Tải bản đầy đủ (.pdf) (91 trang)

Luận văn thạc sĩ Luật học: Pháp luật ưu đãi xã hội và thực tiễn thực hiện tại tỉnh Lạng Sơn

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (51.62 MB, 91 trang )

<span class="text_page_counter">Trang 1</span><div class="page_container" data-page="1">

HOANG THỊ TUYẾT NHUNG

PHAP LUAT UU DAI XÃ HỘI

VA THUC TIEN THUC HIEN TAI TINH LANG SON

LUẬN VAN THAC SĨ LUAT HOC

Chuyén nganh : Luat kinh té Mã số : 838 01 07

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Hữu Chí

HÀ NỘI - 2018

</div><span class="text_page_counter">Trang 2</span><div class="page_container" data-page="2">

LỜI CAM ĐOAN

<small>Tôi xin cam đoan đây là cơng trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi.</small> Các kết quả nêu trong luận văn chưa được cơng bồ trong bất kỳ cơng trình nào khác. Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích

dẫn đúng theo quy định.

<small>Tơi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của luận văn này.</small>

TÁC GIÁ LUẬN VĂN

Hoàng Thị Tuyết Nhung

</div><span class="text_page_counter">Trang 3</span><div class="page_container" data-page="3">

<small>Chương 1: KHÁI QUAT VE PHÁP LUAT UU DAI XÃ HOI VÀ NOIDUNG QUY ĐỊNH PHÁP LUAT HIEN HANH VE UU DAI</small>

<small>XÃ HOI</small>

<small>Khai niệm pháp luật ưu đãi</small>

Nội dung quy định pháp luật hiện hành về ưu đãi xã hội ở Việt Nam

<small>Chương 2: THỰC TIEN THỰC HIỆN PHÁP LUAT UU DAI XÃ HOI</small>

<small>TẠI TỈNH LẠNG SƠN</small>

Tổng quan tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Lạng Sơn

Thực tiễn thi hành pháp luật ưu đãi xã hội trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn

<small>Chương 3: MỘT SÓ GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN VÀ NÂNG CAO</small>

<small>HIỆU QUA THUC HIEN PHÁP LUAT UU DAI XÃ HỘI TẠITINH LANG SON</small>

Yêu cầu hoàn thiện pháp luật ưu đãi xã hội

Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật ưu đãi xã hội

Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật ưu đãi <small>xã hội trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 4</span><div class="page_container" data-page="4">

DANH MỤC CAC BANG

<small>Tên bảng</small>

<small>Các đôi tượng hiện nay đã tô chức xác nhận và thực hiện chínhsách ưu đãi xã hội tại tỉnh Lạng Sơn</small>

<small>43</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 5</span><div class="page_container" data-page="5">

1. Tính cấp thiết của đề tài

Pháp luật ưu đãi xã hội (ưu đãi đối với người có cơng) chiếm một vị trí vơ cùng quan trọng trong hệ thống an sinh xã hội của Việt Nam. Pháp luật ưu đãi xã hội là minh chứng hùng hồn cho truyền thống: "Uống nước nhớ nguồn", "Đền ơn đáp nghĩa", "Ăn quả nhớ người trồng cây" của dân tộc ta, là nghĩa tình, là sự biết ơn và kính trọng của lớp lớp thế hệ sau đối với những lớp người đã hy sinh xương máu vì độc lập tự do của Tổ quốc trong mọi thời đại.

Thực hiện chính sách, chế độ ưu đãi thương binh, liệt sĩ, người có cơng với <small>cách mạng và nhân thân ln được Đảng, Nhà nước và tồn xã hội quan tâm. Chủ</small> tịch Hồ Chí Minh là người khởi xướng và nêu lên những quan điểm về ưu đãi người có cơng với cách mang. Người đã khang định: "Thương binh, bệnh binh, gia đình quân nhân và gia đình liệt sĩ là những người có cơng với Tổ quốc, với nhân dân. Cho nên bổn phận của chúng ta là phải biết ơn, phải thương yêu giúp đỡ họ...". Người đã chỉ thị lay ngày 27 tháng 7 hàng năm là ngày để đồng bao cả nước thể hiện tình nghĩa đối với những người có cơng, những gia đình chính sách. Một khi chính sách ưu đãi người có cơng được quan tâm đúng mức và được thực hiện tốt, có hiệu quả, đảm bảo được sự công bằng và công khai sẽ tạo ra niềm tin vào một chế độ xã hội tốt đẹp cho mọi thành viên trong xã hội, là sự động viên, khích lệ người có cơng tiếp tục cống hiến, hy sinh vì Tổ quốc phon vinh và bền vững. Qua đó cũng là động lực cho lớp trẻ cũng như mọi thành viên trong xã hội phấn đấu, hy sinh không mệt mỏi vi một đất nước Việt Nam độc lập. phén vinh va thinh vuong.

Phát huy truyền thống "Uống nước nhớ nguồn", "Đền ơn đáp nghĩa", "Ăn quả nhớ người trồng cây" trong những năm qua Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chính sách, chế độ dé chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của người có cơng, giải quyết có hiệu quả những tồn đọng về chính sách sau chiến tranh. Các chính sách của Nhà nước đóng vai trị là nền tảng, hỗ trợ những yêu cầu cơ bản và quan trọng nhất trong cuộc sơng của người có cơng. Sự hỗ trợ đó thay đổi theo thời

</div><span class="text_page_counter">Trang 6</span><div class="page_container" data-page="6">

gian với xu hướng ngày càng tăng cùng với sự phát triển nền kinh tế, mức tăng trong cuộc sống của tồn dân.

Báo cáo chính tri của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII trình Đại hội đại biểu tồn quốc lần thứ IX của Đảng cũng ghi rõ: "Thực hiện chính sách ưu đãi xã hội và vận động toàn dân tham gia các hoạt động đền ơn đáp nghĩa, uống nước nhớ nguồn đối với các lão thành cách mạng, những người có cơng với <small>nước, Bà mẹ Việt nam anh hùng, thương binh và cha mẹ, vợ con liệt sĩ, gia đình</small>

chính sách". Nghị quyết Đại hội IX, X, XI, XII của Đảng đã nêu rõ mục tiêu chăm lo tốt hơn đời sống đối với gia đình người có cơng với cách mạng, đảm bảo tất cả các gia đình chính sách có cuộc sống băng hoặc khá hơn mức sống trung bình của cộng đồng.

Từ những quan điểm đó, qua các thời kỳ chính sách, chế độ ưu đãi người có cơng với cách mạng và thân nhân của họ từng bước được bố sung, hoàn thiện căn bản, đã phát triển tương đối toàn diện cả về cơng tác chăm sóc đời sống, sắp xếp việc làm, ưu đãi vật chất và tinh thần, huy động sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội, của các ngành các cấp.

<small>Trải qua các thời kỳ cách mạng, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt</small> Nam, đất nước ta bước vào thời kỳ đổi mới, nền kinh tế đã có sự tăng trưởng vượt bậc, đời sống vật chất và tinh thần của người dân được nâng cao đáng kể, do đó chính sách dành cho người có cơng cũng từ đó có những bước tiến rõ rệt, góp phần làm ơn định đời sống mọi mặt của người có cơng, đảm bảo sự cơng băng xã hội. Cải <small>cách hành chính trong thực hiện chính sách ưu đãi người có cơng ngày càng có</small> nhiều tiến bộ. Địa phương, cơ sở được phân cấp rõ ràng. Đối tượng hưởng chính sách sẽ thuận lợi hơn rất nhiều khi làm các thủ tục hành chính nhận sự hỗ trợ của <small>Nhà nước.</small>

<small>Trong những năm qua, chính sách ưu đãi người có cơng với cách mạng</small> được triển khai thực hiện trên khắp các vùng miền của đất nước. Ở mỗi địa phương, việc thực hiện chính sách có sự điều chỉnh linh hoạt, phù hợp với đặc điểm, tình <small>hình riêng. Lạng Sơn là một trong những tỉnh luôn quan tâm trong công tác thực</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 7</span><div class="page_container" data-page="7">

huyện, thành phố nói riêng, ln thực hiện chỉ trả trợ cấp đúng thời hạn, đầy đủ, cùng các chương trình chăm sóc người có cơng khác, với thái độ phục vụ tốt nhất, đáp ứng nhu cầu cần thiết của đối tượng người có cơng. Hiện nay, cơng tác thực hiện chính sách ưu đãi người có cơng của tỉnh là rất tốt, song vẫn cịn tồn tại những hạn chế nhất định.

Tuy nhiên, pháp luật về ưu đãi xã hội hiện nay còn một số mặt hạn chế. Có thé thay như mức trợ cấp còn thấp so với tốc độ gia tăng giá cả của đời sống xã hội đã dẫn đến tình trạng đời sống của nhiều người, nhiều gia đình chính sách chưa

được bảo đảm. Thủ tục để được công nhận là đối tượng chính sách (liệt sĩ, thương

binh...) nhìn chung là đầy đủ, khá đơn giản nhưng lại không linh hoạt; thực tiễn tồn tại rất nhiều trường hợp do thời gian hay những lý do khác đã không đáp ứng được những yêu cầu về mặt thủ tục, giấy tờ mà pháp luật yêu cầu nên đã không được cơng nhận là đối tượng chính sách dé được hưởng ưu đãi xã hội...

Với mục đích tìm hiểu, nghiên cứu những vấn đề lý luận về pháp luật ưu đãi xã hội và thực tiễn thực hiện trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn dé từ đó tìm ra những hạn chế của pháp luật ưu đãi xã hội, nhằm hồn thiện hơn nữa hệ thống pháp luật này. Đó chính là lý do mà tơi đã lựa chọn đề tài "Pháp luật ưu đãi xã hội và thực tiễn thực hiện tại tỉnh Lạng Son" đề nghiên cứu, làm luận văn thạc sĩ Luật học <small>của mình.</small>

2. Tổng quan nghiên cứu đề tài

Thực hiện chính sách pháp luật, chế độ ưu đãi đối với người có cơng hiện nay là vấn đề được toàn xã hội quan tâm. Từ trước đến nay có rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm đến đề tài pháp luật đối với người có cơng như: Đổi mới chính sách <small>xã hội - Luận cứ và giải pháp, của GS. Phạm Xuân Nam (Chủ biên) năm 1993;</small> Một số suy nghĩ hoàn thiện pháp luật uu đãi người có cơng, của TS. Nguyễn Đình Liêu năm 2000; Những nguyên tắc cơ bản của an sinh xã hội, của TS. Lưu Bình <small>Nhưỡng năm 2004; Mot sơ ván dé cơ bản vê chính sách xã hội ở Việt Nam hiện</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 8</span><div class="page_container" data-page="8">

<small>nay, năm 2013 của GS.TS Mai Ngoc Cường (Chủ biên); Thực hiện chính sách wu</small> đãi xã hội đối với người có cơng, của Hồng Cơng Thái, Tạp chí Quản lý nhà nước, số 7/ 2005; Chế độ trợ cấp ưu đãi mới đối với người có cơng, của Tạ Vân Thiéu, Tạp chí Lao động & Xã hội, số 278, tháng 1/2006; Chinh sách xã hội cua dang trong hơn hai mươi năm đổi mới, của TS. Nguyễn Thị Thanh (Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh); Nang cao năng lực của cơ quan hành chính nhà nước <small>trong thực hiện pháp luật ưu đãi người có cơng với cách mang ở nước ta hiện nay,của Phạm Hải Hưng, Luận văn thạc sĩ Quản lý hành chính cơng, Học viện Hành</small> chính Quốc gia, 2007; Hồn thiện pháp luật uu đãi xã hội ở Việt Nam, của Nguyễn Thị Tuyết Mai, Luận văn thạc sĩ Luật học, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2009; Pháp luật ưu đãi xã hội qua thực tiên tỉnh Quảng Ninh, của Lê Minh Sơn, Luận văn thạc <small>sĩ Luật học, Viện Đại học Mở Hà Nội, 2015; Pháp luật ưu đãi người có công từ thực</small> tiên tinh Lang Sơn, của Cầm Thúy Vân, Luận văn thạc sĩ Luật học, Viện Dai học Mở <small>Hà Nội, 2016...</small>

Luận văn đã phân tích những vấn đề lý luận, thực trạng pháp luật về ưu đãi xã hội, người có cơng. Trong nội dung của đề tài, tác giả đã đưa ra những nhận xét, đánh giá thực tiễn cũng như những hạn chế của pháp luật ưu đãi xã hội, người có cơng: từ đó nêu lên những kiến nghị có thé được áp dụng dé hoàn thiện hơn pháp luật về ưu đãi xã hội, người có cơng.

Kế thừa kết quả nghiên cứu của các tác giả đi trước, luận văn này từ việc

nghiên cứu, phân tích thực tiễn pháp luật ưu đãi người có cơng ở tỉnh Lạng Sơn đã

đưa ra những phương hướng và kiến nghị nhằm hoàn thiện hơn nữa những quy định của pháp luật về lĩnh vực này.

Tuy nhiên, cho đến thời điểm hồn thành luận văn, chưa có một cơng trình nghiên cứu, đánh giá chun sâu về pháp luật ưu đãi người có cơng trên địa bàn tỉnh

<small>Lạng Sơn.</small>

<small>3. Mục đích nghiên cứu</small>

Đề tài sẽ tập trung nghiên cứu các van dé lý luận cũng như thực tiễn về <small>pháp luật ưu đãi người có cơng trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn. Trong nội dung của</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 9</span><div class="page_container" data-page="9">

thể được áp dụng để hoàn thiện hơn pháp luật về ưu đãi xã hội, người có cơng góp phan nâng cao đời sơng, đảm bảo cơng bằng cho các đối tượng được hưởng <small>ưu đãi.</small>

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là chế độ ưu đãi người có cơng.

Phạm vi nghiên cứu, đề tài nghiên cứu về chế độ ưu đãi xã hội, người có cơng ở tỉnh Lạng Sơn. Do vậy chế độ ưu đãi người có cơng được nghiên cứu ở đây gồm: chính sách chăm sóc người có cơng, cơ chế bảo đảm việc hưởng quyền cho người có cơng, thực trạng và giải pháp hồn thiện chế độ ưu đãi người có cơng trên <small>địa bàn tỉnh Lạng Sơn.</small>

<small>5. Phương pháp nghiên cứu</small>

<small>Ngoài các phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, luận văn sử</small>

dung các phương pháp nghiên cứu như phương pháp nghiên cứu lý thuyết và tong kết thực tiễn, phương pháp phân tích, tổng hợp, phương pháp hệ thống, so sánh, điều tra, thống kê phân tích, đánh giá trên cơ sở báo cáo tổng hợp, điều tra về tình hình kinh tế xã hội và hoạt động thực hiện chế độ ưu đãi người có cơng dé làm rõ các vẫn đề nghiên cứu.

<small>6. Những đóng góp mới của Luận văn</small>

Luận văn đã góp phần làm sáng tỏ hơn nữa những vấn đề khái quát chung về pháp luật ưu đãi xã hội, người có cơng.

Phân tích vai trị, ý nghĩa cũng như những nguyên tắc điều chỉnh xuyên suốt <small>pháp luật ưu đãi xã hội, người có cơng.</small>

Phân tích thực trạng pháp luật ưu đãi người có cơng từ thực tiễn tỉnh Lạng

Sơn, trên cơ sở đó đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật ưu đãi xã hội, <small>người có cơng.</small>

Dua ra những van dé cơ bản cũng như mơ hình dé xây dựng pháp luật ưu <small>đãi xã hội, người có cơng ở Việt Nam.</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 10</span><div class="page_container" data-page="10">

7. Kết cầu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Khái quát về pháp luật ưu đãi xã hội và nội dung quy định pháp luật hiện hành về ưu đãi xã hội.

Chương 2: Thực tiễn thực hiện pháp luật ưu đãi xã hội tại tỉnh Lạng Sơn.

Chương 3: Một số giải pháp nhăm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực <small>hiện pháp luật ưu đãi xã hội tại tỉnh Lạng Sơn.</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 11</span><div class="page_container" data-page="11">

QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT HIỆN HANH VE UU DAI XÃ HỘI <small>1.1. Khái niệm pháp luật ưu đãi</small>

<small>1.1.1. Khai niệm wu đãi xã hội</small>

Ở Việt Nam khái niệm ưu đãi xã hội gắn liền với khái niệm người có cơng với cách mạng. Ngay sau khi giành được chính quyền, từ những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, H6 Chủ tịch đã ký sắc lệnh số 20/SL ngày 16/02/1947 về "Ưu đãi người có cơng", nhưng đến khi Nhà nước ban hành Pháp <small>lệnh người có cơng với cách mạng, thì khái niệm người có cơng với cách mạng mới</small> được nêu đầy đủ theo hai nghĩa sau:

<small>Theo nghĩa rộng: Người có cơng là những người khơng phân biệt tơn giáo, tín</small> ngưỡng, dân tộc, nam nữ, ti tác, đã tự nguyện cống hién sức lực, tài năng, trí tuệ, hiến dâng cả cuộc đời mình cho sự nghiệp dựng nước, giữ nước và kiến thiết đất nước. Họ là những người có thành tích đóng góp, những cống hiến xuất sắc phục vụ cho lợi ích của đất nước, của dân tộc được cơ quan nhà nước có thầm quyền công nhận theo quy định của pháp luật. Ở đây có thê thấy rõ những tiêu chí cơ bản của người có cơng, đó là phải có đóng góp, cống hiến xuất sắc và vì lợi ích của dân tộc. Những đóng góp, cống hiến của họ có thé là trong các cuộc dau tranh giành độc lập, tự do cho Tổ quốc và cũng có thể là trong công cuộc xây dựng và kiến thiết đất nước.

<small>Theo nghĩa hẹp: Người có cơng là những người khơng phân biệt tơn giáo,</small> tín ngưỡng, dân tộc, nam nữ, tuổi tác, có những đóng góp, những cống hiến xuất sắc trong thời kỳ cách mạng tháng Tám năm 1945, trong các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc, được cơ quan, tổ chức có thâm quyền công nhận theo quy định của pháp luật. Ở khái niệm này, Người có cơng bao gồm những người đã hy sinh xương máu hoặc một phan thân thé của minh trong hoạt động giúp đỡ cách mạng, hoặc cống hiến cả cuộc đời mình cho sự nghiệp cách mạng và được các <small>cơ quan tơ chức có thâm quyền cơng nhận.</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 12</span><div class="page_container" data-page="12">

Phạm trù người có cơng rất rộng, trong phạm vi hẹp đối tượng người có cơng là những người có cơng trong các cuộc kháng chiến trường kỳ giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc dưới sự lãnh đạo tài tình của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Theo quy định tại Điều 2 Pháp lệnh Ưu đãi người có cơng với cách mạng số 26/2005/PL-UBTVQHII ngày 29/6/2005 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XI (Pháp lệnh Ưu đãi người có cơng với cách mạng năm 2005) và Pháp lệnh số 04/2012/UBTVQHI3 ngày 16/7/2012 của Uy ban thường vụ Quốc hội khóa XIII sửa đối, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Ưu đãi người có cơng với cách mạng năm 2005, đối tượng được hưởng chế độ ưu đãi gồm:

<small>- Người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945;</small>

- Người hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến ngày khởi <small>nghĩa Tháng Tám năm 1945;</small>

<small>- Liét si;</small>

<small>- Ba me Viét Nam anh hung;</small>

<small>- Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân;</small> - Anh hùng lao động thời kì kháng chiến;

<small>- Thương binh, người hưởng chính sách như thương binh;- Bệnh binh;</small>

- Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học;

- Người hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù đày; - Người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế;

<small>- Người có cơng giúp đỡ cách mạng.</small>

<small>- Thân nhân của người có cơng với cách mạng.</small>

Tất cả những đối tượng được coi là người có cơng bao giờ cũng được Nhà <small>nước và xã hội dành cho những ưu tiên, những đãi ngộ hơn mức bình thường so với</small> các đối tượng khác trong mọi mặt của đời sống xã hội. Những ưu tiên, đãi ngộ hơn mức bình thường ấy chính là ưu đãi xã hội.

</div><span class="text_page_counter">Trang 13</span><div class="page_container" data-page="13">

cống hiến hết minh cho hịa bình, ổn định và sự phát triển bền vững của đất nước. Những sự cơng hiến đó đều được Đảng, Nhà nước và xã hội ghi nhận, tôn vĩnh va biết on thông qua những ưu đãi về cả vật chất lẫn tinh thần mà Dang, Nhà nước, xã <small>hội dành cho họ.</small>

Trải qua hơn 4000 năm dựng nước và giữ nước, với các chế độ chính trị xã hội khác nhau, với những quan niệm về con người, xã hội, chính trị... khác nhau, nhưng có thể khăng định dù ở bất kỳ thời kỳ nào, giai đoạn lịch sử nào, chế độ nào của đất nước thì những người có cơng với đất nước đều được suy tơn và chính quyền ln có chính sách ưu đãi đối với họ. Ở mỗi thời kỳ, chế độ khác nhau thì chính sách đối với người có cơng cũng khác nhau. Nhưng suy cho cùng thì chính sách ưu đãi đối với người có cơng là sự ghi nhận những cơng lao của họ cho đất nước, là những chế độ đãi ngộ về vật chất và tinh thần, là sự bày tỏ lòng biết ơn đến những người đã hy sinh, đã cống hiến cho sự nghiệp bảo vệ và phát triển đất nước.

Với đặc điểm lịch sử của dân tộc Việt Nam, lịch sử của những cuộc dau <small>tranh dung nước, giữ nước và giành độc lập cho dân tộc nên những người có cơng</small> là một bộ phận lớn những người đã hy sinh, cống hiến cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, đó là những Bà mẹ Việt Nam anh hùng, những thương binh, liệt sĩ, người có cơng giúp đỡ cách mang,... Ho là những người có công với cách mạng, với đất nước, được Nhà nước và nhân dân ghi nhận, biết ơn sâu sắc. Do vậy, ưu đãi xã hội xét ở một góc độ nào đó chính là những ưu đãi đối với người có cơng với cách mạng (pháp luật ưu đãi xã hội Việt Nam hiện nay chỉ quy định về đối tượng này).

Tuy nhiên, những người có cơng với đất nước khơng chỉ bao gồm những người có cơng với cách mạng, những người đã xả thân vì sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, vì độc lập dân tộc. Bên cạnh đó cịn một bộ phận những người đã cống hiến, hy sinh hết sức mình để bảo vệ, xây dựng và giữ vững đất nước không phải chỉ trong thời chiến mà cả trong thời bình, họ đã dem lại những thành tích, sự vĩnh quang cho đất <small>nước, góp phân vào sự phát triên của đât nước cũng như khăng định vị thê của quôc</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 14</span><div class="page_container" data-page="14">

gia dân tộc Việt Nam trên trường quốc tế... Vì thế, đối tượng người có cơng được <small>hưởng ưu đãi xã hội khơng chỉ bó hẹp trong phạm vi những người có cơng với cách</small> mạng mà cịn được hiểu theo nghĩa rộng, đó là những người đã cống hiến sức lực, năng lực, trí tuệ và mạng sống của mình cho sự nghiệp bảo vệ Tô quốc, phát triển đất nước mà khơng có bất kỳ sự địi hỏi, u cầu bù đắp nào. Họ là những người có thành tích xuất sắc bảo vệ cho sự bình an của xã hội, làm rạng danh đất nước, công hiến, hy sinh vì lợi ích của đất nước, của dân tộc, được sự cơng nhận của pháp luật mà khơng có sự phân biệt tơn giáo, dân tộc, tín ngưỡng, ti tác, giới tính, nghề nghiệp..., như nhà giáo nhân dân, nghệ sĩ nhân dân, thầy thuốc ưu tú, nhà kinh tế, nhà khoa học có đóng góp xuất sắc...

Lịch sử đã chứng minh, dân tộc Việt Nam là một dân tộc anh hùng. Gần một thế kỷ qua dưới sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân dân ta đã đồng lòng quyết tâm thực hiện lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh "Khơng có gì q hơn độc lập tự do"; "Thà hy sinh tất cả chứ không chịu mất nước, không chịu

làm nô lệ". Với quyết tâm ay, dân tộc Việt Nam da giành được thắng lợi trước kẻ thù xâm lược. Để có được thắng lợi to lớn ay, hang triệu đồng bào, chiến sĩ ta đã Vượt qua

bao gian lao, vất vả, hàng triệu người đã hy sinh, bị thương, hay bệnh tật, không biết bao nhiêu người đã mat đi người thân, những hậu quả to lớn, những dấu ấn tàn khốc của chiến tranh vẫn cịn in đậm trong tâm trí bao thế hệ người Việt Nam. Khi chiến tranh đã đi qua, những đối tượng này và cả người thân của họ đã gặp khơng ít khó khăn trong cuộc sơng. Sức khỏe của họ đã bị suy giảm, tudi tác cũng gây ra khó khăn khơng kém, những di chứng của chiến tranh làm cho họ khó có thê phan dau, hoc tập, rèn luyện, làm việc dé có thé thích nghi với cuộc sống đang ngày phát triển. Hơn nữa, họ khơng có điều kiện dé chăm lo cho gia đình, con cái, người thân của họ bị thiệt thoi, cuộc sống gia đình bị ảnh hưởng. Họ là những đối tượng cần tới sự trợ giúp của Nhà nước, sự giúp đỡ của xã hội. Những hy sinh, mat mát, cống hiến, công lao của <small>họ cũng như thân nhân của họ xứng đáng được Nhà nước, xã hội ghi nhận và trợ g1úp.</small>

<small>Chính sách ưu đãi xã hội là một chính sách lớn của Đảng và Nhà nước ta.</small> Căn cứ vào nhiệm vụ chính trị, kế hoạch phát triển, tình hình kinh tế - chính trị - xã

</div><span class="text_page_counter">Trang 15</span><div class="page_container" data-page="15">

hội ở mỗi thời kỳ mà Đảng, Nhà nước đưa ra những chính sách ưu đãi khác nhau

đối với người có cơng để ghi nhận những đóng góp, cơng lao to lớn của người có cơng; thể hiện sự quan tâm, biết ơn của Đảng, Nhà nước và nhân dan đối với sự hy sinh, công hiến của họ cho đất nước; bù dap mot phan nào đó cho họ về đời sống vật chất cũng như tinh thần. Ngay từ những ngày đầu giành được chính quyền (năm 1945), tuy cịn nhiều khó khăn, phải đương dau với thực dân Pháp, dé quốc Mỹ xâm lược nhưng Đảng và Nhà nước ta vẫn rất chú trọng đến cơng tác xây dựng cũng như thực hiện chính sách này. Chính sách ưu đãi đối với người có cơng là một chính sách đặc biệt giành cho những đối tượng đặc biệt. Vì thế, Nhà nước với vai trị và chức năng của mình, sử dụng các biện pháp khác nhau để xây dựng và triển khai đưa các chính sách ưu đãi đối với người có cơng vào cuộc sống. Không những vậy, Đảng và Nhà nước cịn vận động, kêu gọi và khuyến khích mọi người dân, các tô chức tham gia các phong trào thiết thực nhằm mục đích thực hiện tốt nhất chính sách ưu đãi đối với người có cơng.

Thực hiện tốt chính sách đối với người có cơng là việc làm có ý nghĩa quan trọng, nó khơng chỉ giúp 6n định đời sống của các đối tượng đặc biệt này, giúp ho hịa nhập với cộng đồng mà cịn góp phan vào sự ồn định và phát triển của xã hội. Thực hiện chính sách ưu đãi xã hội đối với người có cơng khơng chỉ thé hiện trách nhiệm của Dang, Nhà nước mà còn thé hiện sự biết ơn đối với những cống hiến của họ, hơn nữa nó cịn góp phần giáo dục thế hệ đi sau nhận thức được trách nhiệm của mình, tiếp tục phát huy hơn nữa tinh thần xa thân vi đất nước, lòng dũng cảm, những thành quả mà thế hệ cha anh đã ra sức bảo vệ, vun đắp nên. Do đó, chính sách ưu đãi xã hội đối với người có cơng mang tính nhân văn sâu sắc, nó góp phần

tạo ra môi trường lành mạnh, nâng cao ý thức trách nhiệm cho mỗi công dân trong <small>xã hội.</small>

Ở Việt Nam chính sách ưu đãi xã hội là một bộ phận quan trọng của chính sách an sinh xã hội. Chính sách an sinh xã hội là sự bảo vệ của Nhà nước, xã hội đối với các thành viên của minh thơng qua các chính sách và chương trình cụ thé nhằm giúp cho họ có cuộc sống ổn định, phát triển lành mạnh. Hệ thống chính sách an

</div><span class="text_page_counter">Trang 16</span><div class="page_container" data-page="16">

sinh xã hội của nước ta chủ yếu điều chỉnh ba nhóm quan hệ chủ yếu là bảo hiểm xã hội, cứu trợ xã hội và ưu đãi xã hội. Trong đó, chính sách bảo hiểm xã hội nhằm mục đích bảo vệ cho người lao động ở mọi thành phần kinh tế khi họ gặp phải <small>những rủi ro khơng may trong q trình lao động làm cho khả năng lao động của họ</small> bị giảm sút, hay trong trường hợp người lao động già yêu không có khả năng lao động. Chính sách cứu trợ xã hội là sự trợ giúp của Nhà nước đối với các thành viên của xã hội khi họ bị rơi vào hồn cảnh rủi ro, bất hạnh, nghèo đói, khó khăn, hiểm

nghèo... nhằm giúp họ tồn tại, ôn định cuộc sống, tái hịa nhập cộng đồng. Cịn

<small>chính sách ưu đãi xã hội như đã phân tích ở trên chính là chính sách ưu đãi người có</small> cơng. Tuy nhiên, khác với các chính sách cịn lại trong hệ thống an sinh xã hội thì <small>chính sách ưu đãi xã hội không chỉ là sự bảo vệ, trợ giúp của Nhà nước mà nó cịn</small> là nghĩa vụ, là trách nhiệm của Nhà nước, của cộng đồng đối với người có cơng, thê hiện sự biết ơn sâu sắc đến họ. Vì thế, chính sách ưu đãi xã hội có vị trí quan trọng trong hệ thống chính sách an sinh xã hội. Đó khơng chỉ là vẫn đề truyền thống, đạo lý mà cịn là vấn đề chính trị, giáo dục, là van đề kinh tế, xã hội có ý nghĩa lâu dai.

Đề điều chỉnh các mối quan hệ xã hội, Nhà nước đặt ra pháp luật, quy định những quy tắc xử sự chung nhất cho các mối quan hệ xã hội và đảm bảo việc thực thi bằng những biện pháp giáo dục, thuyết phục, cưỡng chế của mình. "Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự chung do Nhà nước ban hành (hoặc thừa nhận) và đảm bảo thực hiện, thể hiện ý chi của giai cấp thống trị, là yếu tố điều chỉnh các quan hệ xã hội nhằm tạo ra trật tự và 6n định trong xã hội".

Pháp luật ưu đãi xã hội là sự thể chế hóa các chính sách ưu đãi của Đảng, Nhà nước đối với người có cơng, các quyền ưu đãi của người có cơng và những đảm bảo về mặt pháp lý cho việc thực hiện các quyền đó. Pháp luật ưu đãi người có công quy định những nguyên tắc, cách thức, phương pháp thực hiện các chế độ ưu đãi đối với người có cơng: quy định quyền hạn, trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện ưu đãi đối với người có cơng; điều chỉnh tất cả các hoạt động ưu đãi đối với người có cơng nhằm mục đích đảm bảo thực hiện một cách tốt <small>nhât, hữu hiệu nhât các chê độ, ưu đãi đôi với đôi tượng đặc biệt này.</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 17</span><div class="page_container" data-page="17">

Từ những phân tích trên có thé rút ra kết luận, pháp luật wu đãi xã hội (ưu đãi người có cơng) là tổng thể các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ hình thành trong việc tổ chức và thực hiện chính sách uu đãi đối với người có cơng trên tat cả các lĩnh vực của đời sống.

Pháp luật ưu đãi xã hội là sự thé hiện rõ nhất tính dân tộc, tính xã hội của pháp luật. Pháp luật ưu đãi xã hội là công cụ quản lý hữu hiệu mọi mặt đời sống, tinh thần của người có cơng, giúp phát huy những truyền thống tốt đẹp của dân tộc, dam bảo cơng bằng, tiễn bộ xã hội và góp phan làm cho xã hội phát triển bền vững.

1.1.3. Đặc điểm của pháp luật ưu đãi xã hội

Pháp luật ưu đãi xã hội là một bộ phận cầu thành quan trọng của pháp luật an sinh xã hội, cùng tồn tại bên cạnh 3 bộ phận pháp luật khác là pháp luật bảo hiểm xã hội, pháp luật bảo hiểm y tế, pháp luật bảo hiểm thất nghiệp và pháp luật trợ giúp xã hội. Dù cùng thuộc hệ thống pháp luật an sinh xã hội, nhưng pháp luật ưu đãi xã hội vẫn chứa đựng một số đặc điểm riêng biệt so với các bộ phận pháp luật khác trong hệ thống pháp luật an sinh xã hội. Có thé khái quát sơ bộ một số đặc điểm sau <small>đây của pháp luật ưu đãi xã hội.</small>

Một là, căn ctr chủ yếu dé xác định các đối tượng áp dụng chế độ ưu đãi xã hội là sự đóng góp đặc biệt của các đối tượng này hoặc của thân nhân, thành viên gia đình họ cho dân tộc, cho đất nước.

Trong pháp luật bảo hiểm xã hội hoặc trợ giúp xã hội, căn cứ để xác định

đối tượng được hưởng chế độ bảo hiểm xã hội hoặc trợ giúp xã hội về cơ bản là

trường hợp ho gặp những rủi ro, biến cố bat thường trong lao động hoặc trong cuộc sống mà họ cần được đảm bảo an toàn. Tuy nhiên, trong pháp luật ưu đãi xã hội, việc xác định đối tượng được hưởng chế độ ưu đãi chủ yếu dựa trên những công hiến, hy sinh về sức lực, xương mau, tuôi trẻ của họ cho đất nước. Có thé coi đó là sự đóng góp đặc biệt của các chủ thể này, bởi nó khơng giống như những đóng góp của các chủ thê trong pháp luật bảo hiểm xã hội trong việc đóng góp quỹ bảo hiểm xã hội. Sự khác biệt này thé hiện cả ở hình thức đóng góp và mục đích đóng góp. <small>Những người có cơng với cách mạng đóng góp sức lực, ti trẻ, máu xương, thậm</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 18</span><div class="page_container" data-page="18">

chí cả tính mạng của họ cho sự nghiệp của tồn dân tộc. Họ đóng góp khơng nhằm mục đích và khơng thé tính tốn giá trị để có thé hồn trả, bù đắp một cách ngang băng. Tuy nhiên, ngoài căn cứ chủ yếu này, việc xác định đối tượng hưởng chế độ ưu đãi xã hội cũng có thé dựa vào hồn cảnh cu thê của đối tượng như các bộ phận pháp luật an sinh xã hội khác để đảm bảo sự công bằng, song đó khơng phải là căn cứ chính dé xác định đối tượng hưởng chế độ ưu đãi xã hội trong pháp luật ưu đãi <small>xã hội.</small>

Hai là, mục đích của pháp luật ưu đãi xã hội khơng chỉ nhằm thực hiện tương trợ cộng đồng mà quan trọng hơn là nhằm thực hiện sự ưu đãi của Nhà nước đối với những người có cơng với cách mạng.

Về tơng thé, pháp luật an sinh xã hội nói chung đều nhằm mục đích chính là thực hiện tương trợ cộng đồng trong xã hội. Pháp luật ưu đãi xã hội cũng thê hiện mục đích này thơng qua việc xác định đối tượng hưởng chủ yếu là những người gặp khó khăn như người bị thương tật, người già, trẻ mồ côi... Tuy nhiên, như trên đã đề cập, đây chưa phải là mục đích chính của lĩnh vực pháp luật này. Nếu chỉ nhằm trợ giúp những đối tượng đó thì chỉ với bộ phận pháp luật hiểm xã hội hoặc trợ giúp xã hội cũng có thể thực hiện được mục tiêu này. Mục tiêu chủ yếu của pháp luật ưu đãi xã hội là thực hiện sự ưu tiên, ưu đãi của Nhà nước và xã hội đối với một bộ phận cư dân đặc biệt, đó là người có cơng với cách mạng. Điều này cũng thê hiện tính <small>đặc thù của pháp luật an sinh xã hội của nước ta so với pháp luật an sinh xã hội của</small> nhiều quốc gia khác.

Sự ưu tiên, ưu đãi được thê hiện ở nhiều khía cạnh trong nội dung các quy định pháp luật về ưu đãi xã hội. Một mặt, mức trợ cấp thông thường được quy định cao hơn các mức trợ cấp trong hệ thống pháp luật an sinh xã hội khác. Nhà nước chủ trương đảm bảo mức trợ cấp ưu đãi xã hội cao hơn mức sống trung bình của người dân. Mặt khác, phạm vi các chế độ ưu đãi xã hội cũng rộng hơn so với các chế độ an sinh xã hội khác. Nếu như trong chế độ bảo hiểm xã hội hoặc chế độ trợ giúp xã hội đối tượng hưởng chỉ được hưởng khoản trợ cấp bằng tiền (vật chất) thì đối tượng hưởng trong pháp luật ưu đãi xã hội không chỉ được hưởng các khoản trợ

</div><span class="text_page_counter">Trang 19</span><div class="page_container" data-page="19">

cấp vật chất dé dam bảo cuộc sống mà cịn được hưởng tồn diện các chế độ về giáo dục, nhà ở, việc làm và các ưu đãi về đời song tinh than..., bao ham hau hết các nhu cầu thiết yêu của cuộc sống con người trong xã hội. Tuy vậy, điều nay cũng khơng lam mat đi tính chất an sinh xã hội của bộ phận pháp luật này, bởi vì chỉ những người có cơng gặp khó khăn hoặc có thé gặp khó khăn hơn do những cống hiến của mình cho đất nước (sức khỏe giảm sút do thời gian chiến đấu, phục vụ chiến đấu; tuổi trẻ phải phục vụ kháng chiến nên mat cơ hội học hành.. .) mới được xác định là đối tượng được hưởng chế độ ưu đãi. Những người có cơng trong các lĩnh vực như giáo dục, y tế, văn hóa, khoa học, nghệ thuật, thé thao...tuy cũng có nhiều cơng hiến, đem lại vinh quang cho đất nước, nhưng họ khơng gặp khó khăn trong cuộc sống vì những gi đã cống hiến cho đất nước nên không phải là đối tượng được xác định là người

hưởng ưu đãi xã hội. Tuy nhiên, họ vẫn được Nhà nước và xã hội ghi nhận công lao

thông qua việc tôn vinh các danh hiệu như Nhà giáo ưu tú, Thầy thuốc ưu tú... <small>1.1.4. Vai trò, ý nghĩa của pháp luật wu đãi xã hội</small>

Pháp luật ưu đãi xã hội có vai trị to lớn và mang ý nghĩa nhiều mặt khác nhau. Thứ nhất, về chính trị, pháp luật ưu đãi xã hội góp phan tạo niềm tin vào chế độ chính sách tốt đẹp của Nhà nước cho những người có cơng với cách mạng nói riêng và những người dân khác nói chung. Họ sẽ thấy rằng, sự hy sinh đóng góp <small>của họ được Nhà nước và xã hội nhìn nhận, đánh giá đúng mức, gia đình được Nhà</small> nước và cộng đồng chăm lo. Do vậy, sự ưu đãi đối với những người có cơng khơng chỉ là sự hỗ trợ về đời sống vật chất và tinh thần cho ho mà còn tạo niềm tin vào chế độ xã hội tốt đẹp, là nguồn động viên, khích lệ đối với các thành viên khác trong xã hội sẵn sàng cống hiến, hy sinh cho đất nước trong những hoàn cảnh cần thiết. Do đó có thé nói pháp luật ưu đãi xã hội góp phần 6n định xã hội, giữ vững thể chế, tạo điều kiện cho sự phát triển của đất nước trong thế 6n định, bền vững. Nếu khơng có pháp luật ưu đãi xã hội hoặc thực hiện không tốt pháp luật này sẽ làm mắt lịng tin khơng chỉ của một thế hệ đã từng cống hiến, hy sinh, mà còn của cả các thế hệ sau. Đó là nguy cơ dẫn đến mat ơn định chính trị xã hội, anh hưởng đến sự tơn vong của <small>chê độ chính tri, cua Nhà nước.</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 20</span><div class="page_container" data-page="20">

Thứ hai, về kinh tế, pháp luật ưu đãi xã hội có vai trị đặc biệt quan trọng trong việc đảm bảo và nâng cao đời sống mọi mặt của người có cơng. Những người này khi tuổi đã già, sức đã yêu (đặc biệt những người tham gia họat động cách mạng hoặc trực tiếp chiến dau, phục vụ chiến đấu bảo vệ Tổ quốc) hoặc không có điều kiện học tập dé nâng cao trình độ do đã cống hiến tuổi trẻ cho đất nước sẽ gặp khơng ít khó khăn trong cuộc sống, đặc biệt, những người khơng cịn khả năng lao động hoặc khơng còn nơi nương tựa (Bà mẹ Việt Nam anh hùng, cha mẹ liệt sĩ...) sẽ rất

cần một nguồn sông ôn định. Điều này được đảm bảo bằng các chế độ ưu đãi xã hội.

Không chỉ dừng lại ở việc đảm bảo đời sống, pháp luật ưu đãi xã hội cịn giúp người có cơng có cơ hội phát triển kinh tế, nâng cao đời sống vật chat và tinh thần của bản thân và gia đình. Các chế độ ưu đãi trong lĩnh vực giáo dục, việc làm, nhà ở... trên thực tế đã phát huy tác dụng tích cực. Nhiều gương sáng điển hình trong hoạt động kinh té của các cựu chiến binh đã xuất hiện, do họ có ý chí, tâm

huyết và giàu nghị lực, cùng với sự ưu đãi về vốn, thuế của Nhà nước đã góp phần

tạo nên thành cơng cho họ. Từ đó cũng góp phần tạo nên động lực phấn đấu cho các thành viên khác trong xã hội trong công cuộc phát triển kinh tế của đất nước.

Thứ ba, về xã hội, pháp luật ưu đãi xã hội thê hiện truyền thống "uống nước nhớ nguồn", "đền ơn đáp nghĩa", là sự báo đáp công ơn của những người đã xả thân vì đất nước. Đây khơng chỉ là sự biết ơn, kính trọng mà cịn là trách nhiệm, nghĩa vụ của Nhà nước, của cộng đồng và toàn xã hội với một bộ phận cư dân đặc biệt.

Những người đã cống hiến hết tuổi xuân, sức khỏe, thậm chí cả tính mạng cho đất

nước bản thân và gia đình thường sẽ gặp khó khăn trong cuộc sống. Đặc biệt khi sống trong cơ chế thị trường, nơi có sự cạnh tranh khốc liệt vì lợi nhuận, thu nhập...thì những người có cơng càng ít có cơ hội mưu sinh và phát triển. Chính vì vậy, pháp luật ưu đãi xã hội càng có ý nghĩa về mặt xã hội và mang nặng tính nhân văn. Nó khơng chỉ góp phần đảm bảo và nâng cao đời sống vật chất cho những người có cơng mà cịn giúp họ hòa nhập vào xã hội. Những chế độ ưu đãi về giáo dục, đào tạo, ưu đãi về việc làm, chăm sóc sức khỏe... thé hiện sự quan tâm đặc biệt <small>của Nhà nước và cộng đông đên mọi mặt đời sơng của người có cơng.</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 21</span><div class="page_container" data-page="21">

Pháp luật ưu đãi xã hội ngồi ra cịn góp phần giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ, tạo cơ hội để mỗi công dân nhận thức sâu sắc và phát huy truyền thống tốt đẹp của cha ông là "uống nước nhớ nguồn". Từ đây, lòng tự hào dân tộc, lòng biết ơn của thế hệ trẻ đối với thế hệ cha ông được khơi dậy và phát huy. Pháp luật ưu đãi xã hội cũng góp phan tạo nên cách sống của con người với sự cảm thông, chia sẻ, trách nhiệm... giữa các cá nhân, giữa các thé hệ trong cộng dong.

Tứ tư, về pháp lý, pháp luật ưu đãi xã hội một mặt là sự thé chế hóa các chính sách ưu đãi của Đảng và Nhà nước đối với người có cơng, đồng thời là sự đảm bảo về mặt pháp lý cho các quyền được ưu đãi của họ được thực hiện trên thực tế. Những người có cơng là một bộ phận cư dân đặc biệt, họ cần được tôn vinh và

được đảm bảo cuộc sống không chỉ dựa vào lòng hảo tâm của cộng đồng, của xã hội

mà cần phải quy định bằng pháp luật của Nhà nước thành các quyền của họ. Khi đã được quy định thành pháp luật, một mặt các quyền của người có cơng trở thành quyền pháp lý, nghĩa là nó sẽ được đảm bảo thực hiện bằng sự cưỡng chế của Nhà nước trong trường hợp cần thiết. Người có cơng có thê tự hào khi hưởng các quyền này, khơng tạo ra tâm lý của người được ban ơn. Mặt khác, tương ứng với quyền pháp lý của người có công là nghĩa vụ pháp lý của các cơ quan, tô chức, công chức liên quan trong việc thực hiện, đảm bảo các quyền đó trên thực tế. Nếu bị vi phạm, khơng những người có cơng có thé sử dụng các biện pháp pháp lý dé thực hiện quyền của mình (chắng hạn khởi kiện ra Tịa án hành chính) mà cơng chức vi phạm cịn có thé phải chịu các chế tài tương ứng. Điều này cũng đảm bảo không tạo ra tâm lý ban ơn, cơ chế xin - cho của các chủ thê thực hiện.

1.2. Nội dung quy định pháp luật hiện hành về ưu đãi xã hội ở Việt Nam 1.2.1. Đối twong được hưởng wu đãi

Đối tượng điều chỉnh của Luật ưu đãi xã hội là những quan hệ xã hội hình thành trong lĩnh vực ưu đãi đối với người có cơng. Đó là quan hệ giữa một bên là Nhà nước và một bên là người có cơng cùng với gia đình của họ trong nhiều lĩnh vực khác nhau của đời song xã hội như: quan hệ về trợ cấp, ưu đãi; quan hệ về

<small>chăm sóc y tê; giáo duc; quan hệ về việc làm; nhà ở; trợ giúp pháp lý miên phi...</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 22</span><div class="page_container" data-page="22">

Với đặc điểm này, pháp luật ưu đãi xã hội đã trở thành một nét đặc thù trong hệ thống pháp luật an sinh xã hội của Việt Nam.

Điều 2 Pháp lệnh ưu đãi người có cơng với cách mạng năm 2005 được Pháp lệnh số 04/2012/UBTVQHI3 sửa đổi bổ sung một số điều của Pháp lệnh ưu đãi người có cơng với cách mạng quy định có hai nhóm đối tượng được hưởng chế độ <small>ưu đãi đó là, người có cơng với cách mạng và thân nhân của người có cơng với cách</small> mạng, trong đó người có cơng với cách mạng bao gồm có 12 đối tượng:

<small>- Người hoạt động cách mạng trước ngày 01 thang 01 năm 1945: Là người</small>

được cơ quan, tổ chức có thâm quyền cơng nhận đã tham gia tổ chức cách mạng <small>trước ngày 01 tháng 01 năm 1945 (cán bộ lão thành cách mạng).</small>

- Người hoạt động cách mạng từ 01/01/1945 đến trước Tổng khỏi nghĩa 19 tháng Tám năm 1945: Là người được cơ quan, tổ chức có thấm quyền cơng nhận đứng đầu một tổ chức quan chúng cách mạng cấp xã hoặc thoát ly hoạt động cách mang ké từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến trước Tổng khởi nghĩa 19 tháng Tám năm

1945 (cán bộ tiễn khởi nghĩa).

<small>- Liệt sĩ. Là người đã hy sinh vì sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc,</small> bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế hoặc vì lợi ích của Nhà nước, của nhân dân được Nhà nước truy tặng Bằng "Tổ quốc ghi công".

<small>- Bà mẹ Việt Nam anh hùng: Những Bà mẹ được tặng hoặc truy tặng danh</small>

hiệu "Bà mẹ Việt Nam anh hung" là những bà mẹ có nhiều cơng hiến, hy sinh vì sự

nghiệp giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế được quy định tại Điều 2 Nghị định 56/2013/NĐ-CP ngày 22/5/2013 quy định chỉ tiết và hướng dẫn thi <small>hành Pháp lệnh quy định danh hiệu vinh dự Nhà nước "Ba mẹ Việt Nam anh hùng".</small>

<small>- Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dan: là người được Nhà nước tặnghoặc truy tặng danh hiệu "Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dan" vì đã có thành</small> tích đặc biệt xuất sắc trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu.

- Anh hùng lao động trong thời kỳ kháng chiến: là người được nhà nước tuyên dương Anh hùng lao động vì có thành tích xuất sắc trong lao động, sản xuất phục vụ kháng chiến (tuyên dương trước ngày 30/4/1975).

</div><span class="text_page_counter">Trang 23</span><div class="page_container" data-page="23">

<small>- Thuong binh, người được hưởng chính sách nhự thương binh: Thương</small> binh là người đã hy sinh vì sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế hoặc vì lợi ích của Nhà nước, của nhân dân được Nhà nước truy tặng Bằng "Tổ quốc ghi công" được quy định tại Điều 19 Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Ưu đãi người có cơng với cách mạng năm 2012.

- Bệnh binh: là quân nhân, công an nhân dân mắc bệnh làm suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên khi xuất ngũ về gia đình được cơ quan, đơn vị có thâm quyền cấp "Giấy chứng nhận bệnh binh": mắc bệnh làm suy giảm kha năng lao động từ 41% - 60% đã được cơ quan, đơn vị có thâm quyền công nhận trước <small>ngày 31/12/1994.</small>

- Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học: là người được cơ quan có thâm quyền cơng nhận đã tham gia công tác, chiến đấu, phục vụ chiến đấu tại các vùng mà quân đội Mỹ đã sử dụng chất độc hóa học, bị mắc bệnh làm Suy giảm khả năng lao động, sinh con di dang, di tật hoặc vơ sinh do hậu quả của chat <small>độc hóa học.</small>

- Người hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù, day: là người được cơ quan, tổ chức, đơn vị có thâm quyền cơng nhận trong thời gian bị tù, đày khơng khai báo có hại cho cách mạng, cho kháng chiến, không làm tay sai cho địch.

- Người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế: là người tham gia kháng chiến trong khoảng thời gian từ ngày 19 tháng 8 năm 1945 đến ngày 30 tháng 4 năm 1975 được Nhà nước tặng Huân chương Kháng chiến hoặc Huân chương Chiến thăng, Huy chương Kháng chiến hoặc Huy chương Chiến thắng.

<small>- Người có cơng giúp d& cách mạng: là người được tang Kỷ niệm chương</small>

"Tổ quốc ghi cơng" hoặc Bằng "Có cơng với nước": người được tặng Huân chương Kháng chiến hoặc Huy chương Kháng chiến; người trong gia đình được tặng Kỷ niệm chương "Tổ quốc ghi cơng" hoặc Bằng "Có cơng với nước" trước cách mạng tháng Tám năm 1945, người trong gia đình được tặng Huân chương Kháng chiến hoặc Huy chương Kháng chiến có đủ điều kiện xác nhận là người có cơng giúp đỡ cách mạng theo quy định của pháp luật về thi đua khen thưởng.

</div><span class="text_page_counter">Trang 24</span><div class="page_container" data-page="24">

1.2.2. Thủ tục làm chế độ hưởng ưu đãi của các đối tượng có cơng với <small>cách mạng</small>

<small>Căn cứ Pháp lệnh ưu đãi người có cơng với cách mạng hiện hành; Nghị</small> định 31/2013/NĐ-CP ngày 09/4/2013 của Chính phủ quy định chỉ tiết, hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh ưu đãi người có cơng với cách mạng; Thông tư <small>05/2013/TT-BLDTBXH ngày 15/5/2013 của Bộ Lao động - Thương bình và Xã hội</small> hướng dẫn về thủ tục lập hồ sơ, quản lý hồ sơ, thực hiện chế độ ưu đãi nguoi có cơng với cách mạng và thân nhân; các đối tượng lập hồ sơ theo yêu cầu gửi đến các cơ quan chức năng để được giải quyết chế độ ưu đãi theo quy định của pháp luật; Thông tư liên tịch số 28/2013/TTLT-BLĐTBXH-BQP ngày 22/10/2013 của Bộ Lao động - Thương bình và Xã hội, Bộ Quốc phòng hướng dẫn xác nhận liệt sĩ, thương binh, người hưởng chính sách như thương binh trong chiến tranh khơng cịn giấy tờ. Đối với từng trường hợp, từng đối tượng nhà nước hướng dẫn lập hồ sơ để được hưởng các chế độ ưu đãi của người có cơng với cách mạng:

- Thủ tục cơng nhận và quyết định thực hiện ưu đãi đối với người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945 được thực hiện theo Điều 1 Thông tư 05/2013/TT-BLĐTBXH; Khoản 2 Điều 7 Nghị định số 31/2013/NĐ-CP.

- Người hoạt động cách mạng từ 01/01/1945 đến trước Tổng khởi nghĩa 19 tháng Tám năm 1945 thực hiện theo Điều 7 Nghị định số 31/2013/NĐ-CP; Điều 2 Thông <small>tư 05/2013/TT-BLDTBXH.</small>

- Tùy từng đối tượng liệt sĩ có hướng dẫn cụ thê:

Đối với liệt sĩ trong chiến tranh còn giấy tờ: Thực hiện theo Điều 18 Nghị định 31/2013/NĐ-CP và Điều 3, Điều 4 Thông tư số 05/2013/TT-BLĐTBXH.

<small>Thủ tục xác nhận liệt sĩ hy sinh thuộc lực lượng quân đội, công an trong</small> chiến tranh khơng cịn giấy tờ được thực hiện theo Điều 4 Thông tư liên tịch SỐ 28/TTLT-BLDTBXH-BQP; Điều 17, Điều 18 Nghị định số 31/2013/NĐ-CP.

Thủ tục xác nhận liệt sĩ đối với người hy sinh không thuộc lực lượng quân đội, công an được thực hiện theo Điều 5 Thông tư liên tịch số 28/2013/TTLT-BLĐTBXH-BQP; Điểm c, d khoản 2 Điều 18 Nghị định số 31/2013/NĐ-CP.

</div><span class="text_page_counter">Trang 25</span><div class="page_container" data-page="25">

Thủ tục giải quyết chế độ đối với thân nhân liệt sĩ được thực hiện theo Điều 6,

Điều 7 Thông tư 05/2013/TT-BLĐTBXH.

Thủ tục giải quyết chế độ trợ cấp đối với vợ hoặc chồng liệt sĩ lấy chồng hoặc vợ khác được thực hiện theo Điều 8 Thông tư 05/2013/TT-BLDTBXH

Thủ tục giải quyết chế độ trợ cấp thờ cúng liệt sĩ được thực hiện theo Điều 10, Điều 11 Thông tư 05/2013/TT-BLDTBXH.

- Hồ sơ hưởng chế độ ưu đãi Bà mẹ Việt Nam anh hùng được quy định tại Điều 10, Điều 11, Điều 12 Thông tư 05/2013/TT-BLĐTBXH.

- Đối với Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng lao động trong thời kỳ kháng chiến hồ sơ hưởng chế độ ưu đãi quy định tại Điều 14 Thông tư <small>05/2013/TT-BLĐTBXH</small>

- Đối với Thương binh, người được hưởng chính sách như thương binh hé sơ được thực hiện theo Điều 26, Điều 27, Điều 28 Nghị định số 31/2013/NĐ-CP; Điều 16, Điều 17, Điều 19, Điều 20, Điều 21 Thông tư 05/2013/TT-BLĐTBXH

- Dé được hưởng chế độ ưu đãi các đối tượng là bệnh binh hoàn thiện hồ sơ được quy định tại Điều 24, Điều 26 Thông tư 05/2013/TT-BLĐTBXH

- Đối với Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học được quy định tại khoản 2, 3 Điều 27; khoản 2,3 Điều 28; Điều 28 Thông tư 05/2013/TT-BLĐTBXH.

- Đối với người hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù, day dé được hưởng các trợ cấp tùy theo từng trường hợp cần phải hoàn thiện phan hồ sơ theo điểm a khoản 1 Điều 33 Thông tư 05/2013/TT-BLĐTBXH.

- Khoản 1, 2 Điều 35, Điều 36 Thông tư 05/2013/TT-BLDTBXH hướng dẫn thủ tục giải quyết chế độ ưu đãi đối với người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế

- Đối với đối tượng là người có cơng giúp đỡ cách mạng thì thủ tục giải quyết chế độ được quy định tại khoản 1,2 Điều 37, Điều 38 Thông tư 05/2013/TT-BLĐTBXH.

- Các hồ sơ khác như thủ tục hưởng mai táng phí, trợ cấp, phụ cấp... của các đối tượng được quy định đầy đủ từ Điều 39 đến Điều 45 của Thông tư 05/2013/TT-BLĐTBXH.

</div><span class="text_page_counter">Trang 26</span><div class="page_container" data-page="26">

1.2.3. Chế độ được hưởng wu đãi của các doi twong

Tại Pháp lệnh ưu đãi người có cơng với cách mạng hiện hành; Nghị định SỐ 70/2017/NĐ-CP ngày 06/6/2017 của Chính phủ quy định mức trợ cấp, phụ cấp ưu đãi đối với người có cơng với cách mạng, tùy từng đối tượng được hưởng các chế <small>độ ưu đãi sau:</small>

- Trợ cấp hàng tháng, phụ cấp hàng tháng, trợ cấp một lần; - Bảo hiểm y tế;

- Điều đưỡng phục hồi sức khỏe;

- Nhà nước có chính sách hỗ trợ người có cơng với cách mạng, thân nhân

liệt sĩ có khó khăn về nhà ở và huy động sự tham gia của xã hội, gia đình người có <small>cơng với cách mạng;</small>

- Được ưu tiên trong tuyên sinh, tạo việc làm; được hỗ trợ dé theo học tai cơ Sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân đến trình độ đại học;

- Chính phủ quy định cụ thé thời điểm hưởng, mức hưởng và các chế độ ưu đãi. a) Đối với người hoạt động cách mạng trước ngày 01/01/1945 và thân nhân <small>của họ</small>

Người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945 được trợ cấp hàng tháng, phụ cấp hàng tháng: người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945 diện thoát ly được trợ cấp hàng tháng, phụ cấp hàng tháng theo quy định, ngồi ra họ cịn được hưởng phụ cấp hàng tháng tính theo số năm hoạt động <small>trước các mang; khi người hoạt động cach mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945</small> từ trần thì người t6 chức mai táng được hưởng một khoản trợ cấp va mai táng phí băng ba tháng trợ cấp ưu đãi và các chế độ ưu đãi khác khi người người hoạt động chết được quy định tại Nghị định số 70/2017/NĐ-CP.

b) Chế độ ưu đãi đối với người hoạt động cách mạng từ ngày 01/01/1945 đến trước Tổng khởi nghĩa 19 tháng Tám năm 1945 và thân nhân của họ

Người hoạt động cách mạng từ ngày 01/01/1945 đến ngày khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 được hưởng các chế độ ưu đãi sau khi có quyết định cơng nhận được hưởng trợ cấp hàng tháng.

</div><span class="text_page_counter">Trang 27</span><div class="page_container" data-page="27">

Khi chết thì thân nhân tơ chức mai táng được nhận mai táng phí; đại diện thân nhân được hưởng trợ cấp một lần bằng ba tháng trợ cấp ưu đãi

Người hoạt động cách mạng chết mà chưa được hưởng chế độ ưu đãi thì thân nhân được hưởng trợ cấp hàng tháng 25.000.000 đồng

Trường hợp khơng cịn thân nhân thì người thờ cúng được hưởng trợ cấp một lần bằng 10.000.000đ; thân nhân được hưởng trợ cấp tiền tuất hàng tháng.

Cc) Chế độ ưu đãi đối với liệt sĩ và thân nhân liệt sĩ

Liệt sĩ được tổ chức báo tử, truy điệu, an tang và được chôn cất một cách chu đáo. Mọi chi phí cho việc báo tử, lễ tang và chôn cất đều do ngân sách nhà nước chi trả. Thân nhân của một liệt sĩ được hưởng trợ cấp tiền tuất hang tháng bằng một lần mức chuẩn, thân nhân của 2 liệt sĩ được nhận 2 lần mức chuẩn và của 3 liệt sĩ trở lên được nhận 3 lần mức chuẩn. Vợ hoặc chồng liệt sĩ lấy chồng hoặc lấy vo khác thì được hưởng trợ cấp tiền tuất hang tháng bang một lần mức chuẩn. Các trường hợp thân nhân liệt sĩ được hưởng trợ cấp tiền tuất hằng tháng bao gồm cha đẻ, mẹ đẻ, người có cơng ni dưỡng liệt sĩ, con dưới 18 tuổi, con trên 18 tuổi nhưng còn đi học hoặc bị khuyết tật nặng, bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên và có thu nhập hang tháng thấp hơn 0,6 lần mức chuẩn, vợ hoặc chồng liệt sĩ lay chồng hoặc lay vợ khác nhưng nuôi con liệt sĩ đến tuổi trưởng thành hoặc chăm sóc bố mẹ liệt sĩ khi cịn sống. Trường hợp liệt sĩ khơng cịn người hưởng trợ cấp tiền tuất hằng tháng thì người thờ cúng được hưởng trợ cấp thờ cúng mỗi năm một lần 500.000 đồng.

Trước ngày 20/7/2014, chế độ hỗ trợ thăm, viếng liệt sĩ áp dụng theo Thông tư liên tịch số 01/2008/TTLT-BLĐTBXH-BTC. Sau ngày 20/7/2014, việc thăm viếng mộ liệt sĩ, di chuyển hài cốt liệt sĩ được quy định tại khoản 3 Điều 17, Điều 18, Điều 19 của Thông tư liên tịch số 13/2014/TTLT-BLĐTBXH-BTC.

<small>đ) Bà mẹ Việt Nam anh hùng</small>

Chế độ đối với Bà mẹ Việt Nam anh hùng: Bà mẹ Việt Nam anh hùng được hưởng trợ cấp một lần, trợ cấp hàng tháng, sống ở gia đình thì được hưởng trợ cấp <small>người phục vụ.</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 28</span><div class="page_container" data-page="28">

Khi Bà mẹ Việt Nam anh hùng chết, người tô chức mai táng được nhận mai

táng phí, đại diện thân nhân được hưởng trợ cấp một lần bằng ba tháng trợ cấp, phụ cấp ưu đãi.

Mức trợ cấp người phục vụ Bà mẹ Việt Nam anh hùng mỗi tháng bằng 1 lần mức chuẩn. Người được truy tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng thì thân nhân hoặc người thừa kế theo quy định của pháp luật được hưởng trợ cấp một lần.

<small>đ) Anh hùng lực lượng vũ trang nhán dân, Anh hùng lao động trong thời kỳ</small> kháng chiến

<small>Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng lao động trong thời kỳ</small> kháng chiến được hưởng chế độ trợ cấp hàng tháng.

Khi chết, người tô chức mai táng được nhận mai táng phí, được hưởng trợ cấp một lần bằng ba tháng trợ cấp ưu đãi.

Nếu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng trong thời kỳ kháng chiến khi chết mà chưa được nhận chế độ ưu đãi hoặc truy tặng thì thân nhân được hưởng trợ cấp một lần.

<small>e) Thương binh, bệnh binh, người được hưởng chính sách như thương bìnhThương binh, người hưởng chính sách như thương binh, thương binh loại B</small> được hưởng các chế độ trợ cấp, phụ cấp căn cứ vào mức độ suy giảm khả năng lao động và loại thương binh. Bệnh binh hưởng phụ cấp đặc biệt hàng tháng thì khơng hưởng phụ cấp hàng tháng.

<small>Thương binh, bệnh bình suy giảm khả năng lao động do thương tật (bệnh</small>

tật) từ 81% trở lên được hưởng phụ cấp, hoặc phụ cấp đặc biệt hằng tháng khi có

vết thương đặc biệt nặng, nếu sống ở gia đình thì được nhận thêm khoản trợ cấp người phục vụ. Người bị thương bị giảm khả năng lao động do thương tật từ 5 đến dưới 21% được hưởng trợ cấp một lần.

Khi thương binh, bệnh bình chết, người tơ chức mai táng được nhận mai táng phí, đại diện thân nhân được hưởng trợ cấp một lần bằng ba tháng trợ cấp, phụ cấp ưu đãi. Thương binh suy giảm khả năng lao động do thương tật (bệnh tật) từ 61% trở lên chết, thân nhân được hưởng trợ cấp tiền tuất hàng tháng.

</div><span class="text_page_counter">Trang 29</span><div class="page_container" data-page="29">

g) Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học

Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc da cam tùy theo mức độ được hưởng trợ cấp hàng thang từ 0,76 lần mức chuẩn.

Nếu người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học suy giảm khả năng lao động do bệnh tật từ 81% trở lên sẽ được hưởng chế độ như với bệnh binh <small>cùng tỷ lệ suy giảm khả năng lao động.</small>

Khi người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học chết, chế độ <small>được tính như với bệnh binh.</small>

Con đẻ của người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc da cam được hưởng trợ cấp hằng tháng bằng 0,6 đến một lần mức chuẩn, tùy mức độ suy giảm <small>khả năng lao động.</small>

Khi người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học chết, người tổ chức mai táng được nhận mai táng phí; đại diện thân nhân được hưởng trợ cấp một lần bằng ba tháng lương trợ cấp, phụ cấp ưu đãi.

h) Người hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt tu, day Người hoạt động cách mạng hoặc hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù đầy được hưởng hàng tháng bằng 0.6 mức chuẩn. Người được hưởng trợ cấp một lần còn sống được chuyên sang hưởng trợ cấp hang thang từ 01/9/2012 với mức trợ cấp 850.000 đồng một tháng. Người được công nhận từ 01/9/2012 trở về sau được hưởng trợ cấp hàng tháng từ ngày Giám đốc Sở lao động - Thương binh - Xã hội ra quyết định.

Khi đối tượng này từ trần, người tô chức mai táng được nhận mai táng phí; đại diện thân nhân được hưởng trợ cấp một lần băng ba tháng trợ cấp ưu đãi.

Người hoạt động cách mạng hoặc hoạt động kháng chiến bị địch bắn tù đầy chết mà chưa được hưởng chế độ ưu đãi người hoạt động cách mạng hoặc hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù đầy thì đại diện thân nhân được hưởng trợ cấp một lần băng 1.5 lần mức chuẩn.

i) Người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế

Người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế được hưởng trợ cấp một lần theo thời gian tham gia kháng chiến.

</div><span class="text_page_counter">Trang 30</span><div class="page_container" data-page="30">

Khi chết, người tổ chức mai táng được nhận mai táng phí. <small>k) Người có cơng giúp đỡ cách mang</small>

Người có công giúp đỡ cách mạng được tặng Huân chương kháng chiến được hưởng trợ cấp hang tháng: khi chết người tổ chức mai táng được nhận mai táng phí, người thân được hưởng trợ cấp một lần bằng ba tháng trợ cấp ưu đãi.

Người có cơng giúp đỡ cách mạng được tặng Huy chương Kháng chiến được hưởng trợ cấp một lần; khi chết, người tổ chức mai táng được nhận mai táng phí.

Người có cơng giúp đỡ cách mạng được tặng Kỷ niệm chương "Tổ quốc ghi công" hoặc Bằng "Có cơng với đất nước" trước cách mạng tháng Tám năm 1945 được hưởng trợ cấp hàng tháng. Trường hợp sống cô đơn không nơi nương tựa được hưởng thêm trợ cấp nuôi dưỡng hàng tháng bằng 0,8 lần mức chuẩn; khi chết thân nhân được hưởng các chế độ trợ cấp thờ cúng, trợ cấp tiền tuất...

1) Các chế độ wu đãi khác

<small>Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ln đặt cơng tác chăm sóc</small> người có công với cách mạng là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, tập trung thực hiện nhiều chính sách quan tâm chăm sóc người có cơng, được nhân dân và đối tượng người có cơng đánh giá cao và đồng tình ủng hộ.

Chế độ chăm sóc sức khỏe:

Những người có cơng với cách mạng thường là những người bị giảm sút về sức khỏe, thé trang, bị giảm sút khả năng lao động, đặc biệt là những đối tượng như thương binh, bệnh binh. Vì thế, chăm sóc sức khỏe đối với những người có cơng với cách mạng là điều cần thiết và phải được coi trọng.

Chăm sóc sức khỏe cho những đối tượng này khơng chỉ nhăm mục đích chữa bệnh, chữa lành những thương tích do chiến tranh dé lại mà cịn nhằm mục đích phục hồi sức khỏe và khả năng lao động của họ.

<small>Người có cơng với cách mạng và thân nhân của họ được Nhà nước mua bảo</small> hiểm y tế. Người có cơng với cách mạng đang được nuôi dưỡng tại cơ sở của ngành Lao động - Thương bình và Xã hội được hưởng chế độ điều trị hàng năm. Các đối <small>tượng được hưởng chê độ điêu dưỡng tại các cơ sở điêu dưỡng của Nhà nước với</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 31</span><div class="page_container" data-page="31">

mức 2.22.000đồng/người/tháng hoặc có thể điều dưỡng tại gia đình với mức 1.110.000đồng/người/tháng. Người có cơng với cách mạng và thân nhân của họ được điều dưỡng phục hồi chức năng lao động, cấp phương tiện trợ giúp, dung cụ <small>chỉnh hình...</small>

Chế độ wu đãi về giáo dục - đào tạo:

Giáo dục - dao tạo là van đề hết sức quan trọng đối với bat kỳ quốc gia nao. Những người có cơng với cách mạng và con cái họ bị thiệt thòi rất nhiều trong cuộc

sống. Khi trong độ tuôi đi học, họ đã cống hiến tuổi thanh xuân của mình cho đất nước, đã khơng có điều kiện được học tap, rèn luyện nâng cao tay nghề, việc làm...

<small>Con cái họ khơng được sự chăm sóc, quan tâm chu đáo vì sức khỏe của cha mẹ, vì</small>

hồn cảnh gia đình mà việc giáo dục học tập cũng bị ảnh hưởng. Vì thế, chính sách ưu đãi về giáo dục đào tạo cho các đối tượng là người có công và con cái họ là hết sức cân thiết, nó khơng chỉ thể hiện sự biết ơn mà cịn giúp cho người có cơng và gia đình họ có điều kiện được học tập, rèn luyện tốt hơn từ đó đóng góp cho sự nghiệp phát triển đất nước.

<small>Hiện nay, thơng qua những chính sách, những quy định của pháp luật đã</small> cho thấy Nhà nước ta rất quan tâm đến vấn dé giáo dục - đào tạo cho các đối tượng này. Theo quy định, đối tượng được hưởng chính sách ưu đãi về giáo dục đào tạo được hỗ trợ học phí và trợ cấp mỗi năm học một lần đối với người có cơng với cách mạng và con của họ theo quy định khi học tại các cơ sở giáo dục mầm non, cơ sở giáo dục phố thông; cơ sở giáo dục nghề nghiệp có khóa học từ một năm trở lên hoặc cơ sở giáo dục đại học. Được hưởng trợ cấp hàng tháng khi học tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp có khóa học từ một năm trở lên hoặc cơ sở giáo dục đại học. Trợ cấp ưu đãi đối với con của người có cơng. Được ưu tiên trong viéc tuyén sinh, được hỗ trợ theo học tại các cơ sở giáo dục thuộc hệ thông quốc gia đến trình độ đại học.

Chế độ ưu đãi về nhà ở:

Những người có cơng với cách mạng tùy vào mức độ cơng hiến, vào hồn cảnh gia đình của từng đối tượng mà sẽ được Nhà nước, địa phương xét cho việc hỗ

</div><span class="text_page_counter">Trang 32</span><div class="page_container" data-page="32">

trợ cải thiện nhà ở miễn, giảm tiền mua, thuê nhà ở; miễn, giảm tiền sử dụng đắt...

Tùy thuộc vào từng hoàn cảnh của người có cơng, vào mức độ cống hiến của họ, vào khả năng của địa phương, sự phát triển của đất nước, vào sự đóng góp của cộng đồng mà co quan nhà nước có thấm quyền ở địa phương sẽ có những chính sách phù hợp cho các đối tượng là người có cơng... được quy định tại Quyết định 22/2013/QĐ-TTg ngày 26/4/2013 của Thủ tướng Chính phủ quyết định hỗ trợ người có cơng về nhà ở; Thông tư 09/2013/TT-BXD ngày 01/7/2013 của Bộ Xây dựng hướng dẫn thực hiện Quyết định 22/2013/QĐ-TTg ngày 26/4/2013 của Thủ tướng Chính phủ về hỗ trợ người có cơng với cách mạng về nhà ở; Luật thuế sử dụng đất phi nơng nghiệp...

Các chế độ khác:

Việc hỗ trợ người có công phải là sự hỗ trợ trên mọi phương diện của đời

sống vật chất và tinh thần. Sự hỗ trợ đó khơng chỉ là một khoản tiền mà cịn là sự chăm sóc sức khỏe, việc làm, học tập, ưu đãi về nhà ở; về việc thăm quan;...

Nhà nước cũng khuyến khích các đơn vị, doanh nghiệp sử dụng lao động là người có cơng. Các đối tượng như thương binh, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân <small>dân, Anh hùng lao động, con thương binh, con liệt sĩ được ưu tiên khi tham gia thi,</small> xét tuyển công chức nhà nước. Pháp luật cũng quy định tỷ lệ lao động là người tàn tật mà doanh nghiệp phải sử dụng, nếu sử dụng lao động là người tàn tật doanh nghiệp sẽ được nhận một số ưu đãi. Nếu doanh nghiệp chưa hoặc không nhận đủ tỷ <small>lệ lao động là người tàn tật đó thì doanh nghiệp có nghĩa vụ phải nộp một khoản</small> tiền nhất định vào quỹ người tàn tật.

Bên cạnh những chăm sóc về vật chất, Nhà nước còn quan tâm đến đời song tinh thần của những người có cơng. Tùy vào kha năng của địa phương mà hàng năm địa phương tổ chức cho những người có cơng được đi thăm quan, hoặc kết hợp giữa điều dưỡng và thăm quan. Vào dịp Tết Nguyên đán, ngày Thương binh -Liệt sĩ, các cấp chính quyền thường tổ chức đi thăm hỏi, tặng q cho các đối <small>tượng, gia đình chính sách.</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 33</span><div class="page_container" data-page="33">

Bang nguồn kinh phí hỗ trợ từ Trung ương, thành phó, quận, huyện... và sự đóng góp của nhân dân, các tơ chức, cơng tác tìm kiếm, quy tập mộ liệt sĩ, đầu tư xây dựng, nâng cấp nghĩa trang, mộ liệt sĩ, xây dựng nhà bia ghi tên liệt sĩ được các cấp chính quyền ở Trung ương, địa phương quan tâm rất nhiều. Nhà nước còn có chính sách hỗ trợ cho những gia đình chính sách có nguyện vọng giữ lại phần mộ <small>liệt sĩ tại nghĩa trang gia tộc...</small>

Những ưu đãi, trợ cấp đối với người có cơng và thân nhân của họ theo quy định của pháp luật hiện hành là khá đầy đủ và tồn diện. Nó đã khang định được tầm quan trọng của sự cong hiến, hy sinh của những người có cơng, thé hiện rõ trách nhiệm của Nhà nước trong cơng tác chăm sóc, hỗ trợ người có công; thê hiện rõ truyền thống đạo lý tốt đẹp của dân tộc ta, góp phần làm hồn thiện hơn hệ thống <small>Luật an sinh xã hội ở nước ta.</small>

Cùng với các chế độ ưu đãi, Pháp lệnh đã đưa ra cơ chế xử lý vi phạm đối với một số loại hành vi. Người có cơng đang hưởng ưu đãi mà phạm tội bị phạt tù có thời hạn nhưng khơng được hưởng án treo thì trong thời gian chấp hành hình phạt bị đình chỉ chế độ ưu đãi. Người phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc <small>phạm tội khác bị phạt tù chung thân thì không được hưởng ưu đãi nữa.</small>

1.2.4. Nguôn lực thực hiện

Nguồn ngân sách nhà nước là nguồn vốn chủ yếu để thực hiện chính sách ưu đãi người có cơng. Do vậy, khi đưa ra mức ưu đãi đối với các đối tượng cần cân nhắc kha năng đáp ứng của nền kinh tế, không được quá cao so với khả năng chỉ trả, so với mức sơng trung bình của tồn xã hội. Xong, pháp luật đối với người có công không được đặt ra những chế độ trợ cấp thấp hơn mức thu nhập trung bình của cộng đồng. Bởi lẽ, ngoài việc thể hiện sự biết ơn đối với những cống hiến của người có cơng, cịn nhằm mục đích đảm bảo, cải thiện đời song vat chat va tinh than ngay <small>cang cao cua ho.</small>

Các nghị quyết Dai hội của Dang đều nêu rõ mục tiêu chăm lo tốt hon đời sống đối với gia đình người có cơng với cách mạng, đảm bảo tất cả các gia đình <small>chính sách có cuộc sơng băng hoặc khá hơn mức sơng trung bình của cộng đơng.</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 34</span><div class="page_container" data-page="34">

Từ những quan điểm đó, qua các thời kỳ chế độ ưu đãi người có cơng và thân nhân của họ từng bước được bồ sung, hoàn thiện căn bản, đã phát triển tương

đối toàn diện cả về cơng tác chăm sóc đời sống, sắp xếp việc làm, ưu đãi vật chất và

tinh thần, huy động sức mạnh tong hợp của toàn xã hội, của các ngành các cấp.

Vì vậy, tùy từng thời kỳ phát triển của nên kinh tế - xã hội, cơ quan nhà nước có thầm quyên phải xây dựng, sửa đổi và bố sung mức trợ cấp, các chế độ ưu đãi sao cho phù hợp với sự phát triển chung của cộng đồng dân cư và phù hợp với chỉ số trượt giá tiêu dùng trong xã hội.

<small>Ngồi những chính sách chung do Nhà nước quy định, tùy tình hình phat</small> triển kinh tế - xã hội của mỗi địa phương, sẽ có những chính sách khác nhau dé cải thiện ngày càng cao đời sống vật chat cũng như tinh thần của người có cơng, nhằm ồn định cuộc sống lâu dai cho họ và giúp họ có điều kiện dé hòa nhập cộng đồng, tham gia sản xuất, kinh doanh dé cải thiện, nâng cao chất lượng cuộc sống của mình cũng như góp phan vào sự phát triển chung của đất nước.

Chăm lo cho đời sống mọi mặt đối với người có cơng khơng chỉ là trách <small>nhiệm của Đảng, của Nhà nước mà còn là trách nhiệm của tồn xã hội, của cả cộng</small> đồng cư dân. Chính họ đã, đang và sẽ là chủ thể tích cực góp phần cùng Nhà nước thực hiện ngày một tốt hơn chính sách, pháp luật đối với người có cơng. Thực hiện tốt chính sách, pháp luật đối với người có cơng khơng chỉ thé hiện trách nhiệm mà đó cịn là tình cảm, là sự biết ơn, tri ân, trân trọng của cộng đồng đối với những cống hiến vĩ đại của họ, là sự thê hiện truyền thong đạo đức tốt đẹp từ ngàn đời của dân tộc ta, truyền thống "Đền ơn đáp nghĩa", "Uống nước nhớ nguồn", "Ăn quả nhớ người trồng cay". Thực hiện chính sách ưu đãi xã hội và vận động toàn dân tham gia các hoạt động đền ơn đáp nghĩa, uống nước nhớ nguồn đối với các lão thành <small>cách mạng, những người có cơng với nước, Bà mẹ Việt Nam anh hùng, thương binh</small> và cha mẹ, vợ con liệt sĩ, gia đình chính sách. Mục tiêu chăm lo tốt hơn đời sống moi mặt đối với gia đình người có cơng với cách mạng, đảm bảo tat cả các gia đình chính sách có cuộc sống bằng hoặc khá hơn mức sống trung bình của cộng đồng được Đảng ta khẳng định rõ trong các nghị quyết Đại hội của Đảng.

</div><span class="text_page_counter">Trang 35</span><div class="page_container" data-page="35">

Cùng với su đi lên của nền kinh tế, với thé ba chân kiéng: Nha nước va cộng đồng chăm lo, bản thân họ tự vươn lên, đời sống của hầu hết gia đình người có <small>cơng đã được nâng lên rõ rệt.</small>

Thực tiễn cho thấy, việc xã hội hóa cơng tác ưu đãi xã hội như: "Đền ơn

đáp nghĩa", "Nhận phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam anh hùng", "Đi tìm đồng đội", "Tặng nhà tình nghĩa"...đã được các cơ quan, t6 chức đồn thé, các doanh nghiệp, đơn vị và cộng đồng dân cư rất nhiệt tình hưởng ứng và có những đóng góp to lớn và rất thiết thực trong đó Nhà nước đóng vai trị là người lãnh đạo, chỉ đạo, phát

động, định hướng cho các hoạt động, phong trào, chương trình hỗ trợ, chăm sóc <small>người có cơng.</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 36</span><div class="page_container" data-page="36">

Lạng Sơn là một tỉnh miền núi, biên giới nằm ở phía Đơng Bắc của Tổ quốc Việt Nam. Tổng diện tích tự nhiên của tỉnh là 8.187,25 km? và dân số hiện nay là 754.133 người, trong đó có hơn 57 vạn người sống ở vùng nơng thơn chiếm 76%, dân tộc ít người chiếm 84,74% dân số của tỉnh. Bên cạnh dân tộc Kinh chiếm 15,26% là các dân tộc thiêu số như: Nùng (43,86%), Tày (35,92%), Dao (3,54%) số còn lại là các dân tộc Hoa, San Chay, HˆMông và một số dân tộc khác như Thái, Mường, Ê đê, Sán Dìu... với số lượng rat ít ỏi. Mỗi dân tộc có những sắc thái riêng trong phong tục tập quán cũng như đời sống văn hóa tinh thần. Từ đó đã tạo nên một nền văn hóa phong phú, đa dạng ở miền đất biên ải này.

Lạng Sơn là tỉnh có mật độ dân số trung bình tương đối thấp 86 người/km', cả tỉnh gồm 10 huyện và 01 thành phố, trong đó có 226 xã, phường, thị tran, có 02 cửa khâu Quốc tế, 02 cửa khâu Quốc gia và 07 cặp chợ biên giới.

Đảng bộ tinh có 18 Dang bộ trực thuộc gồm 10 đảng bộ huyện, 01 thành phó, 02 đảng bộ lực lượng vũ trang, Đảng bộ Khối các cơ quan tinh, Đảng bộ Khối <small>doanh nghiệp tỉnh và các Đảng bộ cơ sở khác.</small>

2.1.2. Tình hình phát triển kinh tế - xã hội

Lạng Sơn là tỉnh miền núi có hệ thống giao thơng thuận lợi, có đường biên giới chung với Trung Quốc dai 253 km, tạo điều kiện cho Lạng Sơn trở thành điểm <small>giao lưu, trung tâm buôn bán thương mại quan trọng của tỉnh, cả nước với Trung</small> Quốc, nhất là trong điều kiện hiện nay, khi Nhà nước đang thực hiện chính sách đầu tư phát triển các khu kinh tế cửa khẩu, thì Lạng Sơn càng có điều kiện dé phát triển các ngành kinh tế, đặc biệt kinh tế thương mại - du lịch - dịch vụ. Khu kinh tế cửa khẩu là một trong những vùng kinh tế trọng điểm, là khu vực phát triển năng động

</div><span class="text_page_counter">Trang 37</span><div class="page_container" data-page="37">

nhất, đóng vai trò động lực thúc đây phát triển các lĩnh vực kinh tế - xã hội, là trọng tâm chuyên dịch cơ cấu kinh tế của cả tỉnh.

Trong 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Lạng Sơn lần thứ XVI nhiệm kỳ 2015-2020, cùng với những thời cơ và thuận lợi, tình hình thế giới, khu vực có nhiều diễn biến phức tạp. Lạng Sơn chịu ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính và suy thối kinh tế toàn cầu tác động vào nước ta, với điều kiện của một tỉnh miền núi, biên giới, kinh tế, xã hội cịn có nhiều khó khăn. Trong bối cảnh đó, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc tỉnh Lạng Sơn đã nỗ lực phan đấu dat được nhiều thành tựu quan trọng. Kinh tế tiếp tục duy trì được tốc độ tăng trưởng khá, cơ cầu có bước chuyền dịch tích cực và vững chắc hơn. Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trên địa bàn (GDP) bình qn hang năm đạt 8,65%, trong đó ngành nơng lâm nghiệp tăng <small>3,62%, công nghiệp - xây dựng tăng 9,86% (công nghiệp tăng 8,84%, xây dựng</small> tăng 11,47%), dich vu tăng 10,76%. Tổng sản phẩm (GRDP) năm 2017 ước đạt 22.126 tỷ đồng. Cơ cau kinh tế chuyển dịch theo hướng phát huy mạnh mẽ lợi thé,

tiềm năng của tinh, Nam 2017, thu ngân sách trên dia bàn ước dat 6.311 tỷ đồng, cơ

cầu thu ngân sách bền vững hơn; Tổng sản phẩm trên địa bàn bình quân đầu người đạt 34,76 triệu đồng, tương đương 1.620 USD. Thực hiện tốt chính sách xã hội, cơ bản đảm bảo an sinh xã hội, phúc lợi xã hội và đời sống nhân dân, đời sống các đối tượng chính sách được cải thiện và nâng lên đáng ké. Ty lệ hộ nghèo giảm từ 38% năm 2012 xuống còn 22% năm 2017 (bình quân giảm 3,2%/năm), 05 huyện nghèo giảm từ 49,6% năm 2012 xuống khoảng 25% năm 2017 (bình qn giảm 4,9%/nam);

hỗ trợ xố được 15.270 nhà ở tạm (bình quân 5.090 hộ/năm). Cơ bản giảm được áp

lực thiếu việc làm ở nông thôn và khu vực thành thị, SỐ người lao động có việc làm <small>mới tăng nhanh qua các năm (tăng bình quân 16.800 người/năm). Thực hiện có hiệu</small> quả việc hỗ trợ xây nhà cho người có cơng với cách mạng. Các vấn đề xã hội bức xúc được tập trung giải quyết; đặc biệt là cơng tác phịng, chống và kiểm sốt ma túy tiếp tục đạt kết quả tích cực; góp phần bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới quốc gia, giữ vững trật tự xã hội. Dự kiến đến hết năm 2018, tồn tỉnh có trên 95% số đơn vị đạt và cơ bản đạt 4 không về ma túy (tăng trên 15% so với năm 2012).

</div><span class="text_page_counter">Trang 38</span><div class="page_container" data-page="38">

2.2. Thực tiễn thi hành pháp luật ưu đãi xã hội trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn

Căn cứ các văn bản của nhà nước ban hành như: Pháp lệnh số 04/2012/UBTVQHI3 ngày 16/7/2012 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh ưu đãi người có cơng với cách mạng: Nghị định số 70/2017/NĐ-CP ngày 06/6/2017 của Chính phủ quy định mức trợ cấp, phụ cấp ưu đãi đối với người có cơng với cách mạng; Thông tư 05/2013/TT-BLĐTBXH ngày 15/5/2013 của Bộ Lao động - Thương binh - Xã hội hướng dẫn thủ tục lập hồ sơ, quản lý hồ sơ, thực hiện chế độ ưu đãi người có cơng với cách mạng; Nghị định s6 20/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ quy định mức trợ cấp, phụ cấp ưu đãi đối với người có cơng với cách mạng: Thơng tư liên tịch số 13/2014/TTLT-BLĐTBXH-BTC ngày 03/6/2014 hướng dẫn chế độ điều dưỡng phục hồi sức khỏe, cấp phương tiện trợ giúp, dụng cụ chỉnh hình đối với người có cơng với cách mạng

và thân nhân, quản lý các cơng trình ghi công liệt sĩ... và các văn bản hướng dẫn,

quy định có liên quan, q trình tổ chức triển khai thực hiện bên cạnh những kết quả đạt được, vẫn cịn một số khó khăn nhất định.

Trong những năm qua, các chính sách, chế độ ưu đãi đối với thương binh, <small>bệnh binh, gia đình liệt sĩ và người có công với nước luôn được Đảng, Nhà nước ta</small> quan tâm, ban hành và thường xuyên được bổ sung, sửa đổi, hồn thiện hệ thống chính sách, tạo điều kiện thuận lợi cho các địa phương trong việc tô chức triển khai thực hiện chính sách. Việc triển khai thực hiện chính sách đối người có cơng với cách mạng và phong trào "Đền ơn đáp nghĩa" luôn được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ

đạo của các cấp uỷ, chính qun, tơ chức đồn thê và Ban chỉ đạo thực hiện Pháp

lệnh ưu đãi người có cơng với cách mạng từ tỉnh đến cơ sở xã, phường, thị tran, tiểu khu, tơ ban va sự tham gia tích cực của toàn thé các tầng lớp nhân dân các dân tộc <small>tỉnh Lạng Sơn.</small>

Tuy nhiên, qua thực tiễn nghiên cứu cho thấy, quá trình thực hiện chế độ

ưu đãi người có cơng vẫn cịn những tơn tại nhất định. Việc giám định, xác minh các loại bệnh dé công nhận là thương binh hay người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học... cịn khá phức tạp. Trong khi số lượng người đề nghị giải quyết

</div><span class="text_page_counter">Trang 39</span><div class="page_container" data-page="39">

chế độ chính sách thì lớn đội ngũ cán bộ chun mơn mỏng, trình độ chun mơn cịn hạn chế, thậm chi cịn có biểu hiện gây phiền hà cho nhân dân; việc giải quyết chế độ chính sách cịn chậm. Một số chính sách, chế độ đối với một bộ phận người có cơng cịn bất cập, chưa phù hợp với hoàn cảnh thực tế của người thụ hưởng cũng như sự biến đổi nhanh chóng của kinh tế và những vấn đề nảy sinh trong xã hội, khơng thé hiện được tính ưu đãi, giá trị ưu đãi thực tế chưa đáp ứng được yêu cầu cải thiện đời sống của đối tượng chính sách. Trong đó, Lạng Sơn là tỉnh miền núi, địa bàn rộng, địa hình chia cắt, cơ sở hạ tầng và giao thơng cịn nhiều khó khăn; đặc biệt là vùng sâu, vùng xa, biên giới ảnh hưởng rat lớn đến việc triển khai thực hiện chính sách trên địa bàn. Điều kiện ngân sách của tỉnh cịn khó khăn, nên việc cân đối ngân sách của tỉnh cho việc thực hiện hỗ trợ cải thiện nhà ở còn gặp nhiều khó khăn, do đó hiệu quả của việc thực hiện chính sách đối với người có cơng chưa cao. Điều kiện kinh tế và mức thu nhập của nhân dân còn thấp, các doanh nghiệp trên địa bàn chủ yếu là doanh nghiệp nhỏ và vừa nên điều kiện phát triển và tiềm lực tài chính cịn hạn chế, việc huy động đóng góp xây dựng Quỹ "Đền ơn đáp nghĩa" cịn gặp nhiều khó khăn, do đó các hoạt động đền ơn đáp nghĩa cũng gặp nhiều khó khăn.

<small>2.2.1. Những thành tựu đã dat được</small>

<small>Thực hiện Pháp lệnh ưu đãi người có cơng với cách mạng, trong thời gianqua tỉnh Lang Son đã từng bước hoàn thiện, xác định cơng tác thương binh, liệt sĩ,</small> người có cơng là trách nhiệm, tình cảm của Nhà nước và của tồn xã hội. Trợ cấp ưu đãi người có cơng được hoàn thiện và điều chỉnh trên cơ sở mức tiêu dùng bình qn tồn xã hội, phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Ngồi trợ cấp ưu đãi cịn có chế độ chăm sóc sức khỏe, cải thiện nhà ở, ưu đãi trong

giáo dục, dao tạo và day nghé, tạo việc lam..., đối tượng chính sách được mở rộng,đảm bảo cơng băng, tạo được sự đồng thuận trong xã hội; Phong trào đền ơn đáp

nghĩa, tồn dân tham gia chăm sóc người có cơng phát triển sâu rộng, trở thành trách nhiệm xã hội, tình cảm và nét đẹp văn hóa dân tộc, đạt hiệu quả kinh tế xã hội thiết thực; Đời song người có cơng được ơn định và từng bước được cải thiện, góp <small>phân to lớn ơn định chính trị, xã hội, củng cơ lịng tin của nhân dân đôi với Đảng,</small>

</div><span class="text_page_counter">Trang 40</span><div class="page_container" data-page="40">

Nhà nước. Cấp ủy, chính quyền các cấp quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ, Mặt trận Tổ quốc và các ban ngành, đồn thể tích cực tham gia, việc thực hiện Pháp lệnh người có cơng trong tỉnh đã thực sự trở thành một hoạt động xã hội sâu sắc, đạt được những kết quả hết sức quan trọng, toàn diện trên các lĩnh vực. Những kết quả đó khơng chỉ góp phan bù dap sự cơng hiến, hy sinh của các thé hệ cha anh trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc, làm vơi đi những mất mát đau thương, góp phần giải quyết khó khăn cho các gia đình chính sách. Kết quả đó cịn mang ý nghĩa chính trị xã hội sâu sắc, góp phần xây dựng củng cố lịng tin của các tầng lớp nhân dân đối với đường lối chính sách của Dang, Nhà nước tăng cường <small>bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an tồn xã hội ở từng địa phương cơ sở, g1ữ vững va</small> phát huy đạo lý "Uống nước nhớ nguồn", "Đền ơn đáp nghĩa" của dân tộc, kịp thời động viên các tầng lớp nhân dân, các gia đình và đối tượng chính sách, tiếp tục có đóng góp cơng sức cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước, quê hương.

<small>Thực hiện Pháp lệnh ưu đãi người có cơng với cách mạng va các văn bản</small> chỉ đạo, hướng dẫn của Ban Bí thư Trung ương Đảng, Chính phủ và các Bộ, ngành

Trung ương. Tỉnh Lạng Sơn đã ban hành các quyết định, kế hoạch và công văn chỉ đạo thực hiện sát sao các chế độ ưu đãi đối với người có cơng và đạt được nhiều kết <small>quả quan trọng trong cơng tác chăm sóc thương binh, bệnh binh, liệt sĩ, thân nhân</small> liệt sĩ, người có cơng với cách mạng, cụ thể: Ban Thường vụ tỉnh ủy Lạng Sơn đã ban hành các kế hoạch đề thực hiện Chỉ thị số 07-CT/TW ngày 14/12/2006 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo đối với công tác thương binh, liệt sĩ, người có cơng và phong trào "Đền ơn đáp nghĩa"; Kết luận số 1861- KL/TU ngày 19/9/2010 về một số chính sách đối với cán bộ và đối tượng chính sách; Thông báo kết luận số 53-TB/TU ngày 18/02/2006 về một số chính sách đối với cán bộ và đối tượng chính sách; Báo cáo số 119- BC/TU ngày 02/4/2007 tổng kết chính sách tiền lương, bảo hiểm xã hội và trợ cấp ưu đãi người có cơng.

Ủy ban nhân dân tỉnh Lạng Sơn ban hành quyết định thành lập Ban chỉ đạo thực hiện Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng thành lập Ban chỉ đạo triển khai thực hiện tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ theo tinh thần Chỉ thị số 24-CT/TW

</div>

×