Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (185.81 KB, 14 trang )
<span class="text_page_counter">Trang 1</span><div class="page_container" data-page="1">
<small>Scan to open on Studocu</small>
<small>Scan to open on Studocu</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 2</span><div class="page_container" data-page="2">3 Phương pháp nguyên cứu ...3
Chương II Phần nội dung ...4
1 Tích lũy tư bản ...4
1.1 Bản chất của tích lũy tư bản ...4
1.2 Những nhân tố ảnh hưởng đến quy mơ tích lũy...4
1.3 Một số hệ quả của tích lũy tư bản ...6
2 Vai trị của tích lũy tư bản đối với sự phát triển của doanh nghiệp ...7
3 Liên hệ thực tiễn với nền kinh tế Việt Nam ...11
Chương III Phần kết luận ...12
</div><span class="text_page_counter">Trang 4</span><div class="page_container" data-page="4">MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài
Đối với mỗi doanh nghiệp nào, mục tiêu cao nhất là phát triển doanh nghiệp mạnh mẽ, thu lại lợi nhuận lớn, từ đó phát triển nền kinh tế, tạo ra nhiều của cải vật chất cho xã hội. Để thực hiện được mục tiêu này, trước hết cần thực hiện tái sản xuất mở rộng. Mà muốn tái sản xuất mở rộng thì cần phải tích lũy. Tích lũy là nguồn gốc của q trình tái sản xuất quy mơ rộng tư bản chủ nghĩa thơng qua việc chuyển hóa giá trị thặng dư thành tư bản phụ thêm để tiếp tục mở rộng sản xuất kinh doanh bằng việc mua thêm hàng hóa sức lao động , mở rộng nhà xưởng, mua thêm nguyên vật liệu, trang bị thêm máy móc, .... Trong xã hội xã hội chủ nghĩa chúng ta có quy luật tích lũy xã hội chủ nghĩa. Sự tích lũy đó qui định việc sử dụng giá trị thặng dư để tiếp tục mở rộng sản xuất tăng thêm tài sản nhằm đạt được mục đích là thu được lợi nhuận cao nhất . Lợi nhuận càng lớn thì vốn càng lớn, vốn càng lớn thì việc tái sản xuất mở rộng càng nhanh, từ đó làm cho doanh nghiệp ngày càng phát triển. Dựa vào nguồn vốn nhiều hay ít, mà các nhà đầu tư, sản xuất mới xác định được quy mô làm ăn lớn hay nhỏ, xác định được mặt hàng của riêng mình. Đồng thời, vốn cũng là cơ sở quyết định cho việc đầu tư vào tư liệu sản xuất như máy móc, thiết bị hỗ trợ,… th nhân cơng lao động, từ đó doanh nghiệp có thể phát triển, mở rộng, tăng năng suất tới mức tối ưu. Muốn biết được tích lũy tư bản có vai trị quan trọng như thế nào đối với doanh nghiệp ? Hiện trạng tích lũy tư bản của Nhà nước trong nền kinh tế ? Để đưa ra câu hỏi cho những câu hỏi trên, em đi sâu vào nghiên cứu đề tài “ Vai trị của tích lũy tư bản đối với sự phát triển của doanh nghiệp – liên hệ thực tiễn nền kinh tế Việt Nam.
2. Mục đích nguyên cứu, ý nghĩa đề tài
- Giúp mọi người hiểu được bản chất, động cơ của tích lũy tư bản . - Đi sâu phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến tích lũy tư bản
- Vai trị của tích lũy đối với sự phát triển doanh nghiệp
- Tìm ra được những biện pháp gia tăng quy mơ tích lũy đối với doanh nghiệp
</div><span class="text_page_counter">Trang 5</span><div class="page_container" data-page="5">- Mang đến cái nhìn tổng quan về hiện trạng tích lũy tư bản ở nước ta hiện nay 3. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp chính là phương pháp nghiên cứu lý thuyết dựa trên tài liệu có sẵn từ trước như Giáo trình Kinh tế chính trị Mac-Lê nin, các loại tài liệu trên mạng .
NỘI DUNG 1. Tích lũy tư bản
1.1 Bản chất của tích lũy tư bản
Trước khi đi vào tìm hiểu cụ thể về tích luỹ tư bản, chúng ta cần phải hiểu định nghĩa tư bản là gì. Tư bản là sở hữu về vật chất thuộc về cá nhân hay tạo ra bởi xã hội.” Nói một cách đơn giản, tư bản là giá trị có bản năng tự tăng lên mà người chủ của nó không phải tham gia lao động. Để chỉ ra bản chất của tích lũy tu bản, càn nghiên cứu về tái sản xuất. Trong thực tế nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, quá trình sản xuất liên tục được lặp đi lặp lại không ngừng. Quá trình sản xuất được lặp đi lặp lại khơng ngừng được gọi là tái sản xuất. Tái sản xuất có hai hình thức chủ yếu là tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng. . Tái sản xuất giản đơn là quá trình tái sản xuất được lặp lại với quy mô như cũ, thường gắn liền và là đặc trưng của nền sản xuất nhỏ. Đây khơng phải hình thái điển hình của chủ nghĩa tư bản. Khát vọng của các tư bản là làm sao có được nhiều giá trị thặng dư, vì thế mà thay vì dùng tồn bộ thặng dư cho tiêu dùng các nhân, giữ ngun quy mơ sản xuất thì các tư bản chuyển sang quy mô tái sản xuất mở rộng. Bản chất thực sự của tích lũy tư bản là quá trình tái sản xuất mở rộng. Quá trình tái sản xuất mở rộng tư bản chủ nghĩa thơng qua việc chuyển hóa giá trị thặng dư thành tư bản phụ thêm để tiếp tục mở rộng sản xuất kinh doanh bằng việc mua thêm hàng hóa sức lao động, mở rộng nhà xưởng, mua thêm nguyên vật liệu, trang bị thêm máy móc,.... tức là nhà tư bản hay các doanh nghiệp sẽ không sử dụng hết giá trị thặng dư cho việc tiêu dùng cá nhân mà biến nó thành tư bản phụ thêm.
1.2 Những nhân tố ảnh hưởng đến quy mơ tích lũy
Với khối lượng giá trị thặng dư nhất định, quy mơ tích lũy tư bản phụ thuộc vào tỷ lệ phân chia và tích lũy tiêu dùng. Nếu tỷ lệ giữa tích lũy và tiêu dùng đã
</div><span class="text_page_counter">Trang 6</span><div class="page_container" data-page="6">được xác định thì quy mơ tích lũy tư bản phụ thuộc vào khối lượng giá trị thặng dư. Các nhân tố ảnh hưởng đến quy mơ tích lũy là trình độ khai thác sức lao động, năng suất lao động, sử dụng hiệu quả máy móc, đại lượng tư bản úng trước. Trình độ khai thác sứ lao động : Tỷ suất giá trị thặng dư tăng sẽ tạo tiền đề để tăng giá trị thặng dư, từ đó mà tạo điều kiện để tăng quy mơ tích lũy. Ngồi các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối và phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối, nhà tư bản còn sử dụng các biện pháp cắt xén tiền cơng, tăng ca tăng kíp, tăng cường độ lao động để nâng cao tỷ suất giá trị thặng dư. Các biện pháp này được các tư bản sử để sản xuất ra được nhiều giá trị thặng dư, các nhà tư bản dùng mọi cách để khai thác được nhiều sức lao động từ công nhân. Nhưng người cơng nhân vẫn cảm thấy tiền cơng mình nhận được là đúng với sức lao động của mình.
Năng suất lao động xã hội : Khi năng suất lao động tăng làm cho giá trị tư liệu sinh hoạt giảm xuống. Khi đó, tiền công của công nhân cũng sẽ bị giảm, kéo theo sự giảm giá trị của sức lao động. Cùng với đó thù giá cả tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng cũng giảm. Từ đó làm cho các nhà tư bản thu được nhiều giá trị thặng dư hơn, góp phần tạo điều kiện cho phép tăng quy mơ tích lũy.
Sử dụng máy móc hiệu quả : C.Mac gọi việc này là chênh lệch giữa tư bản sử dụng và tư bản tiêu dùng. Máy móc được sử dụng tồn bộ tính năng của nó vào trong quá trính sản xuất, nhưng giá trị hao mòn và sửa chữa của chúng nhỏ, song giá trị được chuyển vào giá trị sản phẩm qua khấu hao. Sự chênh lệch giữa tư bản sử dụng và tư bản đã tiêu dùng được hình thành từ đó. Máy móc thiết bị càng hiện đại thì cơng suất của nó càng lớn và càng làm được nhiều việc, cịn là làm việc không công. Sự phục vụ không công ấy được các nhà tư bản nắm lấy và làm cho chúng hoạt động như một lực lượng phục vụ sản xuất. Chúng được tích lũy lại cùng với tăng quy mơ tích lũy tư bản. Đồng thời , sự lớn lên không ngừng của quỹ khấu hao trong khi chưa cần thiết phải đổi mới tư bản cố định cũng trở thành nguồn tài chính có thể sử dụng cho việc mở rộng thêm sản xuất để mang về thêm giá trị thặng dư.
Đại lượng tư bản ứng trước : Tư bản ứng trước là tổng thể cảu tư bản bất biến và tư bản khả biến. Nếu bộ phận tư bản khả biến càng lớn thì khối lượng giá trị
</div><span class="text_page_counter">Trang 7</span><div class="page_container" data-page="7">thặng dư càng lớn, nhà tư bản có thêm tư bản để mua thêm nhiều nguyên liệu sản xuất,.. từ đó mở rộng thêm quy mơ sản xuất. Cùng thị trường thuận lợi, hàng hóa ln được bán, tư bản ứng trước càng lớn sẽ1 là tiền đề cho tăng quy mơ tích lũy. Vậy quy mơ tích lũy của tư bản ứng trước càng lớn thì quy mơ tích lũy tư bản càng lớn.
1.3 Một số hệ quả của tích lũy tư bản
Đầu tiên, tích lũy tư bản làm tăng cấu tạo hữu cơ tư bản. Cấu tạo hữu cớ tư bản là cấu tạo giá trị được quyết địn bởi cấu tạo kỹ thuật và phản ánh sự biến đổi của cấu tạo kỹ thuật của tư bản. C.Mác cho rằng nến sản xuất có thể được quan sát qua hình thái hiện vật. Cũng cso thể quan sát qua hình thái giá trị. Nếu quan sát qua hình thái hiện vật thì mối quan hệ giữa số lượng tư liệu sản xuất và số lượng sức lao động được coi là cấu tạo kỹ thuật. Nếu quan sát qua hình thái giá trị thì nó phản ánh mối quan hệ tỷ lệ giữa tư bản bất biến và tư bản khả biến. Tỷ lệ giá trị này được gọi là cấu tạo giá trị hữu cơ. Cấu tạo hữu cơ ln có xu hướng tăng do cấu tạo kỹ thuật tăng về lượng.
Thứ hai, tích lũy tư bản làm tăng tích tụ và tập trung tư bản. Trong quá trình tái sản xuất tư bản chủ nghĩa, quy mô tư bản cá biệt tăng lên thông qua quá trính tích tụ và tập trung tư bản. Tích tụ tư bản là sự tăng quy mô của tư bản nhờ vào q trình tích luỹ tư bản của từng nhà tư bản riêng lẻ. Tích tụ tư bản làm tăng quy mô tư bản cá biệt đồng thời làm tăng thêm tư bản xã hội do giá trị thặng dư được biến thành tư bản phụ thêm. Tích tụ tư bản là kết quả trực tiếp của tích lũy tư bản. Còn tập trung tư bản tuy cũng là là sự tăng quy mô của tư bản chủ nghĩa nhưng lại nhờ vào sự hợp nhất, sát nhập nhiều tư bản nhỏ sẵn có trong xã hội thơng qua tự nguyện sát nhập hoặc cạnh tranh, thơn tính lẫn nhau. Tích tụ tư bản và tập trung tư bản đều góp phần tạo tiền đề để nhà tư bản thu được nhiều giá trị thặng dư hơn.
Thứ ba, q trình tích lũy tư bản không ngừng làm chênh lệch giữa thu nhập của nhà tư bản với thu nhập của người lao động làm thuê cả tuyệt đối lẫn tương đối. Thu nhập của các nhà tư bản có được ln lớn hơn gấp nhiều lần so với thu nhập dưới dạng tiền của người lao động làm thuê. Của cải xã hội sẽ tập trung vào tay các nhà tư bản, người lao động làm thuê về lâu dài sẽ bóc lột nặng nề về sức lao đơng để có được của cải. C.Mác gọi thực tế này là bần cùng hóa người lao động. Cùng với sự
</div><span class="text_page_counter">Trang 8</span><div class="page_container" data-page="8">gia tăng quy mô sản xuất và cấu tạo hữu cơ tư bản, tư bản khả biến giảm dẫn tới nguy cơ thừa nhân khẩu. Do đó q trình tích lũy tư bản có tính hai mặt, một mặt thể hiện sự tích lũy giàu sang về phía giai cấp tư sản, và mặt khác tích lũy sự bần ùng về phía giai cấp cơng nhân làm th.
2. Vai trị của tích lũy tư bản đối với sự phát triển của doanh nghiệp
Trong bất cứ nền kinh tế nào từ trước đến nay, muốn tồn tại lâu dài trong thị trường thì doanh nghiệp luôn luôn phát triển và không ngừng đổi mới để phù hợp với thị trường. Muốn doanh nghiệp có thể phát triển được thì doanh nghiệp đó phải ln mở rộng quy mô sản xuất để tạo ra được giá trị thặng dư. Nhưng trước hết doanh nghiệp cũng cần có một khoản tư bản có từ trước để các doanh nghiệp xác định được quy mô làm ăn lớn hay nhỏ, xác định được mặt hàng riêng của mình. Đồng thời khoản tư bản này cũng là cơ sở quyết định cho việc đầu tư vào tư liệu sản xuất như máy móc, thiết bị hỗ trợ, thuê người lao động,.... từ đó doanh nghiệp mới có thể phát triển, mở rộng quy mô sản xuất, tăng năng năng suất lên mức tối ưu. Khoản tư bản có từ trước này được gọi là vốn. Ở quá trình tái sản xuất mở rộng của các doanh nghiệp, yêu cầu vốn phải tăng mà khơng cịn đi vay được như ban đầu nữa thì bắt buộc doanh nghiệp phải tạo q trình tích lũy tư bản. Q trình tích lũy tư bản trong doanh nghiệp là tích lũy vốn và không ngừng mở rộng sản xuất và tăng thêm tài sản cho doanh nghiệp. Tích luỹ là nguồn duy nhất để thực hiện tái sản xuất mở rộng và là nguồn duy nhất để đảm bảo sản xuất không ngừng được trang bị bằng những công nghệ, kĩ thuật hiện đại nhất. Tích luỹ tư bản hiệu qủa là điều kiện và là động cơ chính phát triển sản xuất với quy mơ và hiệu quả ngày càng cao. Tích luỹ tư bản làm cho quy mô vốn ngày càng tăng, từ đó các doanh nghiệp sẽ có điều kiện để đầu tư vào cải tiến kĩ thuật, ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ để giành được lợi thế trong cạnh tranh. Nếu các doanh nghiệp hiểu được bản chất của tích luỹ tư bản, nắm được các nhân tố quy mơ tích luỹ, nhờ vậy có thể vận dụng trong sản xuất kinh doanh để tăng vốn cũng như sử dụng vốn có hiệu quả trong kinh tế. Nhờ vào tích luỹ tư bản mà năng suất lao động xã hội sẽ tăng lên, như vậy nền kinh tế cũng sẽ phát triển tích cực hơn. Đồng thời, khấu hao tư liệu sản xuất sẽ tăng, tránh được những hao mịn vơ hình, có ý nghĩa lớn trong việc tăng tích luỹ vốn sản xuất và sử dụng tư liệu sản xuất có hiệu quả. Để nắm được những bản chất của tích
</div><span class="text_page_counter">Trang 9</span><div class="page_container" data-page="9">lũy tư bản, các doanh nghiệp cũng cần phải biết được động cơ của tích lũy tư bản. Từ đó mới vận dụng vào trong q trình phát triển. Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, các doanh nghiệp chịu sự tác động của quy luật cạnh tranh và quy luật giá trị thặng dư, nên họ phải không ngừng cải tiến và áp dụng những thành tựu, công nghệ kĩ thuật tối tân nhất. Một mặt để tránh hao mịn vơ hình do sự phát triển của khoa học kĩ thuật, mặt khác để giảm giá trị hàng hố nhằm nâng cao tính cạnh tranh của sản phẩm của đơn vị mình trên thị trường nếu như muốn giành thắng lợi và tồn tại, phát triển. Máy móc hiện đại càng được sử dụng nào nhiều cũng đồng thời với việc sử dụng ít hơn sức lao động. Và như vậy cấu tạo kĩ thuật của tư bản ngày càng tăng, do đó cấu tạo giá trị của tư bản phản ánh cấu tạo kĩ thuật cũng tăng kéo theo cấu tạo hữu cơ của tư bản tăng. Q trình tích lũy tư bản sẽ không ngừng làm tăng cấu tạo hữu bên trong doanh nghiệp. Không chỉ bị ảnh hưởng bỡi những yếu tố bên trong, doanh nghiệp còn bị ảnh hưởng bới những quy luật kinh tế bên ngồi. Tích lũy tư bản có động cơ bắt nguồn chủ yếu của hai quy luật là quy luật giá trị thặng dư và quy luật cạnh tranh. Quy luật giá trị thặng dư : các doanh nghiệp ln có xu hướng quay trở lại tái sản xuất mở rộng bởi ham muốn về giá trị thặng dư, lợi nhuận là vô hạn. Để làm được điều này, vốn bắt buộc phải tăng, đồng nghĩa với việc nhà tư bản phải tìm nguồn vốn, nâng cao năng suất lao động, m’….. Quy luật cạnh tranh: Để giữ sức cạnh tranh bền vững trong tương lai. Nếu một doanh nghiệp mãi khơng chịu lớn, khơng phát triển thì ắt sẽ bị đào thải, thu bé đi. Muốn có được vị trí nhất định, giành được lợi thế trong thị trường bn bán, các doanh nghiệp sẽ tìm đến việc đổi mới thiết bị máy móc, đặc biệt là trong thời kì khoa học kĩ thuật phát triển như hiện nay. Như vậy, yêu cầu về vốn vẫn là yêu cầu hàng đầu được đặt ra đối với mỗi doanh nghiệp. Cả hai quy luật trên, các doanh nghiệp đều cần đến nguồn vốn. Nếu doanh nghiệp đi vay vốn từ các ngân hàng thì sau này phải trả cả phần tiền gốc lẫn phần tiền lãi. Vậy nếu các doanh nghiệp muốn có vốn riêng mình thì cách duy nhất chính là tích lũy tư bản. . Q trình tích luỹ tư bản là q trình tích tụ và tập trung tư bản. Tích tụ và tập trung tư bản: Một trong những quy luật chung của tích luỹ tư bản là q trình tích tụ và tập trung tư bản ngày càng tăng. Tích tụ tư bản là sự tăng thêm quy mô của tư bản cá biệt bằng cách tư bản hoá giá trị thặng dư. Còn tập trung tư bản là sự tăng thêm quy mô tư bản cá
</div><span class="text_page_counter">Trang 10</span><div class="page_container" data-page="10">biệt bằng cách liên kết hay sáp nhập những tư bản cá biệt có sẵn trong xã hội thành một tư bản cá biệt khác lớn hơn. Như vậy, tích tụ tư bản sẽ giúp doanh nghiệp thêm quy mô của tư bản bằng việc biến một phần giá trị thặng dư thành vốn đầu tư vào chu kỳ sản xuất tiếp theo. Tích tụ tư bản là kết quả tất yếu của tích tích luỹ tư bản. Một mặt đó là do yêu cầu của quy luật kinh tế của cạnh tranh của tiến bộ kĩ thuật. Đồng thời, do khối lượng giá trị thặng dư mà doanh nghiệp tạo ra ngày càng lớn là điều kiện để đẩy mạnh tích tụ tư bản mở rộng sản xuất. Cịn tập trung tư bản xảy ra trong qua trình tích luỹ tư bản. Đó là sự tập trung các doanh nghiệp nhỏ lại với nhau tạo thành một doanh nghiệp lớn. Chúng ta thấy, sản xuất và tích luỹ tư bản càng phát triển thì tín dụng và cạnh tranh hai cái đòn bẩy mạnh nhất của tập trung càng phát triển. Bên cạnh đó, những tiến bộ của tích luỹ làm tăng thêm vật liệu cho sư tập trung tức là làm tăng thêm tư bản biệt, và nhu cầu xã hội về những phương tiện kĩ thuật hiện đại, những chiến lược kinh doanh lớn cần được thực hiện thì trước đó cần phải có sự tập trung tư bản. Tập trung tư bản có thể được thực hiện thông qua cạnh tranh theo kiểu “cá lớn nuốt cá bé” hoặc do những ưu thế của việc sát nhập, và do cạnh tranh thúc đẩy mà các doanh nghiệp tự nguyện liên kết với nhau, hình thành những tập đồn lớn, cơng ty lớn, sản xuất với quy mơ lớn, nâng cao được tính cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường. Điều này đồng nghĩa với việc, nó sẽ dùng ưu thế đó để thơn tính tư bản của những doanh nghiệp cạnh tranh với nó sau khi tác động làm cho nó bị phá sản hoặc tự nguyện tham gia liên kết với mình. Sự tập trung này sẽ kết thúc nếu như tất cả các doanh nghiệp đều tập trung lại để phát triển một ngành duy nhất. Ta nhận thấy tích tụ tư bản và tập trung tư bản đều làm tăng quy mô của tư bản cá biệt. Tích tụ tư bản và tập trung tư bản có mối quan hệ mật thiết với nhau thúc đẩy nhau phát triển. Nếu như tích tụ tư bản làm tăng quy mô, sức mạnh của mỗi doanh nghiệp, do đó cạnh tranh sẽ gay gắt hơn dẫn đến tập trung hơn, còn tập trung tư bản lại tạo điều kiện thuận lợi cho tăng cường tiềm lực cạnh tranh, chủ động hơn trong các hoạt động sản xuất kinh doanh vì thế mà thúc đẩy tích tụ. Ảnh hưởng qua lại giữa tích tụ và tập trung tư bản làm cho tích luỹ tư bản ngày càng tăng. Tuy nhiên ta cũng thấy tích tụ và tà tập trung tư bản không đồng nhất với nhau. Nó khơng chỉ khác nhau về chất mà cịn khác nhau về lượng.Trong khi nguồn của tích tụ là giá trị thặng dư ; tích tụ vốn làm tăng đồng thời cả vốn của các doanh
</div>