Tải bản đầy đủ (.pdf) (38 trang)

đề tài lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hạingoài hợp đồng theo bộ luật dân sự 2015

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (5.4 MB, 38 trang )

<span class="text_page_counter">Trang 1</span><div class="page_container" data-page="1">

<b>TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HIẾN***********</b>

<b>ĐỀ TÀI: LỖI TRONG TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠINGOÀI HỢP ĐỒNG THEO BỘ LUẬT DÂN SỰ 2015</b>

<b>Sinh viên thực hiện: Nguyễn Hoàng Kiều YếnMã số sinh viên: 221A320268</b>

<b>Gvhd: Nguyễn Viết TúLớp học phần: Law41402</b>

</div><span class="text_page_counter">Trang 2</span><div class="page_container" data-page="2">

<b>Mục lục </b>

LỜI MỞ ĐẦU...3

I. Mục tiêu và phương pháp nghiên cứu...4

1. Mục tiêu:...4

2. Phương pháp nghiên cứu:...4

3. Khái quát chung về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng...4

1. Khái niệm...4

2. Đặc điểm...5

3. Ý nghĩa...6

4. Nguyên tắc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng...6

5. Phân biệt trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng...9

6. Các loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng...10

7. Xác định thiệt hại được bồi thường...14

8. Hình thức và phương thức bồi thường...18

9. Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại và xác định người được hưởng bồi thường...19

II. Lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng...21

1. Định nghĩa...21

2. Hình thức lỗi...21

3. Vai trị của yếu tố lỗi...22

4. Nghĩa vụ hoàn lại trong một số trường hợp bồi thường thiệt hại phải dựa vào yếu tố lỗi...23

5. Các trường hợp không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng...23

III. Giải quyết tranh chấp bồi thường thiệt hại hợp đồng...25

1. Chủ thể có quyền khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại...25

2. Thẩm quyền giải quyết...26

3. Thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại...26

4. Trình tự thủ tục giải quyết tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng ...27

</div><span class="text_page_counter">Trang 3</span><div class="page_container" data-page="3">

IV. Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trên thực tế và bản án dân sự có liên quan.

BẢN ÁN 77/2017/DS-PT NGÀY 29/08/2017 VỀ TRANH CHẤP BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG DO TÀI SẢN BỊ XÂM PHẠM29

</div><span class="text_page_counter">Trang 4</span><div class="page_container" data-page="4">

Nguyễn Hoàng Kiều Yến-221A320268

<b>LỜI MỞ ĐẦU </b>

Trong kỷ nguyên hiện đại, các lĩnh vực kinh doanh, thương mại ngày càng lớn mạnh góp phần thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế một cách nhanh chóng. Và để thực hiện các giao dịch kinh doanh thương mại hay cả lĩnh vực dân sự thì khơng thể nào khơng nhắc đến hợp đồng. Hợp đồng ghi lại thỏa thuận các bên đề ra khi thực hiện giao kết và đảm bảo người tham gia kí kết hợp đồng phải tuân thủ thực hiện nghĩa vụ của mình như đã cam kết trong hợp đồng. Và trong quá trình thực hiện thì khơng thể tránh khỏi các tranh chấp về những vi phạm gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp giữa các bên. Trong hệ thống pháp luật, khái niệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng ngày càng được nhắc đến nhiều hơn vì tầm quan trọng và sự phức tạp của nó. Việc xác định và áp dụng tốt các cơ sở pháp lý , các loại lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng đòi hỏi sự hiểu biết sâu sắc trong lĩnh vực pháp luật.

Bài tiểu luận này sẽ tập trung khai thác về vấn đề Lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo Bộ luật Dân sự 2015. Tích cực đề cập đến các loại lỗi phổ biến thường gặp phải trong xử lý bồi thường thiệt hại, giúp hiểu rõ hơn về các pháp lý và quy trình xử lý bồi thường thiệt hại ngồi hợp đồng nhằm đưa ra các nhận định và giải pháp cụ thể trong việc xử lý bồi thường thiệt hại ngồi hợp đồng một cách minh bạch và chính xác. Bài tiểu luận có thể sẽ cịn nhiều thiếu sót, hy vọng sẽ mang lại giá trị tham khỏa và củng cố kiến thức về đề tài “Lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo Bộ luật Dân sự 2015”.

<b>your phone? Save</b>

to read later on your computer

Save to a Studylist

</div><span class="text_page_counter">Trang 5</span><div class="page_container" data-page="5">

<b>I.Mục tiêu và phương pháp nghiên cứu</b>

1. <b>Mục tiêu</b>:

- Xác định và phân tích các loại lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngồi hợp đồng. tìm hiểu sâu hơn về lỗi vô ý, lỗi cố ý, lỗi bất cẩn và tác động của từng loại lỗi đối với trách nhiệm bồi thường.

- Tìm hiểu cớ sở pháp lý và các quy định của Bộ luật Dân sự 2015 về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngồi hợp đồng. Trình bày các quy định khác biệt so với luật cũ, sự khác biệt giữa trách nhiệm hợp đồng và trách nhiệm ngoài hợp đồng.

- Nêu ưu điểm, nhược điểm của các quy định áp dụng trách nhiệm bồi thường ngoài hợp đồng, nêu rõ các hạn chế khó khăn khi thực hiện áp dung các cơ sở pháp lý có liên quan.

- Mục tiêu của bài tiểu luận là cung cấp kiến thức tổng quát về lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo Bộ luật Dân sự, với mong muốn nâng cao sự hiểu biết trong lĩnh vực pháp luật.

<b>2. Phương pháp nghiên cứu:</b>

- Tìm hiểu các cơ sở pháp lý về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng từ các văn bản pháp luật có liên quan.

- Phân tích các bản án liên quan đến lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.

- Xem xét các tài liệu liên quan bao gồm các bài viết chuyên ngành, tham khảo các ý kiến từ chuyên gia pháp lý.

- So sánh các quy định của Bộ luật Dân sự 2015 với các văn bản pháp luật khác.

<b>3. Khái quát chung về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng1. Khái niệm </b>

</div><span class="text_page_counter">Trang 6</span><div class="page_container" data-page="6">

- Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là trách nhiệm dân sự phát sinh giữa các chủ thể mà trước đó khơng có quan hệ hợp đồng hoặc tuy có quan hệ hợp đồng nhưng hành vi của người gây thiệt hại không thuộc về nghĩa vụ thi hành hợp đồng đã kí kết.

- Người nào có hành vi trái pháp luật xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền lợi hợp pháp của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường. (Điều 584 Bộ luật Dân sự 2015)

Ví dụ: A cho B thuê nhà làm trụ sở. Do sơ suất nên A làm cháy nhà mình và cháy lan sang nhà đã cho B thuê khiến cho B bị thiệt hại. Thấy rằng giữa A và B có quan hệ hợp đồng cho thuê nhà nhưng thiệt hại do A gây ra không xuất phát từ hợp đồng mà chỉ do sự bất cẩn của A. Vì vậy đây sẽ được xem là thiệt hại ngồi hợp đồng và B có quyền yêu cầu A phải bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.

<b>2. Đặc điểm</b>

- Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là loại trách nhiệm dân sự phát sinh bên ngoài, không phụ thuộc vào hợp đồng, mà chỉ cần một hành vi vi phạm pháp luật dân sự, cố ý hay vô ý gây thiệt hại cho người khác và hành vi này không liên quan đến bất cứ hợp đồng nào. Thiệt hại là yếu tố nền tảng cho trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.

- Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là trách nhiệm thuộc về những chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự, giữa người phải bồi thường và người được bồi thường. Việc xác định thiệt hại, chủ thể phải bồi thường, nguyên tắc, năng lực bồi thường,… được điều chỉnh bởi các quy định vủa pháp luật dân sự. Căn cứ phát sinh và nội dung của trách nhiệm là do pháp luật quy định, được ghi nhận trong những văn bản quy phạm pháp luật như Hiến pháp, Bộ luật Dân sự, các luật khác…

- Thiệt hại xảy ra có thể là thiệt hại về tài sản, sức khỏe, tính mạng, danh dự, nhân phẩm, uy tín. Nhưng người có trách nhiệm bồi thường chỉ phải tổn thất tài sản để bồi thường mà không phải chịu bất kỳ tổn thất tương tự nào về sức khỏe, tính mạng…

- Người có trách nhiệm bồi thường thiệt hại phải gánh chịu các thiệt hại quy ra bằng tài sản vào một số lượng tài sản nhất định để bù đắp thiệt hại cho người bị thiệt hại.

- Chấm dứt trách nhiệm bồi thường thiệt hại cũng là lúc kết thúc nghĩa vụ. Việc thực hiện xong và hoàn thành trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho

</div><span class="text_page_counter">Trang 7</span><div class="page_container" data-page="7">

người bị thiệt hại cũng là thời điểm mà quan hệ về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng chấm dứt.

- Thiệt hại được bồi thường cũng bao gồm thiệt hại trực tiếp, thiệt hại gián tiếp, thiệt hại hiện hữu vào thời điểm xảy ra hành vi gây thiệt hại, các thiệt hại trong tương lai có quan hệ nhân quả vơi hành vi gây thiệt hại.

<b>3. Ý nghĩa </b>

- Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có ý nghĩa bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho người có lợi ích (tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm,…) bị xâm hại.

- Nhằm giáo dục ý thức tuân thủ pháp luật, tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác. Đảm bảo tính răn đe để chủ thể tuân thủ các quy định của pháp luật, thực hiện các quy định này nghiêm chỉnh và có trách nhiệm hơn với hành vi của bản thân tránh gây thiệt hại đến lợi ích của người khác.

- Nhằm phòng ngừa các hành vi vi phạm pháp luật. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được quy định rõ ràng yêu cầu phải tuân thủ nghiêm chỉnh. Các biện pháp xử lý vi phạm và trách nhiệm phải bồi thường thuộc về người gây ra thiệt hại, tổn thất cho người khác. Thể hiện tính cơng bằng của pháp luật, đã gây ra thiệt hại thì phải bồi thường.

<b>4. Nguyên tắc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng</b>

- Nguyên tắc bồi thường thiệt hại toàn bộ, kịp thời. Khoản 1 Điều 595 Bộ luật Dân sự 2015 quy định như sau: Thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Các bên có thể thỏa thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Ví dụ: A và B có mâu thuẫn xảy ra, A vì mâu thuẫn mà gây thương tích cho B khiến B phải nhập viện điều trị trong thời gian dài. Tại thời điểm Tòa án giải quyết bồi thường thì mức bồi thường thiệt hại là khoảng X bao gồm: chi phí điều trị, mức thu nhập mà B đã mất trong thời gian nhập viện, chi phí cho người chăm sóc và cả tổn thất tinh thần. Sau đó, B vẫn tiếp tục điều trị sau thời điểm mà Tòa giải quyết, các chi phí phát sinh sau lần xử án sẽ được giải quyết nếu có yêu cầu của người bị thiệt hại.

Mục đích của nguyên tắc này là vừa giáo dục phòng ngừa, đấu tranh chống những vi phạm pháp luật, vừa khắc phục lại tình trạng ban đầu của tài sản.

</div><span class="text_page_counter">Trang 8</span><div class="page_container" data-page="8">

“Thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ” là tất cả các thiệt hại đã xảy ra đều phải bồi thường.

Tồn bộ: có nghĩa là khi có u cầu giải quyết bồi thường thiệt hại, thiệt hại trong thực tế phải được bồi thưởng cho dù chưa có quy định cụ thể. Chẳng hạn, hiện nay BLDS có quy định về xác định thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm (Điều 592) mà khơng có quy định về xác định thiệt hại do xâm phạm tới hình ảnh của một cá nhân. Trong trường hợp này, khi áp dụng nguyên tắc trên, người bị thiệt hại được bồi thưởng toàn bộ thiệt hại xảy ra trong thực tế cho dù chưa có quy định về xác định thiệt hại cho trường hợp xâm phạm tới hình ảnh.

“ Thiệt hại phải bồi thường kịp thời” là thiệt hại phải được nhanh chóng bồi thường để có thể ngăn chặn, hạn chế, khắc phục tốt thiệt hại. Kịp thời: Tòa án phải giải quyết nhanh chóng u cầu địi bổi thường thiệt hại trong thời hạn luật định. Trong trường hợp cần thiết có thể áp dụng một hoặc một số biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định của pháp luật tố tụng để giải quyết yêu cầu cấp bách của đương sự, chẳng hạn có thể yêu cầu bồi thường trước khoản tiền viện phí hay chi phí ma chay.

Người yêu cầu bồi thường thiệt hại phải nêu rõ từng khoản thiệt hại thực tế đã xảy ra, mức yêu cầu bồi thường và chứng minh yêu cầu của mình là có căn cứ.

- Nguyên tắc giảm mức bồi thường. Khoản 2 Điều 585 Bộ luật Dân sự quy định như sau: Người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường nếu khơng có lỗi hoặc có lỗi vơ ý và thiệt hại q lớn so với khả năng kinh tế của mình. Ở đây, người chịu trách nhiệm bồi thường có thể được giảm mức bồi thường thiệt hại nếu do lỗi vô ý hoặc khơng có lỗi mà gây ra thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế của mình (khoản 2 Điều 585

</div><span class="text_page_counter">Trang 9</span><div class="page_container" data-page="9">

BLDS năm 2015). Như vậy để được giảm mức bồi thường cần có 2 điều kiện: Thứ nhất, gây thiệt hại với lỗi vơ ý hoặc khơng có lỗi: thứ hai, người chịu trách nhiệm bồi thường có khó khăn hoặc khơng thể thực hiện được việc bồi thường (như khơng có tài sản có giá trị lớn, thu nhập thấp hoặc khơng ổn định, phải ni cha mẹ già hoặc con nhỏ).

Ví dụ: Một người vô ý gây cháy nhà của người khác và tổng thiệt hại là 1.000.000.000 đồng. Nhưng người gây thiệt hại chỉ có tổng tài sản là 150.000.000 đồng, mức thu nhập trung bình hàng tháng là 2.500.000 đồng. Mức thiệt hại này được cho là quá lớn so với khả năng kinh tế của người gây thiệt hại.

- Thay đổi mức bồi thường thiệt hại đã được ấn định. Khoản 3 Điều 585 Bộ luật Dân sự 2015 quy định như sau: Khi mức bồi thường khơng cịn phù hợp với thực tế thì bên bị thiệt hại hoặc bên gây thiệt hại có quyền u cầu Tịa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường. Ở đây, khi mức bồi thường khơng cịn phù hợp thì bên bị thiệt hại hoặc bên gây thiệt hại có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền thay đổi mức bồi thường (khoản 3 Điều 585 BLDS năm 2015). Có nhiều nguyên nhân dẫn đến việc mức bồi thưởng đã được ấn định không cịn phù hợp với thực tiễn và do đó, cần được điều chỉnh theo yêu cầu của các bên (ví dụ như sự thay đổi của vật giá, sự thay đổi hay diễn biến khác đi của thiệt hại theo hướng tốt hơn hoặc xấu hơn...).

Những trường hợp mức bồi thường khơng cịn phù hợp với thực tế nghĩa là có sự biến động về giá cả, có sự thay đổi về tình hình kinh tế, sự thay đổi về tình trạng thiệt hại, hoặc là có sự thay đổi về khả năng kinh tế của người có trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng mà mức bồi thường hiện khơng cịn phù hợp với sự thay đổi đó.

Một số trường hợp bên bị thiệt hại hoặc bên gây thiệt hại yêu cầu xem xét về việc thay đổi mức bồi thường thiệt hại thì phải có đơn yêu cầu thay đổi mức bồi thường thiệt hại kèm theo đó là các tài liệu chứng minh có thể làm căn cứ cho yêu cầu thay đổi mức bồi thường thiệt hại là hợp lý.

- Khoản 4 Điều 585 Bộ luật Dân sự 2015 quy định như sau: Khi bên bị thiệt hại có lỗi trong việc gây thiệt hại thì khơng được bồi thường phần thiệt hại do lỗi của mình gây ra. Ở đây, người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại (do con người hay do tài sản gây ra) không buộc phải bồi thường phần thiệt

</div><span class="text_page_counter">Trang 10</span><div class="page_container" data-page="10">

hại mà phần thiệt hại này xuất phát từ lỗi của bên bị thiệt hại, đây là lý lẽ của sự cơng bằng.

Ví dụ: A và B cùng tham gia giao thông trên xe máy xảy ra tai nạn va vào nhau, và A bị thiệt hại 50.000.000 đồng. Cơ quan có thẩm quyền xác định A và B đều có lỗi và mức độ lỗi là 50% mỗi người. trong trường hợp này thì B phải bồi thường cho A 25.000.000 đồng (50% thiệt hại).

- Nguyên tắc ngăn chặn thiệt hại. Khoản 5 Điều 585 Bộ luật Dân sự 2015 có quy định: Bên có quyền , lợi ích bị xâm hại khơng được bồi thường nếu thiệt hại xảy ra do không áp dụng các biện pháp cần thiết, hợp lý để ngăn chặn, hạn chế thiệt hại cho chính mình.

Bên bị thiệt hại không thể để thiệt hại trầm trọng hơn khi họ có thể hạn chế được, bền bị thiệt hại có khả năng ngăn khi hạn chế thiệt hại mà không ngăn chặn, hạn chế thiệt hại là không nghiện chỉ”. Thực tiễn xét xử ở Việt Nam và nhiều hệ thống pháp luật nước ngoài đã theo hướng buộc bên bị thiệt hại có trách nhiệm hạn chế thiệt hại khi có thể; nếu khơng thực hiện thì họ khơng xứng đáng được bồi thường đối với khoản thiệt hại đáng ra được hạn chế. Nhìn từ góc độ kinh tế, việc thừa nhận trách nhiệm hạn chế thiệt hại có lợi cho xã hội đó là hạn chế được thiệt hại cho bên bị thiệt hại, cho bên chịu trách nhiệm bồi thường (do không phải bồi thường) nên kết quả là có lợi cho cả xã hội.

Đây là trường hợp mà bên có quyền, lợi ích bị xâm phạm biết, nhìn thấy trước được bản thân sẽ bị xâm phạm nhưng vẫn không áp dụng các biện pháp cần thiết để ngăn chặn, hoặc có đủ điều kiện để thực hiện biện pháp ngăn chặn thiệt hại nhưng vẫn đề mặc cho nó xảy ra thì bên có quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm hại sẽ khơng được nhận bồi thường thiệt hại. Ví dụ: nhà A và B sát bên nhau trên một con phố, nhà B bị cháy do B bất

cẩn, A đỗ xe máy gần nhà B, A biết rằng nếu không dời xe máy thì xe sẽ bị thiệt hại do lửa lan sang, lúc này A có đủ điều kiện để di dời xe máy nhưng A bỏ mặc khiến xe máy bị cháy và hư hỏng nặng. trường hợp này A sẽ khơng được bồi thường thiệt hại.

Ví dụ: A đốt nhà B, mặc dù B có khả năng chữa cháy để giảm thiểu một phần thiệt hại nhưng B đã không thực hiện mà để đám cháy tiếp tục diễn ra thì B khơng được bồi thường phần thiệt hại mà B có thể hạn chế được.

<b>5. Phân biệt trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng và bồithường thiệt hại ngoài hợp đồng</b>

- Bồi thường thiệt hại trong hợp đồng

</div><span class="text_page_counter">Trang 11</span><div class="page_container" data-page="11">

Nguồn gốc phát sinh: Được đưa ra từ các quy phạm điều chỉnh các mối quan hệ trong hợp đồng giữa các bên. Chỉ tồn tại trong một hợp đồng có hiệu lực pháp lý nhằm giải quyết các thiệt hại phát sinh trong hợp đồng.

Hành vi vi phạm: Hành vi này là những hành vi vi phạm các cam kết, các thỏa thuận đã được quy định cụ thể trong hợp đồng, những nghĩa vụ mà hai bên đã thống nhất và buộc đối phương phải làm đúng quyền và nghĩa vụ của mình khi giao kết hợp đồng. Có thể những vi phạm này chưa phải là hành vi vi phạm quy định của pháp luật chung nhưng đã vi phạm các điều khoản đã được xác lập bởi những người cùng tham gia hợp đồng.

Phương thức thực hiện: Nếu các bên có thỏa thuận trong hợp đơng thì thực hiện theo hợp đồng, nếu các bên tham gia khơng thỏa thuận trong hợp đồng thì sau khi thiệt hại xảy ra, các bên có thể thương lượng về mức bồi thường thiệt hại.

Yếu tố lỗi: Xem xét lỗi của bên vi phạm hợp đồng, nếu không có lỗi thì khơng cần phải thực hiện bồi thường.

Thời điểm phát sinh trách nhiệm: Kể từ thời điểm do có bên vi phạm các điều khoản trong hợp đồng gây ra thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

- Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

Căn cứ phát sinh: phát sinh khi có hành vi vi phạm pháp luật dân sự, cố ý hoặc vô ý gây thiệt hại cho người khác và hành vi này không liên quan đến bất cứ hợp đồng nào giữa người bị thiệt hại và người gây ra hiệt hại.

Hành vi vi phạm: Đây là hành vi vi phạm những quy định pháp luật dẫn đến xảy ra thiệt hại. Vì vậy đó có thể là những vi phạm pháp luật chuyên ngành khác như hình sự, kinh tế, hành chính,…

Phương thức thực hiện: Bên gây thiệt hại có trách nhiệm bồi thường cho bên bị thiệt hại toàn bộ và kịp thời. Các bên có thể thỏa thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Yếu tố lỗi: yếu tố lỗi không là căn cứ phát sinh trách nhiệm, khơng có lỗi vẫn phải bồi thường khi có thiệt hại, trong trường hợp này yếu tố lỗi chỉ để xem xét mức độ chịu trách nhiệm bồi thường.

Thời điểm phát sinh trách nhiệm: tính từ lúc có thiệt hại xảy ra.

<b>6. Các loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng</b>

- Trách nhiệm dân sự riêng rẽ:

</div><span class="text_page_counter">Trang 12</span><div class="page_container" data-page="12">

Trách nhiệm dân sự riêng rẽ là trách nhiệm nhiều người mà trong đó mỗi người trong số những người có trách nhiệm chỉ phải thực hiện phần trách nhiệm của riêng mình; hoặc mỗi người trong số những người có quyền chỉ có thể yêu cầu người có trách nhiệm thực hiện trách nhiệm cho riêng phần quyền của mình.

Trách nhiệm dân sự riêng rẽ có những đặc điểm sau đây: Khơng có sự liên quan lẫn nhau giữa những người cùng thực hiện trách nhiệm dân sự riêng rẽ bồi thường thiệt hại; Trách nhiệm dân sự riêng rẽ mang tính chất của trách nhiệm theo phần, người có trách nhiệm chỉ phải thực hiện phần trách nhiệm của mình một cách độc lập.

Trong trách nhiệm dân sự riêng rẽ, trách nhiệm của từng chủ thể sẽ được xác định riêng thành từng phần và họ chỉ phải thực hiện phần trách nhiệm của mình. Chủ thể có trách nhiệm thực hiện xong trách nhiệm của mình thì việc thực hiện trách nhiệm coi như đã hồn thành, họ khơng phải chịu trách nhiệm đối với phần trách nhiệm của các chủ thể có trách nhiệm khác chưa thực hiện hoặc thực hiện không đúng, khơng đầy đủ. Đối với phần trách nhiệm cịn lại chưa được thực hiện, hoặc thực hiện một phần thì những chủ thể có trách nhiệm cịn lại phải tiếp tục thực hiện cho đến khi hồn tất.

Ví dụ: Vào lúc 1 giờ sáng, A bẻ khóa, cạy cửa của cửa hàng X vào trộm một số tài sản trị giá 300 triệu đồng. Đến 3 giờ sáng cùng ngày, khi đi ngang qua cửa hàng X, B cũng là tên trộm “chuyên nghiệp” bằng cặp mắt “nhà nghề” đã phát hiện cửa bị phá hỏng. B đã lẻn vào cửa hàng vơ vét số tài sản cịn sót lại trị giá 50 triệu đồng. Cả A và B đều bán tài sản và tiêu xài hết, tài sản không thu hồi được. Như vậy, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại của A và B do tài sản bị mất trong trường hợp này là hoàn toàn riêng rẽ, mỗi người chỉ phải thực hiện phần nghĩa vụ bồi thường thiệt hại khối tài sản do hành vi của mình gây ra. Khi một người đã thực hiện xong phần nghĩa vụ bồi thường giá trị tài sản bị mất do mình chiếm đọat thì nghĩa vụ của họ đối với bên bịthiệt hại chấm dứt cho dù phần tài sản bị thiệt hại do chủ thể kia gây ra chưa được bồi thường hoặc có bồi thường nhưng chưa đầy đủ.

- Trách nhiệm dân sự liên đới

Trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại là một loại trách nhiệm dân sự, theo đó người có quyền được quyền yêu cầu bất cứ ai trong số

</div><span class="text_page_counter">Trang 13</span><div class="page_container" data-page="13">

những người có nghĩa vụ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại và bất cứ ai trong số những người có nghĩa vụ cũng phải thực hiện tồn bộ nghĩa vụ đối với người có quyền khi được người có quyền yêu cầu. Theo đó, chủ thể có quyền được quyền yêu cầu tất cả một hoặc tất cả những chủ thể cùng chịu trách nhiệm thực hiện một phần hay toàn bộ trách nhiệm bồi thường.

Trong thực hiện trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại, mỗi chủ thể chịu trách nhiệm có nghĩa vụ phải thực hiện trách nhiệm liên đới một cách đầy đủ và toàn bộ. Nếu một chủ thể trong số những chủ thể chịu trách nhiệm được yêu cầu thực hiện tồn bộ trách nhiệm liên đới, nhưng lại khơng thực hiện hoặc thực hiện khơng đúng thì bên có quyền được yêu cầu những chủ thể còn lại thực hiện phần trách nhiệm còn lại. Mặt khác, nếu một trong những chủ thể chịu trách nhiệm đã thực hiện toàn bộ trách nhiệm, thì những chủ thể chịu trách nhiệm cịn lại được giải phóng khỏi thực hiện nghĩa vụ đó đối với chủ thể có quyền. Lúc này, quan hệ giữa chủ thể có quyền và những chủ thể có trách nhiệm bồi thường chấm dứt đồng thời phát sinh nghĩa vụ hoàn lại giữa những chủ thể phải chịu trách nhiệm với chủ thể đã thay họ thực hiện trách nhiệm với chủ thể có quyền.

Trách nhiệm dân sự liên đới phát sinh từ những căn cứ sau đây: Trách nhiệm liên đới bồi thường do cùng gây thiệt hại. Cụ thể, theo Điều 587 Bộ luật Dân sự 2015, “trường hợp nhiều người cùng gây thiệt hại thì những người đó phải liên đới bồi thường cho người bị thiệt hại”. Nhiều chủ thể được xem là cùng gây thiệt hại khi họ có sự thống nhất về ý chí, hành vi, hậu quả trong việc gây thiệt hại. Quy định tại Điều 587 Bộ luật Dân sự 2015 không nên được hiểu là nhiều chủ thể phải cùng đồng thời thực hiện hành vi gây thiệt hại cho người khác, mà theo đó, thiệt hại xảy ra là hậu quả do hành vi của nhiều chủ thể, các hành vi có thể khơng được thực hiện đồng thời mà có thể được thực hiện kế tiếp nhau xét theo thời gian, nhưng giữa chúng có mối quan hệ nhân quả với nhau: hành vi của người sau là hậu quả tất yếu do hành vi của người trước, và vì vậy họ phải liên đới chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Ví dụ: A, B và C bàn bạc thống nhất phân chia nhiệm vụ đi cướp. Theo

đó, A cảnh giới, B và C trực tiếp dùng vũ lực cướp tài sản của D. Trong trường hợp này A, B và C liên đới bồi thường cho người bị cướp là D.

</div><span class="text_page_counter">Trang 14</span><div class="page_container" data-page="14">

Ví dụ: Em A (học sinh, tám tuổi) trèo lên cây hái mận. Hai em B và C (bạn học cùng lớp) đi ngang qua thấy vậy bèn nghịch, đến ôm cây mận rung. Em A té gãy tay, phải vào bệnh viện điều trị. Mẹ A đòi mẹ B bồi thường tồn bộ. Mẹ B khơng chịu vì mẹ của B cho rằng, trong trường hợp này thì bà và mẹ của C có trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho A. Vấn đề được đặt ra: “Ai đúng? Ai sai? Tại sao?” Trong tình huống nêu trên em B và em C cùng “hợp tác” làm cho em A té bị thương, phải nằm bệnh viện tốn tiền điều trị, đó là hành vi trái pháp luật. Mẹ B và mẹ C phải chịu trách nhiệm liên đới bồi thường cho người bị thiệt hại. Đây là một loại nghĩa vụ dân sự bồi thường ngoài hợp đồng phát sinh từ việc gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật. Và đây là nghĩa vụ dân sự liên đới mà mẹ B và mẹ C là người phải thực hiện. Theo đó, mẹ A (là bên có quyền) có thể yêu cầu bất cứ ai trong số những người có nghĩa vụ (mẹ B hoặc mẹ C) phải thực hiện nghĩa vụ bồi thường tồn bộ viện phí. Sau khi mẹ B đã thực hiện bồi thường tồn bộ viện phí rồi thì bà ấy có quyền u cầu mẹ C phải thực hiện phần nghĩa vụ liên đới của mẹ C – phân nửa viện phí.

Trách nhiệm liên đới bồi thường trong trường hợp khác. Pháp luật quy định minh thị các chủ thể cụ thể trong một số trường hợp đặc biệt phải chịu trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại mà không cần yếu tố cùng gây thiệt hại.

Ví dụ: khoản 4 Điều 601 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: khi chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ có lỗi trong việc để nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì phải liên đới bồi thường thiệt hại. Tương tự theo khoản 2 Điều 603 Bộ luật Dân sự 2015 đối với thiệt hại do súc vật gây ra, “ nếu người thứ ba và chủ sở hữu cùng có lỗi thì phải liên đới chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại”. Ví dụ: A điều khiển xe mơ tơ chở B phía sau, do A chạy nhanh đi trái

đường không làm chủ tốc độ đã va chạm với C đi xe đạp từ trong hẻm đi ra không quan sát. A và B té ngã. Anh B bị chết do chấn thương sọ não. Trong trường hợp này A và C phải liên đới bồi thường thiệt hại cho B do tính mạng bị xâm phạm. Mặc dù A và C không có sự bàn bạc thống nhất với nhau trong việc gây thiệt hại cho anh B, nhưng thiệt hại trên là kết quả từ những hành vi trái pháp luật của A và C.

<b>7. Xác định thiệt hại được bồi thường</b>

- Thiệt hại do tài sản bị xâm phạm (Điều 589 Bộ luật Dân sự 2015)

</div><span class="text_page_counter">Trang 15</span><div class="page_container" data-page="15">

Trong trường hợp tài sản bị xâm phạm thì thiệt hại được bồi thường bao gồm: tài sản bị mất, bị hủy hoặc bị hư hỏng; Lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản bị mất, bị giảm sút; Chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại; Thiệt hại khác do pháp luật quy định.

Trong trường hợp tài sản bị xâm phạm như bị mất, hủy hoại thì thơng thường phải dùng giá cả để tính tốn thiệt hại thành một số tiền làm cơ sở để giải quyết vấn đề bồi thường (trừ trường hợp thiệt hại được bồi thường bằng hiện vật). Giá cả là tiêu chuẩn xác định thiệt hại bao gồm giá thị trường tự do và giá theo chỉ đạo của Nhà nước. Đối với tài sản là loại hàng hóa bán tự do trên thị trường thì giá trị của tài sản là giá thị trường. Trong trường hợp tài sản thuộc loại Nhà nước thống nhất quản lý (ví dụ: súng, đạn, hoạt chất của thuốc phiện…) thì khi tính tốn thiệt hại phải căn cứ vào giá Nhà nước quy định.

Đối với trường hợp tài sản bị hư hỏng thì thiệt hại được xác định trong trường hợp này là những chi phí đã bỏ ra để sửa chữa, khơi phục lại tình trạn tài sản và những thiệt hại do giảm giá trị của tài sản đem lại.

Ngoài ra, thiệt hại về tài sản cịn bao gồm cả lợi ích gắn liền với việc khai thác, sử dụng và những chi phí nhằm ngăn chặn, hạn chế thiệt hại. Ví dụ, “Chiều ngày 05/02/2007, ơng Thum dẫn trâu trên đường về, thì

xảy ra trâu của ông Thum húc Trâu của ông Năm bị thương. Tịa án cho rằng do trâu của ơng Năm bị thương tích nên khơng sử dụng để kéo lúa trong vụ đơng xn 2006-2007. Ơng Năm địi ơng Thum bồi thường thâm quyết định buộc ông Thum bôi thường thất thu vụ kéo lúa thiệt hại mất thu nhập vụ đông - xuân là 3 triệu đồng. Án sơ thẩm quyết định buộc ông Thum bồi thường thất thu vụ kéo lúa là 2.730.000 đồng. Xét thấy đây là mức thu nhập bình quân của một con trâu sử dụng kéo lúa một vụ. Do vậy Hội đồng xét xử giữ nguyên mức thiệt hại phải bồi thường cho ông Năm đối với vụ mùa đông-xuân.”

- Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm (Điều 590 Bộ luật Dân sự 2015

</div><span class="text_page_counter">Trang 16</span><div class="page_container" data-page="16">

Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại. Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại bao gồm tiền thuốc, tiền viện phí, tiền bồi dưỡng phục hồi sức khỏe, các chi phí thực tế cần thiết khác cho người bị thiệt hại ( nếu có). Lưu ý là những chi phí hợp lý khơng nhất thiết phải là những chi phí phát sinh từ yêu cầu của bệnh viện. Chỉ cần đó là những chi phí thực tế cần thiết để chữa bệnh là được bồi thường.

Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và khơng thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại. thu nhập bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại là những khoản thu nhập khơng thu được vì nạn nhân phải điều trị, bị thương tật.

Ví dụ B làm công cho một công ty trách nhiệm hữu hạn. Thu nhập thực tế của B trước khi sức khỏe bị xâm phạm là ổn định, trung bình mỗi tháng là 8 triệu đồng. Do sức khỏe bị xâm phạm, B phải điều trị và trong thời gian điều trị công ty trả cho B 50% tiền lương là 4 triệu đồng. Trong trường hợp này, thu nhập thực tế của B mỗi tháng bị giảm sút 4 triệu đồng.

Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần phải có người thường xun chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại. Chi phí hợp lý cho người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị bao gồm: tiền tàu, xe đi lại, tiền thuê nhà trọ theo giá trung bình ở địa phương nơi thực hiện việc chi phí (nếu có) cho một trong những người chăm sóc cho người bị thiệt hại trong thời gian điều trị do cần thiết hoặc theo yêu cầu của cơ sở y tế.

</div><span class="text_page_counter">Trang 17</span><div class="page_container" data-page="17">

Trong trường hợp sau khi điều trị, người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần phải có người thường xuyên chăm sóc (người bị thiệt hại khơng cịn khả năng lao động do bị liệt cột sống, mù hai mắt, liệt hai chi, bị tâm thầm nặng và các trường hợp khác do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định bị suy giảm khả năng lao động vĩnh viễn từ 81% trở lên) thì phải bồi thường chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại. Ở đây, chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại bao gồm: chi phí hợp lý hàng tháng cho việc nuôi dưỡng, điều trị người bị thiệt hại và chi phí hợp lý cho người thường xuyên chăm sóc người bị thiệt hại. Chi phí hợp lý cho người thường xuyên chăm sóc người bị thiệt hại được tính bằng mức tiền cơng trung bình trả cho người chăm sóc người tàn tật tại địa phương nơi người bị thiệt hại cư trú.

Ngoài ra, người xâm phạm sức khoẻ của người khác còn phải bồi thường một khoản tiền để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thoả thuận; nếu khơng thoả thuận được thì mức tối đa cho một người có sức khỏe bị xâm phạm khơng quá năm mươi lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.

Lưu ý là trường hợp người bị thiệt hại mất hồn tồn khả năng lao động thì người bị thiệt hại được hưởng bồi thường từ thời điểm mất hoàn toàn khả năng lao động cho đến khi chết, trừ trường hợp có thỏa thuận. - Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm (Điều 591 BLDS năm 2015) khác.

Trong trường hợp tính mạng bị xâm phạm thì thiệt hại Điều 590 BLDS năm 2015; Chi phí hợp lý cho việc mai táng: bao gồm: Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm theo quy định tại Tiên cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng.

Trong thời gian sức khỏe bị xâm phạm (tức thời gian trước khi chết), thiệt hại phát sinh rất đa dạng. Quy định tại Điều 591 BLDS năm 2015 cho phép bên bị thiệt hại được bồi thường thiệt hại vật chất và tổn thất tỉnh thần như trường hợp đối với sức khỏe bị xâm phạm trong khoảng thời gian trước khi cá nhân chết.

Chi phí hợp lý cho việc mai táng bao gồm: các khoản tiền mua quan tài, các vật dụng cần thiết cho việc khâm liệm, khăn tang, hương, nến, hoa, thuê xe tang và các khoản chi khác phục vụ cho việc chôn cất hoặc hoả táng nạn nhân theo thông lệ chung.

</div><span class="text_page_counter">Trang 18</span><div class="page_container" data-page="18">

Về khoản tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng trước khi chết: Chỉ xem xét khoản tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng. Những người đang được người bị thiệt hại cấp dưỡng được bồi thường khoản tiền cấp dưỡng tương ứng đó. Theo khoản 2 Điều 593 BLDS năm 2015 thì thời điểm cấp dưỡng được xác định kể từ thời điểm tính mạng bị xâm phạm trừ trường hợp cấp dưỡng cho con đã thành thai và sinh ra còn sống (từ thời điểm sinh ra và còn sống). Trường hợp người bị thiệt hại chết thì những người mà người này có nghĩa vụ cấp dưỡng khi cịn sống được hưởng tiền cấp dưỡng từ thời điểm người có tính mạng bị xâm phạm chết trong thời hạn sau đây: Người chưa thành niên hoặc người đã thành thai là con của người chết và còn son âu khi sinh ra được hưởng tiền cấp dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi, trừ trường hợp người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi đã tham gia lao động và có thu nhập đủ ni sống bản thân;

Người thành niên nhưng khơng có khả năng lao động được hưởng tiền cấp dưỡng cho đến khi chết.

Đối với con đã thành thai của người chết, tiền cấp dưỡng được tính từ thời điểm người này sinh ra và cịn sống 12.

Ngoải thiệt hại vật chất, tổn thất về tinh thần cũng được bồi thường. Người được nhận khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần trong trường hợp này là những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại. Trường hợp khơng có những người thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất, thì người được nhận khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần là người mà người bị thiệt hại đã trực tiếp nuôi dưỡng và người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại. Về mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần, các bên thoả thuận; nếu khơng thoả thuận được thì mức tối đa cho một người có tính mạng bị xâm phạm không quá một trăm lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.

- Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm (Điều 592 BLDS năm 2015)

Trong trường hợp danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân; uy tín của pháp nhân bị xâm phạm thì thiệt hại bao gồm: Chi phí hợp lý để hạn chế khắc phục thiệt hại; Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút.

Chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại bao gồm: chi phí cần thiết cho việc thu hồi ấn phẩm có nội dung xúc phạm danh dự, nhân phẩm, uy

</div><span class="text_page_counter">Trang 19</span><div class="page_container" data-page="19">

tín của chủ thể bị thiệt hại, chi phí cho việc thu thập tài liệu, chứng cứ chứng minh danh dự, nhân phẩm, uy tin bị xâm phạm; tiền tàu, xe đi lại, thuê nhà trọ (nếu có) theo giá trung bình ở địa phương nơi thực hiện việc chi phí để yêu cầu cơ quan chức năng xác minh sự việc, cái chính trên các phương tiện thơng tin đại chúng; chi phí tổ chức xin lỗi, cái chính cơng khai tại nơi cư trú hoặc nơi làm việc của chủ thể bị thiệt hại và các chi phí thực tế, cần thiết khác để hạn chế, khắc phục thiệt hại (nếu có).

Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút.

Nếu trước khi danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm, người bị xâm phạm có thu nhập thực tế, nhưng do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm người bị xâm phạm phải thực hiện những công việc để hạn chế, khắc phục thiệt hại, nên khoản thu nhập thực tế của họ bị mất hoặc giảm sút, thì họ được bồi thường khoản thu nhập thực tế bị mất hoặc giảm sút đó.

Việc xác định thu nhập thực tế của người bị xâm phạm và việc xác định thu nhập thực tế bị mất hoặc giảm sút của người bị xâm phạm được thực hiện như trường hợp sức khỏe bị xâm phạm.

Ngoài ra, người xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác cịn phải bồi thường một khoản tiền để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bủ đắp tổn thất về tinh thần do các bên thoả thuận; nếu khơng thoả thuận được thì mức tối đa cho một người có danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm không quá mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.. Cần xác định mức độ tổn thất về tỉnh thần của người bị xâm hại bằng cách căn cứ vào hình thức xâm phạm (bằng lời nói hay đăng trên báo viết hay bảo hình...), hành vi xâm phạm, mức độ lan truyền thơng tin xâm phạm.

<b>8. Hình thức và phương thức bồi thường</b>

- Hình thức bồi thường:

Việc bồi thường này có thể được thực hiện ở hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc bằng việc thực hiện một công việc nhất định.

BLDS năm 2015 chỉ quy định trường hợp các bên đồng ý thỏa thuận với nhau trong việc lựa chọn hình thức bồi thường. Thực tế, không phải bao giờ các bên cũng đạt được sự thỏa thuận nhất định về hình thức bồi thường. Trường hợp bên bị thiệt hại muốn được bồi thường bằng hiện vật nhưng bên chịu trách nhiệm bồi thường chỉ chấp nhận bồi thường với hình thức bằng tiền. Vậy các trường hợp này sẽ được giải quyết như thế

</div>

×