Tải bản đầy đủ (.pdf) (13 trang)

Tiểu luận: Bầu cử trong đời sống chính trị

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (132.47 KB, 13 trang )

<span class="text_page_counter">Trang 1</span><div class="page_container" data-page="1">

<b>Đại học Quốc gia Hà NộiKhoa Luật</b>

<b>BẦU CỬ TRONG ĐỜI SỐNG CHÍNHTRỊ</b>

Học phần: Chính trị học

GV hướng dẫn: TS. Nguyễn Minh TâmSV: Nguyễn Trần Hiệp

MSV: 19063064Ngày sinh: 02/ 07/ 2001

</div><span class="text_page_counter">Trang 2</span><div class="page_container" data-page="2">

MỤC LỤC

<b>LỜI MỞ ĐẦU...2</b>

<b>CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BẦU CỬ...3</b>

1. Khái quát về bầu cử...3

1.1. Khái niệm bầu cử...3

<b>CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG BẦU CỬ HIỆN NAY...9</b>

1. Thực trạng bầu cử của một số nước trên thế giới...9

2. Thực trạng bầu cử tại Việt Nam...10

</div><span class="text_page_counter">Trang 3</span><div class="page_container" data-page="3">

<b>CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BẦU CỬ </b>

1. Khái quát về bầu cử1.1. Khái niệm bầu cử

Bầu cử trước hết là do hiến pháp thiết định thành một nguyên tắc hiến định vàđược pháp luật bầu cử quy định thành chế độ bầu cử. Bầu cử được xem là “trái tim”, là“yếu tố then chốt”, là chìa khố và một trong những tiêu chí nền tảng để đánh giá mức độcủa một nền dân chủ. Một chế độ chỉ được coi là dân chủ khi và chỉ khi có các cuộc bầucử. Mặc dù vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau về khái niệm thống nhất của bầu cử, chúng tacó thể hiểu bầu cử là phương thức người dân lựa chọn người làm đại diện, thay mặt nhândân thực hiện quyền lực Nhà nước trong các xã hội dân chủ, theo nguyên tắc tất cả quyềnlực Nhà nước thuộc về nhân dân. Các đại diện do nhân dân bầu ra phải có nhiệm vụ chèolái quốc gia, xây dựng đất nước theo những tâm tư, nguyện vọng được cử tri gửi gắm,đồng thời phải chịu trách nhiệm trước cử tri và nhân dân bầu ra mình. Như vậy, có thểnói bầu cử là hoạt động xã hội mang tính lựa chọn của con người và là chế định khôngthể thiếu trong cơ chế thực hiện quyền lực nhân dân.<small>1</small>

Theo tính xã hội thì đối với các quốc gia có nền dân chủ, chế độ bầu cử có vai trị vơ cùng quan trọng bởi nó giống như một phương thức để truyền tải sự lựa chọn của cử <small>1</small>N.Đ. Dung / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Luật học, Tập 34, Số 1 (2018) 1-8

</div><span class="text_page_counter">Trang 4</span><div class="page_container" data-page="4">

tri thành cơ quan dân cử. Nếu phương thức đó truyền tải càng tốt thì ý chí của hàng triệu chủ nhân đi bỏ phiếu sẽ càng thể hiện rõ ràng hơn. Một chế độ bầu cử dân chủ bắt buộc phải có hai khả năng thứ nhất là phải tạo được điều kiện, cơ hội cho nhân dân có thể chọnđúng cái cần chọn, thứ hai là chế độ bầu cử phải chuyển tải quyền lực của nhân dân cho đúng đối tượng cần trao.

Chế độ bầu cử là biểu hiện cơ bản cũng như quan trọng nhất của một nền dân chủthực sự, nếu như bầu cử được coi là phương thức hiệu quả nhất để nhân dân có thể lựachọn người lãnh đạo của mình thì khi chế độ bầu cử bị khiếm khuyết sẽ dẫn đến toàn bộnền dân chủ đứng dưới nguy cơ khủng hoảng. Tuy nhiên chế độ bầu cử không phải làphương thức duy nhất để duy trì nền dân chủ mà nó chỉ là tiền đề hay nền móng cho việcxây dựng nên một chế độ chính trị hiệu quả, vậy nên chúng ta đừng chỉ chú trọng duynhất vào chế độ bầu cử mà quên đi những yếu tố cần thiết khác như quá trình giám sáthay điều hành của những cá nhân, chủ thể được tin tưởng.<small>2</small>

1.3. Các yếu tố tác động đến bầu cử

Thứ nhất, chế độ bầu cử là một bộ phận quan trọng cấu thành nên thể chế chính trị vì vậy chế độ bầu cử phải phù hợp với thể chế chính trị mà nó tồn tại. Chế độ bầu cử làphương tiện hữu hựu để phục vụ cho những mục tiêu chính trị của bộ máy nhà nước. Bất kỳ chế độ bầu cử nào của bất kỳ quốc gia nào cũng đều phải căn cứ vào những đặc điểm cụ thể của thể chế chính trị quốc gia đó; đồng thời là những yếu tố xã hội và phải nhằm thực hiện những mục tiêu nhất định của hệ thống chính trị bộ máy nhà nước

Thứ hai, đối với từng chế độ chính trị- xã hội khác nhau mà chế độ bầu cử cũng vô cùng khác nhau lý giải bởi nội dung và cách hiểu đối với các nguyên tắc bầu cử mang tính phổ biến khơng phải lúc nào cũng mang tính tương đồng mà thậm chí cịn vơ cùng khác biệt. Có thể lấy ví dụ như cách mà nội dung bầu cử của từng chế độ dân chủ vô cùng khác biệt thế nên cách mà nội dung ấy được thể hiện chắc chắn có sự khác nhau. Dođó mỗi chế độ bầu cử có những bộ tiêu chí nhất định nên tồn tại nhiều vấn đề trái ngược là điều hiển nhiên.

<small>2</small> Vũ Văn Nhiêm, Luận án tiến sĩ, Chế độ bầu cử ở nước ta: Những vẫn đề lý luận và thực tiễn, trang 24-25.

</div><span class="text_page_counter">Trang 5</span><div class="page_container" data-page="5">

Thứ ba, đối với từng giai đoạn phát triển của mỗi nhà nước thì yếu tố cũng như yêu cầu được đặt ra đối với chế độ bầu cử cũng không giống nhau. Để phục vụ tốt từng nhu cầu, mục đích của hệ thống chính trị mà chúng ta khơng nên q cứng nhắc ấn định các tiêu chí của các năm trước rồi áp dụng vào các năm sau. Việc có chế độ bầu cử tiến bộ hiện đại là vô cùng cần thiết những cũng phải xem xét liệu nó đã phù hợp với tình hình chính trị của nước đó hay chưa, điều chúng ta tìm kiếm ở chế độ bầu cử hiện nay là sự hiệu quả chứ đừng nên bắt chiếc các nước khác do mỗi nước đều có những mục tiêu chính trị riêng biệt.

Thứ tư, chế độ bầu cử hiện đại cũng chịu sự chi phối của những yếu tố như tác động của nền kinh tế, văn hóa hay xã hội vậy nên chúng ta cần điều chỉnh chế độ bầu cử sao cho phù hợp với tình hình đất nước. Nếu một quốc gia vẫn còn kém phát triển, thu nhập đầu người cịn thấp và khó khăn thì việc áp dụng các mơ hình bầu cử tồn kém hoặc tổ chức quy mơ trong nhiều đợt sẽ khó đem lại hiệu quả cao. Hơn nữa tùy vào từng đặc điểm xã hội như đạo đức, tập quán, truyền thống, trình độ dân chủ,… cũng ảnh hưởng lớn đến chất lượng của chế độ bầu cử nếu như không được nghiên cứu cẩn thận.<small>3</small>

1.4. Vị trí, vai trị của bầu cử

Bầu cử là nền tảng của chế độ đại diện - trước hết tạo ra sự chính danh của nhà nước. Bầu cử như là một định chế trọng tâm của các chính thể dân chủ đại diện. Khơng thể có chính thể đại diện nếu khơng có bầu cử. Trong chính thể dân chủ đại diện, nhà nước chỉ có thể được thiết lập và thực thi quyền lực quản lý xã hội khi có sự nhất trí của người dân – chủ thể duy nhất và đích thực của quyền lực nhà nước. Cơ chế để chuyển sự nhất trí đó thành bộ máy nhà nước là tổ chức bầu cử tự do và cơng bằng. Nói cách khác, bầu cử là “phương thức chính thống thay đổi quyền lực nhà nước”. Theo nghĩa rộng hơn, bầu cử được xem là “trái tim”, là “yếu tố then chốt”, là “chìa khố” và một trong những tiêu chí nền tảng để đánh giá mức độ của một nền dân chủ. Một chế độ chỉ được coi là dân chủ khi và chỉ khi có các cuộc bầu cử. Đó là bởi bầu cử cho phép người dân khơng chỉ trao quyền cho những đại diện thay mặt mình quản lý xã hội mà cịn kiểm sốt hoạt động của họ. Tính chất định kỳ, phổ thơng, cơng khai, bình đẳng, tự do tranh cử và bỏ <small>3</small> Vũ Văn Nhiêm, Luận án tiến sĩ,Chế độ bầu cử ở nước ta : Những vấn đề lý luận và thực tiễn,trang 27-28

</div><span class="text_page_counter">Trang 6</span><div class="page_container" data-page="6">

phiếu của bầu cử cho phép công chúng đánh giá, phế truất những đại diện cũ khơng cịn xứng đáng, chọn lựa những người mới có năng lực, phẩm chất tốt hơn.Như vậy, bầu cử rađời gắn liền với sự phát triển của dân chủ. Bầu cử là phương thức để thưc hiện dân chủ.

Bầu cử - hình thức kiểm tra giám sát chính quyền của người dân. Bầu cử có định kỳ là công cụ quan trọng để nhân dân giám sát quyền lực nhà nước, chế ngự sự tha hóa, lạm quyền của quyền lực nhà nước. Do vậy, quyền lực nhà nước cần phải được kiểm soátvà giới hạn nhằm loại trừ một nghịch lý là quyền lực nhà nước của nhân dân nhưng nó lạiđe dọa chính nhân dân. Để thu phục niềm tin của cử tri, để thắng cử, các lực lượng tranh cử tìm cách thu phục niềm tin của cử tri, mà cách thức thu phục tốt nhất khơng gì khác, đó là phải thực hiện “chính quyền của dân, do dân và vì dân”. Mặt khác, chính các đảng phái, các lực lượng tranh cử bản thân họ giám sát lẫn nhau, thông qua bầu cử họ cơng kích những hạn chế, khuyết điểm của nhau. Việc giám sát, kiểm tra chéo lẫn nhau như vậy là một trong những phương thức tốt nhất để giám sát, chế ngự sự tha hóa, lạm quyền của quyền lực nhà nước.<small>4</small>

Bầu cử là phương thức quan trọng để giải quyết mâu thuẫn, xung đột xã hội bằng phương pháp hịa bình. Với bầu cử cho phép người dân hình thành ra những thiết chế đại diện, tạo ra nền tảng toàn bộ máy của nhà nước dân chủ. Chính tính đại diện nhân dân tạonên vị trí đặc thù của cơ quan đại diện. Thực chất, những thiết chế này tập hợp, phản ánh ý chí, nguyện vọng của nhân dân, thông qua hoạt động của bộ máy nhà nước để giải quyết những nhu cầu của họ. Theo đó, viêc bẩu cử chỉ đươc dành cho một số ít người do những giới hạn về: tài sản, giới tính, độ tuổi, nơi cư trú, chủng tộc, quân nhân...Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của dân chủ, ngày nay bầu cử đã tiến triến đến chế độ phổ thông đầu phiếu.

2. Các nguyên tắc bầu cử

Thứ nhất, nguyên tắc bầu cử tự do,bầu cử tự do là một nguyên tắc được ghi nhậntrong Hiến pháp của nhiều quốc gia.Tuy nhiên, nội hàm của nguyên tắc này cũng đượchiểu ít nhiều khác nhau.Cách hiểu thứ nhất đề cập đến ý chí nguyện vọng của người dânkhi tham gia vào tiến trình bầu cử.Cụ thể nguyên tắc này có nghĩa là mọi cử tri có quyềntự quyết định có tham gia vào tiến trình bầu cử hay khơng.Tuy nhiên, cũng có một số<small>4</small> N.Đ.Dung / Tạp chí khoa học ĐHQGHN : Luật học, Tập 34, Số 1 (2018) 1-8

</div><span class="text_page_counter">Trang 7</span><div class="page_container" data-page="7">

quốc gia quy định bầu cử là nghĩa vụ bắt buộc.Những quốc gia quy định bầu cử là nghĩavụ cho rằng dân chủ cũng đòi hỏi trách nhiệm tham gia của công dân.Nghiên cứu chothấy ở các nước quy định bầu cử là nghĩa vụ, tỷ lệ phiếu trống và phiếu không hợp lệtrong các cuộc bầu cử cao hơn so với những nước quy định tự do. Cách hiểu thứ hai vềnguyên tắc này nhấn mạnh quyền được “tự do lựa chọn” của công dân trong việc bỏphiếu. Mở rộng hơn, cách hiểu này còn bao gồm tự do ứng cử, đề cử, vận động tranh cử.Người dân có tồn quyền quyết định bầu ra người đại diện thay mình thực thi quyền lựcnhà nước mà khơng hề chịu bất kì sự áp đặt nào. Theo cách hiểu thứ hai, nguyên tắc bầucử tự do phản ánh trình độ dân chủ ở mức độ cao của xã hội. Nó là yếu tố quan trọng đểphân biệt các cuộc bầu cử chính thức và các cuộc bầu cử thực chất,cũng như để xác địnhtinh chính danh của các nhà nước.<small>5</small>

Thứ hai, nguyên tắc bầu cử phổ thông, nguyên tắc này phản ánh sự tham gia củanhân dân trong bầu cử. Nguyên tắc này được thể hiện: công dân đến tuổi trưởng thành,không phân biệt màu da, chủng tộc, giới tính, ngơn ngữ, ... đều có quyền bầu cử. Quyềnbầu cử càng được mở rộng cho nhiều người tham gia một cách hợp lý, càng thể hiện mứcđộ dân chủ của chế độ bầu cử. Quyền bầu cử và bầu cử phổ thông là chặng đường đấutranh lâu dài vì quyền con người và dân chủ. Việc ghi nhận và tuân thủ nguyên tắc bầu cửphổ thông là thước đo quan trọng mức độ dân chủ của một quốc gia.

Thứ ba, nguyên tắc bầu cử bình đẳng, đây là nguyên tắc nhằm bảo đảm giá trị nhưnhau của mọi công dân trong bầu cử. Trước hết là sự bình đẳng giữa các cử tri.Điều này được thể hiện: Một là, khơng có sự phân biệt chủng tộc, giới tính, ngơn ngữ, …trong việc bầu cử; hai là, mỗi cử tri có một phiếu bầu trong một cuộc bầu cử; ba là, giá trịcủa mỗi lá phiếu trong hệ thống bầu cử phải tương đương nhau. Để đảm bảo giá trị củamỗi lá phiếu tương đương nhau thì sự ấn định và phân bố số lượng đại biểu đối với từngđơn vị bầu cử phải dựa trên nền tảng sự bình đẳng dân số. Mặt khác, phải có sự bình đẳnggiữa các ứng cử viên trong bầu cử. Đây là nội dung quan trọng vì nó ảnh hưởng rất lớnđến cuộc bầu cử. Điều này được thể hiện: bình đẳng trong việc đề cử, ứng cử; bình đẳngtrong việc vận động tranh cử; các ứng cử viên phải bình đẳng trong việc sử dụng ngânquỹ trong vận động tranh cử, tiếp cận và sử dụng thơng tin. Bên cạnh đó là sự bình đẳng<small>5 Hồng Thu Trang, Luận văn Thạc sĩ, Hệ thống bầu cử ở một số quốc gia trên thế giới và</small>ở Việt Nam hiện nay , trang 9

</div><span class="text_page_counter">Trang 8</span><div class="page_container" data-page="8">

giữa các đảng phái chính trị, các lực lượng tham gia tranh cử. Sự bình đẳng phải đượcpháp luật quy định và được đảm bảo thực hiện trong tất cả các công đoạn bầu cử, từ việcgiới thiệu, vận động bầu cử cho đến việc chứng kiến kiểm phiếu.

Thứ tư, nguyên tắc bầu cử trực tiếp, nguyên tắc này đề cập cách thức thể hiện ý chícủa nhân dân, nhân dân trực tiếp lựa chọn người đại diện. So với bầu cử gián tiếp, bầu cửtrực tiếp mang tính dân chủ cao hơn. Tuy nhiên, bầu cử gián tiếp về bản chất khơng đượchiểu là bầu cử đích thực theo nghĩa hiện đại, vì nhân dân khơng trực tiếp lựa chọn và traoquyền cho người đại diện, thực chất đó là ủy quyền “bước hai” mang tính phát sinh. Kếtquả bầu cử gián tiếp khơng thể hiện trực tiếp ý chí của nhân dân.

Thứ năm, nguyên tắc bỏ phiếu kín, nguyên tắc này đề cập về cách thức bỏ phiếu.Bỏ phiếu kín là biện pháp nhằm đảm bảo cho cử tri được tự do thể hiện ý chí của mìnhkhi lựa chọn người đại diện mà không bị ảnh hưởng của bất kỳ sự tác động nào. Việcthực hiện nguyên tắc này đảm bảo sự lựa chọn đúng với ý chí của cử tri khi bầu cử. Nóicách khác, nó đảm bảo sự thống nhất giữa hành vi lựa chọn và suy nghĩ, nhận thức của cửtri. Tuy nhiên, John Stuart Mill từng cho rằng việc bỏ phiếu nên diễn ra cơng khai để chomọi người sẽ cùng một mục đích chung hơn là lợi ích cá nhân. Nhưng nhiều ý kiến chorằng bỏ phiếu cơng khai mang tính tiêu cực nhiều hơn tích cực, đặc biệt là làm cho cử triphải chịu áp lực từ những chủ thể có quyền lực muốn tiếp tục để duy trì quyền lực. Vìthế, bỏ phiếu kín được xem là nguyên tắc tiến bộ, dân chủ.

Tóm lại, các nguyên tắc bầu cử là những tư tưởng chủ đạo, mang tính xuyên suốtcả hoạt động xây dựng pháp luật và hoạt động áp dụng pháp luật. Việc tn thủ cácngun tắc bầu cử khơng ngồi mục đích đảm bảo ý chí của nhân dân trong bầu cử.

3. Các hình thức bầu cử

Hệ thống bầu cử theo tỷ lệ đại diện: Nguyên lý chung của hệ thống bầu cử theo tỷ lệ đại diện là việc chuyển số phiếu mà một đảng chính trị nhận được trong bầu cử thành số ghế tương ứng trong cơ quan lập pháp cho đảng đó. Có hai phương pháp bầu cử phổ biến theo tỷ lệ đại diện là phương pháp tỷ lệ đại diện theo danh sách và phương pháp bầu cử lá phiếu duy nhất có thể chuyển nhượng Một nguyên tắc chung đối với hệ thống bầu cử theo tỷ lệ đại diện là mỗi khu vực bầu cử phải được bầu nhiều hơn một đại biểu. Hệ

</div><span class="text_page_counter">Trang 9</span><div class="page_container" data-page="9">

thống bầu cử theo tỷ lệ đại diện được nhiều nước Mỹ Latin, châu Phi và châu Âu sử dụng, và đại bộ phận những nước đó áp dụng phương pháp tỷ lệ đại diện theo danh sách.

Hệ thống bầu cử hỗn hợp hoặc song song: Có thể thấy, hai hệ thống bầu cử phổ biến trên thế giới đều có điểm lợi thế và khiếm khuyết nhất định. Do đó, nhiều nước đã cố gắng thiết kế hệ thống bầu cử của mình bằng cách khai thác tối đa những lợi thế của cả hai hệ thống và giảm thiểu điểm khiếm khuyết của chúng. Các hệ thống bầu cử - nếu khơng nằm hồn toàn vào một trong hai hệ thống đã đề cập - thì sẽ là loại hỗn hợp, phái sinh từ hai loại cơ bản trên. Hệ thống song song cũng là một dạng hệ thống hỗn hợp, cử tri lựa chọn bầu đại biểu của mình thơng qua hai hệ thống bầu cử tỷ lệ đại diện theo danh sách và hệ thống bầu cử theo số nhiều/đa số.

<b>CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG BẦU CỬ HIỆN NAY </b>

<b>1. Thực trạng bầu cử của một số nước trên thế giới</b>

Hiện nay hầu hết các quốc gia trên thế giới đều áp dụng nguyên tắc bầu cử phổ thông, tất cả mọi người đều có quyền bầu cử mà khơng phân biệt tơn giáo , giới tính , địa vị hay giàu nghèo.Ví dụ Singapore tuổi bầu cử là 21,Uzerberkistan 25 tuổi mới được bỏ phiếu.

Bầu cử ở Úc là bầu cử bắt buộc (bị phạt tiền nếu không tham gia) và ưu tiên (cử triđánh số ưu tiên chọn lựa trên các ứng viên). Dân biểu được bầu dựa trên số dân với mỗi đơn vị bầu cử chọn ra một dân biểu.

Ngoài ra, hệ thống bầu cử theo nguyên tắc “ai nhiều phiếu nhất là thắng” thuần túychủ yếu còn tồn tại ở Vương quốc Anh và các quốc gia vốn từng là thuộc địa của Anh như Ca-na-đa, Ấn Độ và Hoa Kỳ. Các quốc gia trên ưu tiên sử dụng nguyên tắc này bởi đó là nguyên tắc phù hợp cho các quốc gia theo chế độ đa đảng. Hệ thống này là một trong những yếu tố góp phần tạo ra tình hình hai đảng lớn thay nhau cầm quyền

Nhật Bản có ba hình thức bầu cử: tổng tuyển cử tại Hạ viện được tổ chức bốn năm một lần (trừ khi Hạ viện bị giải tán trước đó), bầu cử thượng viện được tổ chức ba năm một lần để chọn một nửa số thành viên và bầu cử ở địa phương được tổ chức bốn năm một lầncho các văn phòng ở tỉnh và hạt. Tuổi bỏ phiếu tối thiểu trong hệ thống bầu cử không bắt

</div><span class="text_page_counter">Trang 10</span><div class="page_container" data-page="10">

buộc của Nhật Bản đã giảm từ hai mươi xuống còn mười tám tuổi- Cử tri phải đáp ứng yêu cầu cư trú ba tháng trước khi được phép bỏ phiếu.

<b>2. Thực trạng bầu cử tại Việt Nam</b>

Bầu cử ở Việt Nam là quá trình các cử tri đưa ra quyết định của họ theo các cáchthức mà pháp luật quy định để chọn ra các đại biểu đại diện cho mình nắm giữ các chứcvụ trong cơ quan dân cử của chính quyền ở trung ương và địa phương trong phạm vi lãnhthổ của Việt Nam. Việc bầu cử ở Việt Nam gồm bầu cử đại biểu Quốc hội (ở Trungương) và bầu cử Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp (ở địa phương).

Theo quy định của Hiến pháp năm 2013, nhiệm kỳ của Quốc hội mỗi khóa là nămnăm. Tương tự, năm năm cũng là nhiệm kỳ của Hội đồng nhân dân các cấp chính vì vậycứ 5 năm một lần, ở Việt Nam lại định kỳ tiến hành bầu cử đại biểu Quốc hội và Hộiđồng Nhân dân các cấp.<small>6</small>

Tại Việt Nam, các cuộc bầu cử có tính chất pháp lý rất quan trọng, đó là một khâuquan trọng để thành lập các cơ quan quyền lực nhà nước từ trung ương đến địa phương.Là phương thức quan trọng để nhân dân thực hiện quyền lực của mình. "Nhân dân thựchiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại diện thông qua Quốchội, Hội đồng nhân dân và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước".<small>7</small>

Trong một nền dân chủ, quyền lực của nhà nước chỉ được thực thi khi có sự nhất trícủa người dân. Cơ chế căn bản để chuyển sự nhất trí đó thành quyền lực nhà nước là tổchức bầu cử tự do và công bằng. Điều 7 Hiến pháp 2013 khẳng định các ngun tắc bầucử “phổ thơng, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín”. Các nguyên tắc này thống nhất vớinhau, đảm bảo cho cuộc bầu cử khách quan, dân chủ, thể hiện đúng nguyện vọng của cửtri khi lựa chọn người đại diện cho mình. Hiến pháp cũng ghi nhận và phát triển quyềnbầu cử, ứng cử với tư cách là quyền chính trị cơ bản của công dân. Đặc biệt, Điều 117Hiến pháp lần đầu tiên có quy định về Hội đồng bầu cử quốc gia – cơ quan do Quốc hội<small>6</small> Bùi Hải Thiêm (2011), “So sánh một số hệ thống bầu cử trên thế giới”, Tạp chí nghiên cứu lập pháp

<small>7</small> Điều 6, Hiến pháp 2013

</div>

×