Tải bản đầy đủ (.docx) (21 trang)

Buổi thảo luận thứ ba sáng chế và kiểu dáng công nghiệp

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (169.85 KB, 21 trang )

<span class="text_page_counter">Trang 1</span><div class="page_container" data-page="1">

<b> </b>

<b>BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO</b>

<b>TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH</b>

</div><span class="text_page_counter">Trang 2</span><div class="page_container" data-page="2">

<b>BUỔI THẢO LUẬN THỨ BA</b>

<b>SÁNG CHẾ VÀ KIỂU DÁNG CƠNG NGHIỆPI. LÝ THUYẾT</b>

<b>1. Trình bày ngun tắc nộp đơn đầu tiên và nguyên tắc về quyền ưu tiên. Cácnguyên tắc này được áp dụng cho đối tượng nào?</b>

Cơ sở pháp lý: Điều 90 và Điều 91 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi, bổ sung 2009,

2019, 2022) sau đây gọi tắt là Luật SHTT.

<b>Nguyên tắc nộp đơn đầu tiên được quy định tại Điều 90 Luật SHTT, theo đó trong</b>

trường hợp có nhiều đơn đăng ký các sáng chế trùng nhay hoặc trương đương với

nhau, các kiểu dáng công nghiệp trùng hoặc không khác biệt đáng kể trong đơn hợp lệ

có ngày ưu tiên hoặc ngày nộp đơn sớm nhất trng số những đơn đáp ứng điều kiện để

được cấp văn bằng bảo hộ.

Trong trường hợp có nhiều đơn đăng ký cùng đáp ứng các điều kiện được cấp văn

bằng bảo hộ và cùng có ngày ưu tiên hoặc ngày nộp đơn sớm nhất thì văn bằng bảo hộ

được cấp cho đối tượng của một đơn duy nhất trong số các đơn đó theo thỏa thuận.

Trường hợp khơng thỏa thuận được các đơn đó đều bị từ chối cấp văn bằng bảo hộ

<b>Nguyên tắc quyền ưu tiên được quy định tại Điều 91 Luật SHTT.</b>

</div><span class="text_page_counter">Trang 3</span><div class="page_container" data-page="3">

Dựa trên cơ sở đơn đầu tiên đăng ký bảo hộ theo quy định tại Điều 90 Luật SHTT,

người nộp đơn đăng ký có quyền ưu cầu hưởng quyền ưu tiên nếu đáp ứng các điều

kiện quy định tại khoản 1 Điều 91

<b>2. Vẽ sơ đồ tóm tắt các bước trong quy trình tiếp nhận đơn, xử lý đơn và cấp</b>

</div><span class="text_page_counter">Trang 4</span><div class="page_container" data-page="4">

Yêu cầu thẩm định nội dung đơn (Trong thời hạn 42/36 tháng tính từ ngày nộp đơn

hoặc ngày ưu tiên)

Thẩm định nội dung đơn (18 tháng từ ngày nhận được yêu cầu thẩm định nội dung đơn)

</div><span class="text_page_counter">Trang 5</span><div class="page_container" data-page="5">

<b>3. Trình bày những bất cập về điều kiện bảo hộ sáng chế ở Việt Nam</b>

<b>Thứ nhất, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 25 Luật SHTT, nếu sao chép một</b>

bản của tác phẩm đã cơng bố nhằm mục đích nghiên cứu khoa học, giảng dạy cá nhân

thì khơng phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao. Vậy trong một nhóm

nhà nghiên cứu, họ sao chép tác phẩm thành nhiều bản cũng chỉ để nghiên cứu khoa

học thì có phải xin phép và trả thù lao, nhuận bút cho tác giả khơng? Xoay quanh vấn

đề này, hiện có các quan điểm sau: Quan điểm thứ nhất, quy định như trên đang là

nguyên nhân tạo ra một vấn nạn đó là, phơ tơ giáo trình bài giảng, sách chun khảo,

Cấp bằng hoặc từ chối cấp bằng độc quyền sáng chế

<b>Công bố</b>

</div><span class="text_page_counter">Trang 6</span><div class="page_container" data-page="6">

luận văn, luận án để sử dụng cho mục đích học tập của học sinh, sinh viên, học viên

trong các nhà trường, cơ sở đào tạo hầu như thiếu sự kiểm sốt. Trong khi đó, theo quy

định tại điểm c khoản 1 Điều 20 Luật SHTT quyền sao chép là quyền của chủ sở hữu

quyền tác giả độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện việc tạo ra bản

sao của tác phẩm bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào, bao gồm cả việc lưu trữ

thường xuyên hoặc tạm thời tác phẩm dưới hình thức điện tử. Quan điểm thứ hai, nhu

cầu nghiên cứu khoa học là có thật và khơng chỉ có với những người làm cơng tác

nghiên cứu, giảng dạy ở các nhà trường, mà ngay cả nhiều đối tượng đang công tác ở

cơ sở vẫn muốn được nghiên cứu tiếp cận tri thức, để phát hiện ra những vấn đề mới,

do đó, quy định như tại điểm a khoản 1 Điều 25 Luật SHTT là phù hợp. Mặt khác, tại

khoản 2 Điều 9 Công ước Berne cũng cho phép: “Luật pháp quốc gia thành viên có

quyền cho phép sao in tác phẩm trong một vài trường hợp đặc biệt, miễn là sự sao in

đó khơng phương hại đến việc khai thác bình thường tác phẩm hoặc khơng gây thiệt

thịi bất chính cho những quyền lợi hợp pháp của tác giả”.

<b>Thứ hai, khoản 4 Điều 19 Luật SHTT quy định tác giả có quyền bảo vệ sự tồn vẹn</b>

của tác phẩm, không cho người khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới

bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả. Quy định này

dễ gây hiểu nhầm, mà theo đó, tác giả chỉ có quyền bảo vệ sự tồn vẹn của tác phẩm,

không cho người khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình

</div><span class="text_page_counter">Trang 7</span><div class="page_container" data-page="7">

thức nào khi hành vi đó gây phương hại đến danh dự và uy tín tác giả, cịn nếu khơng

gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả thì “vơ tư”, vì vậy, nên tình trạng cắt

xén nội dung tác phẩm của tác giả này, tác giả kia để “hơ biến” thành sản phẩm “trí

tuệ” của chính mình đang diễn ra tương đối nhiều, mà khơng ít lần buộc báo chí phải

lên tiếng.

Thứ ba, khoản 1 Điều 20 Luật SHTT có quy định về quyền tài sản, tuy nhiên, những

quy định của Luật SHTT rất chung chung, cần phải được cụ thể hơn nữa trong văn bản

hướng dẫn thi hành Luật này.

<b>Thứ tư, Điều 72 Luật SHTT quy định về điều kiện chung đối với nhãn hiệu hàng hóa</b>

được bảo hộ: Là dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh,

kể cả hình ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều

màu sắc; Có khả năng phân biệt hàng hố, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng

hoá, dịch vụ của chủ thể khác. Như vậy, phạm vi dấu hiệu được cơng nhận là nhãn

hiệu hàng hóa vẫn rất hẹp và khơng tương thích với quy định của Hiệp định TRIPs.

Trong khi đó, theo các văn bản pháp luật quốc tế cũng như pháp luật của các quốc gia,

các dấu hiệu có thể được đăng ký là nhãn hiệu hàng hóa được quy định rất rộng. Cụ

thể, theo Điều 15[2] Hiệp định TRIPs thì bất kỳ một dấu hiệu hoặc tổ hợp các dấu hiệu

nào có khả năng phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của một doanh nghiệp với hàng hóa

hoặc dịch vụ của các doanh nghiệp khác đều có thể được cơng nhận là nhãn hiệu hàng

</div><span class="text_page_counter">Trang 8</span><div class="page_container" data-page="8">

hoá. Khác với các đối tượng sở hữu công nghiệp khác, điều kiện duy nhất để một hoặc

những dấu hiệu được công nhận là nhãn hiệu hàng hoá chỉ là khả năng phân biệt với

hàng hoá, dịch vụ cùng loại của các cơ sở sản xuất, kinh doanh khác nhau. Như vậy,

về nguyên tắc, bất kỳ dấu hiệu nào cho dù là có thể nhìn thấy như từ ngữ, hình ảnh,

màu sắc (bao gồm màu sắc trong sự kết hợp với các yếu tố khác hoặc chỉ riêng màu

sắc), không gian ba chiều hoặc không được nhìn thấy như âm thanh, mùi, vị nếu như

có khả năng phân biệt đều có thể được đăng ký là nhãn hiệu hàng hoá. Thực tế cho

thấy, bên cạnh các dấu hiệu truyền thống, phổ biến như từ ngữ, hình ảnh, màu sắc, các

dấu hiệu khác như không gian ba chiều, như hình dáng bên ngồi của một tổ hợp kiến

trúc gồm nhà hàng, khách sạn, khu giải trí, khu thương mại được đăng ký là nhãn hiệu

hàng hoá (Nhãn hiệu số 2048209 của Vương quốc Anh); âm thanh, cũng được đăng ký

là nhãn hiệu âm thanh cho điện thoại Nokia (Nhãn hiệu số 001040955 của Cộng đồng

Châu Âu.); mùi, mùi của cỏ vừa mới cắt cũng được đăng ký là nhãn hiệu mùi cho

bóng tennis – Dữ liệu từ vụ việc R 156/1998-2 của Cộng đồng Châu Âu; Mùi của hoa

hồng được đăng ký là nhãn hiệu cho chỉ thêu – Dữ liệu từ vụ Re Clarke 17 USPQ 2d

1238 (1990) của Mỹ; màu sắc, màu tím được đăng ký là nhãn hiệu màu cho kẹo socola

(Nhãn hiệu số 000031336 của Cộng đồng Châu Âu.);…đã đóng vai trị tích cực là “sự

chỉ dẫn”, hay “sự phân biệt” hàng hoá, dịch vụ của các nhà sản xuất, kinh doanh khác

nhau.

</div><span class="text_page_counter">Trang 9</span><div class="page_container" data-page="9">

<b>Thứ năm, khoản 1 Điều 123[3] Luật SHTT, chủ sở hữu chỉ dẫn địa lý có quyền cho</b>

phép người khác sử dụng chỉ dẫn địa lý và có quyền định đoạt chỉ dẫn địa lý. Vậy,

phải chăng cho phép sử dụng chỉ dẫn địa lý ở đây chỉ được hiểu theo nghĩa hẹp là Nhà

nước cho phép các tổ chức, cá nhân nhất định ở địa phương tương ứng sử dụng chỉ dẫn

địa lý này (trao quyền sử dụng)? Quyền định đoạt chỉ dẫn địa lý chỉ là quyền quyết

định chỉ dẫn địa lý đã không tồn tại nữa (chẳng hạn khi chỉ dẫn địa lý trở thành tên gọi

chung) mà khơng có quyền chuyển nhượng? Hơn nữa, theo quy định tại điểm b khoản

2 Điều 123, tổ chức, cá nhân được nhà nước trao quyền sử dụng cũng có quyền cho

phép người khác sử dụng chỉ dẫn địa lý? Vậy, chuyển giao quyền sử dụng cũng là một

hình thức cho phép sử dụng, sao lại khơng được công nhận?

<b>Thứ sáu, Điều 213[4] Luật SHTT quy định hàng hố giả mạo về SHTT, theo đó, hàng</b>

hóa giả mạo nhãn hiệu hàng hố là hàng hố, bao bì của hàng hố có gắn nhãn hiệu,

dấu hiệu trùng hoặc khó phân biệt với nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ

dùng cho chính mặt hàng đó mà không được phép của chủ nhãn hiệu hoặc của cơ quan

quản lý chỉ dẫn địa lý. Thuật ngữ “khó phân biệt” có phải là “tương tự” khơng? Hơn

nữa, Điều 213 Luật SHTT có tên gọi là “Hàng hố giả mạo về sở hữu trí tuệ” nhưng

khoản 1 của điều luật này lại quy định rằng “hàng hoá giả mạo về sở hữu trí tuệ theo

quy định của Luật này bao gồm hàng hoá giả mạo nhãn hiệu và giả mạo chỉ dẫn địa

</div><span class="text_page_counter">Trang 10</span><div class="page_container" data-page="10">

lý”. Vậy nếu hàng hóa được sản xuất theo quy trình đã được bảo hộ là sáng chế có

phải là hàng hố giả mạo về SHTT hay không?

<b>Nguồn: </b> Điều kiện bảo hộ của Kiểu dáng cơng nghiệp ? Giải thích.</b>

Điều kiện bảo hộ của Kiểu dáng công nghiệp được quy định tại Điều 63 Luật Sở hữu

trí tuệ 2005:

 Có tính mới

 Có tính sáng tạo

 Có khả năng áp dụng cơng nghiệp

<b>Có tính mới: Kiểu dáng cơng nghiệp được coi là có tính mới nếu khác biệt đáng kể</b>

với những kiểu dáng công nghiệp đã được bộc lộ công khai trước ngày nộp đơn hoặc

ngày ưu tiên (nếu có). Bộc lộ cơng khai bao gồm: sử dụng, mô tả bằng văn bản, hình

ảnh, bản vẽ, trưng bày, phát sóng,...

<b> Có tính sáng tạo: Kiểu dáng cơng nghiệp được coi là có tính sáng tạo nếu khơng phải</b>

là sự kết hợp đơn giản của những kiểu dáng công nghiệp đã được bộc lộ cơng khai.

Yếu tố sáng tạo thể hiện ở hình khối, đường nét, màu sắc hoặc sự kết hợp các yếu tố

này.

</div><span class="text_page_counter">Trang 11</span><div class="page_container" data-page="11">

<b> Có khả năng áp dụng công nghiệp: Kiểu dáng công nghiệp được coi là có khả năng</b>

áp dụng cơng nghiệp nếu có thể dùng làm mẫu để chế tạo hàng loạt sản phẩm bằng

phương pháp cơng nghiệp hoặc thủ cơng nghiệp.

<b>Giải thích: </b>

<b>Tính mới: đảm bảo kiểu dáng công nghiệp được bảo hộ là độc đáo và chưa từng được</b>

sử dụng hay công bố trước đó.

<b>Tính sáng tạo: đảm bảo kiểu dáng cơng nghiệp thể hiện trí tuệ, sự sáng tạo của người</b>

tạo ra, không phải sao chép hay kết hợp đơn giản từ các kiểu dáng đã có.

<b>Khả năng áp dụng công nghiệp: đảm bảo kiểu dáng công nghiệp có thể sản xuất</b>

được với số lượng lớn, phục vụ nhu cầu thị trường.

<b>5. So sánh điều kiện bảo hộ của KDCN và Nhãn hiệu, sáng chế, giải pháphữu ích.</b>

 Giống nhau :

Kiểu dáng công nghiệp và Nhãn hiệu, sáng chế, giải pháp hữu ích đều là đối tượng

được pháp luật bảo hộ, có cùng cơ quan đăng ký. Để được bảo hộ KDCN và nhãn

hiệu, sáng chế, giải pháp hữu ích thì chủ sở hữu nộp hồ sơ đăng ký tại Cục SHTT để

xin cấp văn bằng bảo hộ.

 Khác nhau:

</div><span class="text_page_counter">Trang 12</span><div class="page_container" data-page="12">

<b>Bài tập 1: Anh/Chị hãy phân tích bản án 117/2015/KDTM-ST ngày 02/02/2015của Tịa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh và trả lời các câu hỏi sau:</b>

<b>a. Phân tích đối tượng của quyền SHCN đối với sáng chế?</b>

 Theo khoản 12 Điều 4 Luật SHTT: Sáng chế là giải pháp kỹ thuật dưới dạng

sản phẩm hoặc quy trình nhằm giải quyết một vấn đề xác định bằng việc ứng

dụng các quy luật tự nhiên.

 Điều kiện bảo hộ: khoản 1 Điều 58 Luật SHTT

</div><span class="text_page_counter">Trang 13</span><div class="page_container" data-page="13">

 Có tính mới

 Có trình độ sáng tạo

 Có khả năng áp dụng cơng nghiệp

 Xác lập quyền: Điều 86 Luật SHTT

 Quyền của chủ sở hữu: Điều 123 Luật SHTT

 Quyền độc quyền: Chủ sở hữu SHCN có quyền độc quyền khai thác

sáng chế của mình, bao gồm quyền sản xuất, sử dụng, bán, nhập khẩu,

xuất khẩu sản phẩm được bảo hộ bởi sáng chế.

 Quyền chuyển nhượng: Chủ sở hữu SHCN có quyền chuyển nhượng

quyền sở hữu SHCN cho người khác.

 Quyền được cấp phép: Chủ sở hữu SHCN có quyền cấp phép cho người

khác khai thác sáng chế của mình.

 Thời hạn bảo hộ: Bằng độc quyền sáng chế có hiệu lực từ ngày cấp và kéo dài

đến hết hai mươi năm kể từ ngày nộp đơn. (khoản 2 Điều 93 Luật SHTT)

<b>b. Hành vi vi phạm của Công ty TNHH TM Nơng Phát là gì?</b>

Hành vi vi phạm của Cơng ty TNHH TM Nông Phát: sản xuất và lưu thông sản phẩm

thuốc trừ sâu mang các nhãn hiệu Sespa Gold, Hummer bị cho là xâm phạm các điểm

1, 2, 3, 6, 19 & 20 thuộc bằng độc quyền 1928 mà khơng có sự cho phép của ngun

đơn.

</div><span class="text_page_counter">Trang 14</span><div class="page_container" data-page="14">

<b>c. Quyết định cấp bằng độc quyền sáng chế đối với chất Fipronil và Imidaclopridtrên cơ sở pháp lý nào?</b>

Theo bằng độc quyền sáng chế 1928, Cục Sở hữu công nghiệp cấp cho

RHONE-POULENIC AGROCHIMIE (FR) là chủ bằng sáng chế hỗn hợp thuốc trừ sâu

Clonicotinyl và thuốc trừ sâu có nhóm Pyrazol, Pyrol hoặc Phenylimidazol. Đến ngày

30/10/2008 chủ văn bằng được chuyển Bayer CropScience SA (FR) theo Quyết định

sửa đổi 22470/QĐ-SHTT và hiện nay chủ Bằng độc quyền sáng chế số 1928 được

chuyển đổi cho Bayer SAS (FR) theo Quyết định sửa đổi 8499/ QĐ-SHTT ngày

29/4/2000. Hiệu lực bằng độc quyền sáng chế này 20 năm kể từ ngày 20/3/2001, phạm

vi bảo hộ thuốc trừ sâu A thuộc nhóm Clonicotinyl như imidacloprid, axetamiprit …

hay điểm 3, điểm 20 … thuốc trừ sâu B là Fipronil.

<b>d. Chế tài thu hồi sản phẩm “SESPA GOLD” được thực hiện dựa trên cơ sở nào?</b>

Chế tài thu hồi sản phẩm “SESPA GOLD” được thực hiện căn cứ theo Điều 32 Nghị

định 105/2006/NĐ-CP biện pháp tịch thu hàng hóa giả mạo về sở hữu trí tuệ, nguyên

liệu, vật liệu, phương tiện được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh hàng hóa

trong trường hợp hàng hóa khơng xác định được nguồn gốc, chủ hàng hóa nhưng có

đủ căn cứ để xác định hàng hóa đó là hàng hóa giả mạo về sở hữu trí tuệ được sử dụng

chủ yếu để sản xuất, kinh doanh hàng hóa.

</div><span class="text_page_counter">Trang 15</span><div class="page_container" data-page="15">

CSPL: khoản 1 Điều 126; điểm a khoản 1 Điều 124 Luật Sở hữu trí tuệ 2005.

Giải thích: Cơng ty TNHH TM Nông Phát phải rút lại hồ sơ đăng ký sản phẩm này tại

Cục bảo vệ thực vật bởi vì cơng ty đã có hành vi xâm phạm quyền đối với sáng chế

được bảo hộ. Công ty Nông Phát đã có những hành động như “sản xuất" (quy định tại

điểm a khoản 1 Điều 124) và “lưu thông" (quy định điểm d khoản 1 Điều 124) nên có

thể xác định rằng: công ty đã sử dụng sáng chế. Mà hành vi “sử dụng sáng chế" được

quy định tại khoản 1 Điều 126 thuộc một trong các hành vi xâm phạm quyền đối với

sáng chế được bảo hộ.

<b>f) Công ty TNHH TM Nơng Phát có được quyền đăng ký tiếp sản phẩm nào cóchứa hai thành phần Filpronil và Imidacloprid hay không?</b>

Công ty TNHH TM Nông Phát không được quyền đăng ký tiếp sản phẩm nào có chứa

hai thành phần Filpronil và Imidacloprid bởi vì 2 thành phần này đã được bảo hộ theo

văn bằng sáng chế 1928.

<b>g) Việc xin lỗi công khai nguyên đơn trên các phương tiện thơng tin đại chúngthuộc chế tài gì ? Trên các báo nào? </b>

Việc xin lỗi công khai nguyên đơn trên các phương tiện thông tin đại chúng thuộc chế

tài dân sự

CSPL: khoản 2 Điều 2020 Luật SHTT

</div><span class="text_page_counter">Trang 16</span><div class="page_container" data-page="16">

<b>h) Căn cứ xác định việc thanh toán chi phí luật sư 59.469.750 đồng. Theo quanđiểm của bạn, hướng giải quyết của Tịa án trong tranh chấp này có phù hợpkhơng? Giải thích vì sao?</b>

<b>Bài tập 2:</b>

<b>Phân tích bản án số 1892/2011/KDTM-ST, trả lời các câu hỏi:1. Giải pháp hữu ích thanh nhơm định hình do ai tạo tạo ra?</b>

Theo Bằng độc quyền GPHI số 774 đối với tên sáng chế là “Thanh nhơm định hình”

nộp đơn ngày 29/04/2008, số điểm yêu cầu bảo hộ: 1, số trang mô tả: 7, do Cục Sở

hữu trí tuệ cấp cho Cơng ty Hưng Phú Thành theo QĐ số 11178/QĐ-SHTT ngày

04/06/2009, có hiệu lực từ ngày cấp đến hết 10 năm kể từ ngày nộp thì tác giả được

ghi trong đơn yêu câu là tác giả Thành (Việt Nam).

<b>2. Giải pháp hữu ích này có được bảo hộ khơng? Vì sao?3. Phân tích sự khác nhau giữa giải pháp hữu ích và sáng chế?</b>

Hiện nay, theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, giải pháp hữu ích là một

dạng đặc biệt của sáng chế. Tuy nhiên, cần phải phân biệt giải pháp hữu ích và sáng

chế như sau:

Thứ nhất, đối với giải pháp hữu ích, tiêu chuẩn đối với tính mới có thể thấp hơn tính

mới của sáng chế.

</div><span class="text_page_counter">Trang 17</span><div class="page_container" data-page="17">

Thứ hai, yêu cầu về tính sáng tạo thấp hơn so với sáng chế. Ví dụ, pháp luật Việt Nam

yêu cầu giải pháp kỹ thuật chỉ cần có tính mới, khả năng áp dụng cơng nghiệp và

khơng phải là hiểu biết thơng thường là có thể được cấp bằng độc quyền giải pháp hữu

Thứ ba, Thời hạn bảo hộ giải pháp hữu ích ngắn hơn so với sáng chế. Theo pháp luật

Việt Nam, Bằng độc quyền giải pháp hữu ích chỉ có hiệu lực trong thời hạn 10 năm kể

từ ngày nộp đơn

Thứ tư, Đối tượng được bảo hộ giải pháp hữu ích thường có vịng đời ngắn hơn sáng

Thứ năm, Thủ tục cấp bằng sáng chế phức tạp hơn

<b>4. Việc sử dụng giải pháp hữu ích của cơng ty Trần Thành Đạt có thỏa mãn cácđiều kiện của quyền sử dụng trước đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp haykhông?</b>

Theo khoản 1 Điều 134 Luật SHTT 2005 sửa đổi, bổ sung 2019, để có quyền sử dụng

trước đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp cần phải đáp ứng một số điều kiện như

 Sáng chế, kiểu dáng được sử dụng hoặc được chuẩn bị các điều kiện cần thiết

để sử dụng trước ngày ưu tiên hay ngày nộp đơn đầu tiên của đơn đăng ký sáng

chế, kiểu dáng công nghiệp.

</div>

×