Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.81 MB, 32 trang )
<span class="text_page_counter">Trang 1</span><div class="page_container" data-page="1">
MỤC LỤC
XHTD trẻ em hiện nay là một vấn đề tồn đọng đã lâu trong XH, đây cũng là chủ đề rất nghiêm trọng và cấp thiết hiện nay, nó đề cập đến việc XHTD và lạm dụng tình dục đặc biệt là đối với trẻ em – là đối tượng dễ dàng rơi vào tầm ngắm của những tên tội phạm vì yếu đuối, dễ bị dẫn dụ, chưa được trang bị đầy đủ kiến thức để tự mình phịng, tránh khi rơi vào các trường hợp xấu. Vì khi đã bị xâm hại, các em sẽ phải gánh chịu những hậu quả vô cùng lớn và phải mang theo vết nhơ ấy suốt quãng đường dài. Nêu lên tầm quan trọng trong việc giáo dục và phòng ngừa cho trẻ em, trang bị kiến thức đầy đủ cho bản thân để bản thân khơng rơi vào những tình cảnh lâm nguy, đồng thời lan tỏa thông điệp, kiến thức đến cộng đồng , từ đó tạo ra một mơi trường an tồn cho trẻ em.
* Mục đích nghiên cứu
Một trong những mục đích quan trọng của đề tài là nâng cao nhận thức của mọi người dân bằng cách cung cấp thông tin, đưa ra số liệu và các trường hợp cụ thể để mọi người hiểu rõ hơn về tình hình, nguyên nhân và hậu quả mà những đứa trẻ bị chịu cảnh xâm hại lớn đến nhường nào
Việc lên án, trình bày các tác động xấu của việc XHTD và hậu quả nghiêm trọng mà nạn nhân sẽ phải đối mặt, sẽ thu hút được nhiều người quan tâm và các nhà chức trách tham gia, đồng thời đưa ra các giải pháp để ngăn chặn và giảm thiểu tối đa các trường hợp xâm phạm
Đề xuất các giải pháp phòng chống nạn xâm phạm khả thi thích hợp, phân tích các yếu tố và từng trường hợp thực tế để đưa ra chiến lược và chế tài hợp lí để các trường hợp xấu không tái diễn
Thông qua cách truyền tải thông điệp và kiến thức cần thiết tới người dân để
</div><span class="text_page_counter">Trang 8</span><div class="page_container" data-page="8">đứa trẻ ngây thơ khỏi những tên tội phạm, đồng thời đưa ra các giải pháp để chữa trị và khơi phục tâm lí sau biến cố khơng đáng có của những đứa trẻ đã bị xâm hại, khích lệ, động viên, giúp trẻ hòa nhập và thiết lập các mối quan hệ XH mới nhằm tạo điều kiện thích hợp để trẻ phát triển trong một mơi trường đẹp hơn.
* Phương pháp nghiên cứu
Tìm kiếm dữ liệu đã có từ các trang mạng có các bài báo cáo, nghiên cứu và thống kê số liệu về vấn nạn TCTD trẻ em ở Việt Nam. Phân tích các dữ liệu đã tìm kiếm được để hiểu rõ hơn về tình hình thực tế và các vụ việc đã xảy ra trước đây, để đưa ra các nhận xét, đánh giá đúng đắn hơn về các yếu tố như tỉ lệ các nạn nhân bị xâm hại qua từng độ tuổi, giới tính, các loại hình thức tấn cơng phổ biến.
Từ những trang báo đã có các cuộc phỏng vấn, khảo sát của các chuyên gia, cán bộ, chuyên viên y tế và tổ chức phi chính phủ có liên quan để thu thập thêm các thông tin chuyên môn và các quan điểm cá nhân của từng chuyên gia về vấn nạn TCTD trẻ em ở Việt Nam.
Các cuộc phỏng vấn , khảo sát, gặp mặt với nạn nhân và gia đình của nạn nhân được ghi nhận lại để hiểu rõ hơn những trải nghiệm, cảm giác, hậu quả tâm lý, XH đáng sợ mà những nạn nhân vơ tình mắc phải, để đưa ra các biện pháp chữa trị về tâm lý, sức khỏe, tạo ra những môi trường tốt đẹp hơn để giúp các em có thể vui vẻ, khơi phục tâm lý sau biến cố, tái hòa nhập cộng đồng.
</div><span class="text_page_counter">Trang 9</span><div class="page_container" data-page="9">TCTD là bất kì hành vi có tính tình dục hoặc khiếm nhã làm cho người bị hại cảm thấy bản thân bị đe dọa, khó chịu hoặc sợ hãi. Người bị hại khơng có nhu cầu về tình dục mà người thực hiện hành vi cưỡng ép, bắt cóc, TCTD có sử dụng chất kích thích,… lạm dụng tình dục trẻ em hoặc ép buộc người khác với các yếu tố mang tính tình dục. Những đối tượng thường xun bị xâm hại là phụ nữ và trẻ em, những đối tượng này có khả năng chống đỡ và phản kháng cịn yếu, hành trang về kiến thức phòng tránh vẫn cịn hạn chế, mà khi lâm vào tình cảnh khó khăn, bản thân cũng khó thể chống đỡ, nên đây là những nhóm đối tượng thường bị các tên thủ phạm thường xuyên nhắm tới, đặc biệt là trẻ em.
2. Các hình thức xâm hại trẻ em
Tại khoản 5, Điều 4, Luật trẻ em năm 2016 đã nêu lên các hình thức xâm hại trẻ em, đó là: bạo lực, bốc lột, XHTD, mua bán, bỏ rơi, bỏ mặc trẻ em. Nhưng vấn nạn nổi trội và đáng lưu tâm hơn hết là các vấn đề về XHTD ở trẻ em. XHTD trẻ em là việc dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, ép buộc, lôi kéo, dụ dỗ trẻ em vào các hành vi có liên quan đến yếu tố tình dục, bao gồm hiếp dâm, cưỡng dâm, giao cấu, dâm ô trẻ em và sử dụng trẻ em vào mục đích mại dâm, khiêu dâm dưới mọi hình thức Theo quy định tại Điều 1 Luật trẻ em thì trẻ em là người dưới 16 tuổi. XHTD là việc dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực, ép buộc, lôi kéo, dụ dỗ trẻ tham gia vào các hành vi liên quan đến tình dục, bao gồm hiếp dâm, cưỡng dâm, giao cấu, dâm ô với trẻ em và sử dụng trẻ em vào mục đích mại dâm, khiêu dâm với mọi hình thức (khoản 8 Điều 4 Luật trẻ em 2016). XHTD bao gồm các hành vi động chạm như sờ mó; giao cấu (QHTD); cũng như các hành vi không động chạm như quan sát các hành động tình dục, xem phim khiêu dâm, quay phim chụp ảnh khiêu dâm trẻ.
</div><span class="text_page_counter">Trang 10</span><div class="page_container" data-page="10">3. XHTD trẻ em phân loại theo độ tuổi Trẻ dưới 2 tuổi
Trong giai đoạn này, trẻ em đặc biệt yếu đuối và thật sự cần sự trợ giúp từ cha me, người giám hộ. Ở độ tuổi này, trẻ khơng thể tự mình bày tỏ cảm xúc của bản thân, nên hành vi XHTD khó có thể nhận biết được. Những hành vi xâm hại ở độ tuổi này đều liên quan đến những hành vi đụng chạm, sờ mó vào những khu vực nhạy cảm hoặc vùng kín của trẻ.
Trẻ từ 3 – 6 tuổi
<small> Đây là khoảng thời gian trẻ đã có nhận biết thế giới xung quanh và bắt đầu có </small> những trải nghiệm, khám phá cho riêng mình. Những hành vi có liên quan đến việc XHTD bao gồm việc đánh đập, cưỡng hiếp, bắt ép trẻ tham gia vào các HÀNH VI tình dục hoặc bị xâm hại.
Trẻ từ 7 – 12 tuổi
Ở độ tuổi này, trẻ đã có thể có sự tự chủ và khả năng tư duy phát triển, vấn đề về cơ thể cũng được trẻ để tâm hơn và trẻ bắt đầu có các mối quan hệ XH và những người bạn bè thân thiết, ở xung quanh trẻ và trên các nền tảng mạng XH. Đây cũng là độ tuổi mà những tên tội phạm thường nhắm tới vì dễ dàng tiếp cận, dụ dỗ, gạ gẫm, đặc biệt là ở không gian mạng. Trẻ bị các đối tượng nhắm tới, lợi dụng để thực hiện hành vi xâm hại, bạo lực cả về mặt thể chất lẫn tinh thần. Với trí tuệ nhân tạo (AI), trẻ dễ bị lợi dụng hình ảnh các nhân để các đối tượng uy hiếp tinh thần và thực hiện các hành vi xấu.
Trẻ từ 13 – 18 tuổi
Ở độ tuổi vị thành niên sắp bước sang độ tuổi trưởng thành, giai đoạn trẻ phát triển nhất cũng là khoảng thời gian trẻ dễ bị xâm hại nhất, đặc biệt là những hành vi tình dục, bao gồm XHTD, lạm dụng tình dục, quấy rối ở khơng gian mạng, cưỡng hiếp, bắt ép trẻ tham gia vào các đường dây bn bán người, các hoạt động tình dục bất hợp pháp
</div><span class="text_page_counter">Trang 11</span><div class="page_container" data-page="11">Theo Hội thảo về phòng, chống tội phạm XHTD trẻ em do Tổng Cục Cảnh sát, Bộ Công an tổ chức, tháng 7 năm 2017, đã có bản báo cáo trong 5 năm, từ năm 2012 đến 2016, nước ta đã ghi nhận gần 6,7 ngàn vụ xâm hại trẻ em. Hơn 8100 trẻ trở thành nạn nhân của các vụ xâm hại, cịn có các vụ việc được ghi nhận là có hàng tram trẻ em bị TCTD ở độ tuổi dưới 6. Cũng theo thống kê trên, có hơn 4100 vụ TCTD trẻ em thì có hơn 80% các nạn nhân là các bé gái, trong đó trẻ em dưới 6 tuổi có 278 em là nạn nhân, từ 6-13 tuổi có 1333 em và hơn 2500 em từ 13-16 tuổi.
Theo số liệu thống kê của Chính phủ tại Báo cáo về thực hiện chính sách pháp luật về phòng, chống xâm hại trẻ em ngày 14/5/2020, số lượng trẻ em trên toàn quốc là 24.776.773 (trong đó nam là 12.915.365; nữ là 11.861.368) và số lượng trẻ em có hồn cảnh đặc biệt là 1.773.112 (chiếm 7.16 %). Tồn quốc có khoảng 91.7% trẻ em trong độ tuổi đi học phổ thông đang được đi học (mầm non: 4.922.383 trẻ; tiểu học: 8.482.556 trẻ; trung học cơ sở: 5.440.976 trẻ; trung học phổ thơng: 2.548.878 trẻ) cịn 8.3% trẻ em đang trong độ tuổi đi học phổ thông nhưng hiện không đi học (7.7% đã thôi học; 6% chưa bao giờ đi học; tỷ lệ này của nữ cao hơn của nam). Trong đó, có 1.75 triệu trẻ em (chiếm 9.6%) trong độ tuổi từ 05 đến 17 tuổi được xác định là lao động trẻ em, 175.000 trẻ em không đi học, 8.200 trẻ em chưa từng đi học
2. Hậu quả về mặt tâm lý, sức khỏe của nạn nhân
Nạn nhân của các vụ việc TCTD đã ít nhiều sẽ bị các vấn đề tổn thương tâm lý, tinh thần rất nặng nề. Các em sẽ mặc cảm bản thân đã có vết nhơ trong mình và khơng cịn có sự trong sáng, hồn nhiên như các bạn đồng trang lứa.
</div><span class="text_page_counter">Trang 12</span><div class="page_container" data-page="12">Các tổn thương do XHTD ở giai đoạn trẻ em hồn tồn khơng có bất kỳ khn mẫu nào. Các hậu quả thay đổi không đồng nhất từ trẻ này sang trẻ khác. Các hậu quả này có thể xuất hiện ngay tức thì, hoặc xuất hiện chậm gây nên các xáo trộn thích ứng trong quá trình phát triển của chúng. Những biểu hiện rõ ràng nhất của trẻ khi rơi vào tình trạng bị xâm hại, đó là sợ hãi, lo âu, căng thắng, chối bỏ, mau quên, tự trách bản thân, các triệu chứng rối loạn cảm xúc và dễ bị stress, dễ dàng tự cô lập bản thân,… Một điều chắc chắn : XHTD ở trẻ em là yếu tố nguy cơ quan trọng trong hình thành các rối loạn thích ứng tâm lý XH kéo dài tới giai đoạn trưởng thành, gây nên các hậu quả trong đời sống hôn nhân và giáo dục con cái.
Theo các nghiên cứu cho thấy, những trẻ em bị những hành vi dâm ơ, XHTD có thể gánh chịu những hậu quả lâu dài về sức khỏe và thể chất, sức khỏe tâm thần:
Hậu quả lớn nhất khi trẻ bị xâm hại tình dục là trẻ bị tổn thương về mặt tinh thần và chịu sự ảnh hưởng xấu đến tương lai, dễ bị mặc cảm, phát triển bất bình thường, khó hồ nhập với XH và đặc biệt là tổn thương về sức khoẻ thể chất. Việc bị XHTD trong khi thể chất chưa hồn thiện có thể gây ra những tổn thương nặng nề, đặc biệt là bộ phận sinh dục: Bị nhiễm trùng đường tiết niệu, chảy máu kéo dài ở bộ phận sinh dục hoặc các tổn thương thể chất khác như đau bụng, đau đầu, mất ngủ… Trẻ có thể bị nhiễm các bệnh XH, bệnh lây truyền qua đường tình dục và HIV/AIDS.
Với các em nữ việc bị xâm hại tinh dục có thể khiến các em mang thai ngoài ý muốn gây nguy hiểm cho bản thân và thai nhi vì cơ thể các em chưa phát triển hoàn chỉnh hoặc là nguyên nhân dẫn đến vô sinh, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ sinh sản và hạnh phúc gia đình của các em về sau. Nhiều trường hợp xâm hại tình dục đi kèm với bạo lực đã dẫn tới tử vong.
</div><span class="text_page_counter">Trang 13</span><div class="page_container" data-page="13">Nhiều trẻ sau khi bị xâm hại tình dục có sự hoảng loạn, xuất hiện các ảo giác bệnh lý (ln có cảm giác bất an, giật mình, tưởng tượng ra hình ảnh kẻ xâm hại hay tiếng nói của kẻ xâm hại,…). Nghiêm trọng hơn, sau khi bị xâm hại tình dục khơng ít em có suy nghĩ tìm đến cái chết do bị sốc về mặt tinh thần. Các em rơi vào trạng thái hoảng sợ và cảm thấy bế tắc. Nhiều trường hợp, các em không dám kể với người khác, tố cáo đối tượng phạm tội một phần do xấu hổ, một phần khác do bị đe dọa dẫn tới gánh nặng tâm lý ngày càng nghiêm trọng.
Xâm hại tình dục cịn có khả năng gây ra những lệch lạc giới tính cho các em. Khi các em nam bị xâm hại tình dục thì các em sẽ khơng phát triển tự nhiên về mặt sinh lý mà có nguy cơ bị lệch lạc về tình dục. Những ám ảnh về việc bị lạm dụng, đặc biệt là hành vi tình dục đồng giới sẽ khiến các em trở thành những người đồng tính luyến ái. Ngồi ra, những lệch lạc giới tính về sau này khi trưởng thành có thể dẫn đến việc QHTD bừa bãi với nhiều người. Đối với một số em thì việc lạm dụng làm cho các em trở nên chai sạn và xem chuyện bị lạm dụng là chuyện bình thường.
Có thể nói những ảnh hưởng nguy hại của tội phạm XHTD trẻ em trước hết tác động trực tiếp đến sức khỏe, tính mạng, danh dự, nhân phẩm, sự phát triển bình thường của trẻ về tâm lý, giới tính cũng như tương lai của các em sau này. Bên cạnh đó, hậu quả mà hành vi này gây ra cho XH là khơng thể phủ nhận, đó là sự tấn cơng trực diện đến các nền tảng đạo đức XH, gây tâm lý hoang mang, lo sợ trong dư luận XH.
“Thảo luận tại hội thảo, các đại biểu cho rằng, bạo lực, XHTD trẻ em đang là vấn đề XH có tính tồn cầu, theo ước tính của tổ chức y tế thế giới (WHO) vào năm 2011 trên phạm vi toàn cầu có khoảng 150 triệu trẻ em gái và 73 triệu trẻ em trai là
</div><span class="text_page_counter">Trang 14</span><div class="page_container" data-page="14">nạn nhân của bạo lực, XHTD; khu vực Châu Á Thái bình dương có tới 71% trẻ em từ 1-14 tuổi chịu kỷ luật bạo lực; Việt Nam khoảng 68,4%.”
Và nguyên nhân và yếu tố dẫn đến việc XHTD ở trẻ em là từ ba nguyên nhân chính sau:
Yếu tố cá nhân: Là yếu tố từ chính nạn nhân(người bị XHTD) không nhận thức được việc làm này là sai dẫn đến việc cho người khác giới đụng chạm. Thiếu nhận thức về nguy cơ, thiếu kỹ năng phòng ngừa do không được ai dạy dỗ, làm dẫn đến yếu tố thứ hai đó là yếu tố gia đình. Nhiều trẻ em chưa được trang bị những kiến thức, kỹ năng cần thiết để phòng tránh bị XHTD; các em khi bị XHTD đa số đều có tâm lý sợ hãi, mặc cảm, tự ti, nên không dám chia sẻ, tố giác kẻ phạm tội. Sự hạn chế trong nhận thức của trẻ về các hình thức XHTD, sự tị mị khám phá về giới tính, sự thiếu kỹ năng phòng ngừa và tố giác người xâm hại…
Yếu tố gia đình: đặc biệt là các bậc làm cha làm mẹ khơng có những biện pháp hay những bài học giúp con trẻ nhận thức được việc làm đó là đúng hay là sai, làm trẻ thiếu các kỹ năng mềm. đối với gia đình, trong đó nói đến vai trị của cha mẹ, người chăm sóc trẻ em thiếu nhận thức về nguy cơ, thiếu kỹ năng phòng ngừa, kỹ năng giải quyết về pháp lý, kỹ năng chăm sóc và phục hồi cho trẻ bị XHTD về thể chất và tâm lý
Yếu tố XH: Là yếu tố gián tiếp từ bên ngoài ảnh hưởng đến việc bị XHTD ở trẻ em. XH có một ảnh hưởng lớn đến nhận thức và suy nghĩ ở các độ tuổi dưới vị thành niên, ở độ tuổi này sự tị mị, tìm tịi về giới tính khác ln mạnh liệt, “đặc biệt, do tác động của phim ảnh bạo lực, khiêu dâm, những thơng tin độc hại khơng được kiểm sốt lan tràn trên mạng internet… cũng dẫn đến các hành vi lệch chuẩn ở trẻ em và người lớn. Công tác truyền thông về XHTD trẻ em, đặc biệt là vấn đề giáo dục giới tính cũng như giáo dục các
</div><span class="text_page_counter">Trang 15</span><div class="page_container" data-page="15">em biết cách tự bảo vệ mình còn bị coi nhẹ, chưa chú trọng ngay khi các em đang học mẫu giáo hay tiểu học. Các trường mẫu giáo, tiểu học cũng như các bậc phụ huynh chưa chú trọng giáo dục con biết cách tự bảo vệ mình. Luật pháp chưa nghiêm ngặt: Các quy định trong hệ thống luật pháp còn chưa được đồng bộ. Một số tội danh chế tài xử lý chưa đủ sức răn đe tội phạm, nhiều khi không tương xứng với hành vi bạo lực cần xử lý. Ví dụ: Luật chưa đưa ra và xử lý các hành vi XHTD trẻ em (khơng có quy định những hành vi như nhìn, ngắm, vuốt ve, sờ mó, ôm ấp… là hành vi XHTD đối với trẻ em).
Nhận thức về pháp luật hạn chế: Nhận thức của một bộ phận người dân chưa đủ về Luật Trẻ em (quyền của trẻ em) và Bộ Luật hình sự 2015.
Công tác phát hiện, tố giác tội phạm hiện nay cịn gặp nhiều khó khăn: một số trường hợp nạn nhân và gia đình nạn nhân có thái độ bất hợp tác.
Ảnh hưởng từ những trang mạng XH Internet có nội dung khơng lành mạnh: do tác động của những ấn phẩm, trị chơi, phim ảnh có tính chất bạo lực, khiêu dâm và những thông tin độc hại khơng được kiểm sốt lan tràn trên mạng internet… dẫn đến các hành vi lệch chuẩn ở trẻ em và người lớn.
Công tác truyền thông, giáo dục, vận động XH chưa hiệu quả: các hoạt động chưa bao phủ được hết các địa bàn, đối tượng; số người thực hiện được nghiệp vụ truyền thông, tư vấn cịn hạn chế nên chất lượng truyền thơng trực tiếp chưa cao; các sản phẩm truyền thông sản xuất với số lượng ít, chưa đến tay các gia đình…
Tóm lại, ba yếu tố này luôn liên quan mật thiết với nhau và ảnh hưởng đến việc XHTD ở trẻ em. Cha mẹ nên dạy trẻ rằng việc một người lớn nào đó và cả người thân thích đụng chạm hay mơn trớn con là điều không đúng và con nên nói với cha mẹ hoặc một người lớn nào đó có trách nhiệm với con. XH cần nâng cao
</div><span class="text_page_counter">Trang 16</span><div class="page_container" data-page="16">niên, và chỉnh bản thân các bé cũng cần có được những kĩ năng để biết xử lý khi gặp phải các đối tượng XHTD, dù ít hay nhiều thì đó là vũ khí tự vệ chính của các bé.
Giáo dục cho trẻ về sự phát triển của cơ thể con người, dậy thì, tình dục và các giới tính.
Nâng cao ý thức, tôn trọng các quyền và nghĩa vụ.
Phân biê £t sự khác nhau giữa các mối quan hệ: gia đình, tình bạn, tình yêu,… cách hình thành một mối quan hệ và ranh giới của các mối quan hệ đó.
Trang bị cho trẻ các kỹ năng cá nhân: giao tiếp, đàm phán, đưa ra quyết định. Định hướng suy nghĩ, cung cấp cho trẻ cái nhìn đúng đắn về tình dục. Trang bị các kiến thức về sức khỏe sinh sản, bao gồm các bệnh tình dục, mang thai, tránh thai hay các hậu quả của việc mang thai quá sớm.
Sự ảnh hưởng của XH, văn hóa và tác động trên các phương tiện truyền thông đối với tình dục và giới tính.
2. Hợp tác giữa gia đình, nhà trường, cộng đồng *Gia đình :
- Cha mẹ cần chủ động trao đổi, cung cấp kiến thức về giới tính và sức khỏe sinh sản; các rủi ro tiềm ẩn nguy cơ trẻ bị xâm hại như văn hóa phẩm đồi trụy, nghiện trò chơi trực tuyến, bị bạn bè xấu lơi kéo, nghiện các chất kích thích như thuốc lá điện tử, ma túy…
Trang bị cho trẻ những kỹ năng cơ bản nhất để phòng chống xâm hại như:
Dạy cho trẻ về các bộ phận trên cơ thể, đâu là các bộ phận sinh dục, các vấn
</div>