ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
TRẦN THỊ MINH CHÂU
HÁT VÍ CỦA NGƢỜI SÁN CHAY Ở KHE MO,
ĐỒNG HỶ, THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HỌC
VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
THÁI NGUYÊN - 2021
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
TRẦN THỊ MINH CHÂU
HÁT VÍ CỦA NGƢỜI SÁN CHAY Ở KHE MO,
ĐỒNG HỶ, THÁI NGUYÊN
Ngành: Văn học Việt Nam
Mã ngành: 8 22 01 21
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HỌC
VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Dƣơng Nguyệt Vân
THÁI NGUYÊN - 2021
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là cơng trình nghiên cứu của riêng tơi. Các số
liệu nêu trong luận văn là trung thực. Những kết luận khoa học trong luận
văn chƣa cơng bố trong các cơng trình khác. Nếu sai, tơi xin hồn tồn chịu
trách nhiệm.
Thái Nguyên, tháng 12 năm 2021
Tác giả luận văn
Trần Thị Minh Châu
i
LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lịng biết ơn tới cơ giáo hƣớng dẫn là TS. Dƣơng
Nguyệt Vân đã tận tình hƣớng dẫn, tạo điều kiện cho em trong suốt quá
trình thực hiện luận văn.
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo khoa Ngữ Văn, bộ môn
Văn học Việt Nam, cán bộ khoa Sau đại học trƣờng Đại học Sƣ phạm Thái
Nguyên đã tạo điều kiện cho em trong quá trình học tập.
Tôi xin đƣợc cảm ơn sự giúp đỡ và ủng hộ của gia đình, bạn bè, đồng
nghiệp đã động viên để tơi có thể hồn thành luận văn.
Luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế, tơi rất mong
nhận đƣợc ý kiến đóng góp, nhận xét của các thầy cơ và bạn bè để tơi có thể
hồn thiện luận văn.
Thái Nguyên, tháng 12 năm 2021
Tác giả luận văn
Trần Thị Minh Châu
ii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ..................................................................................................... i
LỜI CẢM ƠN .......................................................................................................... ii
MỤC LỤC............................................................................................................... iii
MỞ ĐẦU ..................................................................................................................1
1. Tính cấp thiết của đề tài ........................................................................................1
2. Lịch sử vấn đề .......................................................................................................2
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu.........................................................................7
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ........................................................................7
5. Phƣơng pháp nghiên cứu.......................................................................................8
6. Đóng góp của luận văn..........................................................................................9
7. Cấu trúc luận văn ................................................................................................10
NỘI DUNG ............................................................................................................11
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN
CỨU ........................................................................................................................11
1.1.Khái quát về tự nhiên, văn hóa, xã hội ở Khe Mo, Đồng Hỷ, Thái Nguyên ....11
1.1.1. Điều kiện tự nhiên .........................................................................................11
1.1.2. Đặc điểm lịch sử............................................................................................12
1.1.3. Đời sống văn hóa của ngƣời Sán Chay ở Khe Mo, Đồng Hỷ, Thái Nguyên........13
1.2. Diện mạo hát Ví ở Khe Mo, Đồng Hỷ, Thái Nguyên ......................................19
1.2.1. Khái niệm ......................................................................................................19
1.2.2. Nguồn gốc và q trình phát triển.................................................................20
1.2.3. Phân loại........................................................................................................23
1.3. Thực trạng hát Ví của ngƣời Sán Chay ở Khe Mo, Đồng Hỷ, Thái Nguyên.......24
1.3.1. Trong đời sống cộng đồng ............................................................................24
1.3.2. Trong môi trƣờng giáo dục ...........................................................................26
1.4. Đề xuất biện pháp bảo tồn hát Ví của ngƣời Sán Chay trong mơi trƣờng
đa văn hóa ở Đồng Hỷ, Thái Nguyên .....................................................................30
1.4.1. Hoạt động giáo dục ở trƣờng phổ thông .......................................................30
iii
1.4.2. Hoạt động trong cộng đồng...........................................................................31
TIỂU KẾT CHƢƠNG 1..........................................................................................34
Chƣơng 2: HÁT VÍ - BỨC TRANH ĐỜI SỐNG CỦA NGƢỜI SÁN
CHAY Ở KHE MO, ĐỒNG HỶ, THÁI NGUYÊN ...........................................35
2.1. Tín ngƣỡng của ngƣời Sán Chay ở Khe Mo, Đồng Hỷ, Thái
Nguyên qua hát Ví ................................................................................................35
2.1.1. Tín ngƣỡng trong gia đình ............................................................................35
2.1.2. Tín ngƣỡng trong cộng đồng làng bản ..........................................................38
2.2. Phong tục của ngƣời Sán Chay ở Khe Mo, Đồng Hỷ, Thái Nguyên qua
hát Ví.......................................................................................................................42
2.2.1. Phong tục cƣới hỏi ........................................................................................43
2.2.2. Phong tục mừng nhà mới ..............................................................................48
2.2.3. Phong tục mừng năm mới .............................................................................50
2.3. Đời sống sinh hoạt của ngƣời Sán Chay ở Khe Mo, Đồng Hỷ, Thái
Nguyên qua hát Ví .................................................................................................52
2.3.1. Đời sống sinh hoạt vật chất ...........................................................................52
2.3.2. Đời sống sinh hoạt tinh thần .........................................................................54
2.4. Đời sống lao động sản xuất của ngƣời Sán Chay ở Khe Mo, Đồng Hỷ,
Thái Nguyên qua hát Ví ..........................................................................................56
2.5. Văn hóa ứng xử của ngƣời Sán Chay ở Khe Mo, Đồng Hỷ, Thái
Nguyên qua hát Ví .................................................................................................58
2.6. Tình u đơi lứa của ngƣời Sán Chay ở Khe Mo, Đồng Hỷ, Thái
Nguyên qua hát Ví ..................................................................................................62
TIỂU KẾT CHƢƠNG 2..........................................................................................66
Chƣơng 3: NGHỆ THUẬT HÁT VÍ TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA
CỦA NGƢỜI SÁN CHAY Ở KHE MO, ĐỒNG HỶ, THÁI NGUYÊN........67
3.1. Nghệ thuật lời ca ..............................................................................................67
3.1.1. Ngôn ngữ.......................................................................................................67
3.1.2. Thể thơ ..........................................................................................................73
3.1.3. Kết cấu ..........................................................................................................75
iv
3.1.4. Vần và nhịp ...................................................................................................79
3.1.5. Các biện pháp tu từ .......................................................................................84
3.2. Nghệ thuật diễn xƣớng .....................................................................................90
3.2.1. Thời gian diễn xƣớng ....................................................................................90
3.2.2. Không gian diễn xƣớng.................................................................................93
3.2.3. Cách thức tổ chức diễn xƣớng ......................................................................95
TIỂU KẾT ...............................................................................................................97
KẾT LUẬN ............................................................................................................98
TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................................................100
PHỤ LỤC
v
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
1.1. Việt Nam với 54 dân tộc thì có tới 53 dân tộc thiểu số, mỗi dân tộc lại có
ngơn ngữ, văn hóa, phong tục và tập qn riêng. Điều này đã tạo nên sự phong phú và
đa dạng cho nền văn hóa Việt. Vùng miền nào của đất nƣớc Việt Nam cũng có dân ca
với những làn điệu đặc trƣng. Dân ca của mỗi vùng miền, mỗi dân tộc khơng chỉ đậm
đà chất thơ, chất nhạc mà cịn thể hiện một cách tự nhiên, chân thành, tình cảm của
ngƣời dân lao động cũng nhƣ phong tục, tập quán và mang theo hồn cốt của mỗi tộc
ngƣời. Nói đến dân tộc Kinh ngƣời ta nghĩ ngay đến những làn điệu dân ca Quan họ
đằm thắm, mƣợt mà của các liền anh liền chị vùng Kinh Bắc; với dân tộc Tày ngƣời
ta nói tới hát Then; dân tộc Nùng với hát Sli, hát Lƣợn; ngƣời Sán Dìu với hát Sọng
Cơ…. Cịn khi nói tới dân tộc Sán Chay ngƣời ta nói tới hát Ví hay cịn gọi là hát
Sấng cọ, hát Xình ca, đó là những giai điệu ngọt ngào say đắm lòng ngƣời.
Hát Ví của ngƣời Sán Chay là một loại dân ca trữ tình đã có từ lâu đời, đƣợc
viết theo thể thất ngơn, là tiếng nói về đời sống vật chất và tinh thần, tình cảm, phong
tục, tập quán của ngƣời dân lao động, đƣợc lƣu truyền qua các thế hệ bằng con đƣờng
truyền miệng hoặc ghi chép bằng chữ Hán cổ. Khi hát Ví, ngƣời Sán Chay sử dụng
tiếng của dân tộc mình, kết hợp với trang phục truyền thống giúp ngƣời xem, ngƣời
nghe thấy đƣợc sự độc đáo, hấp dẫn cũng nhƣ cái hay, cái đẹp của làn điệu dân ca này.
1.2. Sự phát triển không ngừng của xã hội hiện đại nói chung và sự giao thoa
giữa các nền văn hóa nói riêng đã khiến cho những làn điệu hát Ví của dân tộc Sán
Chay ngày càng bị mai một. Nghiên cứu về hát Ví của dân tộc Sán Chay đã có một số
cơng trình nghiên cứu với nhiều tên gọi khác nhau nhƣ “Sình Ca Cao Lan” “Xịnh Ca
Cao Lan” “ Hát ví Lưu Tam”… Các cơng trình nghiên cứu này đã đề cập đến các
phƣơng diện khác nhau của hát Ví nhƣ: ngơn ngữ, diễn xƣớng, nội dung, nghệ thuật
biểu hiện…Nhƣng việc đi sâu tìm hiểu về hát Ví của ngƣời Sán Chay một cách cụ
thể, chi tiết và có hệ thống thì vẫn cịn là một vấn đề còn bỏ ngỏ.
Việc gìn giữ, bảo tồn và phát huy giá trị hát Ví của ngƣời Sán Chay nói chung
cũng nhƣ hát Ví của dân tộc Sán Chay ở Khe Mo, Đồng Hỷ, Thái Nguyên nói riêng
vẫn chƣa đƣợc quan tâm đúng mực, nhất là việc sƣu tầm, dịch thuật cũng nhƣ đi sâu
tìm hiểu về thực trạng, nguồn gốc, nội dung, nghệ thuật. Xuất phát từ những vấn đề
đó, cùng với việc nhằm khơi phục, phát huy những giá trị văn hóa tinh thần của dân
1
tộc để góp phần xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc thì việc
nghiên cứu hát Ví của dân tộc Sán Chay ở Khe Mo, Đồng Hỷ, Thái Nguyên là một
việc làm cần thiết.
1.3. Xã Khe Mo, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên là nơi có tới 95% dân
số dân tộc Sán Chay sinh sống. Một vùng quê với đời sống văn hóa phong phú,
nhiều phong tục tập qn đặc sắc. Hát Ví là một hình thức sinh hoạt văn hóa đặc
trƣng của dân tộc Sán Chay. Trong cuộc sống hàng ngày, hát Ví đã trở thành món
ăn tinh thần khơng thể thiếu của ngƣời dân nơi đây. Ngƣời Sán Chay đã hát Ví
bằng cả “trái tim” của tình yêu và niềm đam mê của mình. Bản thân tôi rất tự hào
là ngƣời con của dân tộc Sán Chay, đƣợc sinh ra và lớn lên trên mảnh đất Khe Mo,
Đồng Hỷ giàu truyền thống văn hóa; cùng với tình yêu với văn học dân gian và sự
tiếp xúc với hát Ví của dân tộc Sán Chay, chúng tơi mong muốn tìm hiểu, đi sâu
nghiên cứu và giới thiệu một cách có hệ thống về hát Ví - loại hình văn nghệ dân
gian đặc sắc của quê hƣơng mình.
1.4. Trong chƣơng trình Ngữ văn ở các trƣờng phổ thơng hiện nay, văn học địa
phƣơng chiếm khoảng 20% nội dung chƣơng trình. Trong đó, nội dung các bài học
chủ yếu tập trung ở các thể loại nhƣ truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện cƣời, truyện
ngụ ngơn, tục ngữ, ca dao….Dân ca và cụ thể là hát Ví vẫn chƣa đƣợc xếp vào nội
dung dạy học trong chƣơng trình văn học địa phƣơng ở tỉnh Thái Nguyên nói chung
và ở xã Khe Mo huyện Đồng Hỷ nói riêng. Hát Ví của dân tộc Sán Chay do vậy rất
cần đƣợc thế hệ trẻ hơm nay và mai sau biết đến, tham gia gìn giữ, bảo tồn và phát
huy để góp phần gìn giữ những giá trị văn hóa bản địa, thúc đẩy văn hóa địa phƣơng
phát triển.
Với những lí do trên, chúng tơi mạnh dạn chọn đề tài Hát Ví của người Sán
Chay ở Khe Mo, Đồng Hỷ, Thái Nguyên làm đề tài nghiên cứu cho luận văn của
mình. Hi vọng, với đề tài này chúng tôi sẽ giúp bạn đọc hiểu rõ hơn về hát Ví của dân
tộc Sán Chay, đóng góp nguồn tài liệu tham khảo cho giáo viên khi dạy phần văn học
địa phƣơng tại tỉnh Thái Nguyên nói chung, huyện Đồng Hỷ nói riêng.
2. Lịch sử vấn đề
Trong những năm gần đây, công việc sƣu tầm, nghiên cứu văn học dân gian
các dân tộc thiểu số nói chung đƣợc các nhà nghiên cứu đặc biệt quan tâm và đã
mang lại nhiều thành tựu đáng kể. Với thể loại dân ca, đã một số cơng trình sƣu tầm,
biên soạn, những cuốn chun khảo, bài báo, những luận án, luận văn, khóa luận tốt
2
nghiệp quan tâm và nghiên cứu về thể loại này. Đáng chú ý phải kể đến các cơng
trình sƣu tầm sau đây:
Tác giả Phƣơng Bằng đã sƣu tầm đƣợc 500 câu hát in trong cuốn Dân ca Cao
Lan (1981). Đây có lẽ là cơng trình sƣu tầm đầu tiên một cách có quy mô về dân ca
của dân tộc Cao Lan. Tiếp sau đó, vào năm 2006, tác giả Ngơ Văn Trụ đã sƣu tầm và
biên soạn đƣợc 1000 câu hát in trong cuốn Dân ca Cao Lan. Có thể thấy, đây cũng là
cơng trình sƣu tầm có quy mơ lớn, rất phong phú về dân ca Cao Lan.
Cuốn Dân ca các dân tộc Pu Péo, Sán Dìu, Dao, Lơ Lơ, Cao Lan (2012), của
Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam bao gồm những bài nghiên cứu, giới thiệu và sƣu
tầm về dân ca các dân tộc Pu Péo, Sán Dìu, Dao, Lơ Lơ, Cao Lan. Khác với các cuốn
trƣớc đó, chỉ tập trung vào cơng tác sƣu tầm, trong cơng trình này, bên cạnh cơng tác
sƣu tầm, nhóm tác giả cũng đã giới thiệu, công bố bài nghiên cứu về dân ca của một
số dân tộc thiểu số trong đó có dân ca Cao Lan (một nhánh của tộc ngƣời Sán Chay).
Nhà thơ Lâm Quý đã sƣu tầm và dịch thơ toàn bộ đêm hát thứ nhất với 226
câu hát in trong cuốn Xịnh ca Cao Lan - Đêm hát thứ nhất (2003), các lời ca đƣợc
phân chia theo tiến trình của một đêm hát nhƣ: hát mở đầu, hát vào bản, du hƣơng ca,
hát về gà gáy, hát chúc phụng chủ nhà. Mở đầu cuốn sách, nhà xuất bản giới thiệu:
“Xịnh ca Cao Lan - Đêm hát thứ nhất - tiếng Cao Lan gọi là “Slơi ca hùm tời dắt” là
một tác phẩm thơ ca dân gian cổ của dân tộc Cao Lan được ghi chép bằng chữ Hán
Nôm Cao Lan và lưu truyền trong đồng bào từ nhiều đời nay. Nội dung tập sách phản
ánh cuộc sống xã hội Cao Lan xưa, thể hiện tâm hồn tình cảm của họ trước cảnh đẹp
thiên nhiên, tình u lứa đơi thơng qua hình thức hát đối đáp giao duyên nam nữ, với
những lời thơ ca ví von tình tứ, cơ đọng dễ hiểu. Đồng thời, đây cũng là một tập sử ca
kể về cuộc di cư lịch sử của tộc người Cao Lan từ Trung Quốc sang Việt Nam cách
đây khoảng 350 - 400 năm” [24; tr.5].
Nhƣ vậy, từ tài liệu sƣu tầm, biên soạn các nhà nghiên cứu đã xác định đƣợc
số lƣợng câu hát, kết cấu đêm hát và nội dung mỗi đêm hát. Tác giả Ngô Văn Trụ
trong cuốn Dân ca Cao Lan (2006) cịn bƣớc đầu phân tích đƣợc bối cảnh diễn ra
đêm hát, giai điệu lời hát và ý nghĩa một số câu hát.
Bên cạnh đó là các cơng trình nghiên cứu về hát Ví Sán Chay nhƣ cuốn Dân
tộc Sán Chay ở Việt Nam (2011), tác giả Khổng Diễn - Trần Bình (đồng chủ biên)
ngồi tìm hiểu dân tộc Sán Chay về điều kiện tự nhiên, đời sống kinh tế, xã hội, tác
3
giả cịn đặc biệt tìm hiểu về đời sống văn hóa vật chất và tinh thần của dân tộc Sán
Chay. Nói về văn hóa tinh thần, tác giả đã đề cập đến làn điệu dân ca truyền miệng
của dân tộc Sán Chay đặc biệt là một số bài hát đối đáp giao duyên của thanh niên
nam nữ có nội dung phong phú và đa dạng.
Nói về ngơn ngữ trong hát Ví, tác giả Lâm Quý trong cuốn Văn hóa Cao Lan
(2003), nhận định: “thứ tiếng cổ dùng trong cúng bái và hát Ví thuộc ngữ hệ Hán -
Tạng , thổ ngữ Quảng Đông - Trung Quốc” [25; tr.166]. Nhƣ vậy, trong công trình
này tác giả đã nhận định rất cụ thể về ngơn ngữ trong các bài cúng bái và hát Ví của
ngƣời Sán Chay.
Trong cuốn Dân ca Cao Lan ở Bắc Giang (2010), tác giả Ngô Văn Trụ đã giới
thiệu về hoạt động sản xuất kinh tế, văn hóa vật thể, văn hóa phi vật thể của ngƣời
Cao Lan ở Bắc Giang. Đồng thời, tác giả giới thiệu chung về dân ca Cao Lan và dân
ca Cao Lan ở Bắc Giang. Tác giả giới thiệu các loại Sịnh ca còn đƣợc bảo lƣu ở Bắc
Giang hiện nay là Sịnh ca Thsăn lèn (hát năm mới), Sịnh ca Thsao bạo (hát giao
duyên), Sịnh ca tò tàn (hát đố). Tác giả đƣa ra kết luận “Hát dân ca của dân tộc Cao
Lan ở tỉnh Bắc Giang là một kho tàng di sản văn hóa vơ cùng phong phú, đa dạng và
có giá trị cao về nghệ thuật …Sịnh ca Cao Lan không hề bị lệ luật ràng buộc văn hóa
chặt chẽ, cũng khơng hề bị thuộc vào không gian thời gian” [29; tr.137]. Phần cuối,
tác giả giới thiệu những bài dân ca Cao Lan đã đƣợc sƣu tầm ở Bắc Giang.
Ngồi ra, khi nghiên cứu hát Ví của ngƣời Sán Chay, chúng tơi cịn có điều
kiện tiếp cận với một số luận văn, luận án liên quan tới vấn đề này. Có thể kể đến một
số cơng trình sau:
Trong Luận văn tốt nghiệp Khảo sát đặc điểm Xình ca dân tộc Cao Lan ở
Tuyên Quang, tác giả Phạm Thị Kim Dung (2005) đã nêu lên vai trị, vị trí của Xình
ca trong đời sống tinh thần cộng đồng của dân tộc Cao Lan. Đồng thời, tác giả đã tìm
hiểu và giới thiệu Xình ca ở các phƣơng diện: diễn xƣớng, nội dung và nghệ thuật.
Trong luận văn này, tác giả đã phân tích và rút ra kết luận về đặc sắc nghệ thuật biểu
hiện của Xình ca nhƣ thể thơ thất ngôn tứ tuyệt, ngôn ngữ, kết cấu, biểu tƣợng nghệ
thuật và các thủ pháp tu từ.
Luận văn Thạc sĩ Ngôn từ nghệ thuật trong Xình ca Cao Lan của tác giả Triệu
Thị Linh năm 2008, tác giả đã tìm hiểu và khảo sát đặc điểm ngơn từ nghệ thuật trong
Xình ca Cao Lan và rút ra kết luận về vai trị của ngơn từ trong Xình ca: “Ngơn từ
4
trong Xình ca khơng chỉ là hình thức là chất liệu nghệ thuật mà còn là tâm huyết và
tài năng của rất nhiều nghệ sĩ dân gian Cao Lan trong trau chuốt, sáng tạo không
ngừng đối với tiếng mẹ đẻ” [17; tr.102]. Đồng thời, trong luận văn này tác giả cũng
đề cập đến những đặc trƣng của ngôn ngữ trong Xình ca nhƣ tính cách điệu hóa, cách
gieo vần, các đặc điểm cú pháp nhƣ phép đối, phép lặp.
Luận văn tốt nghiệp Xình ca của dân tộc Cao Lan ở Yên Sơn, Tuyên Quang và
Võ Nhai, Thái Nguyên, tác giả Hoàng Thị Lan Hƣơng (2013) đã so sánh Xình ca ở hai
địa phƣơng này để tìm ra những điểm tƣơng đồng và khác biệt của Xình ca ở các
phƣơng diện: diễn xƣớng, nội dung, nghệ thuật và vấn đề bảo tồn Xình ca. Về mặt
nội dung của Xình ca Cao Lan tác giả kết luận: “Chúng ta có thể thấy điểm chung
trong nội dung của Xình ca ở hai miền quê này là sự phản ánh chân thực cuộc sống
lao động, nét bình dị, mộc mạc của ruộng đồng, nương rẫy và trong tình u thì con
người ta có thể sống chết vì nhau, cùng nhau hướng tới một cuộc sống hạnh phúc. Họ
khơng chỉ biết chịu khó, chăm chỉ làm ăn mà còn biết yêu thương nồng hậu và sẵn
sàng đi tìm hạnh phúc của mình. Điều đó khiến yếu tố trữ tình là yếu tố nổi bật nhất
trong Xình ca Cao Lan” [9; tr.84].
Luận văn Thạc sĩ Hát Ví Lưu Tam của dân tộc Sán Chay ở Tức Tranh, Phú
Lương , Thái Nguyên của tác giả Nguyễn Thị Mai Quyên (2013) qua tìm hiểu và khảo
sát về hát Ví Lƣu Tam của dân tộc Sán Chay ở Tức Tranh, Phú Lƣơng, tác giả đã rút
ra kết luận: “Đây là một làn điệu dân ca đa dạng về lời hát, sinh động về nội dung và
phong phú về các dạng thức” [26; tr.96]. Về mặt nội dung hát Ví Lƣu Tam, tác giả
cũng đƣa ra kết luận: “Có thể nói hát Ví Lưu Tam thể hiện khá phong phú và đa dạng
đời sống vật chất cũng như tinh thần của đồng bào Sán Chay. Họ đã đem vào trong
lời ca, tiếng hát của mình những giá trị quý báu của cuộc sống để truyền lại cho thế
hệ sau” [26; tr.96,97]. Đồng thời, trong luận văn này, tác giả cịn chỉ ra hình thức
nghệ thuật của hát Ví Lƣu Tam và việc gìn giữ bảo tồn hát Ví Lƣu Tam ở Tức Tranh,
Phú Lƣơng, Thái Nguyên.
Trong cuốn luận văn Thạc sĩ Giá trị nội dung và nghệ thuật lời ca trong hát
đám cưới của người Sán Chỉ (2014), tác giả Ngơ Hƣơng Liên đã tìm hiểu, khảo sát
tiếng hát Sình ca trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên và rút ra kết luận về vai trò của Sình
ca, quá trình hát Sình ca và đặc điểm nghệ thuật của hát Sình ca trong nghi lễ đám
cƣới của ngƣời Sán Chỉ. Nói về q trình hát Sình ca trong nghi lễ đám cƣới của
5
ngƣời Sán Chỉ, tác giả kết luận: “Sình ca từ chặn quan lang, hát ở nhà gái, hát giao
duyên và hát ở nhà trai chứa đựng tri thức dân gian. Khơng bó buộc trong các nghi
thức Sình ca cịn là nơi họ hàng, anh em chúc mừng cô dâu, chú rể trong ngày trọng
đại qua đáp ứng với lời lẽ tự nhiên tình cảm chân thành. Đây là một trong những
phong tục đặc sắc, nơi tụ hội gắn kết của đồng bào” [18; tr.92].
Ngồi ra, chúng tơi cịn tìm hiểu qua một số bài viết trên các trang điện tử giới
thiệu về hát Ví Sán Chay nhƣ:
Trang , ngày 29/8/2017 có bài viết Bao giờ lời
Sấng cọ lại ngân nga?. Trong bài viết này, các tác giả đã giới thiệu hát Sấng cọ hay
còn gọi là hát ví Lƣu Tam là một làn điệu dân ca truyền thống, có từ đời cổ xƣa của
ngƣời Sán Chay. Nó gắn bó mật thiết với đời sống sinh hoạt, văn hóa tinh thần của
ngƣời Sán Chay, trải qua những năm tháng đấu tranh chống giặc ngoại xâm và phát
triển kinh tế thị trƣờng hát Sấng cọ của ngƣời Sán Chay dần bị chìm vào quên lãng.
Trƣớc thực trạng đó, bài viết đã đƣa ra những giải pháp nhằm bảo tồn, phát huy
những giá trị của hát Sấng cọ trong đời sống văn hóa của ngƣời Sán Chay hiện nay ở
xã Phú Thịnh huyện Đại Từ tỉnh Thái Nguyên [38].
Trang ngày 7/3/2018 với bài viết Lão nông mê Sấng
cọ. Nói về nỗi niềm trăn trở của ơng Lâm Cơng Bình, xã Phú Xuyên (Đại Từ) về việc
bảo tồn hát Ví Sán Chay. Gắn bó với Sấng cọ, nên nhiều năm qua, ơng Bình đã bỏ
nhiều cơng sức để lƣu giữ và đƣa lời ca đến với những ngƣời dân của mảnh đất Đại
Từ [39].
Trang với bài viết Mùa xuân ngân nga lời Sấng cọ
ngày 26/1/2019. Theo đó “Hát Sấng cọ hay cịn gọi là hát ví Lưu Tam, hát Xình ca
là một làn điệu dân ca truyền thống của dân tộc Sán Chay. Tùy mỗi địa phương, bà
con có cách gọi khác nhau, nhưng tựu chung lại, đây là lối hát đối đáp nam nữ với
những lời thơ thất ngôn trữ tình, giàu tình cảm. Sấng cọ mang tính giáo dục con
người sự lương thiện, kính già, yêu trẻ, bày tỏ những tâm tư, tình cảm, ước muốn
của bà con trong đời sống thường ngày, hay ca ngợi tình yêu con người qua những
câu hát” [40].
Nhƣ vậy, thực tế các cơng trình nghiên cứu trên đây chủ yếu là sƣu tầm
hoặc nghiên cứu một vài khía cạnh cụ thể nhƣ ngơn ngữ, nội dung, nghệ thuật hay
diễn xƣớng của dân ca Sán Chay. Hiện chƣa có cơng trình nghiên cứu chun sâu
6
nào về giá trị nội dung và nghệ thuật của hát Ví ở Khe Mo, Đồng Hỷ, Thái
Nguyên, đặc biệt là về công tác sƣu tầm và dịch thuật. Trên cơ sở kế thừa những
thành tựu của những cơng trình nghiên cứu này, chúng tơi chọn: Hát Ví của người
Sán Chay ở Khe Mo, Đồng Hỷ, Thái Nguyên làm vấn đề nghiên cứu cho luận văn
của mình. Hi vọng, đây sẽ là cơ hội để chúng tơi đi sâu tìm hiểu về giá trị nội dung
và nghệ thuật của hát Ví, giúp ngƣời đọc thấy đƣợc nét độc đáo, hấp dẫn, cái hay
cái đẹp của làn điệu dân ca này; đồng thời hƣớng tới lƣu giữ, bảo tồn giá trị văn
học, văn hóa truyền thống của dân tộc mình.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu của đề tài là hát Ví của ngƣời Sán Chay ở Khe Mo,
Đồng Hỷ, Thái Nguyên.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi địa bàn nghiên cứu: xã Khe Mo, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên -
nơi tập trung 95% dân số là ngƣời Sán Chay và cũng là nơi còn lƣu giữ số lƣợng lời
hát Ví khá phong phú.
Phạm vi tƣ liệu: Dựa trên những văn bản chúng tôi đã điền dã, sƣu tầm, khảo sát
và dịch thuật (843 lời hát Ví trong đời sống cộng đồng. Đặc biệt, trong số này, chúng tôi
đã dịch nghĩa đƣợc 185 lời ca từ tiếng dân tộc Sán Chay sang tiếng phổ thông).
Để lấy đối tƣợng so sánh, chúng tơi có sử dụng một số cơng trình đã xuất
bản nhƣ: Dân ca Cao Lan (1981) của tác giả Phƣơng Bằng, Dân ca Cao Lan
(2006) của tác giả Ngô Văn Trụ, Dân ca các dân tộc Pu Péo, Sán Dìu, Dao, Lô
Lô, Cao Lan (2012) của Hội văn nghệ dân gian Việt Nam, Xịnh ca Cao Lan - Đêm
hát thứ nhất (2003) của Lâm Quý.
Phạm vi vấn đề nghiên cứu: Nghiên cứu phƣơng diện nội dung và nghệ thuật
hát Ví của ngƣời Sán Chay ở Khe Mo, Đồng Hỷ, Thái Nguyên. Bƣớc đầu có sự so
sánh hình thức dân ca này với một số hình thức dân ca của một số dân tộc khác.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1. Mục đích nghiên cứu
- Tập hợp, hệ thống, đối chiếu tƣ liệu hát Ví của ngƣời Sán Chay ở xã Khe Mo
huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên trên các văn bản đã đƣợc công bố; đồng thời, điền
dã, khảo sát thêm một số tƣ liệu mới, quan sát thực địa, bối cảnh diễn xƣớng hát Ví.
7
- Tìm hiểu đặc điểm nội dung và nghệ thuật hát Ví của dân tộc Sán Chay ở xã
Khe Mo huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên. Từ đó, giới thiệu hệ thống các lời hát Ví
của dân tộc Sán Chay tới bạn đọc, góp phần khẳng định giá trị hát Ví của dân tộc Sán
Chay trong nền văn học, văn hóa dân gian dân tộc thiểu số.
- Chỉ ra đƣợc thực trạng hát Ví trong đời sống văn hóa của dân tộc Sán Chay ở
xã Khe Mo huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên.
- Đề xuất một số biện pháp góp phần gìn giữ, bảo tồn và giới thiệu những nét
đặc sắc của hát Ví. Trọng tâm là đƣa hát Ví của dân tộc Sán Chay vào giảng dạy
trong chƣơng trình văn học địa phƣơng nhƣ một nội dung chính thức tại xã Khe Mo
huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên.
4.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu một số vấn đề chung về tự nhiên, xã hội ở Khe Mo, Đồng Hỷ, Thái
Nguyên và đời sống văn hóa của ngƣời Sán Chay ở Khe Mo, Đồng Hỷ, Thái Nguyên.
- Tìm hiểu cơ sở lí thuyết của đề tài nhƣ: khái niệm, nguồn gốc, phân loại và
q trình phát triển hát Ví của ngƣời Sán Chay ở Khe Mo, Đồng Hỷ, Thái Nguyên.
- Điền dã, khảo sát, sƣu tầm, thống kê, phân loại các lời hát Ví của dân tộc Sán
Chay ở Khe Mo, Đồng Hỷ, Thái Nguyên.
- Thực hiện ghi âm, ghi hình, đối dịch, văn bản hóa tƣ liệu bằng chữ Latin.
- Phân tích những nét đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của các lời hát Ví của
dân tộc Sán Chay. Trong điều kiện có thể, chúng tôi sẽ so sánh đối chiếu với các bài
dân ca của các dân tộc khác để thấy đƣợc những nét tƣơng đồng cũng nhƣ nét riêng
biệt tạo nên sự độc đáo, đặc sắc của hát Ví Sán Chay.
- Bƣớc đầu chỉ ra mối quan hệ giữa hát Ví với đời sống văn hóa của ngƣời Sán
Chay ở Khe Mo, Đồng Hỷ, Thái Nguyên.
- Đề xuất biện pháp bảo tồn, đƣa hát Ví của dân tộc Sán Chay vào nội dung
giảng dạy chƣơng trình văn học địa phƣơng ở Khe Mo, Đồng Hỷ, Thái Nguyên.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để thực hiện đƣợc mục đích đặt ra, chúng tôi sử dụng phối hợp một số phƣơng
pháp nghiên cứu sau:
5.1. Phương pháp điền dã, sưu tầm
Chúng tôi sử dụng phƣơng pháp này để ghi chép, phỏng vấn, ghi âm, ghi hình,
thu thập về những lời hát Ví từ những nghệ nhân, những cụ cao niên trong làng bản
để nắm bắt thông tin, phục vụ cho đề tài nghiên cứu; từ đó tiến hành sƣu tầm các lời
8
hát Ví ở Khe Mo, Đồng Hỷ, Thái Nguyên. Đặc biệt, chúng tôi đã sử dụng thao tác
dịch nghĩa các lời hát Ví từ tiếng dân tộc Sán Chay sang tiếng phổ thông.
5.2. Phương pháp điều tra khảo sát
Chúng tôi sử dụng phƣơng pháp này để tiến hành khảo sát mức độ phổ biến
của hát Ví trong mơi trƣờng xã hội, mơi trƣờng giáo dục ở Khe Mo. Đồng Hỷ,
Thái Nguyên; từ đó, bƣớc đầu đánh giá đƣợc thực trạng hát Ví của ngƣời Sán
Chay hiện nay.
5.3. Phương pháp thống kê, phân loại
Trên cơ sở kết quả sƣu tầm, khảo sát, chúng tôi sử dụng phƣơng pháp này để
tiến hành thông kê, phân loại hát Ví của ngƣời Sán Chay theo những tiêu chí nhất
định; từ đó đƣa ra những kết luận khách quan về vấn đề nghiên cứu.
5.4. Phương pháp phân tich, tổng hợp
Chúng tôi sử dụng phƣơng pháp này để phân tích số liệu khảo sát, sƣu tầm;
phân tích nội dung, nghệ thuật để thấy đƣợc giá trị của hát Ví của ngƣời Sán Chay; từ
đó đƣa ra những nhận định, đánh giá về vấn đề nghiên cứu.
5.5. Phương pháp so sánh loại hình
Từ việc phân tích, lí giải hát Ví của ngƣời Sán Chay trên phƣơng diện nội
dung, nghệ thuật và sự vận động của nó trong khơng gian và thời gian, bƣớc đầu
chúng tơi cũng có sự so sánh hát Ví ở Khe Mo trong tƣơng quan chung với hát Sấng
cọ, hát Xình ca ở một số địa phƣơng khác; so sánh nghệ thuật diễn xƣớng của hát Ví
với một số hình thức diễn xƣớng dân gian khác.
5.6. Phương pháp liên ngành
Để có cái nhìn đa chiều về hát Ví của ngƣời Sán Chay ở Khe Mo, Đồng Hỷ,
Thái Nguyên, chúng tôi đã vận dụng những kiến thức về lịch sử, địa lí, văn hóa để có
thể lí giải, nhận định và đƣa ra đánh giá về hình thức dân ca này.
6. Đóng góp của luận văn
Đề tài Hát Ví của người Sán Chay ở Khe Mo, Đồng Hỷ, Thái Ngun là
cơng trình đem đến cái nhìn tổng quan về lịch sử hình thành và phát triển hát Ví của
ngƣời Sán Chay ở Khe Mo, Đồng Hỷ, Thái Nguyên.
- Thống kê, khảo sát một cách có hệ thống các lời hát Ví của ngƣời Sán Chay
ở Khe Mo, Đồng Hỷ, Thái Nguyên với tổng số 843 lời ca.
9
- Công bố 185 lời hát Ví đƣợc dịch nghĩa từ phiên âm tiếng dân tộc Sán Chay
sang tiếng phổ thông.
- Chỉ ra và phân tích nội dung, nghệ thuật trong các lời hát Ví; lí giải từ góc độ
văn hóa để thấy đƣợc mối quan hệ giữa văn học, văn hóa với đời sống của ngƣời Sán
Chay ở Khe Mo, Đồng Hỷ, Thái Nguyên.
- Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể sẽ là nguồn tƣ liệu cho việc nghiên
cứu và giảng dạy văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam nói chung và văn học dân
tộc thiểu số tỉnh Thái Nguyên nói riêng. Chúng tơi cũng mong muốn góp một phần
cơng sức nhỏ bé của mình vào việc bảo tồn, giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa
truyền thống của cộng đồng ngƣời Sán Chay ở Việt Nam.
7. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận
văn đƣợc triển khai trong 3 chƣơng:
Chƣơng 1: Cơ sở lí luận và tổng quan vấn đề nghiên cứu
Chƣơng 2: Hát Ví - bức tranh đời sống của ngƣời Sán Chay ở Khe Mo, Đồng
Hỷ,Thái Nguyên
Chƣơng 3: Nghệ thuật hát Ví trong đời sống văn hóa của ngƣời Sán Chay ở
Khe Mo, Đồng Hỷ,Thái Nguyên
10
NỘI DUNG
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Khe Mo là một xã miền núi thuộc huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên. Nơi đây
cũng là vùng đất ATK trong cuộc kháng chiến chống Pháp lịch sử của dân tộc. Đồng
thời, Khe Mo còn là một địa phƣơng với những giá trị văn hóa dân gian truyền thống
vơ cùng phong phú và đặc sắc. Đặc điểm tự nhiên ở địa phƣơng cũng nhƣ đời sống
văn hóa - xã hội của ngƣời Sán Chay đã góp phần tạo nên những câu Ví ngọt ngào
mà sâu lắng. Bởi vậy, việc tìm hiểu về đặc điểm tự nhiên ở địa phƣơng, đời sống văn
hóa - xã hội của ngƣời Sán Chay là điều cần thiết, bởi đó chính là nền tảng cho sự
hình thành những câu hát Ví cả về nội dung và nghệ thuật.
1.1. Khái quát về tự nhiên, văn hóa, xã hội ở Khe Mo, Đồng Hỷ, Thái Nguyên
1.1.1. Điều kiện tự nhiên
Xã Khe Mo nằm ở trung tâm huyện Đồng Hỷ, có tuyến tỉnh lộ 269 chạy qua
phần phía Tây Nam và có vị trí địa lí: Phía Đơng giáp xã Văn Hán, phía Tây giáp thị
trấn Sơng Cầu và các xã Hóa Thƣợng, Hóa Trung, phía Nam giáp thành phố Thái
Ngun và xã Nam Hịa, phía Bắc giáp huyện Võ Nhai và xã Quang Sơn. Xã Khe Mo
có diện tích 30,24 km², dân số năm 2020 là 8.236 ngƣời, mật độ dân số đạt 274
ngƣời/km².
Khe Mo là một xã miền núi nằm phía Đơng Bắc huyện Đồng Hỷ, diện tích đất
tự nhiên 3.016,78 ha. Tổng dân số trên địa bàn xã là 1.913 hộ, với 7.272 khẩu, chia
làm 13 xóm và có các dân tộc anh em cùng chung sống nhƣ: Kinh, Tày, Nùng, Sán
Chay, Sán Dìu…. Trong đó, dân tộc Kinh chiếm 50,0%, Tày 20,5%, Nùng 12,5%,
Sán Chay 9,0%, Sán Dìu 3,5%; cịn lại 4,5% là các dân tộc khác. Nhƣ vậy, dân tộc
Sán Chay đứng thứ tƣ sau các dân tộc Kinh, Tày, Nùng. Khe Mo gồm có 13 xóm là
Đèo Khế, Long Giàn, Khe Mo I, Khe Mo II, Làng Cháy, Tiền Phong, La Đƣờng, Ao
Rôm I, Ao Rôm II, Ao Đậu, Hải Hà, La Nƣa và La Dẫy.
Khe Mo là một xã có nguồn tài nguyên đất phong phú thích hợp cho phát triển
cây lâm nghiệp cũng nhƣ trồng cây lâu năm, với tổng diện tích đất nơng nghiệp chiếm
87,7% tổng diện tích đất tự nhiên của tồn xã. Do vậy, ngƣời Sán Chay trồng chủ yếu
là cây keo lai và các loại cây ăn quả nhƣ nhãn, vải, bƣởi, thanh long… Ngoài trồng cây
11
lúa và cây màu, hàng năm bà con ngƣời dân tộc Sán Chay ở Khe Mo cịn có một lợi thế
thổ nhƣỡng rất phù hợp với cây chè. Cây chè đƣợc gắn bó với địa phƣơng từ lâu đời,
sản phẩm chè đã đƣợc coi là nông sản chủ lực của địa phƣơng, trở thành nét đẹp văn
hóa xã hội của nhân dân trong xã nói chung và ngƣời dân tộc Sán Chay nói riêng.
Tuy nhiên, do địa hình chủ yếu là đồi núi, độ cao trung bình từ 300m đến
400m nên gây khó khăn cho việc đi lại. Sản xuất nơng nghiệp của ngƣời dân tộc Sán
Chay nơi đây cịn mang tính tự phát, chƣa mang tính tập trung để đáp ứng nhu cầu
của sản xuất hàng hóa, chƣa khai thác hết các tiềm năng lợi thế của địa phƣơng. Một
số xóm cịn gặp nhiều khó khăn về phong tục tập qn, nên phần nào còn gây ảnh
hƣởng đến phát triển sản xuất theo hƣớng hàng hóa. Định hƣớng quy hoạch các vùng
sản xuất tập trung còn hạn chế.
Ngƣời Sán Chay ở Khe Mo thƣờng định cƣ ở các chân đồi hay trên các đồi núi
thấp, gần các con sông, con suối, rải rác sau những cánh rừng. Trải qua nhiều thế kỉ,
các thế hệ ngƣời dân tộc Sán Chay ở xã Khe Mo đã nối tiếp nhau, đoàn kết cùng nhau
chống chọi lại những khó khăn, khắc nghiệt của điều kiện tự nhiên và thổ nhƣỡng để
xây dựng quê hƣơng ngày càng giàu đẹp. Từ trong cuộc sống lao động và sinh hoạt
đó, lời ca tiếng hát nhƣ một lẽ tự nhiên cất lên để xua đi những mệt mỏi, căng thẳng
lấy lại tinh thần phấn chấn, hăng say đồng thời cũng thể hiện những tâm tƣ, tình cảm
chất chứa của ngƣời Sán Chay. Hát Ví đã trở thành một món ăn tinh thần đặc sắc
không thể thiếu của ngƣời Sán Chay ở xã Khe Mo.
1.1.2. Đặc điểm lịch sử
Ngƣời Sán Chay ở xã Khe Mo gồm 2 dân tộc Cao Lan và Sán Chí, là một
trong số 54 dân tộc ở Việt Nam. Tiếng Cao Lan thuộc nhóm ngơn ngữ Tày - Thái
(ngữ hệ Thái - Ka Ðai) cịn tiếng Sán Chí thuộc nhóm ngôn ngữ Hán (ngữ hệ Hán
Tạng). Lịch sử của ngƣời Sán Chay ở Việt Nam nói chung và ngƣời Sán Chay ở xã
Khe Mo huyện Đồng Hỷ nói riêng là từ ngƣời Trung Quốc di cƣ sang cách đây
khoảng 400 năm. Ngƣời Sán Chay ở xã Khe Mo huyện Đồng Hỷ chủ yếu là dân bản
địa cƣ trú tại địa phƣơng từ lâu đời, số còn lại di cƣ từ các huyện lân cận nhƣ Đại Từ
và Phú Lƣơng sang. Trƣớc và trong Cách mạng tháng Tám năm 1945, ngƣời Sán
Chay cùng với các dân tộc khác ở xã Khe Mo đã tham gia tích cực vào cơng cuộc đấu
tranh giải phóng dân tộc, chống phát xít Nhật và đế quốc Pháp.
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 và nhất là trong cuộc kháng chiến chống
thực dân Pháp, hƣởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của Đảng và Nhà
12
nƣớc, ngƣời Sán Chay ở xã Khe Mo đã tham gia tích cực vào phong trào dân quân du
kích tại địa phƣơng và bộ đội chống Pháp. Tiếp nối truyền thống yêu nƣớc của cha
ông các thế hệ, ngƣời Sán Chay ở xã Khe Mo lại tiếp tục tham gia vào công cuộc
kháng chiến chống Mĩ cứu nƣớc. Những thanh niên dân tộc Sán Chay đã khốc ba lơ
lên đƣờng hăng hái tham gia chống Mĩ cứu nƣớc, những ngƣời ở lại địa phƣơng vừa
chiến đấu vừa sản xuất phục vụ kháng chiến. Từ sau kháng chiến chống Mĩ đến nay,
các thế hệ trẻ ngƣời dân tộc Sán Chay ở xã Khe Mo vẫn tiếp nối nhau tham gia rèn
luyện nghĩa vụ quân sự bảo vệ sự bình yên cho xóm làng và q hƣơng của mình.
1.1.3. Đời sống văn hóa của người Sán Chay ở Khe Mo, Đồng Hỷ, Thái Nguyên
1.1.3.1. Đời sống văn hóa vật chất
Về nhà cửa: Do đặc điểm canh tác nền nông nghiệp lúa nƣớc nên việc định cƣ
của ngƣời Sán Chay ở Khe Mo cũng rất ổn định và mang tính lâu dài. Ngƣời Sán
Chay xã Khe Mo thƣờng ở trong các ngôi nhà sàn. Thời xƣa, nhà sàn của ngƣời Sán
Chay thƣờng làm trên nền đất dốc các cột cao thấp khác nhau theo nền đất. Cột nhà
sàn thƣờng làm bằng gỗ, mái lợp bằng lá cọ hoặc lá danh, xung quanh nhà bƣng be
bằng liếp nứa hoặc tre, sàn nhà làm bằng cây mai hoặc cây tre, nghẹ đƣợc bổ nhỏ
thành những tấm liền nhau để lát sàn. Thƣờng mỗi ngơi nhà sàn có từ 16 đến 32 cột,
bộ khung nhà với vì kèo kết cấu đơn giản nhƣng rất vững chắc. Có hai kiểu nhà là:
"nhà trâu đực" và "nhà trâu cái". Nhà trâu cái vì kèo bốn cột. Nhà trâu đực vì kèo ba
cột. Cầu thang đƣợc bố trí ở phía trái nhà đằng trƣớc thấp hơn sàn nhà khoảng 20cm,
chân cầu thang thƣờng có một vại nƣớc để rửa chân tay trƣớc khi lên nhà, phía trên
cầu thang là cửa chính ra vào. Trong nhà có một dãy hành lang “veng sang” nhìn ra
phía trƣớc thƣờng có từ 3 đến 5 gian, trong đó một gian trong cùng để làm nơi thờ
Ngọc Hoàng “lồng cộc” và ở gian giữa trong nhà nhìn ra cửa chính là nơi để bàn thờ
tổ tiên. Cạnh bếp lửa là nơi thờ ma bếp và đối với những nhà có trẻ nhỏ cịn có thêm
bàn thờ mụ. Bếp lửa thƣờng đƣợc bố trí ở một góc nhà - đây là nơi ngƣời Sán Chay
thƣờng xuyên diễn xƣớng hát Ví quây quần bên ánh lửa bập bùng. Phía sau bếp lửa
thƣờng có một cửa phụ ra bên ngoài giàn, giàn này thƣờng để các chum nƣớc phục
vụ sinh hoạt hàng ngày. Ngoài giàn này ngƣời Sán Chay thƣờng bố trí một giàn nữa
để phơi nơng sản nhƣ thóc, ngơ, khoai, sắn…Phía dƣới gầm nhà sàn thƣờng để các
vật dụng sản xuất nhƣ cối xay thóc, cối giã gạo, cày, bừa, cuốc, xẻng…và nuôi gia
súc, gia cầm. Ngôi nhà sàn mộc mạc và giản dị của ngƣời Sán Chay ở Khe Mo không
13