Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (9.8 MB, 38 trang )
<span class="text_page_counter">Trang 1</span><div class="page_container" data-page="1">
Hệ ya tên: Nguyễn Thi Phuong Thao
<small>: 11194832</small>
Ldp chuyên ngành: Kinh tế học 61
Gib viên hướng dẫn: PGS.TS. Nguyễn Văn Công.
</div><span class="text_page_counter">Trang 2</span><div class="page_container" data-page="2"><small>1.2. Mục tiêu nghiên CỨU... - ---- - + + 6x2 SH ng grkt 5</small>
<small>1.4. Phương pháp nghiên CỨU... --- ---- + + *sxSxk*EEEEskeresrrkrkerrrree 5</small>
<small>3) 8. nn..o.o®^”ồồ..-...- 9</small>
<small>1.2.2. Hecksher — Ohlin todl6Ï... óc - SĂSSeS+ se sisikesrrkreeersve 10</small>
<small>1.2.4. Mơ hình trong Uc. ...- --- sc St HH he, II</small>
<small>1.3. Các nghiên cứu thực nghiệm ... --- G2 2+ S2 S2 SE sEerrererrrerres 14</small>
<small>1.3.1. Các nghién CỨU NWO NOM. ... SG SĂSssereereersreree 142.3.2. Các nghién CỨU trong HHÓC... cSĂcSĂSSSsiseerree 20</small>
<small>Chương 2: Phương pháp nghiên cứu. ...</small>
<small>2.2. Dữ liệu nghiên CỨu...- --- --- 6 + + SE E9 SE HH rieg 242.3. Phương pháp ước Ïượng... ...-- --- - + xxx ng ng 24</small>
<small>Giới thiệu1.1. Lý do chon đề tài.</small>
<small>Đôi với các nước đang phát triên, xuât khâu là một trong những yêu tô quan trọng</small>
trong vấn đề phát triển kinh tế, giúp các nước này rút ngắn khoảng cách về kinh tế với
<small>các quốc gia phát triên trên thé giới . Theo các chuyên gia, hoạt động xuất khâu không</small>
<small>chỉ giúp các nước tăng lượng ngoại tệ dự trữ, cải thiện cán cân thanh toán, tăng thu cho</small>
ngân sách nhà nước (NSNN), ngồi ra nó cịn kích thích đổi mới công nghệ, giúp các doanh nghiệp tiếp cận được với những hình thức kinh doanh mới, tạo thêm công ăn việc làm, nâng cao mức sống người dân. Đã có rất nhiều những quốc gia trên thế giới nhờ có xuất khâu mà tạo ra được những bước đột phá trong tăng trưởng kinh tế, như
<small>Hàn Quốc, Đài Loan, Trung Quốc,... Chính vì thế, các chính sách thúc đây xuất khẩuluôn được quan tâm và chú trọng ở hầu hết các quốc gia.</small>
đổi, cải thiện và thành công trở thành động lực quan trọng cho tăng trưởng kinh tế.
<small>Việc các hiệp định thương mại tự do (FTA) đang dần được thực thi toàn diện hơn, hiệu</small>
quả hơn sẽ tạo thuận lợi dé hàng hóa của Việt Nam thâm nhập vào các thi trường tiềm năng với mức thuế quan ưu đãi. Bên cạnh đó, giá hàng hóa xuất khâu đang có chiều hướng tăng, nhất là các mặt hàng thế mạnh của Việt Nam, đây là động lực quan trọng để gia tăng giá trị xuất khâu của Việt Nam.
Trong 3 năm gần đây, đại dịch COVID-19 đã khiến cho nền kinh tế thế giới có nhiều
<small>biến động, đặc biệt năm 2021, biến chủng Delta lây lan với tốc độ nhanh chóng đã gây</small>
ra các tác động nặng nề đến các trung tâm sản xuất hàng hóa lớn của cả nước, nhiều doanh nghiệp phải dừng sản xuất hoặc tổ chức sản xuất tại chỗ làm giảm năng suất lao động, ảnh hưởng đến nguồn hàng xuất khẩu. Chi phí vận tải kho bãi tiếp tục ở mức cao,
<small>tình trạng thiếu hụt vỏ container vẫn chưa được khắc phục. Giá cả nguyên nhiên vật</small>
liệu trên thị trường thế giới ở mức cao (như xăng dầu, sắt thép, nhựa, phân bón, thức ăn chăn ni...) khiến chỉ phí sản xuất tăng dẫn đến giá hàng hoá xuất khâu cũng tăng. Tuy nhiên, trong hồn cảnh đó, hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam đã có sự tăng
<small>trưởng ngoạn mục, trở thành điểm sáng của nền kinh tế, tổng kim ngạch xuất nhậpkhẩu đạt kỷ lục 668,5 tỷ USD, tăng 22,6% so với năm trước (năm 2020 đạt 545,32 ty</small>
USD, tăng 5,3%), đưa Việt Nam vào nhóm 20 nền kinh tế hàng đầu về thương mại quốc tế; trong đó xuất khâu tăng 19%. Trong bối cảnh khó khăn như vậy, những yếu tố nào là yếu tố quyết định đến tăng trưởng xuất khâu của Việt Nam, làm thé nao dé xuất khẩu của Việt Nam tiếp tục tăng trưởng trong những năm tiếp theo? Với những băn khoăn này, em đã chọn dé tài “Các nhân tổ tác động đến xuất khẩu của Việt Nam” để
</div><span class="text_page_counter">Trang 5</span><div class="page_container" data-page="5"><small>nghiên cứu và chi rõ những yếu tố ảnh hưởng đến xuất khâu của Việt Nam, từ đó đưa</small>
<small>1.2. Mục tiêu nghiên cứu.</small>
<small>- Tông hợp lý thuyết vé mơ hình trọng lực và các bài nghiên cứu trong và ngồi nước</small>
sử dụng mơ hình trọng lực để nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu của
<small>Việt Nam.</small>
- Dựa trên cơ sở các bài nghiên cứu đã được thực hiện ở trong và ngoài nước và các sỐ liệu sẵn có, tiến hành phân tích áp dụng các phương pháp ước lượng để rút ra kết luận về các nhân tô ảnh hưởng đến xuất khâu của Việt Nam.
1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
- Đối tượng nghiên cứu: Các nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu của Việt Nam.
<small>N | Formatted: Font color: Text 1, Vietnamese</small>
các nguồn đều chỉ có số liệu xuất khâu hàng hố theo đối tác thương mai.
<small>1.4. Phương pháp nghiên cứu. ; </small>
<small>-Chuyên đê kêt hợp sử dụng phương pháp phân tích và tơng hợp với phương pháp kê</small>
thừa và so sánh. Chuyên đề sẽ kế thừa lý thuyết về mơ hình trọng lực, phân tích số liệu xuất khẩu của Việt Nam bằng phương pháp ước lượng với số liệu mảng: mơ hình OLS g6p, mơ hình tác động ngẫu nhiên và tác động có định. Từ những kết quả ước lượng, xác định yếu tổ nào là yếu tố quyết định tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam và đưa ra các gợi ý về giải pháp.
1.5. Kết cầu của chuyên đề. l
<small>Nội dung của dé án được chia làm 5 phân:</small>
<small>Chương 1: Tổng hợp các lý thuyết về xuất khẩu, lý thuyết về mơ hình trọng lực vàtổng hợp các nghiên cứu thực nghiệm ở trong và ngoài nước.</small>
Chương 2: Nêu khái qt về phương pháp nghiên cứu, mơ hình nghiên cứu và dữ liệu
<small>được sử dụng trong nghiên cứu.</small>
Chương 3: Tóm tắt, mơ tả kết quả nghiên cứu, những kết luận được rút ra từ kết quả
<small>nghiên cứu.</small>
Chương 4: Kết luận chung, nêu các kiến nghị và hạn chế của nghiên cứu..
<small>NV ` Formatted: Font color: Text 1, Vietnamese</small>
<small>| Formatted: Font color: Text 1, Vietnamese</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 6</span><div class="page_container" data-page="6">1.1. Tổng quan về xuất khẩu. 1.1.1. Khái niệm xuất khẩu .
<small>Hiệu một cách đơn giản, xuất khâu chính là hoạt động bán hàng hóa, dịch vụ của qcgia này cho một quốc gia khác và sử dụng tiền tệ làm phương thức thanh toán. Từ xa</small>
xưa, việc xuất khẩu hàng hố đã được phát triển mạnh mẽ dưới hình thức trao đổi hiện vật. Sau này, trải qua quá trình phát triển, phương thức thanh toán được sử dụng chủ yếu là vàng bạc, đá quý..., đến nay là tiền tệ. Trong bối cảnh kinh tế hiện đại, tiền tệ là phương thức chủ yếu, và có thể sử dụng đồng tiền của một trong hai quốc gia hoặc đồng tiền của một quốc gia thứ ba khác.
<small>Điều 28, khoản 1 Luật Thương mại 2005 của Việt Nam đã chỉ rõ “Xuất khẩu hàng hóa</small>
là việc hàng hóa được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật”. Như vậy, chiếu theo luật pháp của Việt Nam thì cơ bản xuất khâu chính là
<small>việc bán hàng cho nước ngồi, cho các quốc gia khác, khơng phải là Việt Nam.</small>
1.1.2. Hình thức xuất khẩu |
<small>yếu là xuất khâu hàng hoá và xuất khẩu dịch vụ. Xuất khẩu hàng hoá ở đây là xuất</small>
khẩu các sản phẩm hữu hình như thực phẩm: lúa, ngơ, khoai, sắn,... hay các mặt hàng _ như giường, tủ, bàn ghế,.... Chúng là những vật phẩm có đặc điểm vat lý, ví du như có.
mong muốn của con người bằng cách cung cấp cho họ những diện ích trong khi sy
dụng. Một số mặt hàng được tạo ra để sử dụng một lần bởi người tiêu dùng trong khi =-một số mặt hàng có thể được sử dụng nhiều lần. Xuất khẩu dịch vụ cũng được coi là
<small>xuất khâu hàng hoá nhưng hàng hoá này là hàng hoá phi vật chất như xuất khâu các 5</small>
chinh,... Trong bài nghiên cứu này sẽ chỉ nghiên cứu chính về các nhân té tác động đến xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam.
Tại Việt Nam, xuất khâu hàng hố được thể hiện qua bốn hình thức chính:
<small>- Xuất khâu trực tiếp: Đây là hình thức xuất khẩu phổ biến hiện nay, hình</small>
thức mua bán hàng hóa mà bên bán và bên mua dựa trên giao dịch trực tiếp, thỏa thuận, thương lượng về quyền lợi của mỗi bên theo đúng pháp luật của từng nước tham gia giao dịch và tiến hành ký kết hợp đồng sau cùng. Đây
<small>cũng là hình thức thé hiện sự tự chủ của doanh nghiệp trong việc bn bán</small>
hàng hóa, tìm kiếm đối tác thị trường trên cơ sở nghiên cứu thị trường, thị hiểu người tiêu dùng tại quốc gia hướng đến. Tuy nhiên, DN sẽ là đơn vị
<small>Comment [A1]: Trong mục nay em phải phân</small>
<small>biệt giữa xuất khẩu hàng hoá và xuất khẩu dịchvụ vì nghiên cứu này chỉ xem xét xuất khẩu</small>
<small>hàng hoá.</small>
<small>Formatted: Font color: Text 1, Vietnamese</small>
<small>Formatted: Font color: Text 1, VietnameseFormatted: Font color: Text 1, VietnameseFormatted: Font color: Text 1, VietnameseFormatted: Font color: Text 1, VietnameseFormatted: Font color: Text 1, Vietnamese</small>
<small>Formatted: Font color: Text 1, Vietnamese</small>
<small>Formatted: Font color: Text 1, Vietnamese| Formatted: Font color: Text 1, Vietnamese</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 7</span><div class="page_container" data-page="7"><small>trực tiếp đứng ra tiến hành nghiệp vụ, thủ tục giao dịch, chi phí phát sinh,</small>
tiền lãi thu được và tiền lỗ khi kinh doanh đều được DN tự chịu trách nhiệm. - _ Xuất khâu ủy thác: Hình thức xuất khẩu này tồn tại với hai chủ thé chính là
DN sản xuất kinh doanh nội địa và thị trường- quốc gia hướng đến xuất
<small>khẩu cùng với một DN trung gian hoạt động tại nước ngồi. Hình thức này</small>
được áp dụng khi DN nội địa gặp rào cản về khả năng tài chính, đối tác, ngơn ngữ... họ sẽ tiến hành đàm phán và ủy thác cho DN trung gian để thực hiện xuất khẩu hàng hóa. DN trung gian sau khi nhận ủy thác sẽ đảm nhận moi thủ tục xuất khâu của DN nội địa, chi phí phát sinh, tiền hịa hồng va quyền được nhận sau ủy thác được ghi rõ trong hợp đồng giữa hai bên.
<small>- Xuất khẩu tại chỗ: là hình thức hang hóa của một doanh nghiệp sản xuất nội</small>
địa, tiến hành bán cho thương nhân, doanh nghiệp nước ngoài nhưng lại giao tất cả số hàng hóa nhận được cho một doanh nghiệp được chỉ định khác trong nước. Cụ thé theo Thông tư số 38/2015/TT-BTC về “Thủ tục hải quan
<small>đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu tại cho”, điều số 86 thì hàng hóa</small>
xuất khẩu tại chỗ gồm 3 loại chính:
+ Sản phâm gia cơng; máy móc thiết bị thuê hoặc mượn; nguyên liệu, vật tư
<small>dư thừa; phế liệu, phế phẩm thuộc hợp đồng gia công theo quy định tại</small>
khoản 3- Điều 32- Nghị định 187/2013/ ND- CP.
+ Hàng hóa được mua bán giữa DN nội địa với DN chế xuất, DN trong khu phi thuế quan
+ Hang hóa được mua bán giữa doanh nghiệp Việt Nam với các cá nhân, tổ
<small>chức nước ngồi khơng có sự hiện diện tại Việt Nam và được thương nhân</small>
<small>chỉ định giao, nhận hàng hóa với DN khác tại Việt Nam.</small>
hóa của một DN sản xuất, kinh doanh nội địa. Sau đó lại sử dụng chính hàng hóa đó xuất khẩu sang quốc gia khác ngồi lãnh thé Việt Nam. Hình thức
<small>này cho thấy nó diễn ra cả quá trình nhập và xuất khâu, nên lượng ngoại tệ</small>
doanh thu thu lại sẽ lớn hơn so với số vốn ban đầu được bỏ ra. 1.1.3. Vai trò của xuất khẩu.
<small>Thứ nhất, xuất khâu là động lực quan trọng của tăng trưởng kinh tê</small>
Xuất khẩu hàng hóa là hoạt động thuộc phạm vi quốc tế, diễn ra đối với tất cả các chủ thể trên thị trường và có sự điều hành của Nhà nước. Mục đích của việc xuất khâu
<small>nhằm đem hàng hóa của mình đến các quốc gia khác trên thế giới và thu lại ngoại tệ từ</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 8</span><div class="page_container" data-page="8"><small>việc bán các sản phẩm hàng hoá. Đối với một nước chủ nghĩa xã hội có nền kinh tế</small>
đang phát triển như Việt Nam, việc mở cửa kinh tế, tham gia vào thương mại quốc tế như xuất khâu hàng hố có vai trị thực sự to lớn và quan trọng. Vì khi xuất khẩu hàng
<small>hố ra thị trường thế gidi, ngồi việc có thể thu được nhiều ngoại tệ hơn, chúng ta còn</small>
được tiếp cận với sự đổi mới trong khoa học- công nghệ, tham gia, tiếp nhận chuyển giao khoa học công nghệ. Bên cạnh đó, việc mở cửa nền kinh tế cũng giúp cho đất nước thu về những bài học kinh nghiệm từ các quốc gia phát triển, các quốc gia đi đầu
<small>trong vấn đề xuất khâu hàng hố, từ đó Chính phủ có thể đưa ra các chính sách phùhợp để cải thiện nền kinh tế, gia tăng tốc độ tăng trưởng kinh tế và thu hẹp khoảng</small>
cách với các quốc gia phát triển.
Thứ hai, xuất khẩu là cơ hội cho việc cải thiện, nâng cao chất lượng sản phẩm, hàng
<small>hóa Việt.</small>
<small>Vấn đề xuất khâu hàng hố khơng chỉ đơn giản là bán hàng hóa nào đó sang một quốcgia khác ngồi lãnh thé Việt Nam. Trên thực tế, để hàng hóa được thông qua Hải quan</small>
và được tiêu dùng trong quốc gia khác, chúng đều phải trải qua sự kiểm tra nghiêm ngặt, gắt gao, phái đảm bảo các tiêu chuẩn chất lượng đầu vào tại quốc gia hướng đến xuất khâu. Điều này đòi hỏi các doanh nghiệp sản xuất hàng hố đã và đang có ý định
<small>xuất khâu phải thật sự chin chu và nghiêm túc trong từng khâu sản xuất, áp dụng</small>
những cách thức sản xuất kinh doanh mới, tích cực đổi mới trang thiết bị, cơng nghệ sản xuất để ngày càng nâng cao chất lượng sản phẩm. Nhờ đó mà hàng hố của Việt Nam có thể dễ dàng thuận lợi thông quan, gia nhập vào thị trường tiêu thụ của các
<small>quốc gia nhập khẩu, đồng thời đó cũng là một lời khẳng định cho chất lượng hàng hoá</small>
<small>của của nước ta .</small>
Thứ ba, xuất khẩu là động lực giúp chuyển dịch cơ cầu kinh tế.
Một trong những vai trị xuất khâu chính là tiền đề cho nền kinh tế Việt Nam chuyển dịch theo một hướng thích hợp hơn. Thật vậy, đặt trong bối cảnh nền kinh tế nước nhà
<small>là nền kinh tế mở và hội nhập kinh tế quốc tế, Đảng và Nhà nước ta đã và đang chú</small>
trọng rất nhiều vào xuất khẩu, trong đó có nhiều ngành xuất khẩu chủ lực như gạo, hạt điều, đệt may, thủy hải sản... Để có được các sản phẩm chất lượng, đáp ứng được nhu cầu của nhiều thị trường khó tính trên thế giới, cần phải phát triển chuỗi cung ứng bắt
<small>đầu từ các việc sản xuất, lựa chọn các nguyên liệu thô cho đến khâu chế biến, bảo</small>
quản các sản phẩm lương thực thực phẩm, dệt may, thuỷ hải sản,.. Điều này giúp các chủ thê kinh tế tiếp cận nhiều hơn đến phương thức sản xuất tự động hóa và mơ hình
<small>sản xuất theo chuỗi cụ thé. Đó chính là lý do giúp cơ cầu nước ta chuyển dịch nhanh</small>
<small>chóng hơn.</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 9</span><div class="page_container" data-page="9"><small>Thứ tư, xuất khẩu là một trong những yếu tô giúp giải quyết việc làm, nâng cao đời</small>
sống nhân dân.
<small>Muốn đây mạnh, gia tăng xuất khâu, hàng hóa, sản phẩm phải được làm ra với sốlượng lớn mới có thể đáp ứng đủ nhu cầu ở cả trong và ngồi nước, vì vậy, vấn đề</small>
nguồn cung lao động được đặt ra cho các doanh nghiệp và chính phủ nước ta. Tính đến hiện nay, nước ta vẫn là một nước có dân số trẻ, cơ cấu dân số là cơ cấu vàng, xuất
<small>khẩu chính là cơ hội giúp người lao động tìm được cơng ăn việc làm phù hợp với từngtrình độ tay nghề. Nhờ đó mà tỷ lệ thất nghiệp có thể giảm xuống, người lao động có</small>
việc làm và thu nhập 6n định, góp phan làm cải thiện mức sống của người dan.
<small>Thứ năm, xuất khẩu là một trong những tiền dé mở rộng và thúc đẩy quan hệ kinh tế</small>
<small>doi ngoại.</small>
Trên thực tế, việc xuất khâu hàng hóa sang các quốc gia khác trên thế giới sẽ giúp cho
<small>Việt Nam có thêm nhiều mối quan hệ thương mại, hợp tác và giao thương trên thị</small>
trường quốc tế, đồng thời cũng giúp nước ta nâng cao vai trị và vi thế của mình trên trường quốc tế. Ngược lại, việc tham gia đối thoại, hợp tác và giao thương với các nước chính là tiền đề giúp cho Việt Nam có thời gian tìm hiểu thị trường, thị hiếu tại
<small>quốc gia đó và cân nhắc xuất khâu; các quốc gia đang có ý định nhập khẩu hàng hố</small>
hàng hóa từ Việt Nam hay khơng. Có thể nói đây là mối quan hệ hai chiều có tác động
<small>tích cực lên cả xuất khẩu và mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại của Việt Nam.</small>
1.2. Các mơ hình lý thuyết phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu. 1.2.1. Lý thuyết lợi thé so sánh và lợi thế tuyệt đối.
Đầu tiên, lý thuyết được coi là cha đẻ của thương mại, chắc chắn là lý thuyết về lợi ích của Adam Smith. Cuốn sách nổi tiếng “Sự giàu có của 1 quốc gia” của ơng đã so sánh giữa quốc gia và tư nhân. Những người thợ may may áo sau đó trao đổi giày với những người làm giày, do đó cả 2 bên đều có lợi, tương tự với 1 quốc gia. Các quốc
<small>gia nên chun mơn hóa sản xuất dựa trên những lợi thế sẵn có, sau đó trao đổi thươngmại với những nước khác và cả 2 bên đều tham gia vào thương mại quốc tế (giống</small>
Linder 1991). Lý thuyết này của Smith rất thuyết phục, tuy nhiên, lý thuyết này mới giải thích được lý do nên tham gia vào thương mại quốc tế của các nước đã có sẵn lợi thế, chưa giải thích được lý đo tại sao các quốc gia khơng có sẵn lợi thế cũng cần phải
<small>tham gia.</small>
David Ricardo đã trả lời được câu hỏi còn bỏ ngỏ bởi Adam Smith bằng một lý thuyết cơ bản trong thương mại quốc tế - lý thuyết lợi thế so sánh. Lý thuyết này đã chỉ ra
<small>rằng “1 quốc gia sẽ nhận được nhiều lợi ích từ trao đổi thương mại bằng cách xuất</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 10</span><div class="page_container" data-page="10"><small>khẩu những gì có lợi thế so sánh lớn nhất trong sản xuất và nhập khâu những gì có lợi</small>
thế so sánh nhỏ nhất” đo chỉ phí cơ hội của việc sản xuất hàng hóa ở mỗi quốc gia là
<small>khác nhau.</small>
<small>Rõ ràng rằng, lợi thế so sánh là nguyên lý cơ bản của thương mại quốc tế. Tuy nhiên,</small>
mơ hình của Ricardo vẫn chưa thực sự hoàn thiện. Đầu tiên, lý thuyết này đang giả định ở các quốc gia có mức độ chun mơn hóa cao trong khi điều này là không thực
<small>tế, vi dụ như Thụy Dién cùng lúc nhập khẩu và sản xuất máy móc. Thứ hai, lý thuyếtnày cho rằng các quốc gia đều thu được lợi nhuận từ thương mại vì nó chưa tính đến</small>
tác động của thương mại quốc tế lên phân phối thu nhập của các quốc gia. Thứ ba, sự khác nhau giữa nguồn lực của các quốc gia, quy mô kinh tế, thương mại trong nước chưa được nhắc đến trong lý thuyết của Ricardo.
<small>1.2.2. Hecksher — Ohlin model. ; l ; ; ; ;</small>
<small>Các lý thut cơ điên van cịn rat nhiêu khoảng trông, thúc day các nhà kinh tê ở thê</small>
<small>kỷ 19 và 20 nghiên cứu và tìm hiểu. Hai nhà kinh tế người Thụy Dién là Eli Heckshervà Bertil Ohlin đã mở rộng mơ hình của Ricardo và phát triển nên một lý thuyết có ảnhhưởng lớn đến thương mại, gọi là mơ hình thương mại tự do tân cỗ điển hay cịn gọi làmơ hình Hecksher — Ohlin. Mơ hình này chỉ ra rằng “các quốc gia sẽ xuất khâu các</small>
loại hàng hóa sử dụng nhiều các nguồn lực déi dào, có sẵn và nhập khâu các loại hàng hóa sử dụng các nguồn lực khan hiếm.
<small>Mơ hình H-O đã sửa đổi mơ hình đơn giản của Ricardo ở chỗ nó bổ sung thêm mộtyếu tố trong sản xuất, vốn, bên cạnh yếu tế lao động, yếu tô ban đầu trong mơ hình cơ</small>
điển. Mơ hình này cũng giả định rằng sự khác biệt duy nhất giữa các quốc gia là sự khác biệt về giá trị tương đối của các yếu té sản xuất trong khi công nghệ sản xuất là
<small>giống nhau, trong khi mơ hình Ricardo cho rằng công nghệ sản xuất giữa các quốc gia</small>
<small>là khác nhau.</small>
<small>Trong mơ hình H - O, thương mại nói chung khơng dẫn đến chun mơn hóa hồntồn giữa các quốc gia, điều này có thể khắc phục được khiếm khuyết về lập luận</small>
thương mại dẫn đến chun mơn hóa hồn tồn trong mơ hình Ricardo. 1.2.3. Lý thuyết thương mại mới. ‹
<small>-Các lý thuyét thương mại cô điên cũng hàm ý rang các qc gia có ít diém chung với</small>
nhau sẽ có xu hướng trao đổi với nhau nhiều hơn. Do đó, rất khó dé giải thích được ty
<small>lệ thương mại khơng lồ giữa các quốc gia có nhiều nguồn lực tương tự nhau và sự chỉphối thương mại bằng thương mại công nghiệp nội địa của các nước phát triển. Đây</small>
chính là động lực đề lý thuyết thương mại mới ra đời vào những năm 1980 với các nhà nghiên cứu như: Krugman, Lancaster, Helpman, Markusen,v.v... Lý thuyết thương mại mới giải thích cơ sở dé các nước trên thế giới trao đôi thương mại dựa trên quy mơ
</div><span class="text_page_counter">Trang 11</span><div class="page_container" data-page="11"><small>kinh tế, cạnh tranh khơng hồn hảo, sự khác biệt về sản phẩm, giảm thiểu các giả định</small>
nghiêm ngặt của lý thuyết cô điển về tỷ lệ hồn vốn khơng đổi theo quy mơ, cạnh
<small>tranh hồn hảo và san phâm đồng nhất. Theo những giả định này, mỗi quốc gia có théchun mơn hóa sản xuất ở phạm vi sản phẩm hẹp hơn với quy mô lớn hơn, năng suất</small>
cao hơn và chỉ phí thấp hơn qua đó làm tăng sự đa dạng của hàng hóa có sẵn cho
<small>người tiêu dùng thơng qua thương mại. Thương mại lúc này sẽ xảy ra ngay cả khi các</small>
quốc gia khơng có sự khác nhau về nguồn lực hoặc cơng nghệ.
<small>1.2.4. Mơ hình trọng lực.</small>
Các lý thuyết cơ điển và lý thuyết thương mại mới đã giải thích thành công lý do tại sao các quốc gia nên tham gia vào thương mại quốc tế, nhưng lại chưa giải thích được câu hỏi về quy mơ thương mại. Một lý thuyết về thương mại khác, mơ hình trọng lực, đã được nhiều chuyên gia sử dụng trong việc phân tích các mơ hình và hiệu suất của thương mại quốc tế trong những năm gan đây, được áp dụng dé định lượng các địng
<small>thương mại theo kinh nghiệm. Mơ hình áp dụng định luật vạn vật hấp dẫn của Newton</small>
<small>lượng của chúng và tỷ lệ nghịch với bình phương khoảng cách của chúng. Mơ hình lực</small>
hấp dẫn được trình bày như sau:
Trong đó: Fj; là lực hấp dẫn
<small>M, , M; là khối lượng của 2 vật</small>
<small>Dị; là khoảng cách giữa hai vật</small>
Tinbergen là người đầu tiên áp dụng mơ hình trọng lực vào việc phân tích dịng chảy
<small>thương mại quốc tế, khiến cho rất nhiều các nhà kinh tế khác tập trung nghiên cứu đểđưa ra các mơ hình kinh tế lượng của thương mại đa phương. Mơ hình chung của</small>
<small>Tạ =A</small>
Trongđó: A làhằng số
T¡; là khối lượng thương mại từ quốc gia ¡ đến quốc gia j
<small>Yị,Y; là quy mô kinh tế lần lượt của quốc gia ¡ và quốc gia j, thường</small>
được đo bằng GDP hoặc GNP
Dị; là khoảng cách giữa hai quốc gia i và j
</div><span class="text_page_counter">Trang 12</span><div class="page_container" data-page="12"><small>Lay lo-ga-rít hai về của phương trình trọng lực ở trên ta được:</small>
<small>InT;; =at By HỆ 4 ¥) + Bz In(D;;) + thị;</small>
<small>Nhu vậy, mơ hình trong lực truyền thống đưa ra các nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩuchỉ bao gồm: GDP của nước xuất khẩu và đối tác nhập khẩu cùng khoảng cách giữa</small>
các nước. Tuy nhiên, tại thời điểm đó, mơ hình trọng lực đã bị phê phán do khơng có cơ sở lý thuyết kinh tế. Do đó, trong những năm gần đây ngày càng nhiều các nhà
<small>khoa học đã và đang nghiên cứu các lý thuyết giải thích cho mơ hình này. Linnerman(1966) có lẽ là người đầu tiên đưa ra được các lý thuyết nền tảng cho mơ hình này, ơng</small>
đã chỉ ra rằng phương trình trọng lực có thể được suy ra từ mơ hình cân bằng cục bộ.
<small>Khối lượng trao đổi thương mại giữa hai nước i và j được giải thích bằng các yếu tố</small>
cho biết tổng cung tiềm năng của nước i, tổng cầu tiềm năng của nước j và các yếu tố cản trở thương mại giữa ¡ và j. Mơ hình trọng lực sẽ thu được sự cân bằng cung cầu
<small>giữa 2 nước.</small>
Tuy nhiên, Bergstrand (1985) chỉ trích cách tiếp cận này vì khơng thể giải thích dạng hàm số nhân của phương trình trọng lực và chỉ ra rằng phương trình trọng lực này có thể bị sai do việc bỏ qua biến giá cả. Bergstrand đã vận dụng các lý thuyết vi mơ để
<small>giải thích mơ hình trọng lực. Cung thương mại quốc gia bắt nguồn từ việc tối đa hóa</small>
lợi nhuận của các cơng ty và cầu thương mại có được bằng cách tối đa hóa độ co giãn khơng đổi của hàm tiện ích thay cho sự ràng buộc của thu nhập. Sau đó phương trình trọng lực thu được bằng cách sử dụng khoảng trống cân bằng thị trường.
Mặt khác, các nhà nghiên cứu khác đã cố gắng tìm ra cơ sở lý thuyết cho mơ hình trọng lực từ các lý thuyết về thương mại quốc tế. Eaton và Kortum (1997) đã phát triển
<small>một mơ hình Ricard và cho thấy rằng phương trình trọng lực có thể được suy ra từ</small>
khung của Ricardo nhưng các thông số cơ bản của công nghệ đã được xác định. Trong khi đó, Dearoff (1998) lại đưa ra ý kiến là mơ hình trọng lực có thể được xây dựng từ 2 TH đặc biệt của mơ hình Hecksher — Ohlin là có hoặc khơng có yếu tố cản trở.
<small>Trên thực tế, có rất nhiều biến thể của mơ hình trọng lực được áp dụng trong việc phân</small>
tích các nhân tố tác động lên xuất khâu, nhập khẩu hoặc các nhân tố ảnh hưởng đến
<small>thương mại quốc tế. Tuy nhiên, phương trình trọng lực được đề xuất và phát triển bởiAnderson và Wincoop (2003) là phương trình thành cơng nhất và được ứng dụng rộng</small>
rãi nhất. Họ đã chỉ ra rằng việc kiểm soát chi phí thương mại tương đối là rất quan
<small>trọng đối với một mơ hình trọng lực, tức là xuất khẩu của 1 quốc gia sẽ phụ thuộc vào</small>
các ràn cản từ quốc gia nhập khẩu. Xuất khâu sẽ thấp nếu các quốc gia có khoảng cách
<small>với các thị trường thương mại trên thế giới, được biêu hiện bằng khoảng cách địa lý</small>
cũng như các yếu tổ rào can trong chính sách: hàng rào thuế quan, chi phí thương mai...
</div><span class="text_page_counter">Trang 13</span><div class="page_container" data-page="13"><small>Anderson và van Wincoop cũng chỉ ra rằng trong bối cảnh thế giới gồm N quốc gia và</small>
<small>lực sẽ có dạng:</small>
YY tị
<small>Xu = 2-5" @2</small>w= > In (3.2)
<small>Trong đó : Y là GDP tồn thé giới</small>
<small>Yị, Yj lần lượt là GDP của quốc gia I và quốc gia j</small>
t;; là chi phí nhập khẩu hàng hóa của quốc gia j từ quốc gia i ø là độ co giãn thay thế (o > 1)
II, P; là mức độ tiếp cận thị trường của quốc gia xuất khẩu và nhập khâu hoặc
<small>các điều khoản ngăn cản quốc gia ¡ xuất khẩu và quốc gia j nhập khẩu.</small>
Lay lo-ga-rít hai vế, ta sẽ thu được phương trình ước lượng:
<small>+ €ịj (3.4)</small>
<small>Một van dé của phương trình (3.4) là biến chi phí nhập khâu hàng hóa £;; khơng thé</small>
quan sát trực tiếp được. Tuy nhiên, có rất nhiều chỉ số kinh tế có thê đại diện cho biến này. Trong các tài liệu về lực hấp dẫn, nói chung người ta cho rằng chỉ phí thương mại
<small>có dạng:</small>
<small>Trong đó đ;; là khoảng cách song phương va cont;;, lang;;, ccol;; , col;</small><sub>j? i</sub><small>Ụ› landlock;;</small>
<small>và RTA;, lần lượt là các biến giả biểu thị liệu hai quốc gia có biên giới chung, ngônngữ chung và thuộc địa chung hay không, liệu một quốc gia có phải là thuộc địa củaquốc gia kia tại một thời điểm nào đó hay khơng, liệu một trong hai quốc gia có phải là</small>
quốc gia khơng giáp biển (kế cả khi cả hai quốc gia đều khơng giáp biển), hoặc liệu hai quốc gia có phải là thành viên của một hiệp định thương mại khu vực hay không. Tắt cả những biến số này được coi là những yếu tố quyết định đáng kê đến thương mại song phương. Chúng được sử dụng để phản ánh các giả thuyết cho rằng chỉ phí vận tải tăng theo khoảng cách và cao hơn đối với các quốc gia nhập khâu có hải đảo và khơng giáp biển nhưng thấp hơn đối với các quốc gia láng giềng. Biến giả đại diện cho ngôn
<small>ngữ thông thường, mức độ phụ thuộc hoặc các thông tin liên quan đến văn hóa (ví dụ</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 14</span><div class="page_container" data-page="14"><small>như có từng là thuộc địa hay không) cũng được sử dụng. Chỉ phí tìm kiếm có lẽ là thấp</small>
hơn đối với thương mại của các quốc gia có phương thức kinh doanh, khả năng cạnh tranh và mức độ tin cậy giữa các bên là như nhau. Các doanh nghiệp xuất nhập khâu ở các quốc gia liền kề, các quốc gia có ngơn ngữ chung hoặc có các đặc điểm văn hóa liên quan khác có thé biết nhiều hơn về nhau và hiểu các phương thức kinh đoanh của nhau tốt hơn so với các công ty hoạt động trong những mơi trường ít có sự tương đồng. Vì lý do này, các cơng ty có nhiều khả năng tìm kiếm nhà cung cấp hoặc khách hàng ở
<small>các quốc gia có mơi trường kinh doanh quen thuộc với họ. Các rào cản thuế quanthường được đưa vào dưới dạng biến giả về ký kết các hiệp định thương mại. Các</small>
nghiên cứu thực nghiệm trong phần tiếp theo sẽ chứng minh cho điều này.
<small>1.3. Các nghiên cứu thực nghiệm.1.3.1. Các nghiên cứu nước ngồi.</small>
<small>Mơ hình trọng lực trong trao đổi thương mại được bắt nguồn lực hap dẫn trong vật lý</small>
nhưng đã được thay đổi và phá triển cho phù hợp với kinh tế (Tinbergen, 1962; Pöyhönen, 1963). Bất chấp những lời chỉ trích ban đầu vì thiếu nền tảng lý thuyết, mơ
<small>hình trọng lực đã được sử dụng rộng rãi trong những thập ký qua do những phát triểnphương pháp luận gần đây đã cung cấp nền tang lý thuyết chặt chẽ cho mơ hình</small>
<small>(Anderson, 1979; Bergstrand, 1985; Feenstra và cộng sự, 2001; Anderson và van</small>
Wincoop, 2003; Baldwin và Taglioni, 2006; Anderson, 2011) và trở thành “ngựa đầu đàn” cho các phân tích kinh tế lượng về các luồng thương mại song phương của nhiều
<small>mặt hàng khác nhau trong các tình huống khác nhau.</small>
<small>Gưkhan UZEL và Serkan GURLUK (2019) trong bài nghiên cứu “Turkey’s</small>
<small>agriculture export: an application of gravity model” đã áp dụng lý thuyết mơ hình</small>
trong lực để nghiên cứu các yếu tố tác động lên xuất khẩu ngành nông nghiệp ở Thổ Nhĩ Kỳ. Dé kiểm chứng cho lý thuyết này, ông đã sử dụng số liệu lấy từ FAO, IMF và
<small>UNCTAD về xuất khẩu nông sản, GDP, dân số của Thổ Nhĩ Kỳ và 16 quốc gia đối táccùng với khoảng cách giữa Thổ Nhĩ Kỳ và các nước đối tác, sản lượng nông sản và tỷ</small>
lệ tiêu thụ protein theo đầu người giai đoạn 2001-2018 kết hợp với mơ hình tác động cố định- tác động ngẫu nhiễn để xác định xem yếu tố nào có ảnh hưởng đến tổng xuất khẩu nông sản ở nước này. Các kết quả thực nghiệm cho thấy, trong khi GDP và dân
<small>số có tác động tích cực lên tổng giá trị xuất khẩu nơng sản thì khoảng cách có tác động</small>
tiêu cực, tức là khoảng cách giữa quốc gia nhập khẩu và Thổ Nhĩ Kỳ càng xa thì giá trị nơng sản xuất khẩu đến quốc gia đó càng thấp. Sản lượng và tỷ lệ tiêu thụ protein tính theo đầu người cũng cho thấy các tác động cùng chiều lên xuất khẩu, khi hai chỉ số
<small>này tăng, tổng giá xuất khâu nông sản của Thé Nhĩ Kỳ cũng tăng.</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 15</span><div class="page_container" data-page="15"><small>Saleh Shahriar, Lu Qian và Sokvibol Kea (2019) trong bài nghiên cứu “Determinant of</small>
<small>Export in China ”s meat industry: an gravity analysis” cũng đã áp dụng thành cơng mơ</small>
<small>hình trọng lực khi tìm hiểu các nhân tổ anh hưởng đến xuất khẩu thịt ở Trung Quốc.</small>
dữ liệu về tổng sản phẩm quốc nội, thu nhập bình quân đầu người, tỷ giá hối đoái, khoảng cách địa lý giữa Trung Quốc và các quốc gia nhập khẩu, các thông tin về hiệp
<small>định thương mại, diện tích, ngơn ngữ và đường biên giới chung giai đoạn 1997-2016</small>
<small>được lay từ các nguồn dữ liệu IMF, WorldBank, UN Comtrade, các tác giả đã tiếnhành nghiên cứu thông qua phương pháp ước lượng tối đa hóa khả năng (PPML). Kết</small>
quả thực nghiệm cho thấy tổng sản phẩm quốc nội GDP, tỷ giá hối đối, ngơn ngữ và diện tích quốc gia là những yếu tơ có tác động đáng kể lên tơng giá trị xuất khẩu thịt ở Trung Quốc. Ngoài ra, việc Trung Quốc tham gia vào WTO, sáng kiến “Belt & Road”
<small>và đường biên giới chung giữa Trung Quốc và các quốc gia nhập khẩu cũng có tác</small>
động tích cực lên việc xuất khẩu thịt lợn của nước này.
<small>Irwan Shah ZainalAbidin, Nor’Aznin Abu Bakar và Rizaudin Sahlan (2013) trong bàinghién cttu “Determinant of export between Malaysia and OIC countries: a gravity</small>
model approach” dựa trên lý thuyết mơ hình trong lực và áp dụng phương pháp ước
<small>lượng tác động cố định, tác động ngẫu nhiên và Pool OLS dé tiến hành tìm hiểu cácnhân tố tác động lên xuất khẩu của Malaysia đến các nước OIC. Tác giả đã sử dụng số</small>
liệu xuất khẩu của Malaysia đến các nước OIC cùng với GDP, thu nhập bình quân đầu người, khoảng cách địa lý, chi số tham nhũng, tỷ giá hối đoái, lạm phát và độ mở thương mại của Malaysia và các nước OIC giai đoạn 1997 đến 2009 được lay từ IMF, WorldBank và IFS. Các kết quả ước lượng cho thấy quy mô nền kinh tế, mức độ mở cửa của nền kinh tế, ty lệ lạm phát và tỷ giá hối đoái là những yếu tố quyết định xuất khẩu của Malaysia sang các nước thành viên OIC. Những kết quả này cho thấy tầm quan trọng của khoảng cách và thé chế trong việc gia tăng tong sản lượng hàng hóa xuất khẩu giữa Malaysia và OIC.
<small>László ERDEY và Andrea POSTENYI (2016) trong nghiên cứu “Determinant of theexport of Hugary: Trade theory and gravity model” cũng áp dụng lý thuyết mơ hình</small>
trọng lực để tiến hành tìm hiểu các nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu của Hungary. Các tác giả đã sử dụng số liệu về tông giá trị xuất khẩu của Hungary đến 79 quốc gia khác, GDP của Hungary và các nước đối tác, khoảng cách địa lý, các nguồn lực sẵn có, nguồn lực con người, khác biệt về mật độ dân số, khác biệt vốn hiện vật tính trên 1 lao động, khác biệt về vốn đất đai tính trên 1 lao động, các thông tin về đường biên giới, các hiệp định thương mại tự do được lấy từ UNCTAD, IME và UN Comtrade để nghiên cứu. Bằng phương pháp ước lượng Pool OLS, ước lượng tác động ngẫu nhiên,
</div><span class="text_page_counter">Trang 16</span><div class="page_container" data-page="16"><small>tác động cô định, các tác giả đã rút ra được kết luận rằng: Quy mô kinh tế, biên giới</small>
chung và các hiệp định thương mại tự đo có tác động tích cực đáng ké về mặt thống kê đối với xuất khâu của Hungary. Trong khi đó, khoảng cách có dấu hiệu tác động tiêu
<small>cực lên xuất khâu, tức là Hungary có xu hướng xuất khâu nhiều hơn sang các quốc gia</small>
có các yếu tố tương tự về nguồn lực.
<small>Sokvibol Kea và các cộng sự (2019) trong nghiên cứu “Factors Influencing</small>
<small>Cambodian Rice Exports: An Application of the Dynamic Panel Gravity Model” đã</small>
<small>dùng mơ hình trọng lực như lý thuyết nền tảng cho bài nghiên cứu về các nhân tố tác</small>
động đến xuất khâu gạo của Cam-pu-chia. Các tác giả đã lấy số liệu từ UNCTAD, WorldBank, CEPII và The Heritage Foundation bao gồm số liệu xuất khâu gạo của Cam-pu-chia sang 40 quốc gia trên thế giới, số liệu về GDP, thu nhập bình quân đầu
<small>người, khoảng cách địa lý, tỷ giá hối đối, diện tích đất nơng nghiệp, tỷ lệ thuế trung</small>
<small>bình, và các thơng tin như thành viên WTO, EU, ASEAN, .... trong giai đoạn </small>
<small>1995-2016 dé tiễn hành thực nghiệm. Sau khi Kết quả cho thấy yếu tố lịch sử, ty giá hối đoáivà cải cách ruộng đất nông nghiệp đã thúc day tăng trưởng xuất khẩu gạo của </small>
Cam-pu-chia. Thêm vào đó, cần mở rộng xuất khẩu sang các đối tác thương mại, đặc biệt là các nước EU, Trung Quốc và các nước ASEAN. Thực nghiệm cũng cho thấy, suy thối
<small>kinh tế có tác động tiêu cực đến xuất khẩu gạo của Cam-pu-chia.</small>
Tomasz Brodzicki, Dorota Ciolek và Katarzyna Sledziewska (2017) trong nghiên cứu
<small>“What really determines Polish export? The semi-mixed effects gravity model for</small>
Poland” dựa trên các lý thuyết của mơ hình trong lực đã tim ra được các yếu tố anh
<small>hưởng đến xuất khâu của Ba Lan. Với số liệu thu thập từ WorldBank, United States</small>
Patent and Trademark Office (USPTO) và OECD về tổng kim ngạch xuất khẩu của Ba Lan, GDP thực, khoảng cách giữa Ba Lan và các nước đối tác, tỷ giá hối đoái, chênh lệch ty lệ vén/ lao động, chênh lệch tỷ lệ TFP, chênh lệch công nghệ, chi số năng lực cạnh tranh toàn cầu, và các thông tin như thành viên WTO, EU, ASEAN, hiệp định thương mại EIA, FTA,... giai đoạn 1999-2013, các tác giả đã tiến hành nghiên cứu, ước lượng thông qua phương pháp ước lượng tối đa hóa khả năng (PPML). Kết quả
<small>chỉ ra, sự biến động tỷ giá hối đối có tác động tiêu cực đến xuất khâu trong khi sự</small>
khác biệt lớn về tý lệ vốn trên lao động (K / L) có tác động tích cực và mạnh mẽ đến cường độ xuất khẩu của Ba Lan. Đồng thời, Ba Lan đang có xu hướng xuất khẩu nhiều hơn sang các nước có cùng mức năng suất, do đó thu được những tiến bộ về công nghệ cho quốc gia.
<small>Helga Kristjánsdóttir và cộng sự (2005) trong nghiên cứu “A Gravity Model for</small>
Exports from Iceland” đã áp dụng mơ hình trọng lực dé xem xét các yếu tố quyết định
<small>đến xuất khâu của Iceland. Tác giả đã sử dụng dữ liệu xuất khẩu của Iceland trong 4</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 17</span><div class="page_container" data-page="17"><small>lĩnh vực đến 16 quốc gia trên thế giới giai đoạn 1989-1999 được lấy từ IMF, World</small>
Bank và Distance Caculator kết hợp với phương pháp ước lượng tác động có định, tác
<small>động ngẫu nhiên và Pool OLS để tiến hành thực nghiệm. Số liệu bao gồm xuất khẩu</small>
của Iceland, GDP và dân số của Iceland và các quốc gia nhập khâu, khoảng cách địa lý, các thông tin về tham gia ký kết các hiệp định thương mại như EFTA, NAFTA,... hoặc thuộc khối liên minh kinh tế EU của các quốc gia nhập khâu. Kết quả chi ra rằng hau hết các yếu tổ quyết định xuất khẩu đối với một quốc gia nhỏ như Iceland khá giống
<small>với lý thuyết mà mơ hình trọng lực đưa ra: GDP, dân số, khoảng cách của quốc gianhập khẩu. Tuy nhiên, các biến số thể hiện quy mô kinh tế và sự giàu có của quốc gia</small>
xuất khẩu (Iceland) thì khơng có bằng chứng cho thấy có tác động thúc đây xuất khẩu. Khi được hiệu chỉnh về khoảng cách, quy mô quốc gia và quy mô dan số, các nước
<small>tham gia hiệp định thương mại EFTA và các nước ngoài khối thu hút xuất khẩu nhiềuhơn khối liên minh EU.</small>
<small>Mohamed Sami Ben ALI và cộng sự (2013) trong nghiên cứu “Determinants of</small>
<small>Tunisia’s Exports: A Gravity Model Framework” sử dụng mơ hình trong lực dé xác</small>
định các yếu tố chính giải thích xuất khẩu của Tunisia đến các quốc gia đối tác phi truyền thống. Các tác giả đã thực hiện ước lượng mơ hình tác động có định — tác động
<small>ngẫu nhiên dựa trên bộ dữ liệu mang của Tunisia và 36 quốc gia nhập khẩu giai đoạn1986-2009 bao gồm các dữ liệu về xuất khẩu, GDP và GDP bình quân đầu người của</small>
Tunisia và các nước đối tác, khoảng cách địa lý giữa Tunisia và các nước nhập khâu, đầu tư trực tiếp nước ngồi, ty giá hối đối, độ mở thương mại và các thông tin về biên
<small>giới chung, ngôn ngữ. Kết quả chỉ ra rằng quy mô kinh tế của các quốc gia đối tác,</small>
chính sách mở cửa thương mại của Tunisia và đầu tư trực tiếp nước ngồi FDI, có thể kích thích tăng kim ngạch xuất khâu của Tunisia sang các nước khác. Thêm vào đó, trong khi khoảng cách địa lý có tác động tiêu cực lên xuất khẩu, sự tổn tại của một
<small>ngôn ngữ chung khơng đóng vai trị gì trong xuất khâu của Tunisia tới những nước này.</small>
Nghiên cứu cũng chỉ ra được Tunisia cso xu hướng xuất khẩu sang các nước có biên giới chung và là đối tác truyền thống của nước này.
<small>Bing Liu, Darren Hudson, va Jon Devine (2022) trong nghiên cứu “A Gravity Model</small>
Analysis of Chinese Apparel Export Flows” đã sử dung mơ hình trong lực dé xác định các yếu tơ chính quyết định xuất khâu hang may mặc của Trung Quốc. Bằng phương pháp ước lượng tối đa hóa kha năng PPML, các tác giả đã tiến hành điều tra dựa trên bộ dit liệu mảng từ năm 2000 đến năm 2020 cho tổng giá trị xuất khẩu hàng may mặc của Trung Quốc sang 198 đối tác thương mai bao gồm số liệu về GDP, thu nhập bình quân đầu người của Trung Quốc và các quốc gia nhập khâu, khoảng cách địa lý, ty giá hối đối, các thơng tin về biên giới chung, ngơn ngữ, thành viên của các tô chức kinh
</div><span class="text_page_counter">Trang 18</span><div class="page_container" data-page="18"><small>tế (WTO) được lấy từ UNCOMTRADE, IHS Global, CEPII. Các kết quả ước lượng</small>
cho thấy GDP của Trung Quốc có tác động tích cực đáng ké đến kim ngạch xuất khẩu
<small>nhóm hàng may mặc trong các giai đoạn 2000 - 2020 và 2010 — 2020, nhưng lại dem</small>
đến tác động tiêu cực trong giai đoạn 2015 - 2020. Một kết luận nữa là quy mô xuất
nhập khẩu nhưng lại chịu tác động tiêu cực từ GDP bình quân đầu người của nước nhập khẩu.
<small>Henry Tumwebaze Karamuriro và Wilfred Nahamya Karukuza (2015) trong bài</small>
<small>nghiên cứu “Determinants of Uganda’s Export Performance: A Gravity Model</small>
Analysis” sử dụng mơ hình trong lực dé xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến xuất khẩu của Uganda. Dữ liệu được sử dụng trong bài nghiên cứu bao gồm số liệu xuất khẩu
<small>của Uganda đến các nước đối tác, thu nhập bình quân đầu người của Uganda và các</small>
quốc gia nhập khẩu, tỷ giá hối đối, các thơng tin về biên giới chung, ngôn ngữ, thành
<small>viên của COMESA, EAC giai đoạn 1980-2012 được thu thập từ IMF, UN Comtrade,</small>
<small>World Bank và ngân hàng quốc gia Uganda. Tác giả đã sử dụng bộ dữ liệu này kết hợp</small>
với phương pháp ước lượng tác động có định, tác động ngẫu nhiên trong quá trình thực nghiệm. Kết quả thực nghiệm cho thấy, các yếu tố quyết định xuất khẩu của Uganda
<small>bao gồm GDP, khoảng cách thu nhập của Uganda và các quốc gia nhập khẩu, thu nhậpbình quân đầu người của nước nhập khẩu, tỷ giá hối đối thực, ngơn ngữ chung và</small>
đường biên giới chung. Nghiên cứu sâu hơn cho thấy, sự hình thành COMESA (Thị trường chung Đơng và Nam Phi ) va EAC (Cộng đồng Đông Phi) đã có những tác
<small>động tích cực đáng ké lên xuất khẩu của Uganda.</small>
<small>Assem Abu Hatab, Eirik Romstad và Xuexi Huo (2010) trong nghiên cứu</small>
<small>“Determinant of Egyptian agricultural exports: A gravity model approach” đã ap dụng</small>
mơ hình trong lực dé xem xét các yếu tổ tác động đến xuất khâu ngành nông nghiệp
<small>của Ai Cập. Các tác giả đã sử dụng phương pháp ước lượng tác động ngẫu nhiên, tác</small>
động cố định va Pool OLS đề tiến hành thực nghiệm dựa trên bộ dữ liệu của Ai Cập và 50 quốc gia đối tác giai đoạn 1994-2008. Dữ liệu bao gồm tổng giá trị xuất khâu ngành
<small>nông nghiệp của Ai Cập đến 50 quốc gia trên thế giới, số liệu GDP và thu nhập bình</small>
quân đầu người, độ mở thương mai của Ai Cập và các quốc gia nhập khẩu, tỷ giá hồi đối, khoảng cách địa lý, các thơng tin về biên giới chung, ngôn ngữ và thông tin về
<small>việc tham gia ký kết hiệp định thương mại được lấy từ UNCTAD, World Bank</small>
Intergrated Trade Solution WITS, IMF và CAMPAS. Kết qua chỉ ra rằng, nếu GDP của Ai Cập tăng thì xuất khẩu nơng sản của nước nảy cũng tăng và ngược lại. Tuy nhiên, khi GDP bình quân đầu người của Ai Cập tăng sẽ làm giảm xuất khâu. Giải
<small>thích cho hiện tượng này là do tăng trưởng kinh tế kết hợp với gia tăng dân số làm tăng</small>
</div><span class="text_page_counter">Trang 19</span><div class="page_container" data-page="19"><small>nhu cầu của mọi người đối với tất cả các loại hàng hóa thơng thường. Ngồi ra, tỷ giá</small>
hối đối cũng có tác động tích cực lên xuất khẩu, trong khi khoảng cách gây ra các tác
<small>động tiêu cực.</small>
<small>Xolisiwe Yolanda Potelwa, Moses Herbert Lubinga và Thandeka Ntshangase (2016)</small>
<small>trong nghiên cứu “Factor influencing the growth of South Africa’s agricultural export</small>
to world markets” đã dựa vào mơ hình trọng lực dé tìm ra các yếu tố anh hưởng đến
<small>xuất khẩu nông sản của Nam Phi. Dữ liệu được sử dụng trong nghiên cứu này bao gồmsố liệu xuất khẩu của Nam Phi đến các quốc gia khác trên thế giới, GDP và dân số của</small>
Nam Phi và các nước đối tác, khoảng cách địa lý, tỷ giá hối đoái, chỉ số khả năng xuất khẩu, các thông tin về ký kết hiệp định thương mại, ngơn ngữ, tính 6n định chính tri giai đoạn 2001-2014 được lay từ World Bank, Trademap và Central Intelligence Unit.
<small>Dé tiến hành thực nghiệm các tác giả đã áp dụng phương pháp ước lượng cho dữ liệu</small>
mang: Pool OLS, tác động ngẫu nhiên, tác động cé định và rút ra được kết qua là: tăng
<small>trưởng GDP của Nam Phi và các quốc gia nhập khẩu dẫn đến tăng xuất khâu nông sản.Khoảng cách và tính ơn định trong chính trị khơng ảnh hưởng gì lên sự gia tăng xuất</small>
khẩu nông sản của nước này. Trong khi đó, đân số các quốc gia nhập khẩu và chỉ số khả năng xuất khâu có tác động tích cực lên xuất khẩu nơng sản của Nam Phi. Ngoài
<small>ra, việc Nam Phi ký kết các hiệp định thương mại, bao gồm AGOA và TDCA với EUđã tạo ra những tác động tích cực lên xuất khẩu.</small>
<small>K. Braha, A.Qineti, A. Cupák và E. Lazoršáková (2017) trong nghiên cứu</small>
<small>“Determinants of Albanian agricultural export: The gravity model approach” đã sử</small>
<small>dụng mô hình trọng lực dé xác định các yếu tố tác động lên xuất khẩu của Albanian.</small>
Nghiên cứu này sử dụng dữ liệu lay từ UNCTAD, CEPII, WGI va Standard International Trade Classification (SITC) bao gồm số liệu xuất khẩu của Albanian sang 46 nước đối tác, GDP, dân số, thu nhập bình quân và khoảng cách của Albanian và 46 quốc gia nhập khẩu, tỷ giá hối đoái, tỷ lệ lạm phát, các thông tin về việc ký kết các hiệp định thương mại, biên giới chung, ngôn ngữ và khoảng cách về thé chế giai đoạn 1996-2013. Bằng phương pháp ước lượng tối đa hóa khả năng PPML, nhóm tác
<small>giả đã đưa ra kết luận rằng xuất khâu nông sản tăng lên khi quy mô kinh tế của nước</small>
nhập khâu tăng thì xuất khâu nơng sản của Albanian tăng. Mặt khác, khi dân số quốc gia tăng dẫn đến nhu cầu tiêu thụ hàng hóa tăng khiến cho việc xuất khâu nông sản giảm. Việc xuất khâu nông sản sẽ nhận các tác động tích cực khi chi phí vận chuyển thấp (tức là khoảng cách giữa Albanian và quốc gia nhập khẩu ngắn hoặc có chung biên giới) và sự tương đồng về ngôn ngữ. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng tỷ giá hối đối có tác động tích cực lên xuất khẩu trong khi khoảng cách về thể chế song phương tác động tiêu cực lên xuât khẩu nông sản của Albanian.
</div>