Tải bản đầy đủ (.docx) (69 trang)

Các phương pháp đan xen trong IDMA

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (820.79 KB, 69 trang )

Đồ án tốt nghiệp đại học Mục lục
MỤC LỤC
Nguyễn Hà Giang – D06VT1 1
Đồ án tốt nghiệp đại học Thuật ngữ viết tắt
THUẬT NGỮ VIẾT TẮT
0-9
2G 2
d
Generation Thế hệ thứ hai
A
APP A Posteriori Probability Xác suất hậu nghiệm
AWGN Additive White Gaussian Noise Tạp âm Gauss trắng cộng
B
BER Bit Error Rate Tốc độ lỗi bit
BPSK Binary Phase Shift
Keying Modulation
Điều chế khoá chuyển pha nhị
phân
BS Base Station Trạm gốc
C
CBC Chip-By-Chip Chíp đến chip
CDMA Code Division Multiple Access Đa truy nhập phân chia theo

CRE Chip Reliability Estimator Bộ ước lượng chip tin cậy
D
DEC Decode Bộ giải mã
DES Despreader Bộ giải trải phổ
DS-CDMA Direct-Sequence CDMA Đa truy nhập phân chia theo
mã trải phổ chuỗi trực tiếp
D-AMPS Digital-Advance Mobile Phone
Service


Dịch vụ di động tiên tiến số
E
ESE Elementary signal estimator Bộ đánh giá tín hiệu thành
phần
Nguyễn Hà Giang – D06VT1 2
Đồ án tốt nghiệp đại học Thuật ngữ viết tắt
EGC Equal Gain Combining Kết hợp độ lợi cân bằng
F
FEC Forwarding Error Correction Bộ điều chỉnh lỗi chuyển tiếp
FDD Frequency Division Duplex Ghép song công theo tần số
FDMA Frequency Division Multiple
Access
Đa truy nhập phân chia theo
tần số
G
GSM Global System for Mobile
Communication
Hệ thống toàn cầu cho thông
tin di động
GF Galois Field Trường Galois
I
IDMA Interleave Division Multiple Access Đa truy nhập phân chia theo
đan xen
IEEE Institute of Electrical and
Electronics Engineers
Viện các nhà kỹ thuật điện và
điện tử
ISI Intersymbol Interference Nhiễu kí hiệu
L
LLR Log-Likelihood ratio Tỉ số log likelihood

LSB Least Significant Bit Bit có trọng số thấp nhất
M
MAC Media Access Control Điều khiển truy nhập Media
MAI Multiple Access Interference Nhiễu đa truy nhập
MC-CDMA Multi Carrier Code Division
Multiple Access
CDMA đa song mang
MLI Multilayer Interference Nhiễu đa lớp
MMSE Minimum Mean Square Error Cân bằng sai lệch vuông góc
Nguyễn Hà Giang – D06VT1 3
Đồ án tốt nghiệp đại học Thuật ngữ viết tắt
trung bình cực tiểu
MUD Multi-User Detector Bộ tách đa người sử dụng
MS Mobile Station Trạm di động
MSB Most Significant Bit Bit có trọng số lớn nhất
MRC Maximum Ratio Combining Kết hợp tỉ lệ tối đa
O
OFDMA Orthogonal Frequency Division
Multiple Access
Đa truy nhập phân chia theo
tần số trực giao
p
PEG Progressive Edge Growth Gia tăng biên dần dần
PN Pseudo Noise Giả tạp âm
S
SC-IDMA Single-Carrier Interleave Division
Multiple Access
IDMA đơn sóng mang
SDMA Space Division Multiple Access Đa truy nhập phân chia theo
không gian

SF Spreading Factor Thừa số trải phổ
T
TDD Time Division Duplex Ghép song công theo thời gian
TDMA Time Division Multiple Access Đa truy nhập phân chia theo
thời gian
U
UE User Equipment Thiết bị người sử dụng
UTRA Universal Terrestrial Radio Access Truy nhập vô tuyến phổ biến
trên mặt đất
Nguyễn Hà Giang – D06VT1 4
Đồ án tốt nghiệp đại học Danh mục hình vẽ bảng biểu
DANH MỤC HÌNH VẼ BẢNG BIỂU
Hình 1.1: Phương pháp phân kênh FDMA, TDMA và CDMA
Hình 1.2: Tín hiệu DS-CDMA
Hình 1.3: Mô hình hệ thống MC-CDMA gồm K người sử dụng.
Hình 1.4: a) Tín hiệu MC-CDMA trước kênh
b) Tín hiệu MC-CDMA sau kênh……………………………… 11
Hình 1.5: So sánh OFDMA và FDMA
Hình 2.1: Hệ thống IDMA qua kênh AWGN
Hình 2.2: Hệ thống IDMA không nhiễu
Hình 2.3 : Thanh ghi dịch hồi tiếp tuyến tính cho x
6
+ x + 1
Hình 2.4: Xây dựng đan xen dựa trên chuỗi PN. П(5) = 4, П(8) = 9
Hình 2.5: Cấu trúc máy phát của hệ thống IDMA với K người sử dụng đồng thời
Hình 2.6: Cấu trúc máy thu của hệ thống IDMA với K người sử dụng đồng thời
Hình 3.1: Kết quả mô phỏng với 32 và 63 người dùng
Hình 3.2: Kết quả mô phỏng với 96, 110 và 120 ng ư ời dùng
Hình 3.3: Cấu trúc máy phát và máy thu của hệ thống IDMA với K người sử dụng
đồng thời, trong đó πk là bộ đan xen cho người sử dụng k.

Hình 3.4: So sánh các hệ thống IDMA không mã hóa trong các kênh AWGN đơn
đường, sử dụng hai loại đan xen.
Hình 3.5: So sánh các hệ thống IDMA mã hóa chập trong các kênh AWGN, sử
dụng hai loại đan xen.
Hình 3.6. Bộ tạo chuỗi PN khi y = 1 + x + x
4
Hình 3.7: Bảng quả trình cập nhật c
k
Hình 3.8: Kết quả mô phỏng với 16, 28 người sử dụng.
Hình 3.9: Kết quả mô phỏng với 16 người sử dụng
Hình 3.10: Kết quả mô phỏng với 28 người sử dụng.
Nguyễn Hà Giang – D06VT1 5
Đồ án tốt nghiệp đại học Lời mở đầu
LỜI MỞ ĐẦU
Trong xã hội hiện đại ngày nay, nhu cầu trao đổi thông tin là một nhu cầu
thiết yếu. Các hệ thống thông tin di động ra đời tạo cho con người khả năng thông
tin mọi lúc, mọi nơi. Trước nhu cầu ngày càng lớn về thông tin liên lạc nói chung
và thông tin di động nói riêng, việc nghiên cứu áp dụng các công nghệ tiên tiến
cũng như tìm kiếm các giải pháp mới nhằm nâng cao về chất lượng-dung lượng
cũng như các loại hình dịch vụ thông tin liên lạc có ý nghĩa hết sức quan trọng và
thiết thực. Sau các phương thức đa truy nhập thông tin di động truyền thống như :
đa truy nhập phân chia theo tần số (FDMA), đa truy nhập phân chia theo thời gian
(TDMA), đa truy nhập phân chia theo mã (CDMA), đa truy nhập phân chia theo
không gian (SDMA),… thì đa truy nhập phân chia theo đan xen (IDMA) là một kỹ
thuật đa truy nhập còn nhiều mới mẻ trong những năm gần đây nhưng đã có những
hứa hẹn là một công nghệ cho tương lai, một công nghệ mà với những nghiên cứu
hiện tại thì có nhiều ưu điểm nổi trội hơn so với các công nghệ đang phổ biến. Ý
tưởng chính cho kỹ thuật đa truy nhập này là kỹ thuật đan xen, quá trình phát triển
các phương pháp tạo đan xen khác nhau trong IDMA đã quyết định việc tạo ra các
hệ thống IDMA khác nhau.

Trên cơ sở kết luận nghiên cứu của các nhà khoa học trên thế giới trong việc
đưa ra các kỹ thuật đan xen như Li Ping đưa ra đan xen ngẫu nhiên, Hao Wu đưa ra
đan xen lũy thừa, Pupeza đưa ra đan xen trực giao, đan xen giả ngẫu nhiên,…đồ án
này cũng xin trình bày về một vấn đề cốt lõi đối với các hệ thống IDMA, đó chính
là: Các phương pháp đan xen trong IDMA. Đồ án được trình bày trong 3 chương :
 Chương I: Tổng quan về các kỹ thuật đa truy nhập : hệ thống lại các
kỹ thuật đa truy nhập đã có, và khái niệm về kỹ thuật đa truy nhập
theo đan xen.
 Chương II: Kỹ thuật đa truy nhập theo đan xen IDMA. Chương này
trình bày các nội dung cơ sở xây dựng các kỹ thuật đan xen.
Nguyễn Hà Giang – D06VT1 6
Đồ án tốt nghiệp đại học Lời mở đầu
 Chương III: Các phương pháp đan xen. Đây là nội dung chính của đồ
án, trình bày các kỹ thuật đan xen đang được nghiên cứu trên thế giới
như đan xen trực giao, đan xen giả ngẫu nhiên, đan xen dịch,…
Em xin gửi lời cảm ơn đặc biệt tới cô giáo Dương Thanh Tú, người đã cho
em những định hướng và giúp đỡ cụ thể nhất trong việc hoàn thiện đồ án này. Rất
mong có được những ý kiến đánh giá và hoàn thiện hơn từ các thầy cô và các bạn.
Em xin trân trọng cảm ơn !!
Hà Nội, ngày 4-12-2010
Người thực hiện
Nguyễn Hà Giang
Nguyễn Hà Giang – D06VT1 7
Đồ án tốt nghiệp đại học Chương I: Tổng quan về các kỹ thuật đa truy
nhập
CHƯƠNG I:
TỔNG QUAN VỀ CÁC KỸ THUẬT ĐA TRUY NHẬP
1.1 CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐA TRUY NHẬP CƠ BẢN
1.1.1 Các kỹ thuật đa truy nhập FDMA, TDMA, CDMA và SDMA
Trong bất kỳ hệ thống thông tin vô tuyến nào, dải băng tần được cho phép sử

dụng là luôn bị giới hạn. Vì vậy, việc chia sẻ kênh truyền để nhiều người sử dụng
có thể sử dụng đồng thời là một nhu cầu cấp thiết. Tùy thuộc vào việc sử dụng tài
nguyên vô tuyến để phân bổ cho các người sử dụng mà công nghệ này được phân
chia thành:
− Kỹ thuật đa truy nhập phân chia theo tần số FDMA.
− Kỹ thuật đa truy nhập phân chia theo thời gian TDMA.
− Kỹ thuật đa truy nhập phân chia theo mă CDMA.
− Kỹ thuật đa truy nhập phân chia theo không gian SDMA.
Hình 1.1: Phương pháp phân kênh FDMA, TDMA và CDMA
1.1.1.1 Kỹ thuật đa truy nhập theo tần số, FDMA
FDMA (Frequency Division Multiple Access) là phương thức đa truy nhập
mà trong đó mỗi kênh được cấp phát một tần số cố định. Độ rộng băng tần cấp phát
cho hệ thống B/n MHz được chia thành n băng tần con, mỗi băng tần con được ấn
định cho một kênh riêng có độ rộng băng tần là B/n MHz. Các máy vô tuyến đầu
cuối phát liên tục một số sóng mang đồng thời trên các tần số khác nhau. Máy thu
đường xuống hoặc đường lên chọn sóng mang cần thiết theo tần số phù hợp.
Nguyễn Hà Giang – D06VT1 8
Đồ án tốt nghiệp đại học Chương I: Tổng quan về các kỹ thuật đa truy
nhập
Để đảm bảo thông tin song công tín hiệu phát thu của một máy thuê bao phải được
phát ở hai tần số khác nhau hay ở một tần số nhưng khoảng thời gian phát thu khác
nhau.
• Phương pháp thứ nhất gọi là ghép song công theo tần số
(FDMA/FDD, FDD-Frequency Division Duplex).Trong phương pháp
này băng tần dành cho hệ thống chia thành hai nửa: một nửa thấp
(Lower Half Band) và một nửa cao (Upper Half Band). Mỗi nửa băng
tần được bố trí tần số cho các kênh. Mỗi cặp tần số được sử dụng cho
máy phát và máy thu của cùng một kênh gọi là cặp tần số thu phát hay
song công.
• Phương pháp thứ hai gọi là ghép song công theo thời gian

(FDMA/TDD, TDD-Time Division Duplex). Phương pháp này cả máy
thu và máy phát có thể sử dụng chung tần số (nhưng phân chia theo
thời gian), khi này băng tần chỉ là một và mỗi kênh có thể chọn một
tần số bất kỳ trong băng tần.
Để tăng hiệu suất sử dụng tần số có thể sử dụng FDMA kết hợp với ghép
song công theo thời gian, khi đó một máy thu phát chỉ sử dụng một tần số và thời
gian thu phát luân phiên.
Ưu điểm:
• Băng thông của mỗi kênh là tương đối hẹp nên hạn chế được fading lọc tần
số.
• Các tính toán cho hệ thống sử dụng FDMA khá đơn giản.
• Việc đồng bộ là tương đối đơn giản.
Nhược điểm:
• Mỗi người sử dụng chỉ được cấp cho một khoảng tần số nhất định nên tốc độ
bit tối đa trên một kênh là cố định và do đó, hệ thống FDMA không thích
hợp với truyền dẫn số.
• Cần phải có khoảng băng tần bảo vệ để giảm thiểu nhiễu xuyên kênh và để có
thể sử dụng bộ lọc lấy khoảng tần số mong muốn.
• Cần bộ lọc băng hẹp tốt.
Nguyễn Hà Giang – D06VT1 9
Đồ án tốt nghiệp đại học Chương I: Tổng quan về các kỹ thuật đa truy
nhập
1.1.1.2 Kỹ thuật đa truy nhập phân chia theo thời gian, TDMA
TDMA (Time Division Multiple Access) là kỹ thuật truyền sóng kỹ thuật số,
cho phép nhiều người dùng truy nhập vào cùng một kênh tần số mà không bị kẹt
bằng cách định vị những rãnh thời gian duy nhất cho mỗi người dùng trong mỗi
kênh. Điều này cho phép các trạm đầu cuối dùng chung môi trường truyền dẫn
(thường là môi trường vô tuyến) trong khi chỉ sử dụng phần băng thông của nó.
TDMA thường được sử dụng trong các hệ thống thông tin di động 2G như GSM,
D-AMPS (IS-136), PDC… hay các hệ thống thông tin vệ tinh.

TDMA là một kiểu ghép kênh phân chia theo thời gian.
1. Nguyên lý TDMA: máy thu thu lần lượt các sóng mang cùng tần số theo thời gian
và phân tách chúng bằng cách mở cổng lần lượt theo thời gian thậm chí ngay cả khi
các sóng mang này chiếm cùng một băng tần số.
Trong hệ thống thông tin di động có hai phương thức truy nhập trong TDMA:
TDMA/FDD và TDMA/TDD
• TDMA/FDD: sử dụng cặp tần số song công sử dụng cho phía thu và phía
phát. Đường lên bao gồm các tín hiệu đa truy nhập theo thời gian (TDMA)
được phát đi từ các máy đầu cuối đến trạm gốc, còn ở đường xuống là tín
hiệu ghép kênh theo thời gian (TDM) được phát từ trạm gốc cho các máy
đầu cuối.
• TDMA/TDD: đường lên và đường xuống sử dụng chung một tần số, tuy
nhiên để phân chia đường phát và đường thu các khe thời gian phát và thu
được phát đi ở các khoảng thời gian khác nhau.
Ưu điểm của kỹ thuật đa truy nhập phân chia theo tần số là thiết bị trạm gốc
đơn giản, cho phép tiết kiệm tần số và thiết bị thu phát hơn FDMA. Tuy nhiên ở
nhiều hệ thống nếu chỉ sử dụng một cặp tần số thì không đủ đảm bảo dung lượng
của mạng. Vì thế TDMA thường được sử dụng kết hợp với FDMA cho các mạng
đòi hỏi dung lượng cao.Nhược điểm của TDMA là đòi hỏi đồng bộ tốt và thiết bị
phức tạ hơn FDMA khi cần truyền dẫn cao, ngoài ra đòi hỏi xử lý số phức tạp nên
xảy ra hiện tượng hồi âm.
Nguyễn Hà Giang – D06VT1 10
Đồ án tốt nghiệp đại học Chương I: Tổng quan về các kỹ thuật đa truy
nhập
1.1.1.3 Kỹ thuật đa truy nhập phân chia theo mã, CDMA
CDMA (Code Division Multiple Access) là phương thức đa truy nhập mà ở
đó mỗi kênh được cung cấp một cặp tần số và một mã duy nhất. Phương thức này
dựa trên nguyên lý trải phổ, có ba phương pháp trải phổ:
 Trải phổ theo chuỗi trực tiếp (DS: Direct Sequency).
 Trải phổ theo nhảy tần (FH: Frequency Hopping).

 Trải phổ theo nhảy thời gian (TH: Time Hopping).
Máy thu đồng thời các sóng mang cùng tần số và phân tách chúng bằng cách
giải mã các sóng mang này theo mã mà chúng được phát. Do mỗi kênh hay nguồn
phát có một mã riêng nên máy thu có thể phân biệt được sóng mang thậm chí tất cả
các sóng mang đồng thời chiếm một tần số. Mã phân biệt kênh hay nguồn phát
thường được thực hiện bằng các mã giả tạp âm. Việc sử dụng các mã này dẫn đến
sự mở rộng đáng kể phổ tần của sóng mang so với phổ mà nó có thể có khi chỉ
được điều chế bởi thông tin hữu ích. Đây cũng là lý do mà CDMA còn được gọi là
đa truy nhập trải phổ.
• CDMA/FDD.
Hệ thống CDMA/FDD làm việc ở 2 băng tần với hai sóng mang: một cho
đường lên và một cho đường xuống. Trên mỗi cặp sóng mang này có thể đồng thời
M người sử dụng truy nhập vào mạng trên cơ sở được trải phổ bằng M chuỗi trực
giao khác nhau. Mỗi cặp sóng mang này được gọi là một kênh CDMA.
• CDMA/TDD
Khác với FDD phải sử dụng cặp sóng mang, TDD chỉ sử dụng một sóng
mang cho truyền dẫn song công.
Ưu điểm của CDMA so với FDMA và TDMA
• Cho dung lượng cao hơn.
• Khả năng chống nhiễu và fading tốt hơn.
• Bảo mật thông tin tốt hơn.
• Dễ dàng áp dụng cho các hệ thống đòi hỏi cung cấp linh hoạt dung lượng
kênh cho từng người sử dụng.
Nguyễn Hà Giang – D06VT1 11
Đồ án tốt nghiệp đại học Chương I: Tổng quan về các kỹ thuật đa truy
nhập
• Cho phép chuyển giao lưu lượng mềm giữa các vùng phủ sóng nhờ vậy
không xảy ra mất thông tin khi thực hiện chuyển giao.
• Vì có thể sử dụng chung tần số cho nhiều người sử dụng nên quy hoạch mạng
cũng đơn giản hơn.

Tuy nhiên CDMA cũng không tránh khỏi một số nhược điểm sau:
• Đồng bộ phức tạp hơn. Ngoài đồng bộ định thời còn phải thực hiện đồng bộ
mã.
• Cần nhiều mạch điện xử lý số hơn.
• Mạng chỉ cho hiệu suất sử dụng cao khi nhiều người cùng sử dụng chung một
tần số.
1.1.1.4 Kỹ thuật đa truy nhập phân chia theo không gian, SDMA
Năng lượng sóng mang của các kênh hay các nguồn phát khác nhau được
phân bố hợp lý trong không gian để chúng không gây nhiễu cho nhau. Vì các kênh
hay các nguồn phát chỉ sử dụng không gian được quy định trước nên máy thu có
thể thu được sóng mang của nguồn phát cần thu thậm chí khi tất cả các sóng mang
khác đồng thời phát và phát trong cùng một băng tần.
SDMA (Space Division Multiple Access) được sử dụng ở tất cả các hệ thống
thông tin vô tuyến tổ ong. Các hệ thống thông tin vô tuyến tổ ong cho phép đa truy
nhập đến một kênh vô tuyến chung (hay tập các kênh ) trên cơ sở ô. Yếu tố hạn chế
đối với kiểu SDMA này là hệ thống tái sử dụng tần số.Các người sử dụng này phải
đủ cách xa để giảm thiểu ảnh hưởng của nhiễu đồng kênh. Tập các tần số trong
cùng một ô có thể được lặp lại ở các ô khác trong hệ thống nếu đảm bảo đủ khoảng
cách giữa các ô sử dụng cùng tần số để ngăn chặn nhiễu giao thoa đồng kênh.
Hiện nay có một số mô hình hệ thống tổ ong SDMA: ô mini, ô micro, ô phân
đoạn, ô dù che và các anten thông minh.
• Ô micro được phủ sóng bởi các trạm gốc có công suất rất thấp ở các vùng mật
độ lưu lượng cao trong hệ thống.
• Ô dù phủ là các ô rất lớn được thiết kế để gánh đỡ tải cho các ô micro.
Nguyễn Hà Giang – D06VT1 12
Đồ án tốt nghiệp đại học Chương I: Tổng quan về các kỹ thuật đa truy
nhập
• Các ô phân đoạn là các ô được phủ sóng bởi các đoạn ô 120
o
hoặc 60

o
bằng
các anten có tính hướng nhờ vậy tăng dung lượng hệ thống
• Các anten thông minh là các phát kiến mới nhất cho hệ thống thông tin tổ ong
vô tuyến. Các anten này tạo ra các búp sóng khá hẹp nhờ vậy tăng đáng kể
vùng phủ sóng và dung lượng hệ thống.
SDMA thường được sử dụng như là một kỹ thuật đa truy nhập bổ sung cho
ba kỹ thuật đa truy nhập: FDMA, TDMA, CDMA để tăng dung lượng cho các
mạng thông tin đa truy nhập vô tuyến sử dụng các kỹ thuật này.
1.1.2 Các kỹ thuật đa truy nhập lai ghép
1.1.2.1Đa truy nhập phân chia theo mã chuỗi trực tiếp, DS-CDMA
DS-CDMA dựa vào việc trải phổ dòng dữ liệu bằng cách sử dụng một mã trải
phổ được ấn định cho mỗi người sử dụng trong miền thời gian. DS-CDMA được
dùng để chống lại fading phẳng. Tín hiệu sẽ được trải phổ rộng hơn băng tần kết
hợp, được tạo ra bằng cách nhân mỗi ký hiệu dữ liệu với một chuỗi nhị phân, điều
này sẽ làm tăng độ rộng băng tần của tín hiệu. Do đó nếu như hệ số trải phổ đủ lớn
thì tín hiệu sẽ chịu ảnh hưởng của fading lựa chọn tần số và không thể xảy ra việc
toàn bộ tín hiệu mất dần trên trục tần số.
Hình 1.2: Tín hiệu DS-CDMA
Trong quá trình tạo ra tín hiệu này thì độ phân giải theo thời gian của máy thu
tăng theo hệ số trải phổ N và tín hiệu dễ bị ảnh hưởng hơn đối với nhiễu liên chip
(Inter-chip Interference). Loại nhiễu này sinh ra do thiết kế phức tạp của máy thu
và vấn đề đồng bộ phải gửi kèm tăng theo số đường dẫn có thể giải quyết được. Để
khắc phục được vấn đề này người ta dùng máy thu RAKE. Máy thu RAKE bao
gồm nhiều nhánh máy thu mà mỗi máy thu này sẽ đồng bộ theo thời gian với một
đường dẫn có thể giải quyết được. Nếu rất nhỏ so với thì số lượng các nhánh máy
thu (cũng là số đường dẫn có thể giải quyết được) trong máy thu RAKE sẽ rất lớn.
Nguyễn Hà Giang – D06VT1 13
Đồ án tốt nghiệp đại học Chương I: Tổng quan về các kỹ thuật đa truy
nhập

Để đạt được tính phân tập tần số với hệ thống DS-CDMA ở môi trường nào
đó thì cần có hệ số trải phổ rất lớn.
Khả năng giảm thiểu nhiễu đa truy nhập (Multiple Access Interference) dựa
vào tính tương quan chéo của mã trải phổ. Trong trường hợp truyền đa đường đòi
hỏi rất khắt khe của viễn thông di động, khả năng phân biệt một tín hiệu thành phần
từ nhiều thành phần khác trong tín hiệu thu tổng hợp được cung cấp bởi tính tự
tương quan của mã trải phổ. Hoạt động của DS-CDMA sẽ phụ thuộc nhiều vào số
lượng người sử dụng thực tế, đặc trưng của kênh và số lượng các nhánh được dùng
trong máy thu RAKE.
1.1.2.2 CDMA đa sóng mang, MC-CDMA
MC-CDMA dựa vào sự kết hợp chặt chẽ giữa trải phổ chuỗi trực tiếp và kỹ
thuật điều chế đa sóng mang. Luồng dữ liệu trải phổ DS tốc độ cao có độ lợi xử lý
(Processing Gain) được điều chế đa sóng mang theo cách sau: Các chip của các ký
hiệu dữ liệu trải phổ được truyền song song và các ký hiệu này được truyền đồng
thời trên mỗi sóng mang con. Cũng như đối với DS-CDMA, một người sử dụng có
thể chiếm giữ toàn bộ dải tần để truyền dẫn một ký hiệu dữ liệu đơn lẻ. Sự phân
tách tín hiệu người sử dụng được thực hiện ở khối mã.
Mỗi ký hiệu dữ liệu được sao chép trên các luồng con trước khi nhân nó với
chip của mã trải phổ được ấn định cho một người sử dụng cụ thể. Điều này cho
thấy hệ thống MC-CDMA trải phổ trên miền tần số và do đó nó có tính linh hoạt
cao hơn so với DS-CDMA. Sự sắp xếp các chip ở miền tần số cho phép dò tìm tín
hiệu dễ dàng. Khái niệm MC-CDMA được đưa ra cùng với OFDM để tối ưu việc
sử dụng dải tần sẵn có. Hoạt động của hệ thống MC-CDMA bao gồm có khoảng
thời gian bảo vệ giữa các ký hiệu OFDM liền kề để chống lại nhiễu liên ký hiệu ISI
hoặc thừa nhận thời gian tồn tại của ký hiệu lớn hơn đáng kể so với sự phân tán
thời gian trong kênh. Số lượng các sóng mang con được lựa chọn đủ lớn để đảm
bảo không có fading lựa chọn tần số trong mỗi kênh con.
Nguyễn Hà Giang – D06VT1 14
Đồ án tốt nghiệp đại học Chương I: Tổng quan về các kỹ thuật đa truy
nhập

Hình 1.3: Mô hình hệ thống MC-CDMA gồm K người sử dụng.
Ứng dụng của mã trực giao ví dụ như mã Walsh-Hadamard là để đồng bộ hệ
thống (ví dụ như đối với kênh đường xuống của hệ thống tổ ong), để đảm bảo loại
bỏ nhiễu MAI (Multiple Access Interference) trong kênh lý tưởng và để giảm thiểu
nhiễu MAI trong kênh thực tế. Đối với việc dò tìm tín hiệu, có thể áp dụng các kỹ
thuật dò tìm người sử dụng đơn lẻ như kết hợp tỉ lệ tối đa MRC (Maximum Ratio
Combining), kết hợp độ lợi cân bằng EGC (Equal Gain Combining), zero forcing
(ZF) hoặc cân bằng sai lệch vuông góc trung bình cực tiểu MMSE (Minimum
Mean Square Error) cùng với các kỹ thuật dò tìm nhiều người sử dụng như khử
nhiễu IC (Interference Cancellation)…
Multi-carier CDMA là một kỹ thuật điều chế số, trong đó những ký tự dữ
liệu đơn lẻ được biến đổi thành nhiều sóng mang con băng hẹp, mỗi sóng mang con
được mã hoá với pha là 0 hoặc tuỳ theo mã trải phổ. Những sóng mang con băng
hẹp được tạo ra bằng cách dùng tín hiệu điều biến BPSK (Binary Phase Shift
Keying), mỗi sóng mang con ở một tần số khác nhau, và các tần số này trong băng
cơ sở là các tần số điều hoà. Vì vậy mỗi sóng mang con sẽ trực giao với những
sóng mang con còn lại trong băng cơ sở, và thành phần ở mỗi sóng mang con có
thể được lọc ra bằng cách điều chế tín hiệu thu ở tần số tương ứng với sóng mang
con riêng biệt. Việc trải phổ băng tần tín hiệu trong MC-CDMA không làm tăng trễ
trải phổ. Một tín hiệu MC-CDMA bao gồm N tín hiệu sóng mang con băng hẹp mà
mỗi tín hiệu có thời gian tồn tại của ký hiệu lớn hơn rất nhiều so với trễ trải phổ.
MC-CDMA không chịu ảnh hưởng của trễ trải phổ và nhiễu liên ký tự ISI như DS-
CDMA.
Nguyễn Hà Giang – D06VT1 15
Đồ án tốt nghiệp đại học Chương I: Tổng quan về các kỹ thuật đa truy
nhập
Thêm vào đó, bởi vì ta có thể chọn thông số F (Tính trực giao giữa các tần số
của các sóng mang con được duy trì nếu như chúng được đặt cách nhau một
khoảng với F là một số nguyên, gọi là thông số F) để quyết định khoảng cách giữa
các tần số của các sóng mang con, nên MC-CDMA yêu cầu hệ số trải phổ bé hơn

so với DS-CDMA để đạt được tính phân tập tần số (hình 1.4a và 1.4b).
Hình 1.4: a) Tín hiệu MC-CDMA trước kênh b) Tín hiệu MC-CDMA sau kênh
1.1.2.3Đa truy nhập phân chia theo tần số trực giao, OFDMA
OFDMA (Orthogonal Frequency Division Multiple Access) được xây dựng
trên cơ sở nguyên lý ghép kênh phân chia theo tần số trực giao (OFDM-
Orthogonal Frequency Division Muliplex). Cũng giống như FDMA, trong OFDMA
mỗi người sử dụng được cấp phát một số sóng mang con (kênh tần số) trong tổng
số sóng mang con khả dụng của hệ thống, nhưng nhờ sử dụng các sóng mang con
trực giao với nhau nên mật độ phổ công suất của các kênh sóng mang con này có
thể chồng lấn lên nhau mà không gây nhiễu cho nhau. Chính vì vậy ta không cần có
các đoạn băng bảo vệ giữa các kênh (hay nói chính xác hơn chỉ cần các đoạn băng
bảo về khá hẹp) và nhờ đó tăng được dung lượng hệ thống OFDMA so với FDMA.
OFDMA thường được kết hợp với TDMA.
Nguyễn Hà Giang – D06VT1 16
Đồ án tốt nghiệp đại học Chương I: Tổng quan về các kỹ thuật đa truy
nhập
Hình 1.5: So sánh OFDMA và FDMA
a) Kỹ thuật FDMA thông thường
b) Kỹ thuật OFDMA
Hệ thống OFDMA nhảy tần
Trải phổ nhảy tần dựa trên nguyên lý chuyển đổi tần số sóng mang ở một tập
hợp các tần số mẫu được xác định bởi chuỗi tạp âm giả PN. Nếu ta gán các mẫu
nhảy tần khác nhau này cho các người sử dụng khác nhau ta được OFMDA nhảy
tần. Như vậy, thực chất OFDMA nhảy tần là một hệ thống CDMA nhảy tần. Hệ
thống này có lợi phân tập tần số vì mỗi người sử dụng được sử dụng toàn bộ băng
tần khả dụng, ngoài ra nhiễu được trung bình hóa như đối với các hệ thống CDMA
khác.
Vì nhiễu và fading thay đổi theo từng bước nhảy, nên hiệu năng hệ thống phụ
thuộc vào giá trị trung bình của công suất tín hiệu thu và nhiễu chứ không phụ
thuộc vào trường hợp fading hay công suất tồi nhất.

Ưu điểm cơ bản của hệ thống OFDMA nhảy tần hơn hẳn các hệ thống DS-
CDMA và MC-CDMA là tương đối dễ dàng loại bỏ được xuyên nhiễu trong một tế
bào bằng cách sử dụng các mẫu nhảy trực giao trong một tế bào.
Sự khác nhau cơ bản giữa kỹ thuật OFDMA và MC-CDMA là:
Các người dùng OFDMA trong cùng một tế bào sử dụng việc đặt khác nhau
cho các sóng mang trong khi đó ở MC-CDMA, tất cả các người dùng sử dụng đồng
Nguyễn Hà Giang – D06VT1 17
Đồ án tốt nghiệp đại học Chương I: Tổng quan về các kỹ thuật đa truy
nhập
thời toàn bộ các sóng mang. Các mã trực giao hoặc các mã trải tần trực giao được
sử dụng trong MC-CDMA để phân biệt các người dùng khác nhau. Tuy nhiên do sự
sai lệch mã bởi các kênh phađinh đa đường, MC-CDMA mất đi sự trực giao của nó
trong kênh đường lên ngay cả trong một tế bào đơn. Điều đó làm phức tạp hơn kỹ
thuật san bằng cần thiết, dẫn đến tổn hại SNR và làm giảm ưu điểm về tính phức
tạp của OFDM qua kỹ thuật sóng mang đơn.
OFDMA không có nhược điểm này bởi vì trong một tế bào đơn tất cả các
người dùng có các sóng mang khác nhau, bằng cách ấy loại trừ khả năng xuyên
nhiễu giữa các symbol và giữa các sóng mang. Do đó OFDMA không chịu ảnh
hưởng của các xuyên nhiễu trong một tế bào miễn là các ảnh hưởng của việc dịch
tần số và thời gian giữa các người dùng được giữ ở mức đủ thấp. Đây là ưu điểm cơ
bản của OFDMA so với MC-CDMA và DS- CDMA vì trong các sơ đồ đó xuyên
nhiễu trong một tế bào là nguồn nhiễu chính.
Tỷ số đặc trưng của xuyên nhiễu trong một tế bào và xuyên nhiễu giữa các tế
bào là 0,55. Bởi vì dung lượng của hệ thống tỷ lệ nghịch với tổng năng lượng
xuyên nhiễu, sự tăng dung lượng lên 2,8 lần có thể đạt được bằng cách loại trừ tất
cả các xuyên nhiễu trong một tế bào do đó độ tăng dung lượng tối đa của OFDMA
hơn hẳn mạng DS-CDMA và MC-CDMA.
Một ưu điểm nữa của OFDMA so với DS-CDMA và MC-CDMA là có một
số cách tương đối đơn giản làm giảm tổng xuyên nhiễu giữa các tế bào. Ví dụ như
các máy thu có thể đánh giá chất lượng tín hiệu của mỗi bước nhảy và sử dụng

thông tin này để cung cấp cho các bước nhảy bị xuyên nhiễu nặng trong quá trình
giải mã.
Trong hệ thống OFDMA có hai kỹ thuật chuyển vùng mềm cơ bản được áp
dụng cho cả đường lên và đường xuống (từ trạm gốc đến máy di động và di động
đến trạm gốc). Yêu cầu cho cả hai kỹ thuật là việc phát từ các trạm gốc đi và việc
Nguyễn Hà Giang – D06VT1 18
Đồ án tốt nghiệp đại học Chương I: Tổng quan về các kỹ thuật đa truy
nhập
phát tới các trạm gốc được đồng bộ để sự khác biệt về trễ tại hai trạm nằm trong
phạm vi thời gian phòng vệ của các symbol OFDM.
Kỹ thuật thứ nhất là sử dụng cùng một tập sóng mang và cùng một chuỗi
nhảy như nhau trong hai tế bào để kết nối tới hai trạm gốc. Vì thế, trong đường
xuống, máy di động nhận tổng hai tín hiệu với cùng nội dung số liệu giống hệt như
nhau. Máy di động không thể phân biệt được giữa hai trạm gốc; hiệu quả chuyển
vùng mềm tương tự thêm vào thành phần đa đường bên ngoài làm tăng độ lợi phân
tập. Dạng chuyển vùng này tương tự như chuyển vùng mềm trong mạng DS-
CDMA.
Kỹ thuật thứ hai cho chuyển vùng mềm là sử dụng các bộ sóng mang phụ
khác nhau trong hai tế bào. Khác với kỹ thuật thứ nhất, ở đường xuống, máy di
động lúc này phải phân biệt giữa hai trạm gốc. Nó phải giải điều chế các tín hiệu từ
hai trạm gốc một cách riêng biệt, sau đó các tín hiệu này có thể được kết hợp lại, tốt
nhất là bằng cách sử dụng bộ tổ hợp theo tỷ lệ cực đại. Dạng chuyển vùng này
tương tự với loại có thể được dùng trong mạng không CDMA.
Các ưu điểm của kỹ thuật thứ hai trội hơn kỹ thuật thứ nhất trong đường
xuống là tăng ích SNR tăng lên do sự phân tập của máy thu và tự do hơn cho các
trạm gốc trong việc phân bổ các sóng mang có sẵn. Ở kỹ thuật thứ nhất, các trạm
gốc bắt buộc phải sử dụng cùng các sóng mang.
Ưu điểm chính của kỹ thuật thứ nhất là việc thực hiện đơn giản hơn; không
cần có thêm phần cứng bổ trợ, chỉ cần thêm một vài giao thức để kết nối đồng thời
với hai trạm gốc. Kỹ thuật thứ hai đòi hỏi có thêm phần cứng bởi vì nó buộc phải

giải điều chế thêm một bộ sóng mang khác. Hơn nữa nó phải thực hiện xử lý thêm
để tổ hợp theo tỷ lệ cực đại các tín hiệu nhận được từ các trạm gốc khác nhau.
1.2 KỸ THUẬT ĐA TRUY NHẬP THEO ĐAN XEN IDMA
1.2.1 Sự ra đời của IDMA
Nguyễn Hà Giang – D06VT1 19
Đồ án tốt nghiệp đại học Chương I: Tổng quan về các kỹ thuật đa truy
nhập
Trong những năm gần đây, các kỹ thuật đa truy nhập phát triển mạnh mẽ và
đã có được nhiều ứng dụng to lớn. Kỹ thuật đa truy nhập đang được ứng dụng rộng
rãi hiện nay là đa truy nhập phân chia theo mã (CDMA). CDMA là một công nghệ
số sử dụng kỹ thuật trài phổ, bởi vậy nên tín hiệu mã hóa được điều chế ở băng tần
cao hơn so với dữ liệu được truyền thông. Hệ thống này bao gồm các mã riêng biệt
và một quá trình trải phổ. Tuy nhiên theo phân tích lý thuyết chỉ ra rằng khả năng
thông qua của một kênh đa truy nhập là khả thi khi toàn bộ băng thông được trải
rộng để mã hóa. Bởi vậy đây là một gợi ý để chúng ta có thể kết hợp giữa mã hóa
và trải phổ, và sử dụng những đan xen khác nhau để tách những người dùng riêng
biệt.
Cũng giống như các hệ thống đa truy nhập sóng mang khác, hệ thống MC-
CDMA cũng bị hạn chế bởi lỗi đồng bộ nhiều hơn so với các hệ thống một sóng
mang. Lỗi định thời sẽ làm suy giảm và quay pha tín hiệu thu được và gây ra nhiễu
ISI ( Inter symbol interference : nhiễu xuyên kí tự ) và ICI ( Inter carrier
interference : nhiễu giữa các sóng mang ). Do ICI, tính trực giao giữa các sóng
mang sẽ bị mất đi. Điều này làm suy giảm chất lượng hệ thống.
Trong đồ án này sẽ đề cập tới một kỹ thuật đa truy nhập mới, gọi là đa truy
nhập theo phương pháp đan xen (IDMA). Ý tưởng chính của IDMA là sử dụng các
đan xen khác nhau để phân biệt người dùng. Ta biết rằng tại phía thu các người sử
dụng không đồng bộ vì trễ truyền lan kênh (điều này chúng ta có thể ước lượng
được), chúng ta có thể chỉ cần sử dụng một bộ đan xen cho tất cả các người sử
dụng vì vậy mà giả thuyết sự phân tán của việc quản lý mạng được đánh giá cao.
Trong trường hợp này một bộ đan xen duy nhất được sử dụng cho tất cả các người

sử dụng.
1.2.2 Khái niệm IDMA
Đa truy nhập phân chia theo đan xen (IDMA) là một kỹ thuật dựa trên các bộ
đan xen khác nhau để phân chia tín hiệu tự nhiều người sử dụng khác nhau trong
một hệ thống truyền thông trải phổ đa người dùng. Đây là một kỹ thuật đa truy
nhập còn rất mới mẻ vì vậy cũng có một số nhà nghiên cứu ở nhiều nước, đặc biệt
Nguyễn Hà Giang – D06VT1 20
Đồ án tốt nghiệp đại học Chương I: Tổng quan về các kỹ thuật đa truy
nhập
là Trung Quốc và Đức tìm hiểu về kỹ thuật này. Do đó cũng có một số khái niệm
khác nhau về IDMA.
a) Khái niệm 1
Theo Li Ping, nhà nghiên cứu người Trung Quốc thì IDMA là kĩ thuật dựa
vào các đan xen khác nhau để tách báo hiệu từ những người sử dụng khác nhau
trong 1 hệ thống truyền thông trải phổ đa người sử dụng, IDMA trải phổ linh hoạt
giao diện không gian mô tả máy thu chậm phức tạp và hiệu quả phổ cao. Một hệ
thống IDMA sử dụng các đan xen phát sinh ngẫu nhiên và độc lập. Máy thu triển
khai 1 bộ tách/dò mức chip lặp đơn giản đa người sử dụng để giải mã dữ liệu người
sử dụng (MUD). Với các đan xen này, hệ thống IDMA thực thi tương tự và thậm
chí tốt hơn hệ thống CDMA.
Điều kiện để IDMA có thể thực hiện được là phía phát và phía thu đồng nhất đan
xen. Đối với các đan xen ngẫu nhiên, toàn bộ ma trận đan xen phải được truyền tới
phía thu, như vậy có thể rất tốn kém. Mục đích của chúng tôi là dựng nên các đan
xen không ngẫu nhiên cho IDMA mà hoạt động hiệu quả như là đan xen ngẫu
nhiên, và thoải mãn hai tiêu chuẩn thiết kế:
• Chúng phải dễ xác định và tạo ra, cụ thể, phía phát và thu có thể chỉ
cần trao đổi một số lượng nhỏ các bit để xác lập đan xen, và sau đó
hoạt động.
• Các đan xen không “xung đột”.
b) Khái niệm 2

Các nhà khoa học người Đức lại cho rằng Đa truy nhập phân chia theo đan
xen (IDMA) là trường hợp đặc biệt của DS-CDMA khi bộ đan xen và bộ trải phổ bị
đảo vị trí cho nhau (khi đó thì các luồng dữ liệu sẽ bị tách ra bởi các đan xen khác
nhau). Khi đan xen và trải phổ cứ luân phiên nhau, IDMA có thể được hiểu như
DS-CDMA không trải phổ.
c) Khái niệm 3
Theo các yêu cầu cho IEEE 802.16m, việc giảm “thông lượng người sử dụng
trung bình trong đường xuống/đường lên” là rất quan trọng. Đa truy nhập phân chia
Nguyễn Hà Giang – D06VT1 21
Đồ án tốt nghiệp đại học Chương I: Tổng quan về các kỹ thuật đa truy
nhập
theo đan xen (IDMA) được giới thiệu như 1 cơ chế đa truy nhập nội ô trên cả
đường lên và đường xuống. Nó có thể thực thi cả 2 hướng để triệt tiêu nhiễu nội ô,
giảm tốc độ truyền dẫn ô biên và giảm thông lượng người sử dụng. Vì vậy, IDMA
được coi là đã đáp ứng được yêu cầu của “thông lượng người sử dụng trung bình”.
KẾT LUẬN CHƯƠNG I
Chương này gồm hai nội dung chính:
 Thứ nhất là tổng hợp các công nghệ đa truy nhập vô tuyến hiện có được ứng
dụng trong thông tin di động: FDMA, TDMA, CDMA, SDMA, OFDMA,
DS-CDMA, MC-CDMA. Ở mỗi kĩ thuật đã đưa ra được nguyên lý, cũng
như những ưu nhược điểm trong công nghệ và ứng dụng.
 Thứ hai là hoàn cảnh ra đời và các khái niệm mà các nhà khoa học trên thế
giới đưa ra trong quá trình nghiên cứu về kỹ thuật đa truy nhập theo đan xen
IDMA.
Nguyễn Hà Giang – D06VT1 22
Đồ án tốt nghiệp đại học Chương II: Kỹ thuật đa truy nhập theo đan xen IDMA
CHƯƠNG II:KỸ THUẬT ĐA TRUY NHẬP THEO ĐAN XEN
IDMA
2.1 HỆ THỐNG THÔNG TIN IDMA
Chúng ta sử dụng hệ thống IDMA không mã hóa, hình 2.1. Ở đây, các vector

được xác định v = (v[1], v[2], …, v[n])
T
với v[j] là thành phần thứ j của vector v
khi j ∈ {1, 2, …, n}. Một đan xen, là một song ánh mà ánh xạ mỗi vector tới một
hoán vị của chính nó. K
max
là số lượng lớn nhất người sử dụng cho phép kết nối
thông tin đồng thời trong một hệ thống đa người sử dụng. K là số người sử dụng
trong hệ thống ( K ≤ K
max
). Người sử dụng k truyền một vector đầu vào lưỡng cực
v
k
Є {-1, 1}
l
, với l là kích thước khối và 1 ≤ k ≤ K. Ta gọi mỗi vector w Є {-1, 1}
l
là một từ, và W là bộ tất cả các từ. Hoạt động lan truyền là mỗi bit của vector v
k
của người sử dụng k mở một chuỗi lan truyền chiều dài S (thông thường S ≥ 64).
Chuỗi lan truyền trong IDMA là như nhau với tất cả người sử dụng. Thường là (1,
-1, +1, -1,…, +1, -1), tức là một dãy đan dấu +1 và -1, độ dài S. Hàm f(.) là ánh xạ
mô tả quá trình lan truyền. Do vậy, vector có được f(v
k
) có chiều dài lS. Đan xen π
k
hoán vị các bít của f(v
k
), tạo ra vector π
k

(f(v
k
)). Kênh tuyến tính kết nối các tín hiệu
của tất cả K người sử dụng
1
( ( ))
K
k k k
k
r h f v np
=
= +
å
, với h
k
là hệ số kênh, và n là
một vector của các mẫu tạp âm Gausse trắng cộng

sinh (Additive White Gausse
Noise-AWGN), hình 2.1.
Phía thu đa người dùng của IDMA sử dụng nguyên lý giải mã turbo. Phía thu
bao gồm một hàm ước lượng tín hiệu thành phần (Elementary Signal Estimator-
ESE), K nhánh cho K người sử dụng (hình 2.1). ESE có nhiệm vụ ước lượng các
tín hiệu trong mỗi lần lặp lại của quá trình giải mã turbo. Mỗi nhánh k sử dụng đan
xen tương tự nhau π
k
tương ứng với nhánh phía phát, và một bộ cảm biến xác suất
hậu nghiệm ( A Posteriori Probability-APP Detector -DET) ,đồng nhất với mỗi
người sử dụng.
Nguyễn Hà Giang – D06VT1 23

Đồ án tốt nghiệp đại học Chương II: Kỹ thuật đa truy nhập theo đan xen IDMA
Hình 2.1: Hệ thống IDMA qua kênh AWGN
2.2 TƯƠNG QUAN GIỮA CÁC ĐAN XEN
2.2.1 Mục đích
Từ sự phân tách người sử dụng đạt được bởi các đan xen, tiêu chuẩn thiết kế
của một đan xen là mỗi hai đan xen bất kì ở ngoài một bộ các đan xen có “xung
đột” nhau ít nhất có thể. Mục đích của phần này là định nghĩa sự tương quan giữa
các đan xen trong IDMA, là thước đo mức “xung đột” giữa các đan xen.
Không giống như mã hóa/giải mã turbo cổ điển, trong đó nhiệm vụ của các
bộ đan xen đơn là giải tương quan các chuỗi bit khác nhau, ở đây ta có các bộ đan
xen không chỉ cần phải giải tương quan các chuỗi bit khác nhau, mà tách cả các
người sử dụng khác nhau. Sự tương quan giữa các đan xen có thể đo được mức độ
mà các tín hiệu từ những người sử dụng khác ảnh hưởng tới quá trình giải mã của
một người sử dụng cụ thể. Như vậy, nhiễu cộng sinh không ảnh hưởng gì đến
Nguyễn Hà Giang – D06VT1 24
Đồ án tốt nghiệp đại học Chương II: Kỹ thuật đa truy nhập theo đan xen IDMA
tương quan giữa các đan xen, và trong phần này, ta sẽ xét hệ thống IDMA không có
nhiễu. Một bộ giải mã non-turbo miêu tả trong hình 2.2, trong đó bộ giải mã cho
người sử dụng j bao gồm bộ giải đan xen
1
j
p
-
ứng với người sử dụng j đó và một bộ
giải trải phổ (DES).
Hình 2.2: Hệ thống IDMA không nhiễu
2.2.2 Định nghĩa tương quan và các đan xen trực giao
Định nghĩa 1: Cho π
i
và π

j
là 2 đan xen và cho w và v là 2 từ mã. Chúng ta định
nghĩa tương quan C(π
i
, w, π
j
, v) giữa π
i
và π
j
với chú ý các từ w và v do tích vô
hướng của π
i
(f(w)) và π
j
(f(v)):
( ,w, , ) ( (w)), ( ( ))
i j i j
C v f f vp p p p=
(2.1)
Nguyễn Hà Giang – D06VT1 25

×