Tải bản đầy đủ (.pdf) (30 trang)

văn minh ấn độ

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (6.27 MB, 30 trang )

<span class="text_page_counter">Trang 1</span><div class="page_container" data-page="1">

<b>VĂN MINH ẤN ĐỘ1. Cơ sở hình thành nền văn minh </b>

<i><b>1.1. Vài nét về Ấn Độ </b></i>

<i>1.1.1. Vị trí địa lý và dân cư</i>

<i>* Vị trí địa lý: Thuộc khu vực Nam Á, phía Bắc giáp Trung Quốc, Nepal và</i>

Bhutan. Phía Đơng Bắc giáp Myanmar, Bangladesh. Phía Tây Bắc giáp Pakistan và Afghanistan. Phía Tây, Đơng và Nam giáp Ấn Độ Dương.

- Ấn Độ gồm 27 bang và 7 lãnh thổ liên bang. Lãnh thổ Ấn Độ nằm phần lớn trên tiểu lục địa Ấn Độ. Các bang phía Bắc và Đơng Bắc Ấn Độ nằm một phần trên dãy Himalaya. Phần còn lại ở phía bắc, Trung và Đơng Ấn Độ là vùng đồng bằng Ấn - Hằng phì nhiêu. Ở phía Tây là sa mạc Thar. Miền Nam gồm toàn bộ đồng bằng Deccan, được bao bọc bởi hai dãy núi ven biển Tây Ghats và Đông Ghats.

- Ấn Độ là nơi khởi nguồn của nhiều sông lớn, như sông Hằng, sông Brahmaputra, Yamuna, Godavari, Kaveri, Narmada và Krishna.

<i>* Dân cư:</i>

- Cư dân Ấn Độ, về thành phần chủng tộc, gồm hai loại chính: người Đraviđa chủ yếu cư chú ở miền Nam và người Arya chủ yếu cư trú ở miền Bắc. Ngồi ra cịn có nhiều tộc khác như người Hy Lạp, người Hung Nô, người Arập... Họ dần dần đồng hóa với các thành phần cư dân khác, do đó vấn đề bộ tộc ở Ấn Độ là một vấn đề hết sức phức tạp.

- Người dân xây dựng nên nền văn minh cổ xưa nhất ở Ấn Độ ven bờ sông Ấn là những người Đraviđa. Ngày nay những người Đraviđa chủ yếu cư trú ở miền nam bán đảo Ấn Độ. Khoảng 2000 năm TCN đến 1500 năm TCN có nhiều tộc người Aria Tràn vào xâm nhập và ở lại bán đảo Ấn. Sau này, trong q trình lịch sử cịn có nhiều tộc người khác như người Hy Lạp, Hung Nô, Ả Rập Saudi,

</div><span class="text_page_counter">Trang 2</span><div class="page_container" data-page="2">

Mơng Cổ xâm nhập Ấn Độ do đó cư dân ở đây có sự pha trộn khá nhiều dịng máu, nhiều chủng tộc, tơn giáo, ngơn ngữ và văn hóa phong phú đã tạo nên nền văn minh Ấn Độ.

<i>1.1.2. Điều kiện tự nhiên</i>

Ấn Độ là một bán đảo ở Nam Á, hai mặt Đông Nam và Tây Nam ngó ra Ấn Độ Dương, từ Đơng Bắc đến Tây Bắc có núi chắn ngang, trong đó có dãy Himalaya hùng vĩ.. Về mặt địa lí, bán đảo Ấn Độ lấy dãy núi Vinđya làm ranh giới và được chia làm 2 vùng Bắc – Nam với điều kiện tự nhiên khác biệt..

* Miền Bắc

- Địa hình: Có nhiều đồng bằng phù sa màu mỡ do được bồi tụ bởi các con sông lớn như: sông Ấn, sông Hằng…

- Miền cực Bắc Ấn Độ là tỉnh Casơmia. Phía Nam Casơmia là vùng Penjap, nghĩa là “vùng năm sông” (gồm sơng Ấn và bốn nhánh sơng chính là Ravi, Thelum, Chenar và Sutleji). Các sông lớn của Ấn Độ như sông Ấn, sông Hằng đều bắt nguồn từ dãy núi Himalaya, nhưng lại chảy theo hai hướng ngược nhau. Sông Ấn dài trên 1.500 km chảy theo hướng Tây Nam qua vùng Penjap Tây, đổ ra vịnh Ôman.

- Sông Hằng được coi là con sông linh thiêng nhất của Ấn Độ. Nó bắt nguồn từ dãy Himalaya, chồng ngang cả phía Bắc Ấn. Trong huyền thoại Ấn Độ, sông Hằng là người con gái của Himalaya, không những vậy, theo người Ấn Độ, sơng Hằng cịn là con sơng ở trên trời..

- Sơng ngịi: Miền Bắc có hai con sông lớn là sông Ấn và sông Hằng. Lưu vực sông Ấn là nơi phát nguyên của một trong những nền văn minh sớm nhất trong lịch sử nhân loại. Hai con sông Ấn và Hằng đã tạo nên những đồng bằng rộng lớn, phì nhiêu, rất thuận lợi cho trồng trọt, phát triển kinh tế nông nghiệp. (Lưu vực sông Ấn, sông Hằng là một trong những vựa lúa của thế giới hiện nay).

</div><span class="text_page_counter">Trang 3</span><div class="page_container" data-page="3">

- Khí hậu: quanh năm tuyết phủ, gió lạnh thấu xương, bão tuyết thường xuyên xảy đến, mùa hè băng tuyết tan lại tạo thành những cơn thác lũ đổ xuống chân núi, có thể cuốn lấp đi cả một vùng làng mạc dân cư.

- Tài nguyên: giàu có với khống sản, gỗ và đá. * Miền Nam

- Địa hình: Khác với miền Bắc là vùng đồng bằng phì nhiêu, màu mỡ thì miền Nam lại là vùng đất khơ cằn, chủ yếu là cao nguyên. Miền Nam Ấn là cao nguyên Đêcan rộng lớn, có nhiều rừng rú và khống sản, nằm giữa hai dãy núi Đơng Ghát và Tây Ghát, chạy dài dọc theo hai mặt Đông và Tây của bờ biển Ấn Độ Dương.

- Sông ngịi: Vùng cao ngun Đêcan có rất nhiều sơng ngịi chảy qua và đổ ra biển với con sông lớn nhất là Các ba đa, các con sông thường cao, dốc. Song mực nước của các con sông này không ổn định nên không thuận lợi cho giao thông cũng như thuỷ lợi.

- Khí hậu: khơ, nóng, đất đai khơ cằn, lượng mưa ít.

→ Tóm lại, Ấn Độ là một đất nước có điều kiện tự nhiên, điều kiện địa lý hết sức đa dạng nhưng cũng vô cùng khắc nghiệt. Đó là một tiểu lục địa mênh mơng, vừa có những miền núi cao đầy băng giá và rừng rậm âm u, vừa có những miền đại dương chói chang ánh nắng, vừa có những con sơng lớn với những đồng bằng trù phú lại vừa có những cao ngun và sa mạc khơ khan, nóng nực.

<i>1.1.3. Điều kiện kinh tế, chính trị - xã hội * Điều kiện kinh tế: </i>

- Từ thời cổ đại, ở Ấn Độ đã phát triển ngành nông nghiệp dựa trên kỹ thuật canh tác sử dụng cày, sức kéo và hệ thống thủy lợi, đào mương, đắp đập. - Cư dân biết trồng nhiều loại cây (lúa mì, lúa mạch,…) và chăn nuôi gia súc, gia cầm.

</div><span class="text_page_counter">Trang 4</span><div class="page_container" data-page="4">

- Thủ công nghiệp sớm xuất hiện với các ngành nghề như luyện kim, gốm, dệt, …

- Giao thương trong và ngoài nước phát triển, đơn vị đo lường thống nhất. Thị trường buôn bán mở rộng và mặt hàng vô cùng phong phú.

<i><b>Kinh tế Ấn Độ thời kì cổ đại</b></i>

<i>* Điều kiện chính trị - xã hội: </i>

- Ấn Độ là đất nước của thần linh, xã hội Ấn Độ, bị bao phủ bởi khói sương tơn giáo. Đó chính là tỉnh thần Ấn Độ: Tuân theo lẽ Đhácma, hướng tới Moksha (nhân vật anh hùng khao khát giải thoát) - sự giải thốt vĩnh hằng.

- Người Arian sau đó vượt qua Himalaya đến định cư, chiếm cứ vùng Bắc Ấn, tiếp thu nền văn hóa cao của người Dravidian, kết hợp với văn hóa q phái của mình, làm nên cuộc tổng hợp văn hoá đầu tiên trong lịch sử Ấn Độ, tạo nên những đặc trưng chính trị sơ khai.

- Người Arian tạo ra chế độ đẳng cấp Varna và luật Manu ra đời, định hình tình thần Ấn Độ.

- Luật Manu xuất hiện từ giữa thiên niên kỷ thứ nhất TCN, ban đầu tập hợp những quy định, những điều răn vừa mang tính pháp quyền, vừa chứa đựng màu

</div><span class="text_page_counter">Trang 5</span><div class="page_container" data-page="5">

sắc tôn giáo. Được truyền khẩu, bổ sung sửa chữa qua nhiều thế hệ, đến đầu Cơng ngun được hồn chỉnh thành Bộ luật 12 chương, 2685 điều. Nội dung là bộ luật bảo vệ uy quyền tuyệt đối cho đẳng cấp Bà la môn, bởi quan niệm các tu sĩ Bà la môn sinh ra sớm nhất, sinh ra từ đầu của thần Purusha, hiểu biết sâu sắc về kinh Vê đa, được quyền thống trị thế giới.

</div><span class="text_page_counter">Trang 6</span><div class="page_container" data-page="6">

<i><b>Hình ảnh chế độ đẳng cấp Varna, bộ luật Manu</b></i>

- Vào thiên niên kỉ II TCN, ở Ấn Độ đã hình thành nhà nước, có trung tâm đơ thị và thành lũy kiên cố, đây là khởi đầu cho nền chính trị Ấn Độ cổ trung đại phát triển đến tận ngày nay.

<i><b>1.2. Sơ lược lịch sử Ấn Độ cổ - trung đại </b></i>

<i>1.2.1. Thời kỳ văn minh sông Ấn (từ đầu thiên kỷ III đến giữa thiên kỷ II TCN)</i>

Từ khoảng đầu thiên kỉ II TCN, nhà nước Ấn Độ đã ra đời, nhưng cả giai đoạn từ đó cho đến khoảng giữa thiên kỉ II TCN, trước đây chưa được biết đến. Đến năm 1920 và 1921, nhờ việc phát hiện ra hai thành phố Harappa và Môhenjô Đarô cùng rất nhiều hiện vật bị chôn vùi dưới đất ở vùng lưu vực sông Ấn, người ta mới biết được thời kì lịch sử này. Nền văn minh ở hai thành phố cổ mang tính chất văn minh đơ thị rõ nét. Cụ thể:

- Những bản khắc chữ, những vật dụng sinh hoạt được chế tác tinh xảo, những con dấu bằng đá có khắc hình động vật, hình vị thần 3 mặt…

- Những phế tích cho thấy thành phố được quy hoạch rõ ràng, hệ thống cấp thoát nước quy củ trên bờ sông Indus và sông Ravi.

</div><span class="text_page_counter">Trang 7</span><div class="page_container" data-page="7">

- Thành phố được xây dựng bằng gạch, có nhà cao tầng, có những món đồ gốm, kho mỹ nghệ bằng vàng bạc, dụng cụ rất tốt bằng đồng thau, ngà voi và vải sợi được dùng để trao đổi thương mại.

- Chữ viết đã xuất hiện từ thời văn minh sông Ấn tối cổ này, nhưng đến nay vẫn chưa được giải mã đầy đủ.

→ Thời kì này được gọi là thời kỳ văn hóa Harappa hay văn minh lưu vực sông Ấn.

<i>1.2.2. Thời kỳ Vê đa (từ giữa thiên kỷ II đến giữa thiên kỷ I TCN)1.2.2.1 Kinh Vêđa</i>

Vêda là tuyển tập những bài ca, bài cầu nguyện, là sách khoa học phản ánh lịch sử văn hóa và kinh tế của xã hội Ấn Độ cổ đại bị chi phối bởi chế độ đẳng cấp Varna, luật Manu và vị trí thống trị của thuyết đa thần giáo: đạo Bàlamôn. Veđa là bộ Thánh kinh nổi tiếng gồm 4 tác phẩm.

+ Rig Vêđa gồm 1.028 bài thơ ca ngợi thần linh, được tăng lữ Bàlamôn ghi chép lại bằng lối tư duy trong sáng, chân thực, rất giàu giá trị thẩm mỹ, đây là nguồn gốc triết lý của Hinđu giáo sau này.

+ Shama Vêđa là tập hợp các bài ca dùng trong tế lễ,

+ Yagiua Vêđa ghi chép những lời hướng dẫn về nghi lễ chủ tế, khấn vái. + Athácva Vẽđa là những ghi chép nội dung các thẩn chủ, ma thuật. Tập Vẽđa cũng ghi chép những nội dung xã hội phong phú như cách thức chữa bệnh, uy quyền của đẳng cấp Bàlamôn, quyền lực của nhà vua, những bài thơ tả cảnh ngụ tình...

<i> 1.2.2.2 Dân cư, điều kiện xã hội:</i>

</div><span class="text_page_counter">Trang 8</span><div class="page_container" data-page="8">

Đây là giai đoạn lịch sử lớn, chủ nhân của giai đoạn văn minh này là chủng tộc người Arian.

Những cuộc di cư của người Arian cuối thiên niên kỷ II Tr.CN đã làm nên giai đoạn này trong lịch sử Ấn Độ.

Chế độ đẳng cấp Varna:

+ Lúc khởi nguyên mang ý nghĩa tổ chức và quản lý xã hội, góp phần xây dựng thể chế chính trị pháp quyền và thần quyền, có ý nghĩa tích cực.

+ Ngày nay, luật lệ hà khắc của chế độ đẳng cấp còn in dấu sâu đậm trong đời sống cư dân Ấn Độ hiện đại, bởi nó đã hóa thân vào giáo lý của đạo Hindu. Theo tư tưởng tơn giáo - chính trị thần quyền, chế độ Varna quy định mọi người phải tuân thủ theo trật tự thiên định: đẳng cấp cao nhất là Bàlamơn, sau đó là đẳng cấp vương cơng q tộc Kshatriya, đẳng cấp Vaishya là của thương nhân, nông dân, thợ thủ công, và cuối cùng là đẳng cấp Shudra. Quan hệ giữa các đẳng cấp này là quan hệ phục tùng tuyệt đối. Đây là tì vết khó xóa trong đời sống chính trị xã hội của Ấn Độ hiện nay.

<i> 1.2.3. Ấn Đô ; từ thế kỷ VI TCN – TK XII</i>

<i>* Ấn Độ từ thế kỷ VI TCN đến thế kỷ IV TCN: là thời kỳ hình thành các quốc gia</i>

sơ kỳ. Đây cũng là thời kỳ các vương quốc ở Ấn Độ tranh giành quyền bá chủ ở lưu vực sơng Hằng, trong đó vương quốc Magađa là vương quốc lớn mạnh nhất ở vùng Bắc Ấn.

Năm 327 TCN, sau khi tiêu diệt Ba Tư, quân đội Makêđônia do Alêchxăngđrơ chỉ huy đã tấn công Ấn Độ, tuy nhiên họ đã không thành công.

* <i>Ấn Độ từ thế kỷ IV đến thế kỷ II TCN</i>: Vương triều Môrya (321 – 187 TCN) do Sanđra Gúpta, biệt hiệu là Môrya (chim công) lập nên sau khi đánh thắng qn Makêđơnia, giải phóng đất nước. Đây là triều đại huy hoàng nhất trong

</div><span class="text_page_counter">Trang 9</span><div class="page_container" data-page="9">

lịch sử Ấn Độ cổ đại, đặc biệt giai đoạn cường thịnh là thời Asôca (273 – 236 TCN). Đạo Phật trở thành quốc giáo.

* <i>Ấn Độ từ thế kỷ II TCN đến thế kỷ IV sau công nguyên</i>:

Sau khi Asôca chết, vương triều Mơrya suy sụp nhanh chóng, nước Magađa thống nhất dần dần tan rã, đến năm 28 TCN thì diệt vong. Ấn Độ rơi vào tình trạng chia cắt trầm trọng. Tộc Cusan từ Trung Á vào chiếm miền Tây Bắc Ấn Độ, thành lập nước Cusan. Dưới thời vua Canixca (78 – 123) - vốn là một người tôn sùng đạo Phật, nên Phật giáo thời kỳ này cũng rất hưng thịnh. Sau khi Canixca chết, nước Cusan ngày càng suy yếu, đến thế kỷ V thì bị diệt vong.

<i>Thời trung đại</i>

* <i><b>Vương triều Gúp ta (từ thế kỷ IV đến thế kỷ VI)</b></i>: đây là thời kỳ xác lập chế độ phong kiến ở Ấn Độ. Giai đoạn này được xem là “Thời đại cổ điển” trong lịch sử Ấn Độ. Các phương diện chính trị - xã hội và nền văn hóa được định hình, trở thành bản sắc của Ấn Độ.

* <i><b>Vương triều Hác sa (thế kỷ VII đến thế kỷ XII)</b></i>: là thời kỳ tồn tại chế độ phong kiến phân tán ở Ấn Độ. Trong thời kỳ này, có một giai đoạn dưới thời trị vì của Hác sa, Ấn Độ trở thành một vương quốc tương đối hùng mạnh ở miền Bắc Ấn Độ, đến năm 648, khi Hác sa chết, quốc gia do ông dựng lên cũng tan rã theo. Từ đó cho đến thế kỷ XII là thời kỳ Ấn Độ liên tiếp ngoại tộc xâm chiếm. Đến năm 1200, toàn bộ miền Bắc Ấn Độ bị nhập vào Ápganixtan.

<i>1.2.4. Ấn độ từ thế kỷ XIII đến thế kỷ XIX</i>

Chia làm 2 thời kì:

- Thời kì Xuntan Đêli (1206 - 1526)

+ Năm 1206, viên tổng đốc của Ápganixtan đã tách miền Bắc Ấn Độ thành một nước riêng, tự mình làm vua, đóng đơ tại Đêli.

</div><span class="text_page_counter">Trang 10</span><div class="page_container" data-page="10">

+ Từ đó đến 1526, đã trải qua 5 thời kì, đều do người ngoại tộc hồi giáo thành lập.

+ Hồi quốc đã có sự khởi đầu của cơng cuộc phục hưng văn hóa Ấn Độ. + Do có sự hịa trộn giữa văn hóa Ấn - Hồi mà các cơng trình kiến trúc, âm nhạc, văn học, tín ngưỡng, trang phục mang tính tổng hợp.

Ápganixtan - Thời kì Mơgơn (1526-1857):

+ Nước Mơng Cổ do Thành Cát Tư Hãn thành lập 1206. Sau khi ông chết Mông Cổ chia thành nhiều nước

+ Từ thế kỉ XIII, người Mông Cổ ở Trung Á nhiều lần tấn công Ấn Độ + Năm 1526, Mông Cổ đánh chiếm thành Đêli, thành lập vương triều mới gọi là Mơgơn (Mơng Cổ)

+ Các vị hồng đế đã cố gắng lập quan hệ và hoàn thành sự thống trị của Hồi giáo.

+ Từ giữa thế kỉ XVIII, thực dân Anh bắt đầu chinh phục Ấn Độ

+ Đến năm 1849, Ấn Độ hoàn toàn dưới ách thống trị của Anh, vương triều Môgôn tan rã.

</div><span class="text_page_counter">Trang 11</span><div class="page_container" data-page="11">

Thành Cát Tư Hãn

<b>2. Thành tựu chủ yếu </b>

<i><b>2.1. Chữ viết </b></i>

- Chữ viết xuất hiện đầu tiên ở Ấn Độ được sáng tạo từ thời văn hóa Harappa. Tại các di chỉ thuộc nền văn minh sông Ấn, người ta đã phát hiện được hơn 3000 con dấu khắc chữ đồ hoạ dùng ghi âm và ghi vần, nhưng đến nay vẫn chưa giải mã được hết.

=> Ấn Độ là dân tộc có chữ viết vào sớm nhất thế giới.

- TK VI TCN, xuất hiện thêm kiểu chữ Kharosthi, Brami có nguồn gốc từ Tây Á.

- Khi đạo Hindu phát triển cực thịnh với thời kỳ Balamôn, tôn giáo này đã sáng tạo 1 thể loại chữ viết mới chữ Sanscrit - chữ Phạn, có hệ thống ngữ pháp phức tạp thường khơng có quy tắc, vì vậy nó đã được cải tiến và chỉnh sửa rất nhiều lần. Chữ Phạn là chữ viết rất quan trọng của nền văn minh sơng Ấn, nó lưu giữ tồn bộ các bộ kinh Vêđa, bộ luật Manu,... chữ Phạn trở thành chữ viết chính thức của Ấn Độ từ thế kỉ V TCN đến TK X sau CN.

</div><span class="text_page_counter">Trang 12</span><div class="page_container" data-page="12">

- Đạo Phật ra đời đã sử dụng chữ Pali để ghi lại kinh kệ của nhà Phật. Chữ Pali về sau cũng trở thành chữ tử ngữ, đến nay nó chủ yếu được dùng trong các nhà chùa (ở Thái Lan, Nêpan…).

- Từ thế kỷ X trở đi dần dần xuất hiện nhiều loại chữ viết khác nhau. Mỗi khu vực, mỗi vùng có một thứ chữ viết riêng. Tiếng Hinđi ra đời, trở thành ngơn ngữ chính thức ở vùng Bắc Ấn và là chữ phổ biến ở Ấn Độ cho đến ngày nay. Ở khu vực phía Bắc, cư dân dùng ngữ hệ Aryan, cịn ở phía Nam cư dân dùng ngữ hệ Đraviđa.

=> Đến nay, Ấn Độ là một trong những quốc gia có hệ thống chữ viết phức tạp nhất trên thế giới (Ấn Độ có 5 chữ viết được coi là chữ quốc gia trong đó có tiếng Anh).

2.2. Văn học * Sử thi:

Văn học Ấn Độ gắn liền với các bộ sử thi lớn nhỏ, cũng có giá trị tình thần, tơn giáo,... sâu sắc đối với người dân Ấn Độ xuyên suốt quá trình phát triển của nền văn minh này.

Trong sử thi, tinh thần Ấn Độ được thể hiện rất rõ qua bộ ba nhân vật anh hùng Yuhitira – Acjuna – Bhima. Trong văn hóa Ấn Độ, quan niệm về một người anh hùng phải là người đi tìm cái tuyệt đích vơ biên, nhằm hướng tới sự siêu thoát, hướng tới cõi Xuácgac. Dưới đây là một số sử thi tiêu biểu: - Sử thi Mahabharata: “Cái gì khơng có trong Mahabharata thì cũng khơng nhìn thấy ở đâu trên xứ sở Bharata”

+ Đặc điểm: Là sử thi lớn nhất thế giới về moi mặt như độ dài, nội dung, thời gian sáng tác, sức bao chứa và trường ảnh hưởng lớn lao

</div><span class="text_page_counter">Trang 13</span><div class="page_container" data-page="13">

+ Nội dung:

• Là sử thi nhưng phần cốt lõi gắn liền với chiến tranh chỉ được triển khai qua 14 ngày, chiếm không nhiều dung lượng của tác phẩm

• Phần dài nhất và sâu sắc nhất, khiến Mahabharata từ sử thi chiến trận biến thành sử thi luân lý đạo đức chính là ở tầng tầng lớp lớp những câu chuyện ngụ ngôn, những bài học giáo huấn đạo đức, những lời chiêm nghiệm sâu sắc về ý nghĩa cuộc sống được triển khai ở phần tiền chiến và hậu chiến

+ Ý nghĩa: Niềm tin của chiến binh trong Mahabharata chính là đạo lý: ở đâu có lẽ Đhácma, ở đó có chiến thắng

+ Vai trị:

+) Mahabharata chính là bách khoa tồn thư về đời sống Ấn Độ trong suốt chiều rộng không gian và chiều dài lịch sử, chứa đựng lẽ Đhácma theo tinh thần Ấn Độ.

+) Là pho biên niên sử khổng lồ của Ấn Độ, nó được bắt đầu vào khoảng TK V TCN và quá trình sáng tạo chỉ kết thúc 10 TK sau đó

+ Sự tồn tại và phát triển:

• Chiến trường Kurushêtra nổi tiếng là nơi diễn ra trận giao tranh khủng khiếp giữa phe Panđava và Đurđana cịn in dấu vết trên đât Ấn Độ ngày nay • Người Ấn Độ vẫn viết tiếp những trang mới cho sử thi, phần tiền chiến và phần hậu chiến với vô số huyền thoại, cổ tích, những lời giáo huấn sâu sắc trong sử thi vẫn là chuẩn mực văn minh Ấn Độ cho đến thời hiện đại

- Sử thi Ramayana

</div><span class="text_page_counter">Trang 14</span><div class="page_container" data-page="14">

+ Đặc điểm: Ra đời muộn hơn và ít thâm trầm hơn so với Mahabharata, nhưng lại phổ biến và ảnh hưởng sâu rộng hơn

+ Nội dung: Kể lại những kỳ tích của hồng tử Rama, sử thi Ramayana chứa đựng những chuẩn mực đạo lý và vẻ đẹp lý tưởng của thời đại

+ Ý nghĩa: Rama không chỉ ảnh hưởng đến mọi mặt của đời sống văn hóa Ấn Độ mà cịn tỏa sáng khắp Đơng Nam Á và thế giới, hóa thân thành Riêmkê của Campuchia, Xin xay của Lào, Rama Kiên của Thái Lan, Chuyện tình nàng Sita ở Việt Nam,...

* Thơ và kịch

- Thơ và kịch Ấn Độ kết tinh trong tài năng Kalidasa - “Kỳ công thứ nhất” trong văn học Ấn Độ, người được mệnh danh là “Chúa thơ”

Vở kịch Shakuntala: “Một tiếng làm đắm say nuôi dương và thỏa mãn được tâm hồn, một tiếng bao gồm được cả trời đất” – Goehte (Gớt)

-Nội dung:

+) Được khai thác từ Mahabharata, nhưng Kaliđasa đã thổi vào cốt truyện cũ luồng hơi thở mới. Tình yêu chân thực trong sáng đã phá vỡ tu luyện khắc khổ, xóa bỏ hàng rào đẳng cấp

+) Sau khi dẹp xong ma quỷ, vua Đusơnta (Dusyanta) sám hối đã gặp lại vợ con, con trai chàng nối nghiệp cha trị vì thiên hạ, trở thành vua Bharata nổi tiếng.

-Ý nghĩa: Đặc sắc nghệ thuật của vở kịch đã khiến nó trơr thành nguồn cảm hứng vô tận cho sáng tạo nghệ thuật

</div><span class="text_page_counter">Trang 15</span><div class="page_container" data-page="15">

*Văn học Ấn Độ thời hiện đại cũng đạt những thành tựu lớn. Nổi bật là R.Tango – “Kỳ công thứ hai” với tác phẩm “Thơ Dâng”, nhận giải thưởng Nobel Văn học thế giới năm 1913

- Nghệ thuật kiến trúc theo phong cách đạo phật :

+Thời vương triều Môrya, nghệ thuật kiến trúc đá mới bắt đầu phát triển mà các cơng trình tiêu biểu là cung điện, chùa, tháp, trụ đá...

· Tháp là cơng trình kiến trúc dùng để bảo tồn các di cốt của Phật. Trong số các tháp cịn giữ đến ngày nay, điển hình nhất là tháp Sanchi ở Trung Ân, được xây từ thế kỉ III TCN. (Tháp này xây bằng gạch, hình nửa quả cầu, cao hơn 16 m, xung quanh có lan can có 4 cửa lớn. Lan can và cửa đều làm bằng đá, được chạm trổ rất đẹp)

· Trụ đá cũng là một loại cơng trình kiến trúc để thờ Phật. (Những trụ đá này trung bình cao 15 m, nặng 50 tấn, trên đó chạm một hoặc nhiều con sư tử và các hình trang trí khác. Các sắc lệnh của Axơca thường được khắc trên các trụ đá đó) .

</div>

Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay
×