Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (449.95 KB, 49 trang )
<span class="text_page_counter">Trang 1</span><div class="page_container" data-page="1">
<b><small>BỘ NỘI VỤ</small></b>
<b>HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA</b>
<b>KHOA LƯU TRỮ HỌC VÀ QUẢN TRỊ VĂN PHÒNG</b>
<b>TÊN ĐỀ TÀI</b>
<b>NGHIÊN CỨU HOẠT ĐỘNG MARKETING SẢN PHẨM THÔNGTIN TẠI THƯ VIỆN HÀ NỘI </b>
<b>BÀI TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN</b>
<b><small>Học phần: Marketing sản phẩm và dịch vụ thông tinMã phách:...</small></b>
<b><small>Hà Nội - 2024</small></b>
</div><span class="text_page_counter">Trang 2</span><div class="page_container" data-page="2"><b>MỤC LỤC</b>
<b><small>PHẦN MỞ ĐẦU...4</small></b>
<b><small>1.Lí do chọn đề tài...4</small></b>
<b><small>2.Lịch sử nghiên cứu vấn đề...5</small></b>
<b><small>3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu...7</small></b>
<b><small>4.Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu...7</small></b>
<b><small>5.Giả thuyết nghiên cứu...8</small></b>
<b><small>6.Phương pháp nghiên cứu...8</small></b>
<b><small>7.Bố cục đề tài...9</small></b>
<b><small>PHẦN NỘI DUNG...10</small></b>
<b><small>CHƯƠNG 1...10</small></b>
<b><small>CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MARKETING SẢN PHẨM THÔNG TIN TẠI THƯ VIỆN VÀ KHÁO QUÁT VỀ THƯ VIỆN HÀ NỘI...10</small></b>
<b><small>1.1. Các khái niệm chung...10</small></b>
<b><small>1.1.1. Khái niệm marketing...10</small></b>
<b><small>1.1.2. Khái niệm marketing trong cơ quan thông tin – thư viện...11</small></b>
<b><small>1.1.3. Khái niệm sản phẩm thông tin thư viện...11</small></b>
<b><small>1.2. Vai trị hoạt động marketing sản phẩm thơng tin tại cơ quan thơng tin – thư viện...12</small></b>
<b><small>1.3. Quy trình của hoạt động marketing trong hoạt động thông tin thư viện...13</small></b>
<b><small>1.4. Khái quát Thư viện Hà Nội...16</small></b>
<i><b><small>1.4.1. Giới thiệu về Thư viện Hà Nội...16</small></b></i>
<i><b><small>1.4.2. Đặc điểm người dùng tin của Thư viện Hà Nội...19</small></b></i>
</div><span class="text_page_counter">Trang 3</span><div class="page_container" data-page="3"><b><small>GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG MARKETING SẢN PHẨM THÔNG TIN TẠI THƯ VIỆN HÀ NỌI...36</small></b>
<b><small>3.1. Nâng cao chất lượng và đa dạng hóa các loại sản phẩm...36</small></b>
<b><small>3.2. Mở rộng kênh phân phối...37</small></b>
<b><small>3.3. Nâng cao hiệu quả truyền thông, quảng cáo...37</small></b>
<b><small>3.4. Đào tạo cán bộ thư viện hoạt động marketing...38</small></b>
<b><small>PHẦN KẾT LUẬN...41</small></b>
<b><small>PHỤ LỤC...42</small></b>
<b><small>TÀI LIỆU THAM KHẢO...47</small></b>
</div><span class="text_page_counter">Trang 4</span><div class="page_container" data-page="4"><b>PHẦN MỞ ĐẦU1. Lí do chọn đề tài</b>
Công nghệ thông tin (CNTT) phát triển mạnh mẽ trong giai đoạn hiện nay sẽ có nhiều tác động đối với hoạt động thông tin - thư viện. Người dùng tin có cơ hội tìm kiếm và khai thác thơng tin tồn cầu một cách nhanh chóng và bình đẳng, đó là một cơ hội nhưng đồng thời cũng là một thách thức rất lớn đối với các cơ quan thông tin - thư viện. Các cơ quan thông tin - thư viện nếu không tự thay đổi chiến lược hoạt động, không nỗ lực để phát triển các sản phẩm và dịch vụ thông tin đặc thù làm thỏa mãn nhu cầu tin tối đa của người dùng tin và tạo vị thế cạnh tranh thì sẽ khó tồn tại trong kỷ nguyên mới.
Trong giai đoạn hiện nay, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư hay cịn gọi là cách mạng cơng nghiệp 4.0 phát triển nhanh chóng đã xóa mờ ranh giới giữa con người và máy móc, kết nối hệ thống thực - ảo nâng cao đáng kể hiệu quả sản xuất và cho phép tạo ra sản phẩm riêng biệt cho đại chúng. Hoạt động thông tin - thư viện không thể nằm ngoài quy luật phát triển chung của xã hội, mọi hoạt động cung cấp sản phẩm và dịch vụ thông tin đã và đang triển khai trên hệ thống mạng tồn cầu. Phương tiện truyền thơng xã hội cũng là một phần quan trọng trong mọi hoạt động của đời sống xã hội, bao gồm cả hoạt động thông tin - thư viện, các chiến lược, kế hoạch phát triển của các cơ quan thông tin - thư viện trong đó có hoạt động marketing hiện tại đều phát triển theo hướng này. Ứng dụng các kênh truyền thông xã hội hiện đại trong mọi hoạt động của cơ quan thông tin - thư viện, đặc biệt là hoạt động marketing
</div><span class="text_page_counter">Trang 5</span><div class="page_container" data-page="5">dịch vụ hiện đại là một vấn đề cần được quan tâm và triển khai ngay từ bây giờ.
Marketing từ lâu đã là yếu tố quan trọng trong lĩnh vực kinh doanh, nó được ví như chiếc chìa khóa quyết định sự thành cơng của các doanh nghiệp. Hiểu được ý nghĩa quan trọng này, nhiều ngành nghề, lĩnh vực khác nhau đã nghiên cứu và xây dựng các hoạt động marketing phù hợp cho riêng mình. Từ đó hiệu quả cơng việc được tăng lên nhanh chóng và tạo nên sự phát triển của tồn xã hội. Vai trò của marketing ngày càng quan trọng không chỉ với ngành kinh tế mà trong tất cả các lĩnh vực hoạt động khác, trong đó có hoạt động thông tin - thư viện.
Thư viện Hà Nội là một trong những thư viện công cộng lứn nhất tại Hà Nội, với vai trong đáp ứng nhu cầu của người dùng tin tại thành phố Hà Nội. Hoạt động marketing đã được phổ cập và chú trọng hơn tại đây và theo đó là những thành tựu nhất định. Tuy nhiên vẫn không tránh khỏi những hạn chế
<i><b>trong quá trình hoạt động. Lý do em chọn đề tài “Nghiên cứu hoạt động</b></i>
<i><b>marketing sản phẩm thông tin tại Thư viện Hà Nội” nhằm chỉ ra hạn chế và</b></i>
ứng dụng những nghiên cứu của mình để góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động marketing sản phẩm thông tin tại Thư viện Hà Nội.
<b>2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề</b>
Truyền thông marketing là một yếu tố quan trọng trong cac yếu tốc marketing hỗn hợp. Nhiều cơng trình của nhiều tác giả đã in thành sách, giáo trình phục vụ cho việc học tập của sinh viên như: “Sản phẩm và dịch vụ thông tin thư viện” của tác giả Trần Mạnh Tuấn, xuất bản năm 1998; “Sản phẩm và dịch vụ thông tin thư viện” của tác giả Tạ Bá Hưng, xuất bản năm 2000. Bên cạnh đó cũng có khá nhiều bài báo đề cập đến, đó là: “ Đánh giá
</div><span class="text_page_counter">Trang 6</span><div class="page_container" data-page="6">các dịch vụ thông tin thư viện” tác giả Vũ Văn Sơn, đăng Tạp chí Thơng tin-tư liệu, số 4, 2003; “ Sản phẩm và dịch vụ thông tin thư viện – thực trạng và các vấn đề”, tác giả Mạnh Trí, đăng Tạp chí Thơng tin Khoa học Xã hội, số 4, 2003; “Dịch vụ phổ biến thông tin có chọn lọc”, tác giả Nguyễn Vĩnh Hà, đăng trên Bản tin liên hiệp thư viện, số 12, 2003; “Kỹ năng truyền thông trong dịch vụ tham khảo”, tác giả Dương Thúy Hương, đăng trên Bản tin thư viện, số 3, 2005. Các giáo trình và các bài viết của những tác giả trên đã đi sâu phân tích các vấn đề lý thuyết mang tính chất khái quát, nhưng chưa đi sâu nghiên cứu cụ thể ở một phạm vi, khơng gian nhất định. Ngồi ra, do mang tính chất lý thyết nên khi sử dụng làm tài liệu tham khảo các giáo trình và bài viết trên chỉ dừng lại ở mức độ cơ sở lý luận về vấn đề sản phẩm và dịch vụ nói chung.
Những năm gần đây vấn đề marketing trong thư viện đã được sự quan tâm của các chuyên gia thông tin và các cán bộ thư viện. Theo hướng nghiên cứu của đề tài đã có một bài báo, cơng trình nghiên cứu,…đề cập đến hoạt động marketing.
Theo Phillip Kotler: “truyền thông marketing bao gồm các hoạt động của công ty nhằm kết nối và xúc tiến các sản phẩm của nó tới thị trường mục tiêu” . Xem xét trong lĩnh vực thư viện, truyền thông marketing giúp các thư viện giới thiệu cho người dùng tin biết đến sản phẩm mình cần, các lợi ích nhờ việc khai thác, sử dụng sản phẩm đó bằng việc sử dụng các công cụ truyền thông khác nhau. Tuy nhiên, việc nghiên cứu và ứng dụng truyền thông marketing trong hoạt động động thông tin - thư viện mới chỉ dừng lại ở các cơng trình là luận văn, báo cáo và bài báo khoa học.
</div><span class="text_page_counter">Trang 7</span><div class="page_container" data-page="7">Đối với hệ thống các sản phẩm và dịch vụ của các trường Đại học, Cao đẳng được đề cập khá nhiều trong các cơng trình nghiên cứu, luận văn của
<i>nhiều tác giả như: Đề tài “Nghiên cứu hoàn thiện hệ thống sản phẩm và dịchvụ thông tin thư viện của Trung tâm Thông tin Thư viện Đại học Quốc giaHà Nội” của tác giả Phạm Thị Yên, năm 2005. Đề tài chú trọng đến việc xây</i>
dựng và hoàn thiện hệ thống các sản phẩm và dịch vụ thư viện tại Trung tâm Thông tin Thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội. Đề tài cũng đã khái quát khá rõ nét về Trung tâm Thông tin Thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội, những thuận lợi và khó khăn trong việc tổ chức xây dựng, quản lý và triển khai các sản phẩm và dịch vụ của trung tâm. Bên cạnh đó, đề tài đã nêu bật lên những vấn đề cấp thiết hiện nay mà thư viện gặp phải đó là việc ứng dụng những công nghệ thông tin mới vào việc xây dựng các sản phẩm, dịch vụ mới nhằm đáp ứng tốt nhu cầu các đối tượng sử dụng.
Luận văn “Ứng dụng hoạt động marketing trong hoạt động thông tin – 9 thư viện tại trường Đại học Ngân hàng Tp. Hồ Chí Minh” (2013) của tác giả Dương Thị Chính Lâm trình bày được các khái niệm và các thuật ngữ liên quan đến marketing trong hoạt động thơng tin –thư viện; nêu vai trị, mục tiêu và nội dung của hoạt động marketing trong hoạt động thơng tin - thư viện. Trình bày thực trạng hoạt động marketing tại Trung tâm Thông tin -Thư viện trường Đại học Ngân hàng Tp. Hồ Chí Minh, trên cơ sở đánh giá phân tích tình hình hoạt động chung của Trung tâm Thông tin - Thư viện đưa ra một số ý kiến đề xuất về việc nâng cao hiệu quả hoạt động marketing tại Trung tâm Thông tin - Thư viện trường Đại học Ngân hàng Tp. Hồ Chí Minh.
<b>3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu </b>
</div><span class="text_page_counter">Trang 8</span><div class="page_container" data-page="8">Đối tượng nghiên cứu: hoạt động marketing sản phẩm thông tin thư viện. Phạm vi nghiên cứu về không gian: Thư viện Hà Nội.
Phạm vi nghiên cứu về thời gian: số liệu thống kê từ năm 2017 đến năm 2019.
<b>4. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu</b>
<i>Mục tiêu nghiên cứu</i>
Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng hoạt động marketing sản phẩm thông tin thư viện tại thư viện Hà Nội, từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động marketing sản phẩm thông tin thư viện, đáp ứng như cầu tin của người đến sử dụng tin tại Thư viện Hà Nội.
<i>Nhiệm vụ nghiên cứu</i>
(1) Hệ thống hóa lý luận về marketing, marketing trong cơ quan thông tin thư viện, marketing sản phẩm và dịch vụ thông tin thư viện, sản phẩm và dịch vụ thông tin thư viện.
(2) Đánh giá, phân tích thực trạng hoạt động marketing sản phẩm và dịch vụ thông tin thư viện tại thư viện Hà Nội.
(3) Đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động marketing sản phẩm và dịch vụ thông tin thư viện tại Thư viện Hà Nội.
<b>5. Giả thuyết nghiên cứu</b>
Hiện nay, hoạt động marketing nói chung và hoạt động marketing sản phẩm và dịch vụ thơng tin thư viện nói riêng đã được Thư viện Hà Nội triển khai, tuy nhiên việc thực hiện chưa mang lại hiệu quả cao làm ảnh hưởng đến việc thu hút NDT. Nếu nhận được sự chú trọng, quan tâm hơn nữa của lãnh đạo các cấp; chú trọng đầu tư cơ sở vật chất; đầu tư kinh phí cho hoạt động
</div><span class="text_page_counter">Trang 9</span><div class="page_container" data-page="9">marketing; phát triển các loại hình sản phẩm và dịch vụ thơng tin thư viện, có chiến lược truyền thơng, quảng bá cụ thể thì hoạt động marketing sản phẩm và dịch vụ thông tin thư viện của Thư viện Hà Nội sẽ mang lại hiệu quả cao, góp phần đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người dùng tin.
<b>6. Phương pháp nghiên cứu</b>
<b>- Phương pháp chung: Tiểu luận sử dụng phương pháp luận duy vật biện</b>
chứng và duy vật lịch sử, các quan điểm của Đảng và Nhà nước về công tác thư viện;
- Phương pháp khảo sát, quan sát thực tế, thống kê số liệu: tiến hành quan sát thực trạng các sản phẩm, dịch vụ thông tin thư viện và hoạt động marketing của Thư viện Hà Nội;
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: tiến hành phát phiếu cho người dùng tin và cán bộ thư viện Hà Nội. Số phiếu phát ra là 50 phiếu, thu về 60 phiếu đạt 100%;
- Phương pháp phỏng vấn: phỏng vấn đại diện ban lãnh đạo của Thư viện Hà Nội;
- Phương pháp thu thập, phân tích, tổng hợp tài liệu: thu thập các tài liệu khác nhau như báo, tạp chí, báo cáo khoa học, giáo trình liên quan đến đề tài nghiên cứu.
<b>7. Bố cục đề tài</b>
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, khóa luận gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về marketing sản phẩm thông tin tại thư viện và khái quát Thư viện Hà Nội.
</div><span class="text_page_counter">Trang 10</span><div class="page_container" data-page="10">Chương 2: Thực trạng hoạt động marketing sản phẩm thông tin tại Thư viện Hà Nội.
Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động marketing sản phẩm và dịch vụ thông tin thư viện tại thư viện Hà Nội.
<b>PHẦN NỘI DUNGCHƯƠNG 1.</b>
<b> CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MARKETING SẢN PHẨM THÔNG TIN TẠI THƯVIỆN VÀ KHÁO QUÁT VỀ THƯ VIỆN HÀ NỘI</b>
<b>1.1. Các khái niệm chung</b>
<i><b>1.1.1. Khái niệm marketing</b></i>
Marketing là tất cả các hoạt động để đưa sản phẩm hoặc dịch vụ từ nơi sản xuất đến tay người tiêu dùng, trong đó bao gồm nhiều hoạt động khác nhau, từ việc nghiên cứu thị trường, tìm hiểu nhu cầu khách hàng, phát triển sản phẩm hoặc dịch vụ, quảng bá, phân phối sản phẩm, nhằm vừa đáp ứng được nhu cầu, thu hút và giữ chân khách hàng, vừa đạt được các mục tiêu trong kinh doanh. Mục tiêu của Marketing nhằm tạo ra giá trị cho khách hàng và đáp ứng nhu cầu của họ thông qua các sản phẩm hoặc dịch vụ của doanh nghiệp.
Theo Philip Kotler - Cha đẻ ngành Marketing hiện đại, ông định nghĩa về Marketing như sau: “Marketing là nghệ thuật tạo ra giá trị, truyền thông và phân
</div><span class="text_page_counter">Trang 11</span><div class="page_container" data-page="11">phối những giá trị đó nhằm thỏa mãn vấn đề của khách hàng mục tiêu đề đem lại lợi nhuận tối ưu của doanh nghiệp.”
Có thể hiểu bản chất của hoạt động marketing là một tập hợp các hoạt động nghiên cứu, phân tích, tìm ra những nhu cầu của người dùng tin và xây dựng các sản phẩm dựa trên những nhu cầu đó để đáp ứng một cách tốt nhất và tồn diện nhất. Qua đây có thể thấy vai trò quan trọng của marketing đối với đời sống xã hội, marketing giúp hình thành sản phẩm hoặc các hình thức thỏa mãn như cầu của con người, khơng chỉ vậy hoạt động marketing sẽ thúc đẩy những phát triển trong trí tuệ, khả năng sáng tạo của con người trong tương lai.
<i><b>1.1.2. Khái niệm marketing trong cơ quan thơng tin – thư viện</b></i>
Dưới các góc độ tiếp cận khác nhau theo đó sẽ xuất hiện nhiều những quan niệm về marketing trong hoạt động thông tin – thư viện.
Theo Từ điển giải thích thuật ngữ thư viện học ALA: “Marketing thông tin thư viện là tất cả các hoạt động có mục đích cổ vũ cho sự trao đổi và đáp ứng giữa nhà cung cấp dịch vụ thư viện và truyền thông với người đang sử dụng hay sẽ có thể là người sử dụng những dịch vụ này”. Như vậy, có thể hiểu marketing trong thư viện là nhóm các hoạt động nhằm mục đích nắm bắt và thoả mãn được nhu cầu tin của người dùng tin, từ đó đáp ứng được mục tiêu phát triển của cơ quan thông tin - thư viện.
Đặc điểm của marketing trong cơ quan thông tin – thư viện: marketing trong cơ quan thông tin thư viện thuộc marketing phi lợi nhuận nhằm cung cấp các sản phẩm dịch dụ, lợi ích cho người dùng tin. Vì vậy, đặc điểm của marketing trong thư viện là hướng tới mục tiêu hoạt động khơng vì lợi nhuận, điều đó thể hiện ở việc thư viện cung cấp những thông tin có giá trị từ các sản
</div><span class="text_page_counter">Trang 12</span><div class="page_container" data-page="12">phẩm của mình. Các sản phẩm tại thư viện được phân phối, cung cấp tới người dùng tin thông qua các hình thức khác nhau, phong phú, đa dạng. Các chương trình quảng cáo, giới thiệu sản phẩm của thư viện, người dùng tin có cơ hội nắm bắt nguồn thơng tin của thư viện đồng thời xây dựng được hình ảnh tốt của mình trong tư tưởng người dùng tin.
<i><b>1.1.3. Khái niệm sản phẩm thông tin thư viện</b></i>
Sản phẩm thông tin thư viện là kết quả của quá trình xử lý thơng tin, do một cá nhận hoặc tập thể nào đó thực hiện nhằm thỏa mãn người dùng tin. Trong lĩnh vực thông tin thư viện, dựa vào tính chất hoạt động trong lĩnh vực cung cấp thông tin, khái niệm sản phẩm thông tin thư viện được định nghĩa: là kết quả của quá trình xử lý thơng tin do một cá nhân/tập thể nào đó thực hiện nhằm thỏa mãn như cầu thông tin do những người sử dụng các cơ quan thông tin thư viện.
Các loại sản phẩm thơng tin thư viện dạng tồn văn luôn được bổ sung, cập nhật thường xuyên, dạng sách in, báo, tạp chí, đề tài nghiên cứu khoa học; dạng số: văn bản số, hình ảnh động, phim,..
<b>1.2. Vai trị hoạt động marketing sản phẩm thơng tin tại cơ quan thông tin –thư viện</b>
Thư viện là cơ quan thơng tin văn hóa giáo dục có chức năng phổ biến thơng tin, trí thức tới con người giúp cho bạn đọc phát triển toàn diện về giảo dục, đạo đức và thẩm mĩ cho người dùng tin, góp phần tuyên truyền chủ trương chính sạc của Đảng và Nhà nước. Thư viện còn là nơi chịu trách nhiệm lưu trữ, lưu giữ, bảo quản các tài liệu có tầm ảnh hưởng nhất định, để đáp mọi nhu cầu sử dụng các nguồn thông tin từ quá khứ.
</div><span class="text_page_counter">Trang 13</span><div class="page_container" data-page="13">Ngoài ra, thư viện cung cấp tài liệu giúp người dùng tin có thể thư gian, giải trí một cách tích cực, và để thực hiện tốt các nhiệm vụ trên thư viện không những cung cấp các sản phẩm, dịch vụ tốt mà còn phải marketing các sản phẩm thơng tin của mình.
<i>Thứ nhất, marketing sản phẩm thơng tin thư viện giúp cho người dùng tin</i>
tiếp cận được đầy đủ nhất các dịch vụ, sản phẩm thông tin mà thư viện có và chất lượng của các sản phẩm từ đó thu hút một số lượng lớn bạn đọc tới và sử dụng thư viện. Nếu hoạt động marketing hiệu quả sẽ cung cấp cho người đọc thông tin hưu ích về thư viện và giá trị của thư viện. Thư viện trở thành nơi để nghiên cứu học tập cho bạn đọc.
<i>Thứ hai, marketing quan tâm giải quyết các vấn đề thu hút nguồn đầu tư từ</i>
bên ngồi, hỗ trợ, khuyến kích người dùng tin khai thác và sử dụng các sản phẩm thông tin thư viện, tái tạo lại hình ảnh của các hệ thống thơng tin thư viện.
<i>Thứ ba, marketing giúp xây dựng các mối quan hệ. Muốn dịch vụ thư viện</i>
có chất lượng thì giữa cán bộ thư viên và người sử dụng thông tin phải có mối quan hệ chủ động, giúp đỡ. Hơn nữa, cán bộ thư viện cần phát triểm khả năng tạo ra mơi trường thân thiện, xây dựng tính tự giác trong mỗi người sử dụng, phẩm chất của một cán bộ thư viện quyết định tỉ lệ người sử dụng thư viện.
<i>Thứ tư, marketing giúp thư viện nắm bắt được những nhu cầu, mong muốn</i>
của mỗi nhóm người dùng tin, từ đó là nền móng xây dựng các dịch vụ và tạo ra các sản phẩm thông tin phù hợp và đáp ứng đầy đủ nhất nhu cầu tin của bạn đọc.
<i>Cuối cùng, marketinh cịn là vũ khí quan trọng giúp thư viện có thể cạnh</i>
tranh với các cơ quan thông tin khác trong kỷ nguyên Internet. Marketing tốt có
</div><span class="text_page_counter">Trang 14</span><div class="page_container" data-page="14">thể đem lại những hỗ trợ về tài chính cũng như vật chất từ các cơ quan quản lý, các tổ chức chính trị xã hội, các tổ chức phi chính phủ cũng như từ phía người sử dụng thư viện.
<b>1.3. Quy trình của hoạt động marketing trong hoạt động thơng tin thư viện</b>
Quy trình của hoạt động marketing trong hoạt động thông tin thư viện bao gồm: Sản phẩm, giá cả, phân phối, truyền thơng, con người, quy trình và cơ sở vật chất.
<i><b>1.3.1. Sản phẩm </b></i>
Các sản phẩm trong thư viện được hiểu là các sản phẩm do thư viện tạo ra như hệ thống mục lục, thư mục, cơ sở dữ liệu, bản tin điện tử, tạp chí thơng qua q trình thu thập xử lý thơng tin. Dưới góc độ marketing thì sản phẩm khơng chỉ bao gồm các sản phẩm do thư viện tạo ra thơng qua q trình xử lý thông tin mà bao gồm tất cả các thể loại tài liệu mà thư viện có được thơng qua mua, trao đổi, biếu tặng nhằm cung cấp tổng thể những lợi ích thơng tin khác nhau mà NDT cần và thỏa mãn nhu cầu, mong muốn của họ.
<i><b>1.3.2. Giá cả</b></i>
Trong hoạt động thông tin thư viện giá cả của sản phẩm và dịch vụ được hiểu với nghĩa là phí sản phẩm và phí sử dụng của người dùng tin. Trong lĩnh vực thông tin thư viện, các nhà quản lý phải hoạch định chiến lược giá cả, có thu phí hay khơng các dịch vụ tại thư viện. Tuy nhiên sẽ có hai sự lựa chọn là miễn phí và mất phí. Người dùng tin có nhu cầu sử dụng tin phải trả chi phí cho một sản phẩm của thư viện cho thấy sự tương xứng và lợi ích sản phẩm đem lại cho người dùng tin.
</div><span class="text_page_counter">Trang 15</span><div class="page_container" data-page="15"><i><b>1.3.3. Phân phối</b></i>
Hoạt động phân phối của thư viện là các phương thức cung cấp các loại hình sản phẩm tới NDT. Các hình thức phân phối chủ yếu là: phân phối trực tiếp, phân phối trực tuyến, phân phối qua tổ chức độc lập. Hoạt động phân phối là khâu cuối cùng để đưa các sản phẩm và dịch vụ TTTV tới NDT nhanh chóng và thuận tiện. Tùy vào mỗi cơ quan TTTV mà các hình thức phân phối được vận dụng với hiệu quả khác nhau.
<i><b>1.3.4. Truyền thông</b></i>
Truyền thông marketing bao gồm các công cụ chủ yếu sau:
(1) Quảng cáo: là bất kì hình thức giới thiệu gián tiếp các sản phẩm và dịch vụ, do một người (tổ chức) nào đó muốn quảng cáo chi tiền để thực hiện; (2) Khuyến mãi là những khích kệ ngắn hạn dưới hình thức thưởng để khuyến
khích dùng thử hoặc mua sản phẩm và dịch vụ;
(3) Bán hàng trực tiếp là hình thức giao tiếp trực tiếp với khách hàng nhằm mục đích bán hang;
(4) Marketing trực tiếp là hình thức sử dụng thư tín, điện thoại và những công cụ liên lạc gián tiếp để thơng tin cho những khách hàng hiện có và khách hàng tiềm năng
<i><b>1.3.5. Con người</b></i>
Người làm thư viện có vai trò quan trọng trong hoạt động marketing, họ được đào tạo nghiệp vụ thư viện cũng như trang bị đủ các kiến thức chung của các ngành khoa học. Theo đó là những kỹ năng như: giao tiếp, làm việc nhóm, giải quyết tình huống, đưa ra quyết định,... nhằm tạo ra sự khác biệt.
</div><span class="text_page_counter">Trang 16</span><div class="page_container" data-page="16">Bên cạnh đó, người dùng tin của thư viện chính là đối tượng chính trong q trình tiếp cận sản phẩm do vậy cũng tác động đến hoạt động đáp ứng như cầu tin của thư viện cơng cộng.
<i><b>1.3.6. Quy trình</b></i>
Quy trình là các thủ tục, cơ chế và trình tự các thao tác để được sử dụng để phân phối dịch vụ. Quy trình ln gắn liền với dịch vụ quản trị và chăm sóc khách hàng: tiếp cận khác hàng để thu thập thông tin về yêu cầu, xử lý các yêu cầu và đưa ra tư vấn, giải pháp tối ưu nhất cho khách hàng, quá trình chuẩn bị và cung ứng dịch vụ, quá trình tiếp cận để lắng nghe phản hồi và đưa ra các yếu tố bổ sung hoặc các dịch vụ mới. Tại thư viện thiết lập rất nhiều quy trình cho hoạt động, nhưng dưới góc độ marketing thì cần chú trọng các quy trình hoạt động liên quan trực tiếp tới lợi ích của NDT như quy trình mượn tài liệu, quy trình tra cứu nhằm tạo niềm tin với NDT về phương thức làm việc hiệu quả, đảm bảo rút ngắn được thời gian, sức lực và chi phí phục vụ. Chính vì vậy, sự thuận tiện hay phức tạp của việc thực hiện các quy trình có ảnh hưởng tới quyết định của NDT có tiếp tục sử dụng các sản phẩm và dịch vụ thông tin hay không
<i><b>1.3.7. Cơ sở vật chất</b></i>
Cơ sở vật chất của các thư viện chính là nơi cung ứng các sản phẩm đến người dùng tin. Tại đây, các yếu tố về vật chất cũng ảnh hưởng nhất định đến người dùng tin.
Các yếu tố như tồn nhà thư viện, khơng gian và mơi trương làm việc, các trang thiết bị cũng phản ánh một phần việc truyền tải thông điệp tới người dùng tin về chất lượng sản phẩm cũng như nguồn lực thông tin mà họ sẽ được cung cấp. Để có thể thấy, các yếu tố cơ sở vật chất hiện đại, trang thiết bị nhiều tiện ích hay khơng gian tồn nhà thư viện thân thiện sẽ giúp cán bộ thư viện triển
</div><span class="text_page_counter">Trang 17</span><div class="page_container" data-page="17">khai các quy trình phục vụ được thuận lợi, đây cũng là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến hoạt động marketing trong cơ quan thông tin thư viện.
<b>1.4. Khái quát Thư viện Hà Nội</b>
<i><b>1.4.1. Giới thiệu về Thư viện Hà Nội</b></i>
Thư viện Hà Nội là một thư viện lớn của hệ thống thư viện Thủ đô. Thư viện được thành lập vào ngày 15/10/1956 với cái tên ban đầu là “Phòng đọc sách nhân dân Hà Nội” với địa chỉ không ổn định. Trong hơn nửa thế kỷ xây dựng và trưởng thành, Thư viện Hà Nội đã tiếp đón hàng triệu lượt bạn đọc Thủ đô thuộc mọi thành phần, đối tượng khác nhau từ trẻ em, người già, học sinh, sinh viên, trí thức, người lao động, nhà nghiên cứu. Thư viện Hà Nội còn phục vụ cả những đối tượng bạn đọc đặc biệt như những người tàn tật, người khiếm thị, người nước ngoài trên địa bàn Hà Nội. Thư viện Hà Nội là điểm hẹn, nơi truyền bá tri thức, kiến thức về mọi mặt kinh tế, văn hóa, xã hội, văn học, nghệ thuật. Là một thiết chế văn hóa quan trọng, thư viện đóng vai trị tun truyền chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, lãnh đạo Thủ đô. Thư viện Hà Nội là một trong những địa chỉ thường xuyên của các hoạt động chào mừng các ngày lễ lớn của Thủ đô và đất nước. Với vốn tài liệu phong phú, Thư viện Hà Nội là nơi không thể thiếu đối với học sinh, sinh viên, các nhà nghiên cứu, người dân có nhu cầu tìm hiểu và nâng cao kiến thức. Thư viện Hà Nội tự hào là một trong những thư viện thu hút được 30 lượng lớn bạn đọc đến tìm đọc tài liệu và nghiên cứu, học tập. Trong quá trình phát triển của mình, Thư viện Hà Nội đã tạo dựng được một mạng lưới thư viện, tủ sách rộng khắp địa bàn thành phố gồm các thư viện cấp quận, huyện và cấp cơ sở.
<i>1.4.1.1. Chức năng</i>
</div><span class="text_page_counter">Trang 18</span><div class="page_container" data-page="18">Thư viện Hà Nội do Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội thành lập, là đơn vị sự nghiệp trực thuộc sở Văn hóa – Thể thao và Du lịch Hà Nội có các chức năng như sau:
1. Thư viện Hà Nội có chức năng thu thập, bảo quản, tổ chức khai thác và sử dụng các tài liệu được xuất bản tại Hà Nội và viết về Hà Nội, các tài liệu trong nước và ngoài nước, phù hợp với đặc điểm, yêu cầu xây dựng và phát triển Thủ đơ về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phịng trong thời kì cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước;
2. Thư viện Hà Nội tham mưu cho lãnh đạo Sở Văn hóa – Thể thao và Du lịch Hà Nội về tổ chức và hoạt động của hệ thống thư viện quận, huyện, cơ sở và các loại hình thư viện khác trên địa bàn thành phố Hà Nội.
Bên cạnh các chức năng theo nhiệm vụ nói trên, Thư viện Hà Nội còn thực hiện các chức năng xã hội khác. Chức năng giáo dục: Thư viện Hà Nội là nơi cung cấp địa điểm, kiến thức cho bạn đọc học tập, nghiên cứu, giảng dạy; tham gia vào việc xóa mù cho nhân dân; giúp nâng cao trình độ dân trí, trình độ chun môn cho người dân Thủ đô. Chức năng thông tin: thông tin ở đây bao gồm cả tin tức, số liệu, dữ kiện, các khái niệm, tri thức tạo nên sự hiểu biết của con người. TVHN phải thu thập, bảo quản, tìm và phổ biến thơng tin đến mọi người dân trên địa bàn bằng nhiều cách thức và hình thức khác nhau, đảm bảo mọi người dân đều có quyền thụ hưởng thơng tin một cách cơng bằng và dễ dàng. Chức năng văn hóa: TVHN đóng vai trò quan trọng trong việc thu thập, bảo quản và truyền bá di sản văn hóa của nhân loại, của dân tộc, đặc biệt là nguồn di sản thành văn vô cùng phong phú, đa dạng của địa phương. TVHN cũng phải đóng vai trị như một trung tâm sinh hoạt văn hóa chủ yếu của cộng đồng nhân dân, đảm bảo cho mọi người dân có thể tham giá một cách tự nguyện
</div><span class="text_page_counter">Trang 19</span><div class="page_container" data-page="19">và miễn phí. Chức năng giải trí: TVHN thực hiện chức năng giải trí bằng cách tổ chức cho nhân dân sử dụng thời gian rảnh rỗi một cách có ích thơng qua cung cấp các sản phẩm và dịch vụ TTTV phù hợp, cung cấp các sách báo, phương tiện nghe nhìn giúp bạn đọc giải trí, thư giãn lành mạnh sau những giờ làm việc căng thẳng.
<i>1.4.1.4. Nhiệm vụ</i>
Thư viện Hà Nội có nhiệm vụ thoả mãn tối đa nhu cầu đọc sách, nghiên cứu, giải trí của đơng đảo bạn đọc Thủ đô. Cung cấp cho cán bộ lãnh đạo nhà nước, các nhà nghiên cứu, sản xuất và nhân dân Thủ đô những thành tựu khoa học tiến bộ của nhân loại. Với tư cách là trung tâm thông tin - văn hố - giáo dục có chất lượng nhất ngồi nhà trường, thư viện khơng chỉ phục vụ nhu cầu đọc mà còn hướng dẫn họ đọc những tài liệu bổ ích, có giá trị, đồng thời loại bỏ những nhu cầu đọc sách không lành mạnh. Thư viện Hà Nội tiến hành thu thập xử lý, phân loại lưu trữ các di sản văn hoá thành văn, các loại bản đồ, bản nhạc, tài liệu nghe nhìn và các dạng tài liệu khác. Ngoài ra Thư viện Hà Nội còn bảo quản và bổ sung các loại hình sách báo cũ và mới xuất bản trong nước và ngoài nước, phù hợp với đặc điểm và phương pháp phát triển kinh tế, văn hoá của địa phương, phục vụ nhu cầu nghiên cứu, góp phần nâng cao kiến thức văn hố cho quần chúng. Thư viện Hà Nội có nhiệm vụ không ngừng phổ biến, tuyên truyền các thành tựu khoa học công nghệ, luân chuyển sách báo, thường xuyên tiến hành soạn thảo các thư mục về sách. Bên cạnh đó Thư viện Hà Nội cịn có nhiệm vụ thường xuyên mở các lớp đào tạo và nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho các cán bộ của cơ quan
</div><span class="text_page_counter">Trang 20</span><div class="page_container" data-page="20"><i><b>1.4.2. Đặc điểm người dùng tin của Thư viện Hà Nội</b></i>
Do vị thế đặc biệt là thư viện của Thủ đô nên đối tượng phục vụ của TVHN hết sức phong phú, đa dạng về lứa tuổi, trình độ và trình độ.
Có nhiều dấu hiệu khác nhau để phân loại NDT ở TVHN - Nếu căn cứ vào lứa tuổi ta phân chia NDT thành các nhóm sau:
Nếu căn cứ vào nghề nghiệp ta chia NDT thành các nhóm sau: + Học sinh, sinh viên;
Nếu căn cứ vào phạm vi cơ quan thơng tin phục vụ ta có thể chia thành người dùng tin ở nông thôn, thành thị, miền núi,…
<b>Tiểu kết</b>
</div><span class="text_page_counter">Trang 21</span><div class="page_container" data-page="21">Trong chương 1, em đã khái quát những vấn đề cơ sở lý luận về marketing sản phẩm thông tin tại thư viện và kháo quát về Thư viện Hà Nội. Các khái niệm liên quan đến đề tài, vai trị của sản phẩm thơng tin thư viện, các quy trình hoạt động marketing và các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động marketing trong cơ quan thông tin thư viện. Những cơ sở lý luận trình bày trong Chương 1 sẽ là nền tảng cho việc phân tích thực trạng ở Chương 2.
<b>CHƯƠNG 2.</b>
<b> THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG MARKETING SẢN PHẨM THÔNG TINTẠI THƯ VIỆN HÀ NỘI</b>
<b>2.1. Quy trình của hoạt động marketing sản phẩm thông tin tại Thư viên HàNội</b>
<i><b>2.1.1. Sản phẩm</b></i>
Đối với Thư viện Hà Nội, sản phẩm và dịch vụ đều có điểm chung mà khách hàng mong muốn đó là mang lại thông tin giá trị, các công dụng và lợi ích tích cực. Đây chính là lợi ích cơ bản của sản phẩm cốt lõi. Theo các khảo sát đã
</div><span class="text_page_counter">Trang 22</span><div class="page_container" data-page="22">đạt những kết qua đáng ghi nhận trong việc thực hiện nhiệm vụ công tác chuyên môn.
Kết quả khảo sát tại biểu đồ 2.1 cho thấy mức độ hài long của người dùng tin, cho thấy việc đáp ứng như cầu tin từ các sản phẩm của Thư viện Hà Nội cảm thấy hài lòng trong quá trình sử dụng thư viện mới chỉ đạt 40% người dùng tin, 48% người dùng tin cảm thấy bình thường chiếm tỉ lệ cao và 4% người dùng tin cảm thấy khơng hài lịng của Thư viện Hà Nội. Qua đó cho thấy tỉ lệ người dùng tin mong chờ sự thay đổi tích hơn về chất lượng của sản phẩm tại Thư viện Hà Nội.
<i>Biểu đồ 2.1. Mức độ hài lòng về việc đáp ứng nhu cầu tin từ Thư viện Hà Nội(%)</i>
Qua phỏng vấn trực tiếp tại Thư viện Hà Nội, em nhận thấy người dùng tin thể hiện mong muốn được các cán bộ thư viện chia sẻ nhiều hơn với người dùng tin trong quá trình họ tìm kiếm và sử dụng thơng tin. Đó có thể là trao đổi về nội dung thơng tin, tài liệu cũng có thể là việc hướng dẫn người dùng tin tiếp cận tài liệu tại các giá sách, khu vực lưu trữ tài liệu. Cũng có thể đó là việc hướng dẫn trực tiếp, giúp người dùng tin khai thác tốt các cơ sở dữ liệu tài liệu có tại máy chủ, máy tính của thư viện.
</div><span class="text_page_counter">Trang 23</span><div class="page_container" data-page="23">Do vậy, để thoả mãn được nhu cầu đa dạng của đông đảo đối tượng người dùng tin tại thư viện cho thấy cán bộ thư viện cần hết sức nỗ lực trong việc hỗ trợ người dùng tin tiếp cận được thơng tin có giá trị cao hiện Thư viện Hà Nội đang sở hữu tới từng nhóm đối tượng người dùng tin. Khi người dùng tin tìm được câu trả lời hoặc yêu cầu tin của họ được đáp ứng nhanh chóng, lúc đó chính là các sản phẩm của thư viện công cộng đã mang lại lợi ích từ sản phẩm cốt lõi của mình.
Kết quả khảo sát tại biểu đồ 2.2. về mức độ đánh giá sự sáng tạo trong các sản phẩm thông tin tại Thư viện Hà Nội, 64% người dùng tin cho rằng các sản phẩm tại thư viện có sự sáng tạo và rất thích với cách vận dụng khả năng sáng tạo vào từng sản phẩm.
<i>Biểu đồ 2.2. Mức độ sáng tạo sản phẩn tại Thư viện Hà Nội (%)</i>
Tuy chưa đáp ứng được toàn bộ như cầu tin của người dùng tin, nhưng qua biểu đồ 2.2. cho thấy sự vận dụng sáng tạo của các cán bộ thư viện tại Thư viện Hà Nội đã tạo cho người dùng tin cảm giác hứng thú với sản phẩm thông tin tại đây. Điều này cho thấy giá trị cốt lõi của sản phẩm khi được xử lý và đưa ra khai thác, sử dụng.
</div><span class="text_page_counter">Trang 24</span><div class="page_container" data-page="24"><i><b>2.1.2. Phân phối</b></i>
Kênh phân phối trong marketing không chỉ đơn thuần là tại địa điểm thực tế khách hàng có thể có được dịch vụ của bạn mà nó cịn thể hiện nhiều ý nghĩa hơn thế. Đó là cán bộ của thư viện và chất lượng dịch vụ chăm sóc người dùng tin mà họ cung cấp, các rào cản trong quá trình sử dụng, quy tắc thiết kế không gian thư viện và bao gồm cả vị trí/địa điểm được coi là thành phần quan trọng của kênh phân phối.
<i>Phân phối trực tiếp</i>
Qua phỏng vấn trao đổi với đại diện lãnh đạo Thư viện Hà Nội cho thấy hình thức phân phối trực tiếp tại Thư viện Hà Nội là hình thức phân phối chủ yếu. Kết quả này khá khớp với việc người dùng tin đánh giá về sự thuận tiện của địa điểm là một trong yếu tố quyết định chất lượng khi sử dụng dịch vụ Thư viện Hà Nội. Mức độ phần trăm của sự tiện lợi về địa điểm được người dùng tin của Thư viện Hà Nội đánh giá tại biểu đồ 2.3 ở mức tốt là 46% và ở mức trung bình là 58%. Chính vì vậy, sự tiện lợi về khoảng cách địa điểm của Thư viện Hà Nôi cũng là một yếu tố quan trọng thu hút người dùng tin đến sử dụng Thư viện Hà Nội.
<i>Phân phối trực tuyến</i>
Hình thức phân phối trực tuyến tại các thư viện trên thế giới được đầu tư phát triển hết sức mạnh mẽ. Lợi thế của Internet đã hỗ trợ cán bộ thư viện một cách tích cực trong việc mở rộng giới hạn sử dụng thư viện mà người dùng tin không nhất thiết phải đến trực tiếp.
</div>