹ là các tổ chức kinh doanh có tư cách pháp
nhân, chịu trách nhiệm về các khoản nợ bằng tài sản của công ty; các thành viên
</div><span class="text_page_counter">Trang 33</span><div class="page_container" data-page="33">công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ của cơng ty trong phạm vi phần vốn
góp vào cơng ty. Cơng ty có tư cách chủ thể pháp lý độc lập và tồn tại độc lập vớichủ sở hữu của nó, ngay cả khi chủ sở hữu cơng ty chỉ là một cá nhân hay tổ chức<small>duy nhất. Căn cứ vào cấu trúc vốn, công ty theo hệ thống luật Anh - Mỹ được</small>chia thành hai loại là công ty có “cấu trúc vốn mở”, có phát hành cổ phiếu (PublicCorporation) và cơng ty có “cấu trúc vốn đóng, không phát hành cổ phiếu (CloseCorporation). Khi phát hành cổ phiếu ra công chúng, những công ty theo phápluật Mỹ được coi là có cấu trúc vốn mở, giống với công ty cổ phần; trường hợpkhông phát hành hoặc phát hành cổ phiếu hạn chế, công ty được coi là có cấu trúc<small>vốn đóng, giống với cơng ty trách nhiệm hữu hạn theo hệ thống luật Pháp - Đức.</small>Một điểm đáng lưu ý là hiện nay tất cả các bang của Hoa Kỳ đã chính thức thừa<small>nhận loại hình cơng ty trách nhiệm hữu hạn (Limited Liability Companies) vốn là</small>
<small>(Luật thành văn hay Luật La Mã - Đức)</small>
<small>Cộng hòa Pháp và Đức là hai quốc gia đại diện cho hệ thống pháp luật</small>
<small>thống luật Anglo - American và có ảnh hưởng đối với các nước thuộc khu vực</small>Bắc và Tây phi. Pháp luật Đức ảnh hưởng mạnh đến hệ thống luật pháp của các<small>nước: Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan và Trung Quốc. Nhìn chung, các nước theo</small>
<small>luật án lệ trong cách tiếp cận và phân loại doanh nghiệp. Theo pháp luật Cộnghòa Pháp và Cộng hòa Liên bang Đức, doanh nghiệp được chia thành hai nhómcơ bản là doanh nghiệp cá nhân và công ty.</small>
<small>(i) Doanh nghiệp cá nhân (viết tiếng Pháp là Enterprise individuelle) là loạiđơn vị kinh doanh được đầu tư và quản lý bởi một cá nhân duy nhất. Chủ sở hữu</small>doanh nghiệp cá nhân phải chịu trách nhiệm cá nhân và vô hạn về mọi khoản nợ
</div><span class="text_page_counter">Trang 34</span><div class="page_container" data-page="34">trong hoạt động kinh doanh. Thông thường doanh nghiệp cá nhân phải được đăng<small>ký tư cách thương gia (merchant) vào danh bạ thương mại tại tòa án thương mại.</small>
<small>Doanh nghiệp cá nhân (thương gia đơn lẻ) theo pháp luật Cộng hịa Liên</small>bang Đức có những đặc điểm cơ bản là:
- Về tổ chức quản lý nội bộ: doanh nghiệp cá nhân khơng cần có điều lệ;
cá nhân chủ doanh nghiệp có quyền quyết định cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp;<small>- Về cấu trúc vốn: vốn kinh doanh thuộc quyền sở hữu của một cá nhân duy</small>nhất. Trường hợp huy động thêm vốn, doanh nghiệp cá nhân chỉ có thể lựa chọnphương thức vay vốn của các tổ chức, cá nhân khác theo quy định của pháp luật;
- Về quan hệ với bên ngoài: cá nhân chủ doanh nghiệp là chủ thể trong các<small>quan hệ pháp luật; không có sự tách bạch về mặt pháp lý giữa tư cách cá nhânchủ doanh nghiệp và tư cách doanh nghiệp cá nhân [90, tr. 41].</small>
<small>(ii) Công ty: công ty theo hệ thống pháp luật Pháp - Đức được chia thành</small>rất nhiều loại khác nhau, nhưng nếu căn cứ vào tính chất của sự liên kết trong
cơng ty, có thể chia thành hai nhóm là cơng ty đối nhân và cơng ty đối vốn. “Đốinhân” hay “đối vốn”, với cách hiểu là căn cứ phân loại cơng ty, khơng có nghĩa là<small>xem xét cơng ty có vốn hay khơng (lẽ tất nhiên là mọi doanh nghiệp đều phải có</small>
<small>vốn), mà là xem xét đến yếu tố quyết định tính chất và nội dung của quan hệ giữa</small>
<small>chất và nội dung của các quan hệ giữa các thành viên công ty là nhân thân (danh)</small>của các thành viên. “Danh” của các thành viên cũng là căn cứ cơ bản để xác định
vị trí, vai trị của các thành viên trong việc tổ chức quản lý công ty (nguyên tắc
quan đến tổ chức và hoạt động của công ty được căn cứ chủ yếu vào giá trị phần
vốn của mỗi thành viên trong vốn điều lệ của công ty (nguyên tắc đối vốn).
Theo pháp luật Cộng hòa Pháp, các công ty bao gồm: công ty hợp danh
(Société en participation), công ty cổ phần (Société Anonyme) và công ty trách<small>nhiệm hữu hạn (Société à responsabilité limitée):</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 35</span><div class="page_container" data-page="35"><small>- Cơng ty hợp danh là loại hình cơng ty đối nhân. Cơng ty hợp danh có hailoại là cơng ty hợp danh thông thường (Société en nom collectif) và công ty hợp</small>
<small>danh hữu han (Société en commandite simple and société en commandite par</small>actions). Công ty hop danh thông thường là chủ thé pháp lý thực hiện các hoạt
động thương mại. Tất cả các thành viên hợp danh đều có tư cách thương gia(commercants). Mỗi thành viên thực hiện hoạt động thương mại dưới danh nghĩa<small>của hợp danh và chịu trách nhiệm liên đới và vô hạn về các khoản nợ của hợpdanh. Công ty hợp danh hữu hạn được đặc trưng bởi hai loại thành viên: thànhviên góp vốn và thành viên quản trị. Các thành viên quản trị (gérant) phải liên đới</small>chịu trách nhiệm vô hạn về các khoản nợ của hợp danh.
- Công ty cổ phần là loại điển hình của cơng ty đối vốn. Maurice Cozian vàAlian Vieandier đã khái quát về công ty cổ phần theo pháp luật của Cộng hòaPháp với những đặc điểm pháp lý cơ ban: (i) Là loại cơng ty có chế độ tráchnhiệm hữu hạn, các cổ đông chỉ chịu trách nhiệm; (ii) Là loại cơng ty đối vốn,trong đó vốn có ý nghĩa hơn nhân thân người góp vốn; (iii) Là loại cơng ty có tổchức chặt chế; Chủ tịch công ty, Hội đồng quản trị, Đại hội đồng cổ đơng cóquyền hạn riêng: (iv) Là loại cơng ty thương mại về hình thức, mục tiêu thành lập<small>khơng ảnh hưởng đến tính chất kinh doanh thương mại của cơng ty; (v) Là loại</small>cơng ty có phát hành chứng khốn (cổ phiếu hoặc trái phiếu) [50, tr. 803]. Bêncạnh những công ty cổ phần có tính chất đại chúng, pháp luật Cộng hịa Pháp cịncó quy định về cơng ty cổ phần giản đơn (Société par actions simplifiée). Loại hìnhcơng ty cổ phần giản đơn mới được quy định từ năm 1994 để đáp ứng nhu cầu củathực tiễn kinh doanh ở Pháp. Đây là một hình thức tổ chức kinh doanh cho phép
các nhà kinh doanh có thể hợp tác, liên doanh một cách mềm dẻo linh hoạt.
- Công ty TNHH là loại hình cơng ty phổ biến nhất ở Pháp. Cơng ty tráchnhiệm hữu hạn là mơ hình tổ chức kinh doanh được tạo ra bởi quá trình lập pháp.Loại công ty này đã kết hợp được cả ưu điểm của cơng ty đối nhân (tính chấtthành viên) và công ty cổ phần (chế độ trách nhiệm hữu hạn về tài sản). Theo<small>pháp luật Cộng hịa Pháp, cơng ty trách nhiệm hữu hạn phải có ít nhất 2 thành</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 36</span><div class="page_container" data-page="36"><small>viên và có khơng q 50 thành viên trong suốt q trình hoạt động. Thành viên có</small>thể là cơng dân Pháp, cơng dân nước ngồi, hoặc các chủ thể pháp luật khác. Khi
<small>cơng ty TNHH có trên 50 thành viên trong thời gian liên tục hai năm trở lên thì</small>phải chuyển đổi thành cơng ty cổ phần hoặc bị giải thể. Khi cơng ty chỉ cịn mộtthành viên duy nhất thì được chuyển đổi thành cơng ty một chủ (Entreprise<small>unipersonnelle à responsabilité limitée). Công ty một chủ được quan niệm là một</small>dạng công ty TNHH, bất chấp tồn bộ phần vốn góp của cơng ty được nắm giữ<small>bởi một pháp nhân hoặc một cá nhân duy nhất.</small>
<small>Ngoài ra, Bộ luật Dân sự Cộng hòa Pháp còn quy định về loại hình cơng ty</small>dân sự (Société civile). Các cơng ty dân sự được tổ chức dưới hình thức hợp danh.<small>Các công ty này không thực hiện các hoạt động thương mại với tính chất là nghềnghiệp chính, mà hoạt động chủ yếu trong các lĩnh vực: nông nghiệp, nghiên cứu,quản lý tài sản tư nhân, định giá tài sản, các hiệp hội tự do.</small>
<small>Tương tự như pháp luật Cộng hòa Pháp, pháp luật Cộng hòa Liên bang Đức</small>
<small>cũng phân chia công ty thành công ty đối nhân và công ty đối vốn. Công ty đối</small>nhân gồm hai loại cơ bản là: công ty hợp danh và công ty hợp vốn đơn giản. Côngty đối vốn gồm: công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần.
<small>- Công ty hợp danh ở Đức được quy định trong Bộ luật Dân sự 1896 và Bộ</small>
<small>luật Thương mai 1897. "Công ty hợp danh là loại hình cơng ty trong đó các thànhviên cùng nhau tiến hành hoạt động thương mại dưới một hãng chung và cùng</small>
liên đới chịu trách nhiệm vô hạn về mọi khoản nợ của công ty" [30, tr. 31]. Công<small>ty hợp vốn đơn giản được định nghĩa tại Điều 161 Bộ luật Thương mại, theo đó về</small>cơ bản giống với công ty hợp danh; điểm khác cơ bản của công ty hợp vốn đơn<small>giản so với công ty hợp danh là ở công ty hợp vốn đơn giản, chỉ cần có ít nhấtmột thành viên chịu trách nhiệm vơ hạn về mặt tài sản, cịn những thành viên</small>
<small>khác chịu trách nhiệm hữu hạn.</small>
- Công ty cổ phần được quy định trong Luật về công ty cổ phần ngày
6/9/1965 (Luật này được sửa đổi lần mới nhất ngày 12/6/2003). Công ty cổ phần
</div><span class="text_page_counter">Trang 37</span><div class="page_container" data-page="37">theo pháp luật Đức có tính chất của loại cơng ty đối vốn điển hình, vốn có khảnăng xã hội hóa cao thơng qua phát hành và chuyển nhượng chứng khốn. Cũnggiống như công ty cổ phần theo pháp luật Pháp, công ty cổ phần theo pháp luật<small>Đức là loại thương gia về hình thức, hoạt động thực tế của cơng ty khơng ảnh</small>hưởng đến tính chất thương mại trong hoạt động nói chung của nó. Theo Điều 1
Luật Cơng ty cổ phần, công ty cổ phần được hiểu là một chủ thể có đăng ký trong<small>danh ba thương mại, hoạt động dưới một tên hang (firm), có tư cách pháp lý độc</small>
lập, vốn điều lệ (vốn cơ bản) được chia thành những phần bằng nhau, mỗi thành
viên góp một phần xác định. Cơng ty cổ phần là một pháp nhân, có các quyền vànghĩa vụ. Hình thức pháp lý là cơng ty thương mại, kể cả trong trường hợp đối
tượng hoạt động của nó khơng nằm trong phạm vi hoạt động thương mại.
- Công ty TNHH được quy định trong Luật về công ty TNHH ngày
20/05/1898 (luật này được sửa đổi lần mới nhất năm 1980). Điều 1 Luật công ty<small>TNHH quy định: "Công ty trách nhiệm hữu hạn là một pháp nhân độc lập, được</small>
thành lập bởi một hay nhiều người; công ty chịu trách nhiệm đối với các chủ nợ
bằng tài sản của công ty". Theo Friedrich Kuebler, để phân biệt với công ty đối
nhân, công ty TNHH được hưởng quy chế pháp lý độc lập, điều đó có nghĩa là nó
tách rời với các thành viên. Pháp luật Đức gọi là nguyên tắc phân tách. Nguyên tắc<small>này được áp dụng trong mọi quan hệ tài sản, nợ nần và trách nhiệm tài sản của</small>công ty, ngay cả trường hợp các thành viên là người trực tiếp điều hành và thậm chí<small>cả khi cơng ty chỉ cịn một thành viên và là người điều hành duy nhất [30, tr. 37].</small>Với đặc điểm về thành viên mang tính đối nhân và chế độ trách nhiệm hữu hạn về<small>tài sản, công ty trách nhiệm hữu hạn được đông đảo các nhà đầu tư ưa chuộng và</small>hiện đang là loại hình cơng ty phổ biến ở Cộng hòa Liên bang Đức.
<small>c. Các loại hình doanh nghiệp theo pháp luật cua Cộng hịa nhân dân</small>Trung Hoa (Trung Quốc)
Xét về thể chế chính trị cũng như đường lối phát triển kinh tế, Việt Nam vàTrung Quốc có rất nhiều điểm tương đồng. Về chế độ kinh tế, Trung Quốc chủ
</div><span class="text_page_counter">Trang 38</span><div class="page_container" data-page="38">trương xây dựng thể chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa. Hiến pháp của Trung<small>Quốc quy định: “Trung Quốc áp dụng hệ thống kinh tế thị trường xã hội chủ</small>nghĩa” (Điều 15 Hiến pháp sửa đổi năm 1993); “Kinh tế cá thể, kinh tế tư nhân va<small>các thành phần kinh tế phi nhà nước khác là những bộ phận cấu thành quan trọng</small>của nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa” (Điều 11 Hiến pháp sửa đổi năm1999). Trung Quốc cũng là một quốc gia đang ở trong giai đoạn kinh tế chuyểnđổi từ nền kinh tế kế hoạch sang nền kinh tế thị trường, và cho đến năm 2002,<small>nền kinh tế của Trung Quốc vẫn được đánh giá là “chưa thực sự hình thành mộtcơ chế thị trường đầy đủ và vẫn thiếu một môi trường đảm bảo cho sự cạnh tranh</small>mở và lành mạnh” [15, tr. 141-142]. Với điều kiện như vậy, quan điểm pháp lý về<small>doanh nghiệp ở Trung Quốc có những nét đặc thù rất đáng quan tâm, đặc biệt làđối với các nhà nghiên cứu và lập pháp Việt Nam.</small>
<small>Hiện nay, hình thức pháp lý của các doanh nghiệp Trung Quốc rất đa dạngvà vẫn đang trong quá trình được cải cách. Theo pháp luật hiện hành ở Trung</small>Quốc, các loại hình doanh nghiệp bao gồm: hộ cá thể, doanh nghiệp cá thể(doanh nghiệp tư nhân), hợp danh, doanh nghiệp tập thể, doanh nghiệp nhà nước,doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngồi, cơng ty. Xem xét các loại hình doanh
nghiệp ở Trung Quốc hiện nay, có một số vấn đề đáng lưu ý sau đây:
<small>Thứ nhất, về doanh nghiệp nhà nước. Trước cải cách kinh tế, doanh nghiệp</small>nhà nước ở Trung Quốc được quan niệm chỉ là những doanh nghiệp thuộc sở hữutoàn dân. Hiện nay doanh nghiệp nhà nước bao gồm cả những doanh nghiệp nhà
nước sở hữu toàn bộ và những doanh nghiệp nhà nước nắm giữ cổ phần chỉ phối(kiểm soát). Các doanh nghiệp nhà nước theo cách hiểu truyền thống vẫn tiếp tục
được duy trì trong một số ngành nghề, lĩnh vực nhất định và được điều chỉnh bởi<small>Luật Xí nghiệp quốc doanh (1988). Tuy nhiên, hệ thống doanh nghiệp nhà nướcđang được tiếp tục cai cách mạnh mẽ, trong đó có giải pháp quan trong là “cơng tyhóa” doanh nghiệp nhà nước. Bản chất pháp lý của cơng ty hóa doanh nghiệp nhà</small>nước là chuyển các doanh nghiệp nhà nước sang mơ hình tổ chức và hoạt động
</div><span class="text_page_counter">Trang 39</span><div class="page_container" data-page="39"><small>theo Luật Công ty (1993). Doanh nghiệp nhà nước sau khi được cơng ty hóa sẽ</small>được tổ chức dưới hình thức cơng ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần.
<small>Thứ hai, Hợp danh không được quan niệm là cơng ty và vì vậy được điều</small>chỉnh bằng quy chế pháp lý khác với công ty (Luật về Hợp danh năm 1993).
Quan điểm vé Hợp danh của Trung Quốc có nhiều điểm tương đồng với quanđiểm của các nước theo hệ thống luật Anh - Mỹ.
<small>Thứ ba, các công ty theo pháp luật Trung Quốc bao gồm công ty TNHH và</small>công ty cổ phần. Cả hai loại công ty này được điều chỉnh bởi Luật Công ty(1993). Cơng ty là loại hình doanh nghiệp phổ biến ở Trung Quốc hiện nay. Theo<small>Niên giám quản lý hành chính cơng thương Trung Quốc 1992 - 2001, tính đến</small>hết năm 2000, tổng số doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế tư nhân của Trung<small>Quốc là 1.761.769, trong đó các cơng ty là 1.087.288, chiếm 61,7%.</small>
Thứ tz, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài của Trung Quốc được tổ<small>chức dưới các hình thức: doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp hợp tác nước</small>
ngoài, doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngồi. Các doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngồi có bản chất của cơng ty và vì vậy nhiều vấn đề về tổ chức và hoạt
động được điều chỉnh bởi Luật Công ty (1993). Mặc dù hiện tại hệ thống văn bản
pháp luật điều chỉnh tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước<small>ngồi tại Trung Quốc vẫn cịn khá phức tạp (Các doanh nghiệp có vốn đầu tư</small>nước ngoài tại Trung Quốc được tổ chức và hoạt động theo các các văn bản pháp<small>luật chủ yếu là: Luật Liên doanh với nước ngoài tại Trung Quốc, Luật Doanhnghiệp hợp tác nước ngoài, Luật Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngồi, LuậtCơng ty), song những cải cách gần đây, đặc biệt là từ sau khi Trung Quốc gianhập WTO, cho thấy môi trường pháp lý đầu tư của Trung Quốc có xu hướng tiến</small>tới nhất thể hóa pháp luật về đầu tư trong nước và pháp luật về đầu tư nước ngoài.
Thứ năm, hiện nay Trung Quốc vẫn đang duy trì sự phân biệt cơ chế điều
chỉnh pháp luật giữa cá nhân kinh doanh (hộ cá thể) và doanh nghiệp cá thể (Hộcá thể được quy định tại Quy định tạm thời về Hộ cá thể năm 1987, Doanh
</div><span class="text_page_counter">Trang 40</span><div class="page_container" data-page="40">nghiệp cá thể được quy định tại Luật Doanh nghiệp cá thể năm 1993). Sự khácnhau giữa hộ cá thể và doanh nghiệp cá thể chỉ có một tiêu chí pháp lý duy nhấtlà số lao động được phép thuê. Theo Quy định vẻ Hộ cá thé nam 1987, Hộ cá thể<small>không được phép thuê quá 8 người lao động. Hiện nay ở Trung Quốc đang có</small>nhiều ý kiến cho rằng nên thống nhất về mặt pháp lý hai khái niệm hộ cá thể vàdoanh nghiệp cá thể để điều chỉnh bằng một quy chế pháp lý chung (Luật doanhnghiệp cá thể) [31, tr. 61-62].
d. Đánh giá chung về các loại hình doanh nghiệp phổ biến trong nên kinh<small>tế thị trường hiện nay</small>
<small>Từ những nghiên cứu về pháp luật doanh nghiệp các nước trên thế giới, có</small>thể nhận thấy, hình thức tổ chức kinh doanh theo pháp luật các nước là rất phong<small>phú và đa dạng. Mỗi nước, ngay cả khi được coi là trong cùng một hệ thống pháp</small>luật, thì các hình thức doanh nghiệp được quy định vẫn có những điểm riêng biệt
và công ty cổ phần. Các loại hình doanh nghiệp này, dù được xem xét theo pháp
luật nước nào, bên cạnh những đặc điểm riêng, đều có tìm thấy những điểm
chung, thể hiện bản chất pháp lý chung của chúng. Xét theo lợi ích, nguyện vọng
của nhà đầu tư, hay theo địi hỏi của nền kinh tế và xã hội, đều có thể tìm thấynhững ưu điểm và hạn chế nhất định của mỗi loại hình doanh nghiệp.
<small>(i) Cá nhân kinh doanh:</small>
Cá nhân kinh doanh là hình thức tổ chức kinh doanh đơn giản và cổ điển<small>nhất. Với hình thức này, một cá nhân duy nhất sẽ bỏ vốn đầu tư và làm chủ cơ sở</small>kinh doanh. Về phương diện pháp lý cũng như thực tế, khó có thể tìm thấy sựtách biệt giữa tư cách của chủ thể kinh doanh với tư cách cá nhân đầu tư vốn; nóicách khác, tư cách chủ thể kinh doanh chính là tư cách cá nhân. Ưu điểm của
hình thức cá nhân kinh doanh cơ bản thể hiện ở chỗ, cá nhân có tồn quyền sở
</div>