ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN
TIỂU LUẬN CÁ NHÂN
MÔN: BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
ĐỀ TÀI:
TIỀM NĂNG CỦA CÔNG NGHỆ THU HỒI,
SỬ DỤNG VÀ LƯU TRỮ CARBON (CCUS)
ĐỐI VỚI NGÀNH DẦU KHÍ TẠI VIỆT NAM
LỚP L02 --- HK222
NGÀY NỘP: 09/04/2023
Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS Võ Lê Phú
Sinh viên thực hiện:
Nguyễn Thái Minh Thông
MSSV: 1915358
Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2023
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU ................................................................................................................ 1
NỘI DUNG.....................................................................................................................2
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÔNG NGHỆ CCUS................................................2
1.1 Giới thiệu chung....................................................................................................2
1.2 Phương pháp thu thồi CO2 trong CCUS ............................................................... 3
1.3 Ứng dụng CCUS trong ngành dầu khí .................................................................. 3
CHƯƠNG 2: CƠNG NGHỆ CCUS TRÊN THẾ GIỚI ................................................. 5
2.1 Quy mô công nghệ CCUS trên thế giới ................................................................ 5
2.2 Phát triển cơng nghệ CCUS trong ngành dầu khí thế giới .................................... 6
2.3 Cơ hội và thách thức trong việc ứng dụng công nghệ CCUS ............................... 7
CHƯƠNG 3: TIỀM NĂNG CỦA CƠNG NGHỆ CCUS ĐỐI VỚI NGÀNH DẦU KHÍ
TẠI VIỆT NAM ............................................................................................................. 8
3.1 Tiềm năng đối với ngành dầu khí Việt Nam.........................................................8
3.2 Thúc đẩy phát triển CCUS trong ngành dầu khí Việt Nam ................................ 11
KẾT LUẬN .................................................................................................................. 12
DANH MỤC HÌNH ẢNH ............................................................................................ 13
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................................ 14
LỜI MỞ ĐẦU
Q trình cơng nghiệp hóa nhanh chóng và xu hướng sử dụng năng lượng ngày
càng tăng dẫn đến việc khai thác tài nguyên thiên nhiên, nhất là nhiên liệu hóa thạch
cho sản xuất điện ngày càng nhiều. Hầu hết các đơn vị phát điện (như nhà máy nhiệt
điện và tổ máy phát điện diesel), phương tiện vận tải (ô tô, tàu hỏa, tàu thủy, máy bay
v.v...) đều dựa trên nhiên liệu hóa thạch nên dẫn đến gia tăng lượng khí thải, đặc biệt là
carbon dioxide (CO2).
Việt Nam, giống như nhiều quốc gia khác, đang đối mặt với thách thức giảm lượng
khí thải carbon trong khi vẫn duy trì tăng trưởng kinh tế… Năm 2020, Việt Nam chịu
trách nhiệm thải ra 322 triệu tấn CO2 (chiếm 0,9% lượng phát thải toàn cầu), trở thành
nước phát thải lớn thứ 17 trên thế giới [1]. Đứng trước tình trạng này, Việt Nam đã đặt
mục tiêu đến năm 2030 sẽ giảm 9% lượng phát thải khí nhà kính và có thể giảm lên đến
27% khi có sự hỗ trợ của quốc tế [2].
Trong bối cảnh này, công nghệ thu hồi, sử dụng và lưu trữ carbon (Carbon Capture
Utilization and Storage - CCUS) có tiềm năng đóng một vai trị quan trọng trong nỗ lực
giảm lượng khí thải carbon của Việt Nam. Hiện nay, cơng nghệ CCUS đã nổi lên như
một giải pháp đầy hứa hẹn để giảm thiểu phát thải khí nhà kính và chống biến đổi khí
hậu trên thế giới. Cơng nghệ này liên quan đến việc thu hồi carbon dioxide (CO2) từ các
quy trình cơng nghiệp, nhà máy điện hoặc trực tiếp từ khí quyển, vận chuyển đến nơi
sử dụng hoặc bơm vào sâu dưới lòng đất để lưu trữ lâu dài. Trong đó, dầu khí là một
trong những ngành có khả năng tiêu thụ CO2 để gia tăng hiệu suất khai thác. Qua đó,
đề tài “Tiềm năng của cơng nghệ thu hồi, sử dụng và lưu trữ carbon dioxide (CCUS)
đối với ngành dầu khí tại Việt Nam” mong muốn đánh tiềm năng khi ứng dụng CCUS
để phát triển dầu khí Việt Nam cũng như giảm thiểu phát thải khí nhà kính trong tương
lai.
1
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÔNG NGHỆ CCUS
1.1 Giới thiệu chung
Thu hồi, sử dụng và lưu trữ CO2 (Carbon Capture Utilization and Storage - CCUS)
là công nghệ liên quan đến việc thu hồi CO2 từ các nguồn phát thải lớn (bao gồm các
nhà máy điện, các cơ sở công nghiệp sử dụng nhiên liệu hóa thạch hoặc sinh khối để
làm nhiên liệu), qua đó làm giảm tác động tới q trình biến đổi khí hậu. Ngồi ra, CO2
cũng có thể được thu hồi trực tiếp từ khí quyển. CO2 sau khi thu hồi, nếu không được
sử dụng tại chỗ sẽ được nén và vận chuyển đến nơi sử dụng carbon, hoặc được bơm vào
lịng đất (các mỏ dầu khí đã cạn kiệt, các tầng nước ngầm khống hóa, các tầng chứa
muối và các vỉa than không thể khai thác) để lưu trữ vĩnh viễn [3].
Hình 1.1: Sơ đồ cơng nghệ CCUS [4]
2
1.2 Phương pháp thu thồi CO2 trong CCUS
Hình 1.2: Các phương pháp tách và thu hồi CO2 [5]
Theo DNV, phương pháp phổ biến nhất để loại bỏ CO2 khỏi các dịng khí thải là
làm sạch nó khỏi khí bằng cách sử dụng dung mơi, chun mơn gọi là "chu trình giải
hấp". Chất hấp thụ được chuyển liên tục giữa chất hấp thụ nơi nó liên kết với CO2 và
chất khử cặn nơi CO2 tinh khiết được giải phóng bằng cách làm nóng dung môi. Các hệ
thống như vậy yêu cầu cung cấp nhiệt khoảng 130 - 140°C thường được cung cấp bằng
hơi nước. Đối với mỗi tấn CO2 thu được, cần khoảng 2,5-4 MJ nhiệt. CO2 tinh khiết
được nén đến 150 - 200 bar và sau đó được vận chuyển ở dạng lỏng bằng đường ống,
hoặc tàu đến nơi lưu trữ [6].
1.3 Ứng dụng CCUS trong ngành dầu khí
Hiện nay, một số nước lớn như Mỹ, Trung Quốc,… đã sử dụng CO2 để gia tăng
hiệu suất thu hồi dầu bằng kỹ thuật gia tăng thu hồi dầu (Enhanced Oil Recovery –
EOR). Trong đó, CCUS đóng vai trị là công nghệ giúp đáp ứng nhu cầu CO2 cho EOR.
Nâng cao thu hồi dầu bằng cách sử dụng CO2 (CO2 - EOR) có thể tăng sản lượng
dầu trong giai đoạn cuối của vòng đời vỉa, vượt qua khả năng đạt được bằng các phương
pháp thu hồi thông thường. So với các phương pháp thu hồi tam cấp khác, CO2 có khả
năng xâm nhập vào các vùng trước đây chưa bị nước xâm nhập và giải phóng dầu bị
3
mắc kẹt không được đẩy ra bằng các phương pháp truyền thống. EOR có thể đạt được
bằng cách sử dụng bơm ép CO2 thông qua dịch chuyển trộn lẫn (Miscible
Displacement), hoặc không trộn lẫn (Immiscible Displacement), tùy thuộc vào áp suất,
nhiệt độ tầng chứa và đặc tính của dầu. Hầu hết các dự án CO2 - EOR đang hoạt động
đều dựa trên quá trình CO2 trộn lẫn. Tuy nhiên, lo ngại đối với dịch chuyển trộn lẫn
CO2 là hiện tượng kết tủa asphalt có thể làm tắc tầng chứa, giảm khả năng thu hồi dầu
nếu một lượng CO2 vừa đủ được hịa tan vào dầu thơ [7].
Hình 1.3: Sơ đồ thực hiện EOR bằng bơm ép nước - khí CO2 luân phiên [8]
Khí CO2 được bơm vào vỉa khi thực hiện EOR thường có độ tinh khiết từ 95 đến
99% (thể tích). CO2 được nén, làm khơ, làm mát, trước khi được vận chuyển và bơm
vào vỉa tại các giếng bơm ép bố trí xung quanh giếng khai thác. Q trình bơm ép nước
- khí xen kẽ (WAG), trong đó, bơm ép nước và CO2 luân phiên được sử dụng phổ biến
nhất. Một phần CO2 được bơm vào (30 đến 70%) trở lại cùng với dầu khai thác và
thường được tách, nén, bơm lại vào tầng chứa. CO2 còn lại sẽ được lưu trữ vĩnh viễn
trong tầng chứa. Việc cung cấp CO2 phải được đảm bảo trong toàn bộ vòng đời của dự
án, thường từ 10 đến 30 năm. Tốc độ dòng CO2 bơm ép thay đổi theo thời gian, trong
trường hợp cung cấp CO2 liên tục, phải có hệ thống chứa CO2 tạm thời tại giàn trong
khi chờ bơm xuống vỉa [7].
4
CHƯƠNG 2: CÔNG NGHỆ CCUS TRÊN THẾ GIỚI
2.1 Quy mô công nghệ CCUS trên thế giới
Năm 2009, lộ trình thu hồi, sử dụng và lưu trữ carbon (CCUS) của Cơ quan Năng
lượng Quốc tế (IEA) đặt mục tiêu phát triển 100 dự án CCUS quy mô lớn từ năm 2010
- 2020 để đáp ứng các mục tiêu khí hậu tồn cầu, lưu trữ khoảng 300 triệu tấn CO2 mỗi
năm [9].
Trong thập kỷ qua, các cơ sở CCUS đã được đưa vào hoạt động tại Australia,
Brazil, Canada, Trung Quốc, Ả Rập Xê Út và Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất.
Đầu tư vào CCUS cũng thấp hơn so với các công nghệ năng lượng sạch khác, chỉ
chiếm dưới 0,5% tổng vốn đầu tư toàn cầu hàng năm vào các công nghệ hiệu quả và
năng lượng sạch. Kể từ năm 2010, khoảng 15 tỷ USD vốn đầu tư vào 15 dự án CCUS
quy mô lớn đã được đưa vào vận hành [10].
Công nghệ CCUS đã được triển khai thương mại ở một số khu vực trên thế giới.
Tính đến tháng 9/2022, có 30 dự án CCUS đang hoạt động trên toàn cầu với tổng công
suất 42,5 triệu tấn CO2/năm (Mtpa). 164 dự án khác với công suất 199 Mtpa đang trong
các giai đoạn phát triển khác nhau [11].
Hình 2.1: Các hệ thống CCUS thương mại trên thế giới (tính đến tháng 9/2022) [11]
5
2.2 Phát triển cơng nghệ CCUS trong ngành dầu khí thế giới
Ngành công nghiệp dầu khí đã đi đầu trong việc phát triển và triển khai các công
nghệ CCUS với tổng công suất khoảng 32 triệu tấn/năm (80% tổng cơng suất thu hồi
CO2 tồn cầu, gần 40 triệu tấn CO2/năm), trong đó, cơng suất thu hồi CO2 từ các nhà
máy xử lý khí chiếm khoảng 27,5 triệu tấn/năm, các nhà máy lọc dầu, hóa chất phân
đạm chiếm khoảng gần 5 triệu tấn/năm [12]. Trong các cơng ty dầu khí thế giới đầu tư
và phát triển CCUS, tiêu biểu phải kể đến các công ty dầu khí Mỹ như: ExxonMobil,
Chevron và Occidental Petroleum.
ExxonMobil có hơn 30 năm kinh nghiệm trong công nghệ CCUS và là công ty
đầu tiên thu hồi được hơn 120 triệu tấn CO2 (khoảng 40% tổng lượng CO2 thu hồi tồn
cầu tính từ năm 1990 đến nay). ExxonMobil đang sở hữu khoảng 1/5 công suất thu giữ
CO2 toàn cầu, thu hồi khoảng 9 triệu tấn CO2 vào năm 2020 (23% lượng CO2 thu hồi
toàn cầu) [13].
Chevron đang tham gia vào 2 dự án lớn nhất thế giới tại Quest (Canada) và Gorgon
(Australia) với tổng công suất 5,2 triệu tấn CO2/năm [11].
Còn Occidental Petroleum hiện đang sở hữu 2 nhà máy tại Mỹ, với tổng công suất
6,3 triệu tấn CO2/năm [11].
Các cơng ty dầu khí lớn khác trên thế giới sở hữu nhà máy thu hồi CO2 như
Petrobras là 4,6 triệu tấn CO2/năm, Qatar Petroleum - 2,1 triệu tấn CO2/năm, Equinor -
1,7 triệu tấn CO2/năm [14]. Các công ty dầu khí lớn trên thế giới đều đặt chỉ tiêu tăng
công suất CCUS để theo đuổi mục tiêu phát thải ròng vào năm 2050.
Trong đó, ENI đặt mục tiêu tăng cơng suất CCUS đạt 7 triệu tấn CO2/năm vào
năm 2030 và 50 triệu tấn CO2/năm vào năm 2050 [15]. Shell đặt mục tiêu tăng công
suất CCUS đạt 25 triệu tấn CO2/năm vào năm 2035 [16]. TotalEnergies đặt mục tiêu
tăng công suất CCUS đạt 5 - 10 triệu tấn CO2/năm vào năm 2030 [17]. Repsol đặt mục
tiêu tăng công suất CCUS đạt 1,3 triệu tấn CO2/năm vào năm 2030 [18].
6
2.3 Cơ hội và thách thức trong việc ứng dụng cơng nghệ CCUS
CCUS đóng một vai trò quan trọng để đạt được mục tiêu 1,5°C. Trong số bốn kịch
bản chính đề cập trong nghiên cứu của IPCC, CCUS được nhắc tới trong hầu hết các
kịch bản để giảm thiểu biến đổi khí hậu. Chưa hết, Báo cáo AR5 Report của IPCC cũng
nhấn mạnh vai trò to lớn của CCUS [19].
CCUS còn được coi là một tùy chọn hấp dẫn khi tạo việc làm trong nền kinh tế
gắn liền với vận hội của nhiên liệu hóa thạch. Ví dụ, một nghiên cứu đã dự báo, CCUS
quy mô công nghiệp có thể dẫn đến việc tạo ra 40.000 việc làm ở Na Uy [19].
Tuy vậy. việc ứng dụng CCUS vẫn còn nhiều rào cản. Rào cản chính là chi phí
vốn tương đối cao để thực hiện và thiếu các động lực tài chính để hỗ trợ đầu tư. Cho
đến nay, các dự án CCUS chỉ có thể thực hiện được khi có sự can thiệp của chính phủ.
Về cơ bản, CCUS hiện chưa được quan tâm đúng mức nên các ngành sản xuất vẫn
diễn ra bình thường như khơng có chuyện gì xảy ra. Việc "phóng khơng" carbon vào
khơng khí vừa đơn giản lại khơng tốn kém gì. Vì vậy, giới kinh tế cho rằng: Các chính
phủ cần thiết lập giá carbon để khuyến khích giảm phát thải. Đến nay, 85% lượng khí
thải tồn cầu vẫn chưa được đánh thuế. Nếu chi phí phát thải carbon vào khí quyển tăng
lên, tốc độ ngành công nghiệp triển khai công nghệ CCUS cũng sẽ tăng lên [19].
Một rào cản khác làm chậm sự phát triển của CCUS là nhận thức của công chúng
xung quanh sự an tồn của việc lưu trữ CO2 dưới lịng đất. Các cuộc biểu tình của người
dân, lo sợ nguy cơ tử vong do rị rỉ khí CO2, trong một số trường hợp đã dẫn đến việc
hủy bỏ dự án, như ở Barendrecht ở Hà Lan - nơi một dự án đã bị tạm dừng vào năm
2009 do các cuộc biểu tình của người dân. Ở Đức, việc lưu trữ trên bờ đã bị cấm kể từ
năm 2011 sau cuộc trưng cầu dân ý toàn quốc [18]. Tuy nhiên, nhiều nỗ lực nghiên cứu
và phát triển (R&D) đã được thực hiện để giảm thiểu rủi ro cho việc lưu trữ dưới lòng
đất.
7
CHƯƠNG 3: TIỀM NĂNG CỦA CÔNG NGHỆ CCUS ĐỐI VỚI NGÀNH
DẦU KHÍ TẠI VIỆT NAM
3.1 Tiềm năng đối với ngành dầu khí Việt Nam
Mặc dù công nghệ CCUS chưa được tập trung phát triển tại Việt Nam, tuy nhiên,
Tập đồn Dầu khí Việt Nam (PVN) đã có một số dự án nghiên cứu, thử nghiệm liên
quan đến triển khai công nghệ CCUS. Nghiên cứu tiềm năng nhất thực hiện CCUS ở
Việt Nam là dự án do Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) tài trợ được thực hiện bởi
Viện Năng lượng và Viện Dầu khí Việt Nam (từ 2010 - 2012).
Theo số liệu cập nhật, tổng lưu trữ lý thuyết ước tính cho các tầng chứa nước
khống hóa (saline aquifers), các mỏ dầu khí và tăng cường thu hồi khí mê-tan (ECBM)
ở tầng than là khoảng 12 gigaton (Gt) CO2. Trong đó, các tầng chứa nước khống hóa
có tiềm năng lớn nhất khoảng hơn 10 Gt [20]. Đối tượng tầng chứa nước khống hóa
mặc dù có tiềm năng lưu trữ CO2 cao hơn các mỏ dầu khí, nhưng hiện chưa có nhiều
nghiên cứu, đánh giá, cũng như thơng tin về các dự án CCS/CCUS trong đối tượng này
trên thế giới.
Hình 3.1: Xếp hạng các mỏ dầu khí theo khả năng và mức độ phù hợp lưu trữ CO2
[20]
8
Hình 3.2: Vịng trịn bán kính 150 km và 300 km xung quanh các nguồn phát thải CO2
ở miền Trung và Nam Việt Nam [20]
9
Tổng cộng có 34 mỏ dầu khí ở ngồi khơi Việt Nam đã được đánh giá tiềm năng
lưu trữ CO2. Nếu chỉ xét đến các mỏ có tiềm năng lưu trữ lớn hơn 10 triệu tấn CO2, thì
khả năng lưu trữ hiệu quả của các mỏ dầu khí ở bốn trầm tích đang có mỏ khai thác của
Việt Nam (Cửu Long, Mã Lai - Thổ Chu, Nam Côn Sơn, Sông Hồng) là 1,15 Gt CO2,
với mỏ lớn nhất là hơn 300 triệu tấn CO2 [21]. Khả năng lưu trữ này sẽ khả dụng khi
các mỏ cạn kiệt, hoặc khi thực hiện gia tăng thu hồi dầu (CO2 - EOR). Các mỏ dầu và
khí đốt là những lựa chọn lưu trữ hàng đầu vì khả năng giúp bù đắp chi phí lưu trữ khi
sản lượng dầu và khí đốt tăng lên.
Tiềm năng nhất có lẽ ở khu vực miền Nam. Các mỏ dầu và khí có triển vọng nhất
nằm trong bể Cửu Long, cách nhiều nguồn phát thải CO2 trong vịng 150 km. Các địa
điểm có khả năng lưu trữ tốt nhất ở bể Cửu Long là các mỏ: Bạch Hổ, Sư Tử Đen, Rạng
Đông, Cá Ngừ Vàng, Sư Tử Vàng, Sư Tử Trắng, Rồng.
Riêng khu vực miền Trung, một số khu công nghiệp lớn như ở Dung Quất (Quảng
Ngãi), hiện ExxonMobil cùng các đối tác đang phát triển mỏ khí Cá Voi Xanh ngoài
khơi. Nghiên cứu, đánh giá để triển khai CCS/CCUS cũng như tiềm năng sử dụng CO2
để sản xuất phân đạm, nhiên liệu tổng hợp, hóa chất, vật liệu ở miền Trung cần được
tiếp tục.
Ngồi ra, PVN là ngành có thế mạnh sử dụng, tái chế CO2 như: Sử dụng CO2
cho nâng cao thu hồi dầu, sản xuất phân đạm, nhiên liệu tổng hợp, hóa chất, vật liệu...
Các mỏ dầu khí của PVN sắp cạn kiện có thể tận dụng làm các cơ sở lưu trữ, chơn lấp
CO2, đồng thời PVN có thể tận dụng các hạ tầng đường ống thu gom hiện tại để vận
chuyển CO2.
Thêm vào đó, cơng nghệ bơm ép CO2 vào tầng chứa, vận chuyển CO2 bằng tàu
thủy đều là thế mạnh của PVN. Các kỹ thuật, cơng nghệ tìm kiếm các đối tượng địa
chất để lưu trữ CO2 (tầng chứa khoáng hóa, than,…) tương tự như cơng tác tìm kiếm
thăm dị dầu khí. Các giải pháp/chương trình giảm thiểu, thích ứng với biến đổi khí hậu
đã, đang được được xây dựng là một trong các mục tiêu cần được thực hiện trong Chiến
lược phát triển của PVN.
10
3.2 Thúc đẩy phát triển CCUS trong ngành dầu khí Việt Nam
Để thúc đẩy phát triển công nghệ thu giữ, sử dụng và lưu trữ CO2 cần thiết cập
nhật các nghiên cứu đánh giá tiềm năng lưu trữ địa chất CO2 của các mỏ dầu khí khi
khai thác cạn kiệt; mở rộng nghiên cứu đánh giá tiềm năng lưu trữ địa chất CO2 trên
lãnh thổ Việt Nam, bao gồm cả các đối tượng địa chất khác như các bể chứa than (ở
Quảng Ninh, Thái Nguyên...), các bể trầm tích trên đất liền (An Châu, Tú Lệ…), các
tầng chứa nước khống hóa.
Đối với công nghệ CO2 - EOR, PVN cần cập nhật các nghiên cứu, đánh giá, triển
khai bơm ép CO2 để tăng cường thu hồi dầu ở các mỏ dầu đã được khai thác gần cạn
kiệt để tăng sản lượng nhất là các mỏ ở bể Cửu Long như: Bạch Hổ, Rạng Đông, Sư Tử
Đen, Sư Tử Vàng.
Bên cạnh đó, PVN cần tăng cường nghiên cứu, đánh giá tiềm năng sử dụng CO2
để sản xuất phân đạm, hóa chất, nhiên liệu tổng hợp để gia tăng chuỗi giá trị dầu khí,
đặc biệt đối với các dự án có nguồn khí với hàm lượng CO2 tương đối cao như: Cá Voi
Xanh, Kim Long - Ác Quỷ - Cá Voi, Kèn Bầu, A15, Sư Tử Biển... Nghiên cứu, đánh
giá khả năng tận dụng cơ sở hạ tầng đường ống thu gom khí để vận chuyển lưu trữ CO2.
PVN cũng cần tập trung đánh giá tác động việc áp dụng giá CO2/triển khai lắp đặt
hệ thống thu hồi, lưu trữ CO2 đối với các nhà máy, cơng trình, hoạt động sản xuất, kinh
doanh. Đồng thời, xem xét bổ sung tiêu chí bảo vệ mơi trường, chi phí phát thải CO2
vào nội dung đánh giá các dự án đầu tư của PVN (bao gồm cả các dự án trong lĩnh vực
thăm dị, khai thác dầu khí).
Về phía các bộ, ngành, cần tập trung xây dựng chính sách chung, khung pháp lý
nhằm ứng phó với biến đổi khí hậu, trong đó có chính sách hỗ trợ phát triển CCUS.
Liên quan trực tiếp đến CCUS, cần xây dựng bản đồ lưu trữ CO2 trên toàn bộ lãnh
thổ Việt Nam; khuyến khích, tài trợ cơng tác nghiên cứu, phát triển cơng nghệ CCUS
nói chung và CCUS trong thăm dị, khai thác dầu khí nói riêng; mở rộng hợp tác với
các tổ chức quốc tế, đặc biệt, tìm kiếm/tiếp cận với các chương trình hỗ trợ của các tổ
chức nước ngồi thơng qua tài trợ các dự án nghiên cứu, triển khai và đào tạo về CCUS.
11
KẾT LUẬN
Việt Nam là một quốc gia có nhu cầu lớn về năng lượng và hiện đang phụ thuộc
chủ yếu vào các nguồn năng lượng hóa thạch, đặc biệt là dầu mỏ và than đá. Tuy nhiên,
việc sử dụng các nguồn năng lượng này đang gây ra những tác động tiêu cực đến môi
trường, đặc biệt là vấn đề về khí thải. Trước những thách thức về biến đổi khí hậu và
tác động tiêu cực của năng lượng hóa thạch, cơng nghệ thu hồi, sử dụng và lưu trữ
carbon (CCUS) đã được xem là một giải pháp tiềm năng để giảm thiểu lượng khí thải
và giảm tác động của ngành dầu khí đến mơi trường
Từ các nghiên cứu và thực tiễn trên thế giới, có thể thấy rõ tiềm năng của công
nghệ thu hồi, sử dụng và lưu trữ carbon (CCUS) đối với ngành dầu khí tại Việt Nam.
Việc áp dụng công nghệ này sẽ đem lại một số lợi ích như: giảm lượng khí thải CO2 ra
mơi trường, giúp giảm hiệu ứng nhà kính và giảm ơ nhiễm khơng khí; tận dụng lại CO2
để tăng cường hiệu quả sản xuất và giảm chi phí cho ngành dầu khí. Ngồi ra, cơng
nghệ này cịn mở ra cơ hội cho Việt Nam để phát triển các ngành công nghiệp mới và
tạo ra việc làm trong lĩnh vực năng lượng sạch.
Tuy nhiên, công nghệ vẫn còn một số điểm hạn chế như: cần đầu tư kinh phí lớn
để triển khai và vận hành để triển khai thành công; việc lưu trữ CO2 dưới đất có thể gây
ra các vấn đề về an tồn và môi trường; không giải quyết được nguyên nhân gốc rễ của
vấn đề thay đổi khí hậu, mà chỉ là giải pháp tạm thời. Do đó, để phát triển tốt cần có sự
hợp tác giữa các doanh nghiệp trong ngành dầu khí, các tổ chức nghiên cứu và chính
phủ. Ngồi ra, cần đưa ra các chính sách và quy định phù hợp để đảm bảo an toàn và
hiệu quả của việc sử dụng công nghệ CCUS. Song, việc đầu tư và phát triển công nghệ
CCUS là cần thiết và mang lại nhiều lợi ích cho ngành dầu khí và mơi trường tại Việt
Nam.
12
DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 1.1: Sơ đồ cơng nghệ CCUS................................................................................ 2
Hình 1.2: Các phương pháp tách và thu hồi CO2 .........................................................3
Hình 1.3: Sơ đồ thực hiện EOR bằng bơm ép nước - khí CO2 ln phiên ...................4
Hình 2.1: Các hệ thống CCUS thương mại trên thế giới (tính đến tháng 9/2022)........5
Hình 3.1: Xếp hạng các mỏ dầu khí theo khả năng và mức độ phù hợp lưu trữ CO2 ..8
Hình 3.2: Vịng trịn bán kính 150 km và 300 km xung quanh các nguồn phát thải CO2
ở miền Trung và Nam Việt Nam ...................................................................................9
13
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] World Population Review (2020), CO₂ Emissions by Country, truy cập từ:
truy
cập ngày 25/03/2023.
[2] MT (2020), Đến năm 2030 Việt Nam sẽ giảm 9% tổng lượng phát thải khí nhà kính,
truy cập từ: />phat-thai-khi-nha-kinh-102279094.htm, truy cập ngày 25/03/2023.
[3] Nguyễn Anh Đức (2023), Thu giữ, lưu trữ, sử dụng CO2 trong hoạt động dầu khí
[kỳ 1]: Tiềm năng trong khai thác dầu khí, truy cập từ:
/>ky-1-tiem-nang-trong-khai-thac-dau-khi-30329.html, truy cập ngày 26/03/2023.
[4] IEA Report (2020), Energy Technology Perspectives 2020: Special Report on
Carbon Capture Utilisation and Storage: CCUS in clean energy transitions, truy cập
từ: />
0bb1889d96a9/CCUS%20_in_clean_energy_transitions.pdf, truy cập ngày
26/03/2023.
[5] Bheru Lal Salvi & Sudhakar Jindal (2019), Recent developments and challenges
ahead in carbon capture and sequestration technologies, truy cập từ:
/>2#:~:text=The%20post%2Dcombustion%20CCUS%20technology,needed%20for%20
transport%20and%20storage, truy cập ngày 26/03/2023.
[6] Guido Magneschi và cộng sự (2022), Carbon Capture and Storage - an effective
tool to speed up decarbonization of industry, truy cập từ:
truy cập
ngày 26/03/2023.
[7] Andrei và cộng sự (2010), Enhanced Oil Recovery with CO2 Capture and
Sequestration, truy cập từ: truy cập
ngày 28/03/2023.
14
[8] Melzer Consulting (2010), Optimization of CO2 storage in CO2 enhanced oil
recovery projects, truy cập từ: />government/uploads/system/uploads/attachment_data/file/47992/1006-optimization-
of-co2-storage-in-co2-enhanced-oil-re.pdf, truy cập ngày 28/03/2023.
[9] IEA (2009), Technology Roadmap: Carbon Capture and Storage 2009, truy cập từ:
/>7d18cc9c1880/CCUSRoadmap2009.pdf, truy cập ngày 30/03/2023.
[10] Nguyễn Anh Đức (2023), Thu giữ, lưu trữ, sử dụng CO2 trong hoạt động dầu khí
[kỳ 2]: Kinh nghiệm quốc tế, truy cập từ: />su-dung-co2-trong-hoat-dong-dau-khi-ky-2-kinh-nghiem-quoc-te-30347.html, truy cập
ngày 30/03/2023.
[11] TS. Phùng Quốc Huy (2023), Nút thắt cản trở triển khai công nghệ thu giữ, lưu trữ
CO2 tại một số nước Đông Nam Á, truy cập từ: />can-tro-trien-khai-cong-nghe-thu-giu-luu-tru-co2-tai-mot-so-nuoc-dong-nam-a-
30249.html, truy cập ngày 30/03/2023.
[12] Global CCUS Institute (2020), The Global Status of CCUS 2020: Targeting
Climate Change, truy cập từ: balCCUSinstitute. com/resources/global-
status-report, truy cập ngày 30/03/2023.
[13] ExxonMobil (2020), Carbon capture and storage, truy cập từ:
/>storage/CCS-Infographic.pdf, truy cập ngày 31/03/2023.
[14] Global CCS Institute (2021), Global Status of CCS 2021: CCUS Accelerating to
Net Zero, truy cập từ: />content/uploads/2021/10/2021-Global-Status-of-CCS-
Report_Global_CCS_Institute.pdf, truy cập ngày 31/03/2023.
[15] Eni report (2021), Eni for 2020 - Carbon neutrality by 2050, truy cập từ:
/>neutrality-by-2050.pdf, truy cập ngày 31/03/2023.
15
[16] Royal Ductch Shell Plc report (2021), Shell energy transition strategy 2021, truy
cập từ: />
meetings/_jcr_content/par/expandablelist_copy/expandablesection_11.stream/161840
7326759/7c3d5b317351891d2383b3e9f1e511997e516639/shell-energy-transition-
strategy-2021.pdf, truy cập ngày 31/03/2023.
[17] TotalEnergies report (2021), Our 2030 targets towards carbon neutrality in 2050,
truy cập từ: />TotalEnergies_Climate_Targets_2030_EN.pdf, truy cập ngày 31/03/2023.
[18] Repsol press release (2021), Repsol increases its targets for renewable generation
and emission reductions, truy cập từ: />corporate/en_gb/sala-de-prensa/documentos-sala-de-prensa/pr05102021-repsol-
increases-its-targets-for-renewable-generation-and-emission-reductions.pdf, truy cập
ngày 31/03/2023.
[19] Khắc Nam (2022), Tổng quan công nghệ thu giữ, lưu trữ CO2 và những rào cản
triển khai, truy cập từ : />tru-co2-va-nhung-rao-can-trien-khai-29002.html, truy cập ngày 01/04/2023
[20] ADB (2013), Prospects for Carbon Capture and Storage in Southeast Asia, truy
cập từ: />storage-southeast-asia.pdf, truy cập ngày 02/04/2023.
[21] Nguyễn Anh Đức (2023), Thu giữ, lưu trữ, sử dụng CO2 trong hoạt động dầu khí
[kỳ cuối]: Giaỉ pháp cho Việt Nam, truy cập từ: />luu-tru-su-dung-co2-trong-hoat-dong-dau-khi-ky-cuoi-giai-phap-cho-viet-nam-
30352.html, truy cập ngày 02/04/2023.
16