Báo cáo thực tập
Trường Đại học Nội vụ Hà Nội
MỤC LỤC
Lê Đức Nam
Lớp: ĐH KHTV K1
Báo cáo thực tập
Trường Đại học Nội vụ Hà Nội
PHẦN A. PHẦN MỞ ĐẦU
I.LÍ DO, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI
1. Lí do chọn đề tài
Trong công cuộc xây dựng và đổi mới đất nước hiện nay, vấn đề đào tạo
đội ngũ tri thức trẻ luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm hàng đầu. Đất
nước đang thực hiện cải cách nền Hành chính Quốc gia, thông tin Thư viện cũng
đóng góp một phần quan trọng trong công cuộc đổi mới và phát triển của đất
nước. Thông tin thư viện là một phần không thể thiếu được đối với bất cứ một
cơ quan, tổ chức nào. Thư viện còn là nơi lưu trữ sách và cung cấp nguồn thông
tin quan trọng và cần thiết nhất, thường xuyên nhất phục vụ cho lãnh đạo, quản
lý, điều hành các công việc của cơ quan và các độc giả. Vì vậy Trường Đại học
Nội vụ Hà Nội đã và đang đào tạo đội ngũ cán bộ ngành Thông tin văn hóa và
xã hội với chuyên môn và nghiệp vụ vững chắc, chuyên nghiệp để đáp ứng
những nhu cầu tất yếu của đất nước. Thư viện đã trở thành một ngành khoa học
cả về chiều rộng lẫn chiều sâu.
Sự phát triển mạnh mẽ của Công nghệ thông tin tác động sâu sắc tới đời
sống xã hội đặc biệt là lĩnh vực Thông tin – Thư viện. Tác động lớn nhất là sự
bùng nổ thông tin, tài liệu gia tăng nhanh chóng, nhiều hình thức xuất bản ra
đời, cách tiếp cận nguồn tin thay đổi. Thông tin đã trở thành nguồn lực và động
lực cho sự phát triển phồn vinh của mỗi quốc gia và của toàn nhân loại. Trước
xu thế chung đó, các cơ quan Thông tin – Thư viện cần phải xây dựng được hệ
thống sản phẩm dịch vụ thông tin phong phú, đa dạng, có chất lượng tốt để đáp
ứng một cách tối đa nhu cầu của người dùng tin và để thực hiện tốt chức năng và
nhiệm vụ của cơ quan mình. Điều đó có nghĩa là trong quá trình hoạt động của
mình các cơ quan Trung tâm Thư viện phải thực hiện thật tốt tất cả các khâu
trong quy trình thư viện, từ bổ sung trao đổi đến xử lý kỹ thuật và cuối cùng là
phục vụ bạn đọc.
Thư viện là nơi lưu giữ các di sản thành văn, các giá trị văn hóa của nhân
loại. Nhưng để các giá trị này sử dụng có hiệu quả, lâu dài, không bị hư hỏng,
mất mát thì công tác bảo quản tài liệu đã được ra đời. Bảo quản tài liệu mang ý
Lê Đức Nam
2
Lớp: ĐH KHTV K1
Báo cáo thực tập
Trường Đại học Nội vụ Hà Nội
nghĩa hết sức quan trọng đối với xã hội nói chung và hoạt động thư viện nói
riêng. Bảo quản tài liệu có hiệu quả là việc không đơn giản. Cán bộ thư viện
phải nắm vững đặc tính của từng loại tài liệu cũng như nguyên nhân dẫn đến hư
hỏng tài liệu. Hơn thế, công tác bảo quản góp phần vào việc tăng cường nguồn
lực thông tin và khả năng đáp ứng yêu cầu thông tin của các thư viện, góp phần
tiết kiệm ngân sách cho thư viện. Trong nền kinh tế tri thức, vai trò của thông tin
ngày càng trở nên quan trọng và sự bùng nổ thông tin – tư liệu cũng không thể
tránh khỏi. Với sự gia tăng không ngừng của nguồn tài nguyên này, số lượng tài
liệu từ xưa đến nay đã trở nên khổng lồ và nhanh chóng bị lão hóa. Như
G.W.Quotice đã nói, “sách là ngọn đèn sáng bất diệt của sự thông thái nhân loại
tích lũy lại”. Việc bảo tồn tài liệu chính là lưu giữ kho tàng tri thức vô cùng lớn
lao ấy, góp phần gìn giữ di sản dân tộc và là cơ sở để phát triển nền kinh tế - xã
hội. Trên thực tế, tài liệu luôn đứng trước nguy cơ bị hư hỏng theo thời gian mà
thư viện phải luôn luôn đối mặt. Hầu hết các thư viện ở Việt Nam đều chưa thể
xử lý triệt để vấn đề này để giữ gìn vốn tài liệu.
Thư viện góp phần bồi dưỡng kiến thức cơ bản về khoa học, xây dựng
thói quen tìm tòi, tự học, nghiên cứu của các độc giả, các cán bộ, giáo viên, học
sinh, sinh viên và các nghiên cứu khoa học,…Đây là nơi cung cấp cho bạn đọc
các loại sách: sách tham khảo, sách giáo khoa, tạp chí, báo, truyện, sách về khoa
học,…
Yếu tố giúp thư viện của Thư viện Hà Nội hoạt động hiệu quả chính là
việc làm sao thu hút nhiều bạn đọc đến đọc và nghiên cứu tài liệu càng tốt. Có
như vậy tri thức mới được truyền bá một cách rộng rãi, tài liệu được sử dụng
một cách có hiệu quả. Vì nhu cầu đọc, hứng thú đọc của độc giả ngày càng giảm
do thư viện không đáp ứng một cách phù hợp và kịp thời: bổ sung sách mới, tài
liệu mới, các hình thức phục vụ còn hạn chế…Số lượt sách giáo viên và học sinh
đến mượn chưa cao.
Qua đợt thực tập tại Thư viện Hà Nội, em tự nhận thấy hiệu quả hoạt
động thư viện chưa cao và còn nhiều thiếu xót. Vì vậy em lựa chọn chuyên đề:
“Một số biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động đọc sách cho độc giả”.
Lê Đức Nam
3
Lớp: ĐH KHTV K1
Báo cáo thực tập
Trường Đại học Nội vụ Hà Nội
2. Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu
a.
-
Đối tượng nghiên cứu
Lý luận về công tác thư viện
Tình hình tổ chức và cán bộ làm công tác trong thư viện
Tình hình chỉ đạo và quản lý trong thư viện
Tình hình thực hiện nội dung công tác quản lý bạn đọc
Một số đề xuất và nhận xét nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động đọc sách trong
thư viện của Thư viện Hà Nội
b. Phạm vi nghiên cứu
- Thực trạng công tác thư viện của Thư viện Hà Nội
- Quy chế làm việc và Quy chế công tác của Thư viện
- Qua các phương tiện thông tin đại chúng: báo, đài, internet,…
- Các tài liệu, tư liệu chung về công tác thư viện
3. Lịch sử nghiên cứu
Công tác thư viện có vai trò quan trọng trong hoạt động của bất kì cơ
quan, tổ chức nào,…Vì thế mà Đảng và Nhà nước ta đã ban hành ra nhiều văn
bản hướng dẫn về công tác thư viện, và có các giáo trình về thư viện cho giáo
viên, học sinh, sinh viên, các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng,…để nghiên cứu, giảng
dạy và học tập.
II. MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
1. Mục tiêu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và qua quá trình thực tập ngành nghề, đề tài
nêu rõ được sự cần thiết của việc nâng cao hiệu quả hoạt động đọc sách. Bên
cạnh đó, đề tài cũng chỉ rõ những nhược điểm, hạn chế và nguyên nhân. Từ đó,
đề tài sẽ đề xuất giải pháp duy trì và nâng cao tính hiệu quả hoạt động đọc sách
trong thư viện. Khơi dậy niềm đam mê đọc sách, tìm tòi, nghiên cứu tài liệu
tham khảo để trau dồi kiến thức, rèn luyện các kỹ năng đọc sách có hiệu quả,
mỗi giờ lên thư viện là một niềm vui. Phát huy tối đa nguồn tài sản của thư viện,
số lượng sách trong thư viện được luân chuyển thường xuyên, liên tục.
2. Nhiệm vụ
Đề xuất những giải pháp duy trì tích cực để nâng cao hiệu quả hoạt động
đọc sách của bạn đọc thông qua hoạt động của thư viện.
Lê Đức Nam
4
Lớp: ĐH KHTV K1
Báo cáo thực tập
III. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Trường Đại học Nội vụ Hà Nội
Thời gian: Năm 2016
Không gian: Ứng dụng biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động đọc sách
trong thư viện của Thư viện Hà Nội.
IV.
-
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phương pháp khảo sát thực tế
Phương pháp phân tích so sánh
Phương pháp quan sát, phỏng vấn, trao đổi trực tiếp
Phương pháp tổng hợp, thống kê
Tham khảo tài liệu: Vận dụng các thông tin trong giáo trình, sách, tài liệu
chuyên ngành thư viện để làm cơ sở khoa học, sử dụng các văn bản pháp quy
-
hiện hành để làm cơ sở pháp lý.
Sử dụng phiếu điều tra để khảo nghiệm thực tế.
Lê Đức Nam
5
Lớp: ĐH KHTV K1
Báo cáo thực tập
Trường Đại học Nội vụ Hà Nội
PHẦN B. PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN, CƠ SỞ THỰC TIỄN VÀ THỰC TRẠNG
CỦA HOẠT ĐỘNG ĐỌC SÁCH TẠI THƯ VIỆN
I.
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
Các nhà văn nổi tiếng đã nói:
Phải đọc sách báo để thu thập từ trong đó kiến thức loài người đã tích lũy
được” (M. GOR-KI)
… Sách cung cấp cho ta mọi sự hiểu biết, mà hiểu biết là một sức mạnh
lớn lao” (N. CRUP-KAI-A)
Việc tổ chức phục vụ tài liệu cho người đọc là một hoạt động của thư viện
để nhằm thúc đẩy, phát triển và thỏa mãn nhu cầu, hứng thú đọc tài liệu thông
qua việc mà ta đi tuyên truyền, hướng dẫn cho người đọc và cung cấp tài liệu
dưới mọi hình thức để người đọc có thể hiểu và cảm nhận được.
Các hình thức tổ chức và phương pháp phục vụ cho người đọc ở trong và
ngoài thư viện sẽ giúp nâng cao hiệu quả hoạt động đọc sách, vốn tài liệu của
thư viện được khai thác, sử dụng và thư viện có thể tìm hiểu và nắm vững được
nhu cầu đọc, nhu cầu tin của người đọc, chính vì điều đó mà thư viện cần phải
có cơ sở để thực hiện các hoạt động đó.
Kỹ năng đọc sách tốt sẽ giúp cho các bạn đọc nắm bắt được nhiều thông
tin một cách nhanh nhất, đáp ứng được nhu cầu. Tìm ra những thông tin có tính
chọn lọc cao để phục vụ cho mục đích và yêu cầu của bạn đọc.
Trong xã hội hiện nay thì con người đang sống trong một khung cửa giữa
một xã dụng thông tin nên cái việc mà người dùng tin có thể tìm hiểu, tra cứu
bất cứ lĩnh vực nào, thông tin nào của xã hội đều diễn ra rất nhanh chóng thuận
tiện nhờ có các công cụ tìm kiếm trên mạng Internet, báo mạng, các tạp chí, báo
ra hàng ngày, tin tức cập nhật từng giây từng phút, qua thông tin đại chúng,…
Trong thư viện có nhiều loại tài liệu để tham khảo, nghiên cứu thì bên
cạnh đó còn có rất nhiều loại báo, tạp chí như: Giáo dục thời đại, Toán học và
Lê Đức Nam
6
Lớp: ĐH KHTV K1
Báo cáo thực tập
Trường Đại học Nội vụ Hà Nội
tuổi trẻ, Hoa học trò, Thiếu niên tiền phong, Thiết bị giáo dục, Văn học và tuổi
trẻ, … để cho chúng ta đọc để giải trí thêm vui trong những căng thẳng của ngày
dài. Với vốn tài liệu phong phú và đa dạng như thế thì thư viện phải làm thế nào
để thu hút các bạn đọc, từ cái nhìn chưa sâu về cảm nhận về tài liệu sách ấy đến
chỗ mà có cái nhìn khác và thích thú am hiểu và có ý thức tự giác đọc sách, bảo
quản tài liệu cho tốt. Điều đó cần đòi hỏi thư viện Hà Nội phải biết tham mưu để
tìm ra được những giải pháp hữu hiệu, lập ra kế hoạch hoạt động cụ thể, rõ ràng,
có kiểm tra đánh giá.
II.
CƠ SỞ THỰC TIỄN
Nâng cao hiệu quả, chất lượng, tổ chức thu hút mọi thành viên, mọi tầng
lớp ở trong thư viện cũng như mọi người trong xã hội tham gia hoạt động thư
viện. Để nhằm khai thác triệt dể kho sách, nhất là sách nghiệp vụ và sách tham
khảo,.. Điều đó chính là cơ sở để thư viện cần phải nâng cao để tăng hiệu quả
đọc sách cho các bạn đọc mỗi khi đến thư viện.
Thực tiễn hoạt động của thư viện của nhiều thư viện còn rất hạn chế: khi
cơ sở vật chất vẫn còn thiếu thốn, phòng đọc cho độc giả còn hạn chế về diện
tích, không có trang thiết bị tối thiểu, sách và báo chí vẫn còn nghèo nàn, cách
thức tổ chức phục vụ bạn đọc còn sơ sài, chưa đáp ứng bạn đọc…Vì vậy mà
việc đáp ứng nhu cầu tin, hiệu quả hoạt động đọc sách vẫn chưa cao.
III. THỰC TRẠNG THƯ VIỆN
1. Thuận lợi
Thư viện Hà Nội được sự quan tâm, đầu tư, ủng hộ và sự chỉ đạo sát sao
của Ban Giám đốc đã cung cấp số lượng sách phục vụ cho độc giả tương đối đầy
đủ.
Chủng loại của sách chưa được nhiều nhưng cũng có một số ít cuốn sách
hay và thu hút được bạn đọc. Đặc biệt là đội ngũ cán bộ, nhân viên thư viện đa
phần là trẻ, ham mê đọc sách.
Đặc điểm tâm lý và nhu cầu đọc sách báo của các lứa tuổi cũng khác
nhau.
Các em học sinh chủ yếu thích đọc truyện tranh, truyện cổ tích, truyện
Lê Đức Nam
7
Lớp: ĐH KHTV K1
Báo cáo thực tập
Trường Đại học Nội vụ Hà Nội
khoa học, truyện về các nhân vật lịch sử, truyện ngụ ngôn thích xem hình ảnh
hơn là nội dung của nó. Những cuốn sách này có nội dung dễ hiểu, đọc nhanh và
mỗi lần đọc xong các em rút ra được bài học cho mình. Những cuốn sách này
phục vụ cho việc học tập và làm theo tấm gương các nhân vật.
Ngoài đó thì các em cũng đã có ý thức tìm tòi, nghiên cứu sâu hơn các
sách tham khảo phục vụ cho việc học tập. Một số sách văn học cũng như được
lựa chọn: sách về các tác giả văn học nổi tiếng: Nguyễn Bính, Vũ Trọng Phụng,
Hồ Xuân Hương, Nam Cao,…Ở lứa tuổi này thì các em thích đọc những cuốn
sách mang tính xã hội, yêu cầu suy nghĩ nhiều hơn, các cuốn sách về kỹ năng
giao tiếp, về tuổi vị thành niên, về quà tặng cuộc sống…Đây chính là những
điều sẽ giúp các em hình thành nhân cách, thái độ, cách ứng xử với xã hội khi
các em lớn.
Còn những độc giả lớn tuổi thì họ đọc các loại sách về nghiên cứu, tham
khảo về đề tài, các công trình và về khoa học nhiều.
Còn lứa tuổi các cụ già thì họ chỉ thích đọc các loại báo: an ninh nhân
dân, báo pháp luật đời sống,…
Thư viện có thể đáp ứng nhu cầu được đọc, được hiểu biết thêm về hầu
hết các lĩnh vực cho bạn đọc. Kèm theo đó thư viện còn đáp ứng được nhu cầu
nghiên cứu cho các độc giả. Tài liệu trong thư viện được sắp xếp gọn gàng theo
các môn loại giúp cho việc tìm kiếm tài liệu, thông tin trở nên dễ dàng hơn cho
các độc giả.
Một thư viện tốt không chỉ có những quyển sách tham khảo tốt, các cán bộ
chuyên môn tốt mà còn phải có không gian đọc lí tưởng cho các bạn đọc đã đáp
ứng nhu cầu này cho mọi người. Phòng đọc của thư viện có không khí đọc rất lí
tưởng, thoáng mát, tạo cho bạn đọc cảm giác thoải mái khi bước vào phòng đọc.
2. Khó khăn
Bên cạnh những thuận lợi đáng tự hào, Thư viện Hà Nội cũng gặp phải
một số trở ngại, khó khăn như:
+ Diện tích của kho lưu trữ (kho đóng) của thư viện còn khiêm tốn, lối đi
vào kho còn chật hẹp.
Lê Đức Nam
8
Lớp: ĐH KHTV K1
Báo cáo thực tập
- Số lượng đầu sách báo hạn chế.
Trường Đại học Nội vụ Hà Nội
- Nhân lực cũng hạn chế thiếu kiến thức trong lĩnh vực thư viện.
- Cần phải cải thiện lại hệ thống làm việc một cách khoa học hơn bằng
cách tin học hóa vào công tác "quản lý thư viện"
Học sinh vẫn chưa ham mê đọc sách, việc đó còn hạn chế so với yêu cầu,
chưa biết khai thác sách báo, chưa biết tự đọc, tự bồi dưỡng bằng sách báo, các
kỹ năng đọc sách còn hạn chế.
Một số em muốn tìm đọc với các cuốn sách mới, muốn tìm những tài liệu
gần chủ đề mình cần cũng rất khó, vì vậy hiệu quả chưa cao.
Số lượng bản sách của mỗi tên sách không nhiều nên nhiều lúc không đáp
ứng nhu cầu đọc tại chỗ lẫn mượn về nhà cũng lúc cho các bạn đọc.
Việc áp dụng công nghệ thông tin vào trong thư viện còn hạn chế, bạn đọc
chưa biết sử dụng các công cụ tìm kiếm tin trên Internet, do đó chưa biết khai
thác thông tin một cách hiệu quả.
3. Nguyên nhân của thực trạng
Trên Internet có nhiều trò chơi giải trí như: đánh bài, pi-a, pikachu, đánh
bóng,… những trò chơi đó đã lôi kéo giới trẻ hiện nay, lãm cho các em rất dễ
nghiện game và dần dẫn đến tình trạng lười đọc sách, niềm hứng thú với sách
giảm đi.
Cán bộ thư viện chưa tạo ra được các hình thức phục vụ bạn đọc phong
phú, thường có hai hình thức phục vụ: bạn đọc tại chỗ và cho mượn về nhà. Nên
việc tiếp cận với tài liệu cũng ít đi, vì thời gian không đủ. Nhiều khi còn chưa
chủ động để hướng dẫn độc giả biết cách đọc sách sao cho có hiệu quả, chưa
khơi dậy được niềm tin yêu thích đọc sách, phát huy được tác dụng của sách, để
thấy được các giá trị nằm ở bên trong những cuốn sách, tài liệu đó có giá trị to
lớn và đem lại lợi ích cho người đọc sách.
Chưa phát huy được các nguồn lực, chưa làm tốt công tác xã hội hóa giáo
dục trong thư viện, để góp phần xây dựng thư viện vững mạnh và đầy đủ nguồn
vốn tài liệu hơn nữa.
Lê Đức Nam
9
Lớp: ĐH KHTV K1
Báo cáo thực tập
Trường Đại học Nội vụ Hà Nội
CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH CÔNG TÁC THƯ VIỆN CỦA
THƯ VIỆN HÀ NỘI
I. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THƯ VIỆN HÀ NỘI
1. Lịch sử hình thành
Thư viện Hà Nội góp phần vào việc phát triển văn hóa đọc của người dân
Thủ đô.
Thư viện Hà Nội được thành lập ngày 15/10/1956 với cái tên ban đầu là
“Phòng đọc sách nhân dân”. Thư viện đã qua nhiều lần thay đổi địa chỉ, từ bên
hồ Hoàn Kiếm (nay là nhà Thủy Tạ), đến phố Lò Đúc, rồi Văn Miếu – Quốc Tử
Giám. Từ tháng 1/1959 đến nay, Thư viện Hà Nội chính thức được đặt ở số 47
Bà Triệu (nằm ngay ngã tư Trần Hưng Đạo – Bà Triệu).
Ngày đầu mới thành lập, Thư viện chỉ có vài ngàn cuốn sách phục vụ bạn
đọc được chuyển từ kháng chiến về và một vài số báo, tạp chí. Sau nhiều lần được
Thành phố đầu tư nâng cấp, đến nay Thư viện Hà Nội đã trở thành một công trình
văn hóa quy mô với những trang thiết bị hiện đại. Ngày 10/10/2008, đúng dịp kỷ
niệm 54 năm ngày Giải phóng Thủ đô, lễ khánh thành Thư viện Hà Nội – một
công trình văn hóa trọng điểm của Thành phố chào mừng kỷ niệm 1000 năm
Thăng Long – Hà Nội đã được long trọng diễn ra tại số 47 Bà Triệu. Thư viện
được thiết kế như một cuốn sách mở ôm lấy không gian mở tròn rỗng – một ẩn dụ
về sự vô tận của kiến thức được truyền tải thông qua những trang sách.
Đối với phong trào ở cơ sở, Thư viện Hà Nội đã chủ động tổ chức các
cuộc nói chuyện giới thiệu sách, nói chuyện chuyên đề, trưng bày sách báo…tại
các thư viện quận, huyện trên địa bàn Hà Nội và xây dựng mới thư viện cơ sở.
Kết hợp với các công tác trên, Thư viện Hà Nội còn làm rất tốt công tác luân
chuyển sách xuống 180 thư viện, tủ sách cơ sở, góp phần nâng cao đời sống văn
hóa tinh thần cho nhân dân, phát triển văn hóa đọc ở các địa phương. Hàng năm,
Thành phố cấp kinh phí mua sách, báo chí…phục vụ ban đọc khoảng 800 triệu –
Lê Đức Nam
10
Lớp: ĐH KHTV K1
Báo cáo thực tập
Trường Đại học Nội vụ Hà Nội
1 tỉ đồng. Tuy nhiên, với kinh phí đó, Thư viện mới chỉ đáp ứng được 70 – 80%
yêu cầu của bạn đọc. Bù vào đó, Thư viện đã được một số tòa soạn báo của Hà
Nội hỗ trợ bằng việc tặng báo cho Thư viện mỗi kỳ báo ra”.
Ngày nay, xu hướng của thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, sự phát
triển mạnh mẽ của các phương tiện thông tin đại chúng đang làm mai một dần
văn hóa đọc truyền thống là sách in, báo giấy…Việc củng cố và phát triển cũng
như đa dạng hóa hệ thống thư viện ở Việt Nam là việc làm rất có ý nghĩa. Thư
viện Hà Nội là một trong những đơn vị đã và đang nỗ lực làm tốt công tác thông
tin về cơ sở và góp phần vào việc phát triển văn hóa đọc, nâng cao đời sống văn
hóa, tinh thần của người dân Thủ đô văn hiến..
2. Chức năng, nhiệm vụ của Thư viện Hà Nội
- Chức năng:
Tổ chức tốt việc phục vụ hoạt động giảng dạy, học tập, đào tạo, nghiên
cứu khoa học, triển khai ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ và quản lý thông
qua việc sử dụng, khai thác các loại tài liệu có trong thư viện (tài liệu chép tay,
in, sao chụp, tài liệu điện tử, mạng Internet...).
- Nhiệm vụ:
+ Có nhiệm vụ lưu trữ, bảo quản và bổ sung các loại sách báo.
+ Thư viện Hà Nội vừa phục vụ bạn đọc rộng rãi từ đối tượng độc giả là
thiếu nhi đến những người nghiên cứu khoa học kĩ thuật.
+ Tổ chức xử lý, sắp xếp, lưu trữ, bảo quản, quản lý nguồn tài nguyên của
thư viện.
+ Xây dựng hệ thống tra cứu thích hợp; thiết lập mạng lưới truy nhập và
tìm kiếm thông tin tự động hoá; xây dựng các cơ sở dữ liệu.
+ Tổ chức phục vụ, hướng dẫn cho bạn đọc khai thác, tìm kiếm, sử dụng
hiệu quả nguồn tài liệu và thông tin – thư viện thông qua các hình thức phục vụ
của thư viện.
+ Nghiên cứu, ứng dụng thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến và công
nghệ thông tin vào công tác thư viện.
+ Xây dựng quy hoạch, kế hoạch, tổ chức bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp
Lê Đức Nam
11
Lớp: ĐH KHTV K1
Báo cáo thực tập
Trường Đại học Nội vụ Hà Nội
vụ, ngoại ngữ, tin học cho cán bộ thư viện để phát triển nguồn nhân lực có chất
lượng nhằm nâng cao hiệu quả công tác.
+ Không ngừng mở rộng quan hệ trao đổi, hợp tác chia sẻ tài nguyên với
các độc giả. Quản lý tốt cơ sở vật chất hiện có, từng bước có kế hoạch nâng cấp,
hiện đại hoá Thư viện.
Với thủ tục đơn giản, bạn có thể đến với Thư viện Hà Nội để tra cứu
những tài liệu phong phú và quý hiếm.
3. Cơ sở vật chất
Thư viện Hà Nội được trang trị một hệ thống trang thiết bị tương đối hiện
đại và đồng bộ nhằm mục đích đáp ứng nhu cầu xã hội như: Các phòng phục vụ
bạn đọc, phòng làm việc cán bộ, cảnh quan, kho tàng khang trang sạch, đẹp và
hạ tầng cơ sở đang được khai thác khá hiệu quả.
- Hệ thống kho tàng
- Hệ thống các phòng đọc
- Hệ thống phòng làm việc cán bộ
- Hệ thống thiết bị bảo vệ, kiểm soát: Camera, cổng từ...
- Hệ thống máy móc phục vụ công tác bảo quản, phục chế tài liệu
- Hệ thống máy móc phục vụ số hóa tài liệu
Không đơn thuần là phục vụ bạn đọc đến ngồi trong phòng đọc sách báo,
tạp chí một cách đơn thuần…Thư viện Hà Nội còn ứng dụng mạnh công nghệ
thông tin vào công tác quản lý tài liệu, sách, báo…và quản lý bạn đọc.
Thư viện bắt đầu sử dụng Libol 6.0 từ năm 2012. Trước đó, thư viện sử
dụng phần mềm ISIS
Hệ thống mạng thư viện đang sử dụng: mạng LAN
II. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THÔNG TIN - THƯ VIỆN CỦA
THƯ VIỆN HÀ NỘI
1. Hiện trạng hoạt động
1.1. Phân công quản lý
Thư viện Hà Nội quản lý đầu sách và tạp chí. Độc giả có thể mượn sách
Lê Đức Nam
12
Lớp: ĐH KHTV K1
Báo cáo thực tập
Trường Đại học Nội vụ Hà Nội
về nhà hoặc đọc tại chỗ.Việc phân công quản lý trong thư viện được thực hiện
như sau:
a) Phòng Hành chính – Tổng hợp: điều hành chung toàn bộ các công tác
trong thư viện và quản lý về cơ sở vật chất, tài sản, trang thiết bị đơn vị và quản
lý tài liệu.
b) Bộ phận nghiệp vụ:
+ Phòng Bổ sung và xử lý kỹ thuật: Phòng Bổ sung và xử lý kỹ thuật có
chức năng thu thập và xử lý kỹ thuật các loại hình tài liệu được xuất bản tại Hà
Nội và nói về Hà Nội, các tài liệu trong nước và nước ngoài, phù hợp với đặc
điểm, yêu cầu xây dựng và phát triển Thủ đô Hà Nội về chính trị, kinh tế, văn
hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước.
+ Phòng Phục vụ Bạn đọc: có chức năng phục vụ bạn đọc, người đọc, bảo
quản vốn tài liệu, tổ chức khai thác và sử dụng tài liệu phù hợp với đặc điểm,
yêu cầu xây dựng và phát triển Thủ đô.
-
Tổ chức phục vụ và tạo điều kiện cho người đọc sử dụng vốn tài liệu thư viện
-
thông qua các hình thức tại chỗ, mượn về nhà…
Tổ phục vụ bạn đọc: có trách nhiệm cấp thẻ độc giả, lập các phiếu mượn trả
-
sách, phân công phục vụ các quầy mượn trên kho
Phòng báo: Cung cấp các sản phẩm và dịch vụ thông tin, phục vụ bạn đọc sử
dụng vốn tài liệu thông qua hình thức đọc tại chỗ. Bảo quản vốn tài liệu, tu sửa,
-
phục chế tài liệu bị hư hỏng trong quá trình sử dụng hoặc do nguyên nhân khác.
Kết hợp với các phòng ban khác trưng bày triển lãm sách, báo, tạp chí theo các
-
ngày lễ trong năm.
Hàng ngày, thư viện viên nhận báo mới, sau quá trình xử lý nghiệp vụ (dập
ghim, đóng dấu, nhập máy, đánh số), tiến hành xếp báo lên giá. Giá tài liệu được
chia thành 2 loại: báo và tạp chí, mỗi loại được xếp theo vần alphabet theo tên
-
và được đánh số thứ tự vào từng ô.
Phòng đọc tự chọn: Tổ chức phục vụ bạn đọc trên 16 tuổi sử dụng vốn tài liệu
thư viện thông qua hình thức đọc tại chỗ; bảo quản vốn tài liệu; chuyển dạng tài
-
liệu; hướng dẫn tra cứu và trả lời các thông tin về vốn tài liệu.
Phòng mượn: Tổ chức phục vụ bạn đọc trên 16 tuổi, tạo mọi điều kiện thuận lợi
Lê Đức Nam
13
Lớp: ĐH KHTV K1
-
Báo cáo thực tập
Trường Đại học Nội vụ Hà Nội
cho người đọc sử dụng vốn tài liệu thư viện thông qua hình thức mượn về nhà.
Bảo quản vốn tài liệu, chuyển dạng tài liệu, tu sửa, phục chế tài liệu bị hư hỏng,
rách nát trong quá trình sử dụng hoặc do nguyên nhân khác. Nhận hồ sơ bạn
đọc, quan sát kho, quản lý bạn đọc trong kho, xếp sách lên giá, hướng dẫn tra
-
cứu và trả lời các câu hỏi về vốn tài liệu
Phòng đọc báo, tạp chí
Phòng khiếm thị
+ Phòng Thiếu nhi: Nâng cao chất lượng phục vụ bạn đọc, đặc biệt là đối
với các em thiếu nhi.
Tổ chức và quản lý một cách khoa học nhằm đáp ứng nhu cầu đọc sách
ngày càng cao của các em thiếu nhi.
Tạo lập một địa chỉ văn hóa hấp dẫn, môi trường đọc sách báo thân thiện
thu hút các em thiếu nhi trên địa bàn Thủ đô Hà Nội.
+ Phòng Địa chí và Thông tin tra cứu: thu thập, bảo quản, tổ chức khai
thác và sử dụng các tài liệu trong và ngoài nước có nội dung liên quan đến Hà
Nội.
- Biên soạn các ấn phẩm thông tin địa chí, thông tin chọn lọc, các loại thư
mục có nội dung về Hà Nội.
- Hướng dẫn tra cứu và trả lời các thông tin cho người đọc về vốn tài liệu
thư viện và các nhu cầu nghiên cứu, tìm hiểu về Hà Nội.
- Tổ chức các hoạt động thông tin tuyên truyền giới thiệu sách, báo.
- Tham mưu cho Giám đốc Thư viện Hà Nội về mặt chuyên môn nghiệp
vụ trong công tác địa chí, tuyên truyền.
- Thống kê tổng hợp báo cáo về công tác địa chí, tuyên truyền.
+ Nghiệp vụ phong trào cơ sở: phụ trách hướng dẫn nghiệp vụ thư viện
trong 30 quận huyện trên địa bàn Hà Nội
Xử lí sách lưu động:
Nguyên tắc dán nhãn:
-Nhãn xanh nước biển: sách văn học
-Nhãn xanh lá cây: sách khoa học
Lê Đức Nam
14
Lớp: ĐH KHTV K1
Báo cáo thực tập
-Nhãn đỏ: sách pháp luật
Trường Đại học Nội vụ Hà Nội
-Nhãn vàng đậm: sách thiếu nhi
-Nhãn tím: sách văn hóa lịch sử
-Nhãn vàng nhạt: sách xã hội
+ Phòng Tin học: Tư vấn cho Ban giám đốc lập kế hoạch ứng dụng công
nghệ thông tin tại thư viện
Tổ chức hệ thống quản lí máy tính tại thư viện và nghiên cứu ứng dụng
công nghệ thông tin.
- Quản trị mạng Lan, Internet của cơ quan
- Quản lí, bảo trì máy tính
- Xây dưng, thiết kế trang web
- Tổ chức sản xuất sách nói
-
Số hóa tài liệu
Tổ chức và phát triển thư viện số
1.2. Vốn tài liệu
Trải qua hơn nửa thế kỷ hình thành và phát triển, Thư viện Hà Nội đã thực
sự trở thành một môi trường văn hóa phong phú, đa dạng, đáp ứng được nhu cầu
văn hóa của nhân dân Thủ đô
- Vốn tài liệu được tổng kết từ khi thành lập thư viện tới nay gồm 72832
cuốn trong kho mượn và 45937 trong kho đọc.
- Tài liệu kho báo năm 2015: loại VN: 1858 tài liệu, loại VV: 2116 tài liệu
và loại VL: 917 tài liệu
- Trong kho kín, tài liệu được chia theo khổ nhỏ (BVN), vừa (BVV) và
lớn (BVL). Có 17 đầu báo và 10 đầu tạp chí được đóng bìa và lưu giữ.
- Gần 150.000 tài liệu với 22 giá sách của phòng mượn
- Sách thiếu nhi với kho đọc tại chỗ: khoảng 20 giá và kho đọc tại chỗ
khoảng 15 giá sách
- Báo, tạp chí tiếng Việt và tiếng nước ngoài : 219 tên, 3060 cuốn.
- Sách tại nhà xuất bản Chính Trị Quốc gia,Công ty sách Hà Nội,
Alphabook, nxb Phụ Nữ, Công ty sách Huy Hoàng, Công ty sách Thái Hà, Công
Lê Đức Nam
15
Lớp: ĐH KHTV K1
Báo cáo thực tập
Trường Đại học Nội vụ Hà Nội
ty sách Nhã Nam, Công ty sách và thiết bị thư viện,Công ty sách Trí Tuệ Việt,
…:1380 tên, 10909 cuốn.
- Sách dành cho người khiếm thị : 8000 trang chữ nổi; 1931 trang sách nói
= 9931trang.
- Nhận sách tặng biếu, tài trợ: 2742 tên; 6601 cuốn.
- Nhận báo – tạp chí tặng biếu, lưu chiểu : 33 tên định kỳ liên tục + 67 tên
không cố định.
- Kho sách ngoại văn: có khoảng 5 giá với hơn 2000 cuốn sách được chia
thành 3 thứ tiếng Anh, Nhật, Pháp
- Tiếng việt(cuốn): 8187 Bản
- Tiếng Anh,Pháp: 219 Tài liệu
- Chữ Hán-Nôm: 849Tài liệu
- Hương ước: 474 Tài liệu
- Thác bản văn bia: 1644 Tài liệu
- Băng đĩa: 45 Tài liệu
- Bản đồ: 55 Tài liệu
- Tủ sách Thăng Long: 1144 Tài liệu
- Báo, tạp chí đóng bìa à 1535 Quyển
+ Cơ sở dữ liệu: 47624 biểu ghi ISIS
ĐCHI( sách mới):5252 biểu ghi
TC: 7572 biểu ghi
TTTM: 9278 biểu ghi
VANBIA: 3129 biểu ghi
HNOM: 1196 biểu ghi
THMUC: 21175 biểu ghi
Libol : bài trich TC: 2020 biểu ghi
Có 82482 biểu ghi (Libol chuẩn năm 2011) bao gồm các tài liệu như sách,
báo, tạp chí và 62828 biểu ghi (ISIS hồi cố)
Từ năm 2014 đến năm 2015, thư viện đã số hóa 196 tài liệu (chủ yếu số
Lê Đức Nam
16
Lớp: ĐH KHTV K1
Báo cáo thực tập
hóa tài liệu địa chí viết về Hà Nội
Trường Đại học Nội vụ Hà Nội
1.3. Quy trình quản lý
a) Nhập sách (do bộ phận nghiệp vụ thực hiện)
Theo định kỳ thư viện có bổ sung sách mới về cho các kho, việc đặt mua
sách mới được thực hiện như sau:
Nhà xuất bản sẽ đăng thông tin sách mới ra trên trang web của mình, thư
viện xem xét những sách cần mua và có đơn đặt hàng, Nhà xuất bản sẽ gửi sách
kèm theo giá về cho thư viện, thư viện lập danh sách những sách cần mua về cho
thư viện. Sau khi được Giám độc thư viện thông qua, thì tiến hành lập hợp đồng
với nhà xuất bản. Hóa đơn sẽ được gửi về phòng tài vụ của thư viện, sau đó thư
viện nhận sách về.
Trong trường hợp sách nhận về không đạt yêu cầu, thư viện sẽ gửi trả lại
sách cho Nhà xuất bản theo điều khoản đã có trong hợp đồng.
Sách sau khi mua về sẽ được bộ phận nghiệp vụ tiến hành phân loại. Việc
phân các đầu sách về các kho tùy theo loại sách và kích cỡ của sách để đưa về
các kho phù hợp và lập thẻ quản lý sách.
Hàng ngày, thư viện viên nhận báo mới, sau quá trình xử lý nghiệp vụ
(dập ghim, đóng dấu, nhập máy, đánh số), tiến hành xếp báo lên giá. Giá tài liệu
được chia thành 2 loại: báo và tạp chí, mỗi loại được xếp theo vần alphabet theo
tên và được đánh số thứ tự vào từng ô.
Mỗi khi có bổ sung sách mới vào thì tổ nghiệp vụ có trách nhiệm rà soát
xem những loại sách đó đã có hay chưa, nếu chưa có thì tiến hành tạo lập thẻ
quản lý và cho mã số mới, còn đã có rồi thì cập nhật số lượng thêm. Sách bổ
sung theo ngân sách nhà nước.
+ Các nguồn sách bổ sung
-
Sách tặng biếu : Thường là sách của tất cả các nhà sản xuất, của tư nhân và của
-
cá nhân.
Sách được các tổ chức nước ngoài tặng biếu.
+ Có nhiều loại hình tài liệu khác nhau:
-
Sách in : sách chữ nổi dành cho người khiếm thị và tài liệu truyền thống.
Lê Đức Nam
17
Lớp: ĐH KHTV K1
-
Báo cáo thực tập
Tài liệu điện tử : CD,..
Báo, tạp chí.
Trường Đại học Nội vụ Hà Nội
b) Cấp thẻ độc giả
Hàng năm Thư viện Hà Nội tiến hành làm thẻ cho độc giả, các độc giả ở
đây không phân biệt già trẻ, ngành nghề, học sinh, sinh viên là những đối tượng
đang sống và làm việc tại Hà Nội đều có thể đăng ký tìm hiểu và đọc những loại
sách mà bạn đọc chọn lựa. Thư viện dựa vào danh sách yêu cầu làm thẻ của các
độc giả để tiến hành làm thẻ, sau khi hoàn thành thủ tục đăng ký, độc giả sẽ
được tổ phục vụ bạn đọc cấp thẻ thư viện (thẻ bạn đọc).
Thẻ thư viện gồm các thuộc tính: Số thẻ, họ tên, ngày tháng năm sinh, địa
chỉ.....
Đối với những độc giả mất thẻ, muốn làm lại phải có đơn yêu cầu, thẻ
được cấp với mã mới.
Thẻ cứng của thư viện sẽ được sử dụng lâu dài . Thẻ chỉ cấp lại khi bị
hỏng, mất hoặc có thay đồi thông tin cá nhân (tiền cấp lại thẻ: 20.000đ/thẻ).
Tiền cược sách bạn đọc được trả lại khí đã trả hết sách, nộp lại “giấy thu
tiền cược sách”, nộp lại thẻ và không sử dụng thư viện nữa.
c) Mượn trả sách
Để mượn được sách độc giả phải tra cứu (tra truyền thống hay tra điện tử)
ở danh mục có sẵn của thư viện. Sau đó sẽ điền các thông tin cần thiết vào phiếu
yêu cầu mượn sách. Nhân viên phục vụ bạn đọc căn cứ vào phiếu này để tìm
sách, đồng thời kiểm tra sách có còn trong kho không để cho độc giả mượn.
Phiếu yêu cầu bao gồm các thông tin: họ tên, tên sách, ký hiệu, ngày
mượn, ký tên của người giao sách và người mượn.
Khi mượn sách mỗi độc giả chỉ được mượn 2 quyển và thời hạn mượn tối
đa là 15 ngày. Độc giả có thể gia hạn thời hạn mượn sách và chỉ được gia hạn tối
đa 2 lần.
Nếu mượn sách quá hạn bạn đọc phải nộp lệ phí theo quy định hiện hành
của thư viện.
Nếu làm mất, rách sách thì phải đền tương đương hoặc theo giá trị của
Lê Đức Nam
18
Lớp: ĐH KHTV K1
Báo cáo thực tập
sách.
Trường Đại học Nội vụ Hà Nội
d) Hủy đầu sách
Hàng năm, có kiểm tra định kỳ các kho sách. Các sách bị hư hỏng (không
dùng được nữa) hoặc sách không có độc giả mượn được lập vào danh sách. Quyết
định hủy sách do hội đồng (có giám đốc thư viện và các thành viên trong thư viện).
Sách có quyết định hủy được lấy ra khỏi kho và giao cho bộ phận bảo quản sách xử
lý. Bộ phận xử lý thông tin loại các đầu sách này ra khỏi cơ sở dữ liệu.
e) Báo cáo thống kê
Đối với công tác phòng đọc, ngoài công việc phục vụ bạn đọc, định kỳ
hàng tháng hay theo từng quý nhân viên còn phải thống kê, lập báo cáo về số
sách đã mượn, hiện trạng của sách, độc giả, danh sách các sách cần mua bổ sung
(căn cứ vào phiếu yêu cầu của độc giả) gửi lên chủ nhiệm thư viện.
f) Kho sách
Sách được chia theo khổ lớn (VL), vừa (VV) và nhỏ (VN), sắp xếp theo
môn loại và theo quy ước sắp xếp từ trên xuống dưới, từ trái qua phải.
- Kho sách: được chia thành 2 loại kho đọc tại chỗ và kho mượn về nhà
- Kho đọc tại chỗ: khoảng 20 giá
Tài liệu được chia thành 3 kho theo khổ sách: kho sách nhỏ (TNN), kho
sách vừa (TNV) và kho sách lớn (TNL), tài liệu trong từng kho được sắp xếp
theo số đăng ký cá biệt từ lúc thành lập thư viện đến nay.
Kí hiệu phân loại sách( nhãn sách): V:khổ vừa; L:khổ lớn; N:khổ nhỏ; TV
khổ lớn:HVL; TV khổ vừa:HVV; TV khổ nhỏ:HVN
-
sách hán nôm: (=chữ hán) HHN
hương ước:(=chữ việt) HƯ
tủ sách thăng long: TSTLV ; TSTLL; TSTLN
Ngoại văn: HPN:nhỏ; HPL: lớn; HPV: vừa
Với tiếng anh : HAN ; HAL; HAV
Tiếng Nga: HVB
Báo: HBL; HBV; HBL
Văn bia: HVB
Bản đồ đánh theo số thứ tự, xếp theo stt: HBĐ
- Ký hiệu kho sổ đăng ký cá biệt và nhãn:
Lê Đức Nam
19
Lớp: ĐH KHTV K1
Báo cáo thực tập
Trường Đại học Nội vụ Hà Nội
Phòng mượn và phòng đọc mở chia theo số đăng kí cá biệt và có kí hiệu
riêng. Mượn : M, Đọc mở : ĐM. ( VD : M + số đăng kí cá biệt, ĐM + số đăng kí
cá biệt.)
Phòng đọc chia theo khổ sách (Vl,VV,VN)
Phòng thiếu nhi : Mượn thiếu nhi (MTN39876)
Đọc thiếu nhi (khổ lớn : TNL + số đăng kí cá biệt
Khổ vừa:TNV + số đăng kí cá biệt
Khổ nhỏ: TNN + số đăng kí cá biệt)
Khổ sách :
VL : là khỏ lớn từ 19,5cm trở lên
VV: là khổ vừa đúng 19cm
VN : là khổ nhỏ dưới 19cm đổ xuống.
Kho đọc tại chỗ: khoảng 20 giá
Kho mượn về nhà: khoảng 15 giá
Tài liệu được sắp xếp theo môn loại, trong từng môn loại sắp xếp theo vần
chữ cái tên tài liệu.
Kho sách ngoại văn: có khoảng 5 giá với hơn 2000 cuốn sách được chia
thành 3 thứ tiếng Anh, Nhật, Pháp. Tài liệu của mỗi thứ tiếng lại được chia theo
khổ sách và sắp xếp theo số đăng kí cá biệt.
1.4. Đặc điểm người dùng tin và nhu cầu tin
+ Đặc điểm người dùng tin
Đối tượng sử dụng thông tin của Thư viện bao gồm các cán bộ quản lý,
cán bộ giảng dạy, nghiên cứu viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh, sinh viên
và học sinh,…Họ cũng chính là những tác giả của các nguồn thông tin mới về
khoa học cho xã hội.
Số lượng người dùng tin của Thư viện rất lớn và đa dạng vì đây là một
trong những trường Trung tâm chứa đựng tài liệu, sách,…
Bên cạnh trình độ chuyên môn, người dùng tin còn có khả năng ngoại
ngữ. Trong xu thế hội nhập và phát triển ngày nay, người dùng tin thường xuyên
Lê Đức Nam
20
Lớp: ĐH KHTV K1
Báo cáo thực tập
Trường Đại học Nội vụ Hà Nội
phải học tập để nâng cao trình độ ngoại ngữ của mình.
- Với những người quản lý thì thông tin càng đầy đủ quá trình quản lý càng đạt
kết quả cao. Bởi vậy yêu cầu thông tin trên diện rộng, mang tính chất tổng kết,
dự báo, dự đoán về lĩnh vực khoa học cơ bản, khoa học xã hội nhân văn, tài liệu
chính trị kinh tế - xã hội, các văn bản, chỉ thị, nghị quyết của Đảng và Nhà nước,
…Những cán bộ, lãnh đạo trong thư viện dùng tin này còn cung cấp nguồn
thông tin có giá trị cao, do vậy cán bộ thông tin cần khai thác triệt để nguồn
thông tin này bằng cách trao đổi, xin ý kiến nhằm tăng cường nguồn thông tin
cho công tác thông tin- thư viện.
Hình thức phục vụ là các bản tin nhanh, các tin vắn, tóm tắt tổng quan,
tổng luận. Phương pháp phục vụ chủ yếu dành cho nhóm đối tượng này là phục
vụ từ xa, cung cấp theo những yêu cầu cụ thể.
- Với những người nghiên cứu thì họ dùng tin có hoạt động thông tin năng
động, tích cực nhất. Họ là chủ thể của hoạt động thông tin, thường xuyên cung
cấp thông tin qua hệ thống các bài báo, tạp chí, các công trình nghiên cứu khoa
học được công bố, các dự án, đề tài, các đề xuất, kiến nghị…đồng thời đây là
những người dùng tin thường xuyên liên tục của thư viện.
Thông tin để cho những người nghiên cứu này phải có tích chất chuyên
ngành, có tính chất lý luận và thực tiễn. Các thông tin có tính thời sự liên quan
đến các lĩnh vực khoa học tự nhiên và xã hội, các thông tin mới về các thành tự
khoa học kỹ thuật trong và ngoài nước, kết quả các công trình nghiên cứu khoa
học, các đề tài đã và đang được tiến hành, những nguồn thông tin khoa học có
thể truy nhập được, các hoạt động khoa học được triển khai. Hình thức phục vụ
nhóm này là các thông tin chuyên đề, thông tin chọn lọc, thông tin tài liệu mới.
-
Với những người Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên
Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học: Đây là những người dùng tin
đã tốt nghiệp đại học, đã qua thực tiễn công tác tại các cơ quan ở khắp các tỉnh
trong cả nước. Nhu cầu thông tin của họ chủ yếu là thông tin có tính chất chuyên
ngành sâu, phù hợp với chương trình đào tạo, đề tài, đề án của họ.
Đối với người dùng tin là sinh viên: Đây là những người dùng tin đông
Lê Đức Nam
21
Lớp: ĐH KHTV K1
Báo cáo thực tập
Trường Đại học Nội vụ Hà Nội
đảo có biến động nhiều nhất. Hiện nay do yêu cầu đổi mới phương thức đào tạo
từ niên chế sang học chế tín chỉ. Mà những người dùng tin này cũng có sự thay
đổi về nhu cầu thông tin phục vụ cho việc học tập, nghiên cứu đáp ứng phương
thức, đào tạo mới cho mình. Ngoài thông tin về những chuyên ngành đang học,
sinh viên cần cập nhật các thông tin khác về nhiều lĩnh vực kinh tế - xã hội để
tăng khả năng hiểu biết và nâng cao trình độ chuyên môn. Do vậy những người
dùng tin này cần những thông tin cụ thể, chi tiết và đầy đủ. Tùy theo từng
chuyên ngành học mà những thông tin, tài liệu cần phải phù hợp và bám sát
chương trình đào tạo đó.
Hình thức phục vụ cho những người dùng tin này chủ yếu là thông tin phổ
biến về những tri thức cơ bản dưới dạng sách giáo khoa, giáo trình, sách tham
khảo hoặc một số ít là bài viết trong tạp chí, những luận án, luận văn có tính chất
cụ thể trực tiếp phục vụ cho môn học và các ngành học đào tạo.
+ Đặc điểm nhu cầu tin
Nhu cầu tin là đòi hỏi khách quan về thông tin của con người nhằm đảm
bảo duy trì và thực hiện các hoạt động nhận thức thực tiễn xã hội. Do vậy nhu
cầu tin luôn gắn chặt với nhu cầu nhận thức của con người. Nhu cầu nhận thức
càng cao thì nhu cầu tin càng lớn.
Trong giai đoạn hiện nay, nhu cầu tin của người dùng trong thư viện ngày
càng cao hơn, phong phú và đa dạng hơn. Những thông tin được họ khai thác
theo nhiều phương thức và ở nhiều loại hình khác nhau. Mỗi nhóm người dùng
tin ở thư viện có mục đích và nhu cầu khác nhau nên đã ảnh hưởng đến việc lựa
chọn loại hình tài liệu phục vụ cho nhu cầu của họ cũng khác nhau.
Thư viện với tư cách là nơi cung cấp tài liệu đầy đủ nhất, chính xác nhất,
nhanh chóng nhất, kịp thời nhất, có thể đáp ứng và thỏa mãn mọi nhu cầu của
người sử dụng. Thư viện cũng như là một “giảng đường thứ hai” và là người
thầy thứ hai của đông đảo học sinh, sinh viên vì Thư viện là một trung tâm
thông tin tư liệu và là động lực đóng góp vào việc cải tiến giáo dục. Thư viện là
điểm kết nối giữa nguồn thông tin của xã hội và nhu cầu thông tin của sinh viên.
Thư viện là môi trường rèn luyện và phát huy năng lực độc lập trong việc khám
Lê Đức Nam
22
Lớp: ĐH KHTV K1
Báo cáo thực tập
phá và tư duy sáng tạo của học, sinh viên.
Trường Đại học Nội vụ Hà Nội
Thư viện đóng vai trò là cầu nối giữa người dùng tin với các nguồn thông
tin, giữa những người dùng tin với nhau,…cũng như phương pháp giảng dạy
kích thích tính tích cực và chủ động của người học đã đòi hỏi và nâng cao vai trò
và vị thế của Trung tâm thư viện.
Thư viện là trung tâm thông tin văn hóa, khoa học kỹ thuật. Ngoài chức
năng đảm bảo và phục vụ thông tin, tư liệu, sách báo cho công tác đào tạo và
nghiên cứu khoa học của thư viện thì thư viện còn là một cơ quan văn hóa giáo
dục cho học sinh, sinh viên. Bởi vì, đây là môi trường tốt nhất cho học sinh, sinh
viên tự học, tự nghiên cứu trong quá trình học đại học. Việc học tập, nghiên cứu
tại thư viện giúp học sinh, sinh viên có thói quen làm việc với sách báo, thông
tin để biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo. Với phương pháp giáo
dục đổi mới hiện nay và yêu cầu đào tạo theo học chế tín chỉ, giáo viên chỉ giữ
vai trò là người hướng dẫn còn người trọng tài đánh giá hoạt động tiếp nhận tri
thức một cách sáng tạo thì lại chính là học sinh. Đứng trước một vấn đề nào đó,
học sinh phải tự học, tự mình đặt ra những câu hỏi cốt lõi, tìm kiếm thông tin
liên quan để khẳng định hoặc phản bác những kiến thức cũ và đề xuất những
kiến thức mới. Thông qua việc học, học sinh phản hồi những kiến thức đã thu
nhận được. Những hiểu biết mới sẽ đề xuất những vấn đề mới để học sinh lại
tiếp tục tìm hiểu. Thư viện là nơi mà học sinh có những cơ hội để khám phá,
thực hành và phát triển những kiến thức đã thu nhận được, nơi học sinh – sinh
viên có thể tự mình nêu ra những câu hỏi, vấn đề, tìm tòi và hình thành những
câu trả lời cho họ. Việc sử dụng thư viện sẽ tạo lập cho học sinh – sinh viên
những phẩm chất học tập độc lập, có khả năng lý giải các thông tin và biến
chúng thành kiến thức tự có của mình. Các kỹ năng tin học, học tập, các phẩm
chất nhân cách của học sinh được hình thành trong quá trình sử dụng thư viện.
1.5. Đảm bảo nguồn lực thông tin có chất lượng cao
Với vai trò là một động lực đóng góp vào việc cải tiến giáo dục, Thư viện
có nhiệm vụ tuyển chọn và tiếp nhận các sách báo, tài liệu phù hợp của mọi lĩnh
vực của chương trình giáo dục và phản ánh tất cả những nguồn kinh nghiệm và
Lê Đức Nam
23
Lớp: ĐH KHTV K1
Báo cáo thực tập
Trường Đại học Nội vụ Hà Nội
sự tiến bộ của toàn bộ thế giới, có đủ dữ kiện để kích thích óc tò mò, nhận xét và
phán đoán của sinh viên trong quá trình học hỏi, sưu tầm, giúp cho nền giáo dục
đại học nước ta theo kịp và hội nhập cùng thế giới. Để hoàn thành nhiệm vụ này,
Thư viện cần có một bộ sưu tập tài liệu đầy đủ mọi loại, gồm sách giáo khoa, tài
liệu phê bình khảo cứu, nghiên cứu, đề tài, băng hình, đĩa CD - ROM,…Các sưu
tập này phải rất phong phú và đa dạng để cho các độc giả tham khảo nghiên cứu
thêm vốn kiến thức, tài liệu cho mình. Ở đây, người cán bộ Thư viện sẽ đóng vai
trò một thuyết khách đối với ban giảng huấn và một hướng dẫn viên đối với các
độc giả trong công việc khởi xướng và khuyến khích sử dụng sách báo, tài liệu
của Thư viện để tham khảo, sưu tầm, học hỏi thêm kinh nghiệm cũng nhưu vốn
kiến thức.
Dĩ nhiên, để thiết lập được một Thư viện có đầy đủ nguồn tư liệu phản
ánh được những kiến thức, kinh nghiệm phong phú như vậy nó đòi hỏi một thời
gian tích lũy lâu dài.
Nguồn lực thông tin phải đầy đủ các sách giáo khoa, giáo trình và tài liệu
tham khảo. Bên cạnh đó còn là các nguồn thông tin được bổ sung từ các báo cáo
khoa học, báo - tạp chí, luận văn, luận án,đề tài nghiên cứu khoa học, hội nghịhội thảo…Ngoài các dạng tài liệu truyền thống cần phát huy các sản phẩm thông
tin ở nhiều hình thức khác nhau: tài liệu điện tử, tài liệu đa phương tiện…
Để nguồn lực thông tin - thư viện đáp ứng yêu cầu đào tạo theo học chế
tín chỉ, trung tâm thư viện cần phải tạo lập, xây dựng, duy trì, bảo quản và phát
triển hệ thống các kho thông tin; đa dạng hóa, phát triển các nguồn tin và các
kênh thu thập thông tin.
1.6. Đáp ứng đầy đủ nhu cầu tin bằng nhiều phương thức khác nhau
Với sự phát triển vượt bậc của công nghệ thông tin như hiện nay, người
dùng tin có thể truy cập nguồn tin ở mọi lúc, mọi nơi. Để đảm bảo nguồn thông
tin phục vụ cho công tác nghiên cứu, học tập cho mọi độc giả.
Thư viện cần đa dạng hóa các loại hình dịch vụ và sản phẩm thông tin – thư
viện. Mở rộng các dịch vụ điện tử, chủ động giới thiệu và cung cấp thông tin cho
người đọc, người dùng tin. Cần có sự kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa các sản phẩm Lê Đức Nam
24
Lớp: ĐH KHTV K1
Báo cáo thực tập
Trường Đại học Nội vụ Hà Nội
dịch vụ truyền thống với các sản phẩm dịch vụ hiện đại để làm tăng chất lượng
phục vụ bạn đọc. Cần mở rộng và tăng cường bổ sung các tài liệu điện tử và các tài
liệu ngoài sách vì đây là một bộ phận quan trọng trong thư viện hiện đại
Thống nhất quản lý nguồn tài nguyên thông. Tăng cường phát triển nguồn
lực thông tin cả về chất lượng và số lượng. Đổi mới và nâng cao chất lượng
phục vụ bạn đọc, đáp ứng tối đa yêu cầu tìm kiếm tài liệu ngày càng gia tăng.
Đáp ứng kịp thời nhu cầu tin của người dùng tin. Cần phải hiện đại hóa phương
thức phục vụ đề ngày càng nâng cao hiệu quả các dịch vụ tìm tin…Tổ chức, sắp
xếp lại nguồn lực thông tin theo nhiều hình thức khác nhau để có thể khai thác
theo nhiều phương thức khác nhau, thỏa mãn nhu cầu tin của người dùng tin một
cách hiệu quả nhất. Cung cấp thêm các hình thức tổ chức phục vụ người dùng
tin tiên tiến và hiện đại, tạo ra nhiều điểm tiếp cận thông tin và tài liệu, điểm
truy cập thông tin đa dạng, phong phú cho độc giả.
Đẩy mạnh ứng dụng Công nghệ thong tin vào hoạt động Thư viện và hiện
đại hóa các hệ thống trang thiết bị để truy cập, tra cứu thông tin, hỗ trợ khả năng
cung cấp thông tin đa nguồn, đa dịch vụ, mọi lúc, mọi nơi…
1.7. Công tác xử lý tài liệu của Thư viện Hà Nội
Xử lý là một công đoạn trong dây chuyền thông tin tư liệu, đó là quá trình
phân tích, lựa chọn và trình bày những yếu tố đặc trưng về nội dung và hình
thức của tài liệu nhằm đưa vào hệ thống lưu trữ và tìm kiếm giúp cho người
dùng tin lựa chọn tài liệu hoặc các thông tin cần thiết. Xử lý tài liệu trong thư
viện bao gồm những công đoạn chính: Mô tả, phân loại, định chủ đề, định từ
khóa, tóm tắt tài liệu …
Xử lý tài liệu có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc tạo các điểm truy
cập quan trọng giúp cho người sử dụng tìm kiếm được tài liệu, thông tin mình
cần và tạo ra các phương tiện tra cứu cũng như các ấn phẩm thông tin
Quy trình xử lý kĩ thuật tài liệu, tài liệu được bổ sung vào thư viện sẽ
được chuyển về phòng nghiệp vụ. Tại đây bước đầu tiên tài liệu sẽ được đóng
dấu vào thư viện. Sau đó cán bộ tiến hành phân loại tài liệu, rồi vào sổ chia sách
cho các phòng mượn, đọc, luân chuyển địa chí, ngoại văn và thiếu nhi, tài liệu
Lê Đức Nam
25
Lớp: ĐH KHTV K1