TIỂU LUẬN
MƠN: THỂ CHẾ CHÍNH TRỊ THẾ GIỚI ĐƯƠNG ĐẠI
Đề tài:
THỂ CHẾ CHÍNH TRỊ MỸ: ĐẢNG CHÍNH TRỊ VÀ CÁC NHĨM LỢI
ÍCH MỸ
MỤC LỤC
I. ĐẶT VẤN ĐỀ...............................................................................................1
II. NỘI DUNG.................................................................................................4
2.1 Cơ sở lý luận..............................................................................................4
2.2. Các Đảng chính trị và nhóm lợi ích......................................................13
2.2.1. Các Đảng chính trị.............................................................................13
2.2.2 Các nhóm lợi ích.................................................................................16
2.3 Đánh giá về hoạt động của Đảng chính trị và nhóm lợi ích trong chính
trị Mỹ..............................................................................................................20
2.3.1. Ưu điểm..............................................................................................20
2.3.2. Hạn chế...............................................................................................23
III. KẾT LUẬN.............................................................................................27
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.....................................................28
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lý do chọn đề tài
Sự khác biệt giữa các đảng phái chính trị và các nhóm lợi ích bắt nguồn
từ mục đích của mỗi bên. Các đảng chính trị đứng trong các cuộc bầu cử và
cố gắng giành được phiếu bầu của người dân và đại diện cho họ trong hội
đồng, quốc hội hoặc bất kỳ cơ quan quản lý nào khác của tiểu bang hoặc quốc
gia. Mặt khác, các nhóm lợi ích khơng đứng trong các cuộc bầu cử. Họ cũng
khơng khao khát sự bình chọn từ cơng chúng. Đây là điểm khác biệt chính
giữa các đảng phái chính trị và các nhóm lợi ích. Có một số sự thật thú vị
khác về từng nhóm này mà chúng ta sẽ thảo luận trong bài viết này trước khi
chúng ta đi đến sự khác biệt giữa các đảng chính trị và các nhóm lợi ích.
Đảng chính trị là một nhóm người đã cùng nhau đạt được những mục
tiêu chung bằng cách giành được quyền lực chính trị và sử dụng nó. Như bạn
có thể thấy, cách các đảng chính trị đạt được mục tiêu chung của họ là thơng
qua việc giành được quyền lực chính trị và sử dụng nó. Các đảng chính trị
cuối cùng đã giành chiến thắng trong cuộc bầu cử sẽ cai trị đất nước trong bối
cảnh những thách thức từ các đảng đối lập và các nhóm lợi ích có thể khơng
đồng ý với lập trường của họ về các vấn đề khác nhau. Do đó, có thể hiểu
rằng các đảng chính trị cũng có thể bị thách thức bởi các nhóm lợi ích.
Nhóm lợi ích (Interest groups) là một bộ phận khơng thể thiếu đối với
hệ thống chính trị các quốc gia, vùng lãnh thổ theo mơ hình tam quyền phân
lập. Trong mơ hình này, Nhà nước được coi là trung tâm quyền lực chính trị,
bên cạnh đó là sự tham gia của các đảng chính trị nhằm mục đích nắm quyền
lực Nhà nước và các nhóm lợi ích với mục đích gây ảnh hưởng, tác động đến
chính sách của Nhà nước. Các nhóm lợi ích trong nền chính trị là tổ chức tự
nguyện của những người có cùng quan tâm, quan điểm với từng vấn đề xã hội
khác nhau, cố gắng tác động đến việc xây dựng chính sách của Chính phủ và
1
đặc biệt là muốn chuyển yêu cầu của họ thành các chính sách để phục vụ lợi
ích của nhóm dân cư có cùng mối quan tâm mà họ là người đại diện.
Trên thực tế, điều này đã giúp ích rất nhiều cho hoạt động của chính
quyền và đảm bảo cho xã hội cơng dân hình thành theo đúng nghĩa. Trong
chính trị Mỹ hiện nay, các nhóm lợi ích rất đa dạng và phong phú, hoạt động
với nhiều phương thức khác nhau nhằm tác động đến việc ban hành chính
sách của Chính phủ. Có thể nói, hoạt động của các nhóm lợi ích ở Mỹ là điển
hình đối với thể chế chính trị mà các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp
kiềm chế, đối trọng nhau. Nhóm lợi ích cung cấp thơng tin, tham gia phản
biện chính sách và điều trần các đại biểu dân cử, gây ảnh hưởng trong bầu cử,
… đã tác động rất lớn đến quá trình ban hành chính sách ở Mỹ. Tuy nhiên,
khơng phải lúc nào hoạt động của các nhóm lợi ích trong chính trị Mỹ cũng
mang yếu tố tích cực mà bên cạnh đó, cũng tồn tại những yếu tố tiêu cực và
hạn chế. Do đó, cần thiết phải có những nghiên cứu cụ thể và chun sâu về
nhóm lợi ích và hoạt động của nhóm lợi ích trong chính trị Mỹ, từ đó tìm ra
những đặc điểm chung và những giá trị phổ biến của một bộ phận không thể
thiếu trong hệ thống chính trị này. Việt Nam hiện nay, trong hệ thống chính
trị khơng tồn tại khái niệm nhóm lợi ích mà thay vào đó là các tổ chức chính
trị - xã hội và tổ chức xã hội.
Các tổ chức này hiện có vai trị và ảnh hưởng lớn đối với sự hoạt động
và ban hành chính sách của Nhà nước. Tuy nhiên, trên thực tế các tổ chức này
vẫn chưa phát huy hết vai trị của mình, nhiều tổ chức hoạt động vẫn mang
tính hình thức, phong trào mà chưa đi vào chiều sâu. Mặt khác, hiện nay ở
Việt Nam vẫn chưa có những cơ chế đồng bộ để phát huy hết vai trị của các
tổ chức chính trị - xã hội và tổ chức xã hội trong quá trình phản biện, cung
cấp thơng tin, góp ý vào chính sách… Chính vì vậy, trên cơ sở nghiên cứu
Đảng chính trị và các nhóm lợi ích Mỹ sẽ cho chúng ta có thêm những kinh
nghiệm quý giá để tham khảo, vận dụng một cách hợp lý, phù hợp vào quá
trình nâng cao hiệu quả hoạt động Đảng, của các tổ chức chính trị - xã hội, tổ
chức xã hội ở Việt Nam.
2
Vì những lý do trên tác giả chọn vấn đề “Thể chế chính trị Mỹ: Đảng
chính trị và các nhóm lợi ích Mỹ” làm đề tài tiểu luận của mình.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
Đề tài tập trung làm rõ một số vấn đề về hoạt động của Đảng chính vị
và các nhóm lợi ích trong chính trị Mỹ, trên cơ sở đó đưa ra những gợi mở về
đổi mới hoạt động các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội ở Việt Nam
hiện nay.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ một số vấn đề lý luận về Đảng chính vị và các nhóm lợi ích
trong chính trị Mỹ.
- Trình bày thực tiễn hoạt động của các Đảng chính vị và các nhóm lợi
ích trong chính trị Mỹ.
- Đánh giá và gợi mở cho việc đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động
của các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội ở Việt Nam hiện nay.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của tiểu luận là Đảng chính trị và các nhóm lợi
ích Mỹ
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Thể chế chính trị Mỹ: Đảng chính trị và các nhóm lợi ích Mỹ là hết sức
phổ biến tại Mỹ, nhưng trong khuôn khổ tiểu luận đề tài chỉ tập trung khảo sát
thực trạng Đảng chính trị và các nhóm lợi ích Mỹ nói chung mà khơng đi sâu
phân tích.
3
II. NỘI DUNG
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Khái niệm Nhóm lợi ích
a. Thuật ngữ
Thuật ngữ “nhóm lợi ích” nói chung và “nhóm lợi ích trong chính trị”
nói riêng đã có nhiều cách hiểu khác nhau tùy theo góc độ tiếp cận. Tuy
nhiên, đối với những nhà nghiên cứu, việc tìm hiểu nhóm lợi ích với tư cách
là chủ thể có vai trị quan trọng tác động đến việc hình thành chính sách của
một quốc gia, vùng lãnh thổ và là nhân tố khơng thể thiếu hình thành nên xã
hội dân sự thì nhóm lợi ích trên thực tế lại cùng có chung một cách hiểu dù
cách diễn đạt có khác nhau.
- Theo cách tiếp cận của các nhà nghiên cứu nước ngồi: Trong một
nghiên cứu về các nhóm lợi ích tại Mỹ, nhóm tác giả là những nhà vận động
hành lang chuyên nghiệp tại Mỹ đã đưa ra khái niệm về các nhóm lợi ích như
sau: Các nhóm lợi ích là tổ chức của những người có cùng quan tâm, cùng
quan điểm với từng vấn đề xã hội khác nhau; cố gắng tác động đến việc xây
dựng chính sách của Chính phủ và đặc biệt là muốn chuyển yêu cầu của họ
thành các chính sách để phục vụ lợi ích của nhóm dân cư có cùng mối quan
tâm mà họ là người đại diện. Ngồi ra, “các nhóm lợi ích vận động chính
quyền cho những lợi ích của họ chính là biểu hiện của nền dân chủ tự do”.
Lời khẳng định đó của Tổng thống Jefferson đã chứng tỏ các nhóm lợi ích có
vai trị quan trọng trong đời sống chính trị Mỹ. Theo R. Allen Hays trong một
nghiên cứu về vai trị của các nhóm lợi ích Mỹ cũng khẳng định: “N ó ợ ộ p ó
ổ ữ ườ ó ù ộ ụ y ưở sách công”. Và cũng theo tác giả thì nhóm (tập đồn) lợi
ích là một cơ chế quan trọng qua đó dân chúng đề đạt các ý nghĩ, yêu cầu và
quan điểm của họ tới các người đại điện dân cử.
Khái quát lại, từ những cách tiếp cận trên đây của các nhà nghiên cứu,
chúng ta có thể hiểu nhóm lợi ích trong chính trị là tập hợp tự nguyện của lợi
4
ích về một vấn đề nào đó nhằm cố gắng tác động, gây ảnh hướng đến các
quyết định chính sách của nhà nước một cách có lợi nhất cho nhỏm mình.
b. Phân loại nhóm lợi ích
Nhóm lợi ích hoạt động trong chính trị rất đa dạng. Có thể nói, đối với
các quốc gia phương Tây, đặc biệt là các nước phát triển như: Anh, Pháp,
Đức, Mỹ... thì khơng một người dân nào khơng là thành viên của bất kỷ
nhóm, tổ chức xã hội, thậm chi họ có thể tham gia từ hai đến nhiều tổ chức
trong cùng một lúc. Điều này thể hiện sự đa dạng về lợi ích của nhóm, đỏ có
thể là những lợi ích thiết thân liên quan trực tiếp đến cuộc sống hàng ngày
như: chất lượng cuộc sống, giáo dục, y tế, nghề nghiệp... nhưng cũng có thể
chỉ là những lợi ích mang tinh chất cơng cộng như: quyền phụ nữ, quyền dân
sự, môi trường... Với sự đa dạng như vậy, thi tùy theo cách tiếp cận có thể
phân loại nhóm lợi ích thành nhiều nhóm khác nhau như phân loại theo tỉnh
chất, quy mô, vị tri địa lý.. Tuy nhiên, về cơ bản, các nhóm lợi ích được phân
loại chủ yếu theo hai cách sau:
- Thứ nhất, nhóm lợi ích tư. Trong nhóm này, bao gồm tắt cả các nhóm
như: kinh doanh, nghề nghiệp, cơng đồn, nhóm áp lực chính trị, nhóm
chun gia, nhóm chính quyền địa phương,... thậm chí là cả những nhóm
thành lập của nước ngồi ở trong nước khác. Các nhóm này, dù cơ cấu tổ
chức, mục tiêu hoạt động, số lượng thành viên, khẩu hiệu có khác nhau
nhưmg về cơ bản là đại diện cho một lợi ích cụ thể nào đó mang tỉnh chất cả
biệt của nhóm và mục đích là nhằm tác động đến các chính sách của Nhà
nước có liên quan đến lợi ích cá biệt đỏ của nhóm theo hai hưởng thúc đẩy,
tạo điều kiện cho lợi ích phát triển hoặc cố gắng kim hãm những chính sách
gây bắt lợi cho lợi ích của nhóm.
- Thứ hai, nhóm lợi ích cơng. Đây là nhóm lợi ích hoạt động khơng chi
vì một lợi ích cá biệt nào mà mục đích là các lợi ích cơng như: Mơi trưởng,
hịa binh xanh, chống phổ biến vũ khi hạt nhân, chống thảm họa AIIDS,
chống tự do hỏa thương mại, bảo vệ động vật hoang dã.. Các nhóm này mới
5
chi phát triển trong những năm gån đây nhưng việc tuyên truyền, tập hợp và
thu hút thành viên của nó khiến các nhóm lợi ích tư phải “ghen ty". Các nhóm
này thưởng hoạt động cơng khai như: Biểu tinh hịa binh, thuyết trình, kêu
gọi, gửi thư, tham gia vào các phiên điều trần của Quốc hội... Và vì hoạt động
với những mục tiêu cơng cộng nên sự tích cực của thành viên trong nhóm
được nâng lên rất nhiều lần (khác với nhóm lợi ích tư khi lợi ích có thể chỉ là
phục vụ cho Ban lãnh đạo hoặc những người đứng đầu nhóm).
c. Vị trí, vai trị nhóm lợi ích trong chính trị
* Vị trí nhóm lợi ích trong chính trị
Các nhóm lợi ích có tổ chức là một phần khơng thể thiếu trong hệ
thống chính trị các quốc gia theo thể chế tam quyền phân lập. Trong thể chế
chính trị các quốc gia này, bên cạnh nhà nước với vai trở trung tâm là quản lý
xã hội cịn có sự hiện diện của các Đảng chính trị với mục tiêu là giảnh quyền
lực nhà nước để duy trì lợi ích giai cấp minh đại diện. Và đặc biệt là sự hiện
diện của các nhóm lợi ích; sự ra đời, tồn tại và phát triển của các nhóm nhằm
giúp tiếng nói của đại bộ phận người dân đến được với chính quyền và giúp
cho chính sách của Nhà nước có được những điều kiện thực thi tốt nhất. Mặt
khác, việc có đơng đảo người dân tham gia các nhóm là một yếu tố quan trọng
để các quốc gia phương Tây xây dựng xã hội dân sự.
Vị tri của nhóm lợi ích trong đời sống chính trị các quốc gia phương
Tây đã được khẳng định ngay trong Hiến pháp của các quốc gia này khi đề
cập đến quyền được tự do thành lập hội, nhóm, đồn thể và hoạt động theo
khn khổ pháp luật của các nhóm. Về cơ bản nhóm lợi ích có những vị tri
sau trong đời sống chính trị:
- Thứ nhất, nhóm lợi ích là bộ phận cấu thành của hệ thống chính
trị.Trong hệ thống chính trị các quốc gia, vùng lãnh thổ luôn bao gồm ba bộ
phận khơng thể thiếu, đỏ là: Nhả nước, Đảng chính trị, các nhóm lợi ích (các
tổ chức chính trị - xã hội). Trong đó, Nhà nước là trung tâm của quyền lực
chính trị, quản lý và điều hành mọi mặt của đời sống xã hội; Đảng chính trị là
6
bộ phận ưu tú nhất đại diện cho lợi ích của các giai cấp trong xã hội, mục địch
của các Đảng chính trị là nhằm đạt đượe quyền lực Nhà nước thơng qua việc
nắm giữ các vị trí quan trọng của Nhà nước như. Lập pháp, hành pháp và tư
pháp ở cả Trung ương lẫn địa phương. Và để đạt được mục tiêu này, các
Đăng chính trị phải thơng qua q trình bầu cử có nhiệm kỷ để đưa đại diện
của Đảng minh vào các vị tri chủ chốt trong Nhà nước; các nhóm lợi ích là
tập hợp tự nguyện của những người, nhỏm người có cùng chung quan điểm
nhằm tác động đến các quyết định chính sách của nhà nước một cách có lợi
cho nhóm minh. Hoạt động của nhóm lợi ích do đó có tác động mạnh mẽ đến
các Đảng chính trị và các cơ quan Nhà nước.
Các nhóm lợi ích ln đại diện cho một lợi ích nào đó, có thể là lợi ích
tư hoặc lợi ích cơng cộng nhưng nó đều là tiếng nói của đa số người dân trong
xã hội. Với việc hình thành một tổ chức có mục đích hoạt động, có các bộ
phận chun mơn cấu thành thi các nhóm lợi ích thực sự được coi là một
“Bộ" thu nhỏ theo vấn để trong Chính phủ. Các nhóm này trước khi đưa ra
những tác động đến chính sách đều phải tiến hành những công việc chuyên
môn như: Thu thập thông tin, dữ liệu, nghiên cứu khoa học, thuyết phục...
những hoạt động này giúp cho các cơ quan Nhà nước bởt đi một phần kinh
phí. Mặt khác, sau khi chính sách được ban hành, các nhóm lợi ích sẽ tạo điều
kiện cho các cơ quan nhà nước về cơ sở vật chất, con người, mơi trường, thậm
chỉ là tiền cho quả trình triển khai. Mặc dủ biết rằng không phải lúc nào thông
tin của các nhóm lợi ích cung cấp cũng xác thực, có lợi và mang tính đại diện
nhưng các cơ quan Nhà nước vẫn rất cần những thông tin này sau khi được
kiểm nghiệm và cần sự ủng hộ chính sách trên thực tế của đại bộ phận người
dân. Mối quan hệ giữa các cơ quan Nhả nước, cụ thể là giữa các nghị sĩ Quốc
hội và các thành viên Chính phủ với các nhóm lợi ích do đó rất khăng khit.
Nếu thiểu đi nhóm lợi ích trong hệ thống chính trị thi Nhà nước thực sự hoạt
động không hiệu quả và tinh đúng đắn trong các chính sách ban hành thực tế
sẽ rất khó khăn.
7
Đối với các đảng chính trị, nhóm lợi ích thưởng xun cung cấp thơng
tin, ủng hộ trong q trình bầu cử từ việc vận động cử tri bỏ phiếu, tuyên
truyền trên các phương tiên truyền thông đến ủng hộ cả về tiến bạc. Các hoạt
động này đã giúp các đảng chính trị có thêm những lợi thế trong q trình
chạy đua để nắm quyền lực nhà nước. Và cũng như Nhà nước, dù biết sự ủng
hộ của các nhóm lợi ích trong xã hội đối với hoạt động của các đáng luôn bao
gồm những yếu tố tiêu cực nhưng bản thân cảc đảng chính trị ở các nước
phương Tây trong quá trình đấu tranh để giảnh quyền lực Nhà nước khơng thể
thiếu vai trị hậu thuẫn của các nhóm lợi ích, thậm chi sự ủng hộ của các
nhóm cịn là "không thể thiếu" đối với hoạt động của nhiều đăng chính trị.
Như vậy, có thể khẳng định, đối với bất kỷ một quốc gia, vùng lãnh
thổ nào trong hệ thống chính trị của mình đều phải có sự tồn tại của các nhóm
lợi ích (các tổ chức chính trị - xã hội ở các nước xã hội chủ nghĩa). Mặc dù
tên gọi có khác nhau, cách thức tổ chức và quy định hoạt động trong Hiến
pháp ở các nước có khác nhau nhưng khơng thể phủ nhận vị trí và tầm ảnh
hưởng to lớn của các nhóm trong việc giúp hệ thống chính trị hoạt động có
hiệu quả và đảm bảo các chính sảch được ban hành mang tinh thực tế cao.
- Thứ hai, nhóm lợi ích là bộ phận khơng thể thiếu trong việc hình
thành dân chủ trong chính trị.
- Thứ ba, nhóm lợi ích có vị trí quan trọng góp phần giúp người dân đến
gần và hiểu hơn về chính trị. Tại các quốc gia phương Tây, đặc biệt là
tại: Mỹ, Anh, Đức.. nhiều nhóm lợi ích đã có lịch sử ra đời và tồn tại cùng với
sự ra đời và tồn tại của Nhà nước và các đáng chính trị. Tuy nhiên, khoảng
thời gian đầu các nhóm này ra đời đã không nhận được sự ủng hộ lớn của các
chính trị gia và người dân. Đối với nhiều người, việc các nhóm hình thành chi
là sự đe dọa đến việc hình thành và thực thi các chính sách. Ngày nay, với
việc các lợi ích ngày cảng đa dạng hơn đã ảnh hưởng rất lớn đến suy nghĩ vả
hành động của đông đảo người dân. Họ đã bắt đầu tham gia, thậm chí là tham
gia nhiều hơn một nhóm lợi ích để đảm bảo quyền lợi của họ được bảo vệ và
tim kiếm các lợi ích nếu có.
8
d. Vai trị nhóm lợi ích trong chính trị
Trong nhiều nghiên cứu của các học giả nước ngoài thi hệ thống chính
trị đối với bất kỷ các quốc gia nào, đều it hoặc nhiều tồn tại các nhóm, các tổ
chức chính trị, tổ chức xã hội. Các nhóm này chính là đại diện cho tiếng nói
của người dân về các lĩnh vực của đời sống xã hội. Thông qua các nhóm,
chính quyền biết chính sách ban hành và thực hiện đã hiệu quả chưa?. Trên
hết chính là q trình giám sát, phản biện của người dân để góp phần giúp bộ
máy nhà nước thực hiện tốt công việc quản lý của minh. Điều này phản ảnh
mối cần thiết và vai trỏ của các nhóm trong chính trị. Về cơ bản, nhóm lợi ích
có quan hệnhững vai trị sau trong chính trị:
- Thứ nhất, các nhóm lợi ích hỗ trợ lớn cho việc hoạch định chính sách
của các cơ quan quyền lực nhà nước.
- Thứ hai, các nhóm lợi ích có vai trị lớn trong việc hỗ trợ các đảng
chính trị trong quá trình tranh cử giảnh quyền lực nhà nước.
Thứ ba, nhóm lợi ích là nơi truyền tải thơng điệp của người dân đến với
chính quyền.
- Thứ tư, nhóm lợi ích giúp định hình xã hội dân sự.
Như vậy, theo cách hiểu hiện nay, để có thể xây dựng thành cơng xã
hội dân sự thi cần thiết phải có các tổ chức xã hội đại diện giới, nghề nghiệp,
ngành, lĩnh vực, các tổ chức phi chính phủ (NGO), các phương tiện truyền
thơng đại chúng ngồi nhà nước, các tổ chức từ thiện tơn giáo và tín ngưỡng,
các pháp nhân cả nhân và mối quan hệ liên cả nhân thành các nhóm nhỏ xã
hội khơng chính thức. Xét cho cùng tắt cả các yếu tố này đều chính là các
nhóm lợi ích với những hình thức khác nhau. Và các nhóm này thực sự đóng
vai trỏ quan trọng trong việc hinh thành xã hội dân sự trong tương lai.
2.1.2. Khái niệm Đảng chính trị
a. Khái niệm
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, đảng chính trị là bộ phận
tích cực nhất, có tổ chức của một giai cấp nào đó hay một tầng lớp nào đó của
9
một giai cấp. Sự tồn tại của đảng chính trị gắn liền với sự phân chia xã hội
thành giai cấp và sự không đồng nhất của giai cấp và của các tầng lớp khơng
hợp thành giai cấp.
Đảng chính trị là một trong những công cụ quan trọng nhất mà nhờ đó
giai cấp đấu tranh cho lợi ích của mình. Đảng chính trị cơng cụ tập hợp giai
cấp của một giai cấp. Với chức năng đó, đảng chính trị có khả năng đoàn kết
sức mạnh của cả giai cấp, tạo thành một nguồn động lực to lớn phục vụ mục
tiêu đấu tranh, vai trò sứ mệnh lịch sử của giai cấp mình. (Ví dụ như giai cấp
cơng nhân Việt Nam được tập hợp sức mạnh dưới sự lãnh đạo của ĐCS VN
đã đấu tranh giành quyền lợi cho cơng nhân nói riêng, nhân dân lao động VN
nói chung và thực hiện sứ mệnh lịch sử cao cả là giải phóng đất nước khỏi
ách áp sự xâm lược của đế quốc)
Đảng chính trị bắt đầu trong điều kiện đấu tranh giai cấp đã phát triển
đến trình độ nhất định của cuộc đấu tranh chính trị, khi mục tiêu giành chính
quyền được đặt ra trực tiếp.
Đảng gắn liền với cơ cấu giai cấp. Trong xã hội hiện đại, tương ứng với
cơ cấu giai cấp của nó đảng có thể là đảng vơ sản, đảng tư sản, đảng địa
chủ…đảng liên minh các giai cấp: đảng tư sản- tiểu tư sản, đảng tư sản – địa
chủ…đơi khi đảng cịn mang màu sắc dân tộc.
Đảng chính trị là tổ chức ln theo đuổi những mục đích chính trị nhất
định, cố gắng gây ảnh hưởng, lãnh đạo đối với chính trị và tổ chức xã hội, ra
sức giành và giữ chính quyền để thực hiện lợi ích của mình.
Đảng chính trị hành động bằng thuyết phục, truyền bá những quan
điểm của mình, tập hợp những người cùng chí hướng. Khi cầm quyền ngồi
các phương tiện vật chất, các cơ quan báo chí, đảng cịn lãnh đạo bằng chính
quyền. Để thực hiện mục tiêu, đảng tiến hành thực hiện một số chính sách
nhất định, thực hiện những nguyên tắc tổ chức nhất định: điều lệ, quy chế…
Dưới chế độ TBCN, chế độ đa ngun chính trị bề ngồi có vẻ dân chủ,
các đảng đều có quyền tranh cử nhưng về thật chất đều là nhất nguyên chính
10
trị. Đảng lớn nhất, có thế lực nhất sẽ nắm quyền để bảo về lợi ích của giai cấp
tư sản, bảo vệ chế độ TBCN.
Trong các nước XHCN, ĐCS là đội tiên phong của giai cấp công nhân.
Đảng tập hợp và tổ chức giai cấp công nhân và nhân dân lao động trong cuộc
đấu tranh vì sự thống nhất về mục tiêu, ý chí hoạt động nhằm thủ tiêu thủ tiêu
chế độ tư hữu.
Như vậy đảng chính trị nào cũng mang bản chất giai cấp, tồn tại với
mục đích nắm quyền lực nhà nước để bảo vệ lợi ích giai cấp mà nó đại diện.
Khơng có đảng chính trị nào phi giai cấp, siêu giai cấp.
b. Vai trò của đảng chính trị
Là một bộ phận tích cực nhất, có tổ chức nhất của giai cấp, đảng chính
trị được lập ra để thực hiện lợi ích, mục đích giai cấp, nắm quyền lực nhà
nước. Vai trị chính trị của đảng chính trị tùy thuộc vào địa vị lịch sử của các
giai cấp mà đảng chính trị đó đại diện.
Vai trị của đảng chính trị cịn phụ thuộc vào bản chất của giai cấp mà
đảng đó đại diện. Trong lịch sử tồn tại và phát triển của các đảng chính trị, có
đảng đóng vai trị tiến bộ, cách mạng như đảng macxit – lenin, đại diện cho
quyền lợi của giai cấp công nhân và người lao động nhưng cũng có đảng thể
hiện sự bảo thủ, phản động như đảng địa chủ, …
Ở các nước TBCN:
Vai trị của các đảng chính trị thể hiện rõ nhất trong các cuộc bầu cử
giành quyền lực nhà nước. Vau trò của các đảng thể hiện ở hai mặt tiến bộ và
tiêu cực.
tích cực: tổ chức bầu cử, hướng bầu cử đi vào quỹ đạo đã được quy
định ở hiến pháp hiện hành. Sau khi thắng cử, nắm quyền, các đảng chính trị
có vai trị trong việc định hướng phát triển kinh tế – xã hội thông qua cương
lĩnh chính trị, bố trí, tuyển lựa thành viên của đảng vào các cương vị chủ chốt
của chính quyền, chuẩn bị các chính sách, các chiến lược hoạt động nhà nước.
11
Tiêu cực: ( chủ yếu ) chia rẽ nhân dân, tách nhân dân ra khỏi chính trị.
Để đạt được mục đích, đảng chính trị đã hành động kể cả bằng những thủ
đoạn, kích thích sự thèm khát quyền lực chính trị và tạo thêm những điều kiện
cho tham nhũng, tước bỏ quyền dân chủ của nhân dân…
Ở các nước XHCN
ĐCS là lực lượng duy nhất lãnh đạo, thực hiện quyền thống trị về chính
trị của giai cấp cơng nhân để xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của dân,
do dân và vì dân và quá độ đi lên CNXH.
ĐCS đại diện cho giai cấp cơng nhân chiu trách nhiệm hồn toàn trước
vận mệnh phát triển của dân tộc, lãnh đạo mọi mặt của đời sống kinh tế –
chính trị – văn hóa xã hội. Để thực hiện được sứ mệnh to lớn này điều kiện
tiên quyết là đảng phải không ngừng vươn lên mọi mặt.
Như vậy, đảng chính trị là một bộ phận tích cực nhất của một giai cấp,
là đại diện không thể thiếu của một giai cấp. Với bản chất, vai trị của mình,
mỗi đảng chính trị cần phải liên tục phát triển hoàn thiện, nâng cao sức chiến
đấu, phát huy vai trị lãnh đạo, định hướng chính trị của mình để thực hiện tốt
nhiệm vụ đấu tranh, giành và giữ chính quyền.
2.1.3 Sự khác biệt giữa Đảng chính trị và Nhóm lợi ích
- Đại diện trong Chính phủ:
• Các nhóm lợi ích khơng định vị đại diện của họ trong chính phủ.
• Mặt khác, các đảng phái chính trị trực tiếp định vị đại diện của họ
trong chính phủ. Đây là sự khác biệt lớn giữa các đảng phái chính trị và các
nhóm lợi ích.
- Cơ quan:
Bản chất của tổ chức các nhóm lợi ích khác với bản chất của các đảng
chính trị.
• Tổ chức của các nhóm lợi ích có phần lỏng lẻo so với tổ chức của các
đảng phái chính trị.
• Tổ chức của các đảng phái chính trị thường được gắn bó chặt chẽ.
12
- Chính trị nội bộ:
• Chính trị nội bộ của các nhóm lợi ích khơng linh hoạt vì họ khơng thể
thay đổi lập trường của mình mà khơng thay đổi con người của họ.
• Chính trị nội bộ của các đảng chính trị linh hoạt hơn nhiều.
- Đảng chính trị và nhóm lợi ích:
• Một nhóm lợi ích có thể nảy sinh bên trong một đảng chính trị vì các
thành viên của đảng chính trị có thể có ý kiến khác nhau về các vấn đề khác
nhau.
• Một nhóm lợi ích khơng thể có nhiều phe nhóm phụ bên trong nó.
Nếu một nhóm lợi ích có các phe phái phụ khơng cịn là nhóm lợi ích.
2.2. Các Đảng chính trị và nhóm lợi ích
2.2.1. Các Đảng chính trị
2.2.1.1 Sự hình thành hệ thống hai đảng
Các nhà sáng lập nhà nước Hoa Kỳ ngay từ đầu đã lo ngại sự ra đời và
phát triển các đảng phái sẽ dẫn đến phá vỡ sự thống nhất về chính trị liên
bang, vì vậy trong hiến pháp khơng có một từ nào nói về đảng chính trị. Tuy
nhiên, q trình hình thành và phát triển các đảng diễn ra rất mạnh mẽ.
Nguyên nhân chủ yếu là do sự khác biệt về lợi ích kinh tế, chính trị của các
giai cấp, tầng lớp xã hội.
Quá trình hình thành và phát triển các đảng chính trị Mỹ có thể chia
thành các giai đoạn sau: · Giai đoạn hình thành các đảng phái: Hệ thống đảng
phái bắt đầu hình thành từ dầu thập kỷ 90 thế kỷ XVIII, dưới chính quyền
Tổng thống Oasinhtơn. Trong chính phủ có hai Bộ trưởng quan trọng là
Jepheson, Bộ trưởng Ngoại giao và Hamilton, Bộ trưởng Tài chính. Jepheson
dại diện cho phe dân chủ, chủ trương trao quyển rộng rãi cho các bang, nâng
dỡ giới dịa chủ, nông dân, tiểu thủ công ở miền Nam. Ngược lại, Hamilton
dứng đẩu phe liên bang, muốn tăng cường quyền lực vào trung ương, giới
công nghiệp, tài chính miền Đơng Bắc. Khơng dược Tổng thống ủng hộ,
13
Jephesơn từ chức, tập hợp thành nhóm Cộng hịa, sau đổi tên thành Cộng hòa
Dân chủ, tiền thân của Đảng Dân chủ ngày nay.
- Giai đoạn Đảng Cộng hòa Dân chủ nắm quyền (1801 - 1824): Năm
1800, Jephesdn trúng cử Tổng thống, mở ra thời kỳ cầm quyền của Đảng
Cộng hòa - Dân chủ suốt 24 năm. Giai đoạn này nền kinh tế Mỹ, đặc biệt là
nông nghiệp, phát triển mạnh. Đảng này được sự ủng hộ của những người
nghèo, nô lệ da đen, nông dân. Đến năm 1824, dång phân liệt thành nhiều phe
phái khác nhau: dân chủ và bảo thủ, giữa những người mới giàu lên và tầng
lớp tư sản cũ có đặc quyền. Từ đó, đảng phân chia thành hai nhóm chống đối
nhau: Đảng Dân chủ và Đảng Uých.
- Giai đoạn thống trị của hai đảng Dân chủ và Uých (1828 - 1865):
Đảng Uých (Whigs) đại diện cho các chủ ngân hàng, tư sản và chủ đon điền
miền Nam. Đảng này đã nắm quyền trong các nhiệm kỳ 1840, 1848. Trong
những năm 1850, vấn để nô lệ làm suy yếu Đảng Dân chủ và sự sụp đổ Đảng
Uých, dẫn đến cuộc Nội chiến 1861 - 1865. Năm 1854, những người thuộc
Đảng Uých và những người thuộc Đảng Dân chủ có xu hướng chống chế độ
nơ lệ đã thành lập Đảng Cộng hòa, đại diện cho quyền lợi củamiền Bắc và
miền Tây. Đảng Dân chủ đại diện cho chế độ nô lệ ở miền Nam (do nhu cầu
phát triển nơng nghiệp). Sau nội chiến, Đảng Cộng hịa liên tục thắng cử. Từ
đó, hai đảng này thay nhau nắm chính quyền cho đến ngày nay.
- Giai đoạn từ sau nội chiến đến nay: Nước Mỹ tập trung vào phát triển
kinh tế, nền đại công nghiệp với các hãng sản xuất lớn ra dời. Đảng Cộng hòa
liên tục thắng cử. Từ đầu thế kỷ XX, hai đảng trở lại thế cân bằng, thay nhau
nắm Quốc hội và Chính phủ. Năm 1912, Đảng Cộng hòa phân chia thành 2
phe: bảo thủ và tiến bộ, điều này tạo diều kiện cho Đảng Dân chủ thắng cử.
Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, Đảng Cộng hịa trở lại nắm quyền. Năm
1932, chính quyền rơi vào tay Đảng Dân chủ, do Rudoven đưa ra chương
trình kinh tế mới, khơi phục nền kinh tế sau khủng hoảng. Năm 1952, Đảng
14
Cộng hòa thắng cử. Kể từ năm 1932 đến nay, Đảng Dân chủ giành thắng lợi
11 lần, Đảng Cộng hòa là 7 lần, trong đó có 5 lần liên tiếp.
Ngồi ra, ở Mỹ còn tồn tại một số đảng khác. Có thể chia thành 2 loại:
Thứ nhất: những đảng được thành lập xuất phát từ lợi ích kinh tế, ủng hộ việc
chính quyền can thiệp vào nền kinh tế. Đó là Đẳng Dân tuý, Greenback..;
Thứ hai, các đảng ly khai hoặc tách ra từ Đảng Cộng hòa hay Đảng
Dân chủ: Cấp tiến (1912), Độc lập (1948), Cải cách (1996), Xanh... Đảng
Cộng sản Mỹ được thành lập từ năm 1920, đại diện cho quyền lợi của giai cấp
công nhân và nhân dân lao động. Trong nhiều thời kỳ, đảng này bị chính
quyền khủng bố, cấm hoạt động, nên ảnh hưởng trong xã hội còn hạn chế.
2.2.1.2 Đặc điểm của hệ thống hai đảng
- Ở Mỹ khơng có cơ sở xã hội cho sự hình thành các đảng cực tả hoặc
cực hữu, khơng có những đẳng cấp đặc quyền q tộc như ở châu Âu, đồng
thời tỷ lệ người nghèo khổ thấp nên khơng có khả năng hình thành lực lượng
cánh tả, phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân chưa phát triển. Sự khác
nhau về tư tưởng chưa đủ mạnh để tạo ra nhiều đảng nhỏ.
- Sự nhất trí với các cơ sở nền tảng của xã hội tư bản chủ nghĩa trở
thành đặc điểm chủ yếu của hệ thống hai đẳng, nó dảm bảo sự cầm quyền của
hai đảng trong suốt hơn 200 năm qua, trừ một lần duy nhất vào năm 1861 và
đã dẫn đến nội chiến.
- Hai đảng không theo đúng nghĩa thông thường, mà giống như hai tổ
chức tranh cử thường trực. Khi bầu cử kết thúc thì hoạt động của các đảng
cũng dừng lại. Việc thực hiện cương lĩnh, chương trình tranh cử, đề ra chính
sách, tổ chức chính phủ... hồn tồn là việc của Tổng thống và êkíp của ơng ta.
- Tổ chức đẳảng lỏng lẻo, quyền lực phân tán, khơng có nội quy, kỷ luật
đảng; khơng có chế định đảng viên. Đảng và đảng viên khơng có mối liên hệ về
tổ chức, mà chỉ có quan hệ được thiết lập trong bầu cử. Ai bầu cho đảng nào thì
là đảng viên của đảng đó. Cơ cấu đảng được tổ chức theo khu vực bẩu củ.
15
- Hai đảng đều có 4 cấp tổ chức: Uỷ ban toàn quốc, bang, quận và cơ
sở, nhưng các tổ chúc hoạt động tương đổi độc lập với nhau, quan hệ trên
dưới rời rạc.
- Hai đảng khơng có cương lĩnh cố định, mục đích cuối cùng hay tơn
chỉ lâu dài, chỉ khi tranh cử mới đề ra cương lĩnh thích hợp. Khi xuất hiện
đảng thứ ba đối trọng, hai đảng tự điều chỉnh để thu hút những đối thủ phía tả
(Đảng Dân chủ) hoặc phía hữu (Đảng Cộng hịa).
- Người của đảng nào trúng cử Tổng thống thì trở thành lãnh tụ của
đảng đó. Trong nội bộ đảng có hai phe bảo thủ và tự do, nên ranh giới giữa
hai dảng khơng rõ ràng, đảng viên của đảng này có thể bỏ phiếu cho đảng Đảng Dân chủ thường bảo vệ quyền lợi giới lao động, chủ trương phân phối
lại sản phẩm quốc dân có lợi cho tầng lớp nghèo và trung lưu, mở rộng hệ
thống bảo hiểm và phúc lợi xã hội, nên thường nhận được ủng hộ của những
người Thiên chúa giáo, Do thái, da màu, người lao động bình dân.
- Đảng Cộng hịa thường gắn quyển lợi với giới kinh doanh, tài chính,
cơng nghiệp; chủ trương bảo thủ trong kinh tế; ủng hộ nguyên tắc điều tiết
nhà nước đối với kinh tế thị trường, nhưng lại đặt mục tiêu nâng cao sức cạnh
tranh của công nghiệp, phản đối vai trò phân phối lại phúc lợi xã hội. Đảng
này được đa số người da tráng, tầng lớp trung lưu theo đạo Tin lành, giới kinh
doanh giàu có ủng hộ.
- Tuy nhiên, hai đảng thống nhất à những mục tiêu chung: bảo vệ chế
dộ sở hữu tư nhân, chế dộ nhà nước cộng hòa, hiến pháp liên bang, thể chế
chính trị dương thời, chống cộng sản và coi lãnh dạo thế giới là sứ mệnh cao
cả của nước Mỹ.
- Suy giảm lòng trung thành với hai đảng truyền thống là nét dặc trưng
của chính trị Mỹ hiện nay. Năm 1974, 1/3 số cử tri tự cui mình là người dộc
lập, 2/3 tự coi là người của cả hai đảng; năm 1980, cử tri thuộc phe Cộng hòa
chưa tới 1/4 nhưng Rigân vẫn thắng củ. Cử tri có khi bầu Tổng thống cho
16
người của Đảng Cộng hòa, nhưng lại bỏ phiếu bầu Thống đốc cho người của
Đảng Dân chủ. Số người muốn có đảng thứ ba nắm quyền ngày càng tăng.
2.2.2 Các nhóm lợi ích
2.2.2.1. Đặc điểm
Đó là những nhóm người có cùng lợi ích nhất dịnh, liên kết lại với nhau
nhầm tác dộng, gây ảnh hưởng tới chính sách và hoạt động của chính quyền.
Hiện nay ở Mỹ có 40-50 nghìn nhóm lợi ích. Năm 1946, luật quy định các
nhóm lợi ích phải đăng ký tại Quốc hội, hàng quý phải báo cáo về hoạt động
của mình, nhưng luật vẫn cịn nhiều kẽ hỏ. Năm 1995, lại có điều luật, theo đó
các cơng ty hoạt động chính trị hậu trường đều phải phúc trình ở hai viện
Quốc hội số tiền dã chi cho các hoạt động của mình.
Đặc điểm của các nhóm lợi ích là khơng tập trung hoạt động để tranh
giành trong các cuộc bầu cử vào các chức vụ chính quyền, họ dành sức lực
cho hoạt động chính trị và phi chính trị (nghề nghiệp), tổn tại trong thời gian
nhất định.
Từ năm 1960, số lượng các nhóm tăng nhanh, ngồi các nhóm lợi ích
như kinh doanh, cơng đồn, nơng dân, giáo dục, nhân viên chính phủ là các
nhóm hoạt động mạnh mẽ và có vai trị to lớn trong đời sống chính trị Mỹ,
như các nhóm của phụ nữ hoặc dân tộc thiểu số, tôn giáo, du lịch, bảo vệ mơi
trường, ngưoi cao tuổi..
2.2.2.2. Loại hình của các nhóm lợi ích
- Nhóm thực hiện lợi ích giai cấp: Nhóm doanh nghiệp lo xây dựng
những chính sách bảo đảm sự tổn tại chế độ tư bản chủ nghĩa, chế độ tư hữu,
kinh doanh tự do; nhóm cơng đồn bảo vệ lợi ích cho người lao động.
- Các nhóm nghề nghiệp (nhà giáo, y tế, thương mại..): Tổ chức thành
các hiệp hội từ trung ương đến địa phương (Phòng Thương mại, Uỷ ban Cơng
dồn trung ương).
17
- Các nhóm theo từng vấn để: Nhóm người cùng mong muốn giải
quyết một vấn để xã hội nào đó (nhà ở, công viên, trường học, phúc lợi xã
hội).
- Các nhóm lợi ích lãnh thổ: Các nhóm chỉ quan tâm tới những vấn dể
của địa phương.
- Các nhóm quan tâm cải cách: Nhóm người có nguyện vọng cải cách
hay hồn thiện một số hoạt động chính trị - xã hội (Câu lạc bộ thành phố,
Liên đoàn các nữ cử tr...).
2.2.2.3. Hoạt động của các nhóm lợi ích
Vận động hành lang: Các nhóm tác động đến các quan chức nhà nước
để chi phối đến quyết định của họ. Vũ khí của họ là tiền. Do cử tri ngày càng
quan tâm đến tư cách của các nhà chính trị nên các hình thức đưa hối lộ ngày
càng tinh vi hơn. Họ dùng sức ép của thơng tin đại chúng (tivi, báo chí) và
quần chúng để tác động đến chính quyển. Họ có thể tác dộng đến Tổng thống,
thuyết phục các Nghị sĩ sửa đổi các dạo luật.
Các nhóm lợi ích kinh tế thường gây ảnh hưởng mạnh nhất ở các cơ
quan làm luật ở các bang. Đó là các hội đồng thương mại, các nhà chế tạo,
những người bán lẻ, những người bán rượu, các cơng ty bảo hiểm. Các nhóm
đứng hàng thứ hai thuộc ngành giáo dục là: Các hiệp hội giáo dục tồn quốc,
Liên đồn các nhà giáo. Các nhóm thứ ba là các nhóm cơng đồn. Gần đây,
các nhóm mơi trường cũng có vai trị quan trọng trong hoạt động chính trị ở
nhiều bang.
Các nhóm lợi ích cấp bang có ảnh hưởng mạnh hơn các nhóm liên
bang dối với hoạt động của Chính phủ, vì nhiệm kỳ của các Nghị sĩ bang
ngắn, nhiều người không quen với nguyên tắc, thủ tục, họ cần những người
hoạt động hành lang chuyên nghiệp (lobby); hơn nữa họ đại diện cho những
địa phương nhỏ, nên không quan tâm lắm đến các dự luật khơng dộng chạm
đến cử tri của mình, và dễ bị các lobby thuyết phục.
18