TIỂU LUẬN
MƠN: THỂ CHẾ CHÍNH TRỊ THẾ GIỚI ĐƯƠNG ĐẠI
Đề tài:
PHÂN TÍCH ĐẶC TRƯNG ĐẢNG CHÍNH TRỊ CỦA CÁC NƯỚC
ANH, MỸ
MỤC LỤC
I. ĐẶT VẤN ĐỀ.............................................................................................1
II. NỘI DUNG................................................................................................3
2.1. Khái quát về đảng chính trị ở Anh, Mỹ....................................................3
2.2. Những vấn đề về đảng chính trị ở Anh, Mỹ.............................................8
2.2.1. Đảng phái chính trị ở Anh hiện nay......................................................8
2.2.2. Đảng phái chính trị ở Mỹ hiện nay.....................................................17
2.3. Sự tương đồng và khác biệt của các đảng chính trị ở Anh, Mỹ.............24
III. KẾT LUẬN.............................................................................................26
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO......................................................28
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lý do chọn đề tài
Công cuộc đổi mới của Việt Nam ngày càng đạt được những kết quả to
lớn, toàn diện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt là về chính
trị. Việt Nam coi đổi mới hệ thống chính trị và đổi mới phương thức lãnh đạo
của Đảng là nhiệm vụ quan trọng then chốt, cấp bách.
Do vậy nghiên cứu về đảng chính trị và hoạt động của các đảng phái
chính trị trong đời sống chính trị thế giới là yêu cầu cần thiết đối với nước ta,
đối với các ngành khoa học nói chung và ngành chính trị học nói riêng. Đảng
chính trị ra đời, tồn tại và phát triển đến nay đã hơn 300 năm, xuất hiện đầu
tiên ở nước Anh năm 1678 [19, tr9].
Đảng chính trị đóng góp rất lớn trong đời sống chính trị các nước
Phương Tây. Mục tiêu, lý tưởng và phương thức hoạt động của đảng chính trị
phản ảnh rõ lợi ích, bản chất của giai cấp mà nó đại diện. Khi đảng chính trị là
đảng cầm quyền thì mới có cơ hội để tạo lập nên bộ máy nhà nước phục vụ
các mục tiêu của mình. Việc nghiên cứu đảng chính trị ở các nước Phương
Tây có ý nghĩa khơng chỉ về mặt lý luận mà về cả thực tiễn.
Nghiên cứu cung cấp cho chúng ta những kinh nghiệm về nguyên tắc
lãnh đạo của các đảng chính trị Phương Tây trong vận động nhân dân và thu
hút sự ủng mạnh mẽ của quần chúng trong việc phát triển kinh tếxã hội, xây
dựng đời sống chính trị- xã hội tiến tới xây dựng một nước Việt Nam văn
minh hiện đại. Thực tiễn cho thấy, rất cần một đề tài nghiên cứu các đảng
chính trị Anh, Mỹ để chúng ta rút ra những bài học về sự thành công cũng
như thất bại của họ, từ đó cơng cuộc đổi mới của Đảng ta tránh được vết xe
đổ, vạch ra đường lối lãnh đạo đất nước sáng suốt và đúng hướng. Chính vì
1
vậy tác giả chọn đề tài “Phân tích đặc trưng Đảng chính trị của các nước
Anh, Mỹ” làm tiểu luận hết mơn của mình.
2. Mục tiêu và nhiệm vụ của luận văn
a) Mục tiêu
Luận văn làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về tổ chức và hoạt
động của các đảng chính trị ở Anh và Mỹ, chỉ ra những nét tương đồng và
khác biệt giữa hệ thống đảng ở ba nước này.
b) Nhiệm vụ
- Làm rõ khái niệm, đặc trưng, phân loại, chức năng của đảng chính trị
ở Anh, Mỹ.
- Làm rõ những nét tương đồng và khác biệt giữa các đảng chính trị
cầm quyền Anh, Mỹ.
3. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
a) Cơ sở lý luận
Tiểu luận lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về đảng
chính trị, đường lối, chủ trương của Đảng trong nghiên cứu và xây dựng Đảng
làm cơ sở lý luận chủ yếu.
b) Phương pháp nghiên cứu
Tiểu luận sử dụng phương pháp nghiên cứu duy vật biện chứng, duy
vật lịch sử, diễn dịch, so sánh, quy nạp và các phương pháp có liên quan khác.
Trong đó làm rõ các vấn đề bằng thủ pháp phân tích sau:
2
Phương pháp lịch sử - nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển,
tồn tại của các đảng phái chính trị, những yếu tố bất biến và những yếu tố khả
biến.
Phương pháp so sánh - sự giống nhau và khác nhau giữa các đảng
chính trị chỉ được hiểu triệt để và sâu sắc thơng qua so sánh ở góc độ đồng đại
và lịch đại là cơ sở tìm ra tính ưu việt của các đảng phái chính trị và vận dụng
vào Việt Nam.
Phương pháp diễn dịch - suy luận những nguyên tắc, đặc điểm chung
của các đảng phái chính trị để tìm ra sự khác biệt và tính ưu việt giữa các
đảng đó.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là các đảng chính trị cầm quyền ở Anh, Mỹ.
Phạm vi nghiên cứu đảng chính trị cầm quyền ở Anh và Mỹ từ những
năm đầu thế kỷ XX đến nay.
3
II. NỘI DUNG
2.1. Khái quát về đảng chính trị ở Anh, Mỹ
a.Khái niệm đảng chính trị
Hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau về Đảng chính trị, để hiểu rõ
đảng chính trị là gì chúng ta cần tìm hiểu một số quan điểm của tác nhà tư
tưởng chính trị thế giới. Nhà triết học chính trị Xơ viết Anatoli Butenko cho
rằng: “Chính đảng là tổ chức chính trị đồn kết những đại biểu tích cực nhất
của một giai cấp xã hội nhất định (hay một nhóm xã hội) và thể hiện (trong
cương lĩnh và các văn kiện khác) những lợi ích cơ bản của giai cấp đó” [18,
tr.19]
Từ điển Bách khoa Việt Nam định nghĩa “Đảng chính trị là tổ chức
chính trị thể hiện những lợi ích của một giai cấp hay tầng lớp xã hội, liên kết
những đại diện ưu tú nhất của giai cấp để lãnh đạo giai cấp đạt tới những mục
đích và lý tưởng nhất định” [11, tr.465]
Theo quan niệm của CN Mác-Lênin: “Đảng chính trị là một tổ chức
chính trị của một giai cấp, đại biểu lợi ích cho giai cấp đó. Đảng chính trị ra
đời nhằm mục đích đấu tranh giành, giữ và thực thi quyền lực nhà nước. Đảng
chính trị lãnh đạo giai cấp đấu tranh giành chính quyền bằng phương pháp
cách mạng và bạo lực cách mạng” [17, tr.124].
Như vậy, Đảng chính trị là một liên minh chính trị của các nhóm, các
phái cùng chung mục đích đấu tranh giành, giữ quyền lực chính thống của
nhà nước nhằm mang lại lợi ích cho giai cấp, tầng lớp xã hội của mình. Trong
đảng chính trị có nhiều nhóm, phe phái hoạt động với mục đích khác nhau và
chúng chỉ thực sự liên minh với nhau khi đạt đến mục đích chính trị thống
nhất. Đảng chính trị ln mang bản chất giai cấp, trong mỗi giai cấp có nhiều
4
đảng chính trị khác nhau, khơng có đảng chính trị đứng ngồi giai cấp, trên
giai cấp. Nó vừa là đại diện của giai cấp thống trị vừa lại diện của giai cấp bị
thống trị.
b. Phân loại đảng chính trị
Phân loại đảng chính trị dựa theo các tiêu chí khác nhau: Nếu dựa vào
chức năng và ảnh hưởng của đảng trong chính quyền nhà nước có đảng cầm
quyền, đảng đối lập. Đảng cầm quyền nắm giữ, điều hành chính quyền nhằm
mang lại lợi ích cho giai cấp mình.
Ở các nước tư bản, đảng giành được đa số ghế cần thiết trong quốc hội,
có quyền thành lập chính phủ và trở thành đảng cầm quyền. Khi đó, đảng cầm
quyền giữ cương vị lãnh đạo, quyết định phần lớn phương hướng hoạt động,
chính sách của chính quyền, nắm giữ các chức vụ chủ chốt nhất của bộ máy
chính quyền nhà nước. Đảng cầm quyền sử dụng sức mạnh, các phương tiện
vật chất đã được cụ thể hóa bằng các thiết chế hóa nhà nước để đạt mục tiêu
của đảng mình. Mỗi đảng cầm quyền có phương pháp, cách thức tổ chức
quyền lực khác nhau tùy thuộc vào quan điểm chính trị, tương quan lực lượng
giữa các đảng phái trong hệ thống chính quyền, tình hình kinh tế - xã hội của
đất nước và nhân tố con người của đảng. Đảng cầm quyền có thể là một đảng
hoặc liên minh các đảng với nguyên tắc nắm giữ 50% số ghế trong nghị viện
trở lên (mơ hình cộng hịa nghị viện và mơ hình cộng hịa nghị việntổng
thống). Đảng đối lập là đảng có số lượng ghế lớn thứ hai trong nghị viện.
Đảng đối lập khơng được quyền thành lập chính phủ, thực hiện giám sát, phê
phán hoạt động của chính phủ, đảng cầm quyền để bảo đảm tính minh bạch,
hiệu quả trong thực thi quyền lực, ngăn chặn sự lạm dụng quyền lực nhà nước
của đảng cầm quyền, thực hiện chức năng dân chủ bảo vệ nhân quyền, quyền
tự do của quần chúng nhân dân. Đảng đối lập khơng phải tìm cách ngăn cản
một cách vơ nghĩa sự hoạt động của chính phủ mà nỗ lực khuyến khích chính
5
phủ cải thiện đời sống xã hội vì lợi ích chung của đất nước. Ở những nước
theo mơ hình Anh, đảng đối lập thành lập “Nội các bóng” sẵn sàng thay thế
chính phủ đương nhiệm khi khơng cịn được nghị viện tín nhiệm.
Đảng chính trị dựa vào hệ tư tưởng của đảng có: đảng mác-xít, đảng
phi mác- xít. Đảng mác- xít là những đảng lấy chủ nghĩa Mác- Lê nin làm nền
tảng tư tưởng, đại diện cho giai cấp công nhân, quần chúng nhân dân lao động
đấu tranh nhằm mục tiêu giải phóng con người, giải phóng giai cấp xây dựng
xã hội làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu. Đảng mác - xít thực hiện đấu
tranh chính trị, đấu tranh vũ trang bằng con đường bạo lực cách mạng xóa bỏ
chế độ tư bản chủ nghĩa xây dựng CNXH, chủ nghĩa cộng sản và xóa bỏ giai
cấp, nhà nước. Đảng phi mác-xít là những đảng lấy tư tưởng tư sản làm nền
tảng với mục đích xây dựng nhà nước tư bản phục vụ lợi ích giai cấp tư sản.
Đảng phi mácxít ngăn chặn sự phát triển mạnh mẽ, rộng lớn của CNXH, bóc
lột sức lao động của cơng nhân, bần cùng hóa giai cấp lao động tạo hố sâu
chênh lệch giàu nghèo. Đảng phi mác- xít chủ trương thúc đẩy tự do cạnh
trạnh, xây dựng nhà nước với chức năng trấn áp và điều hịa xã hội trong
khn khổ của mình.
Dựa vào phương thức tham dự vào chính quyền có đảng hợp hiến và
đảng khơng hợp hiến (trọng tâm là đảng cách mạng). Đảng hợp hiến là đảng
thừa nhận hiến pháp và chế độ chính trị hiện hành, thừa nhận quyền lợi của
các chính đảng khác, tơn trọng quy chế bầu cử, pháp luật và giành quyền lực
nhà nước thông qua bầu cử. Trong xã hội tư bản, các đảng chính trị mang hệ
tư tưởng tư sản, phấn đấu xây dựng xã hội tư bản đều là những đảng hợp hiến,
những đảng chính trị mang tư tưởng cộng sản mà lấy chủ nghĩa Mác - Lê nin
làm nền tảng thì phần lớn được coi là khơng hợp hiến, một số nước cơng nhận
là đảng hợp hiến thì cũng khơng có khả năng tranh cử trong nghị viện như ở
Mỹ. PCF cơng nhận hợp hiến và có ghế trong nghị viên nhưng về bản chất
của đảng đã thay đổi không còn lấy chủ nghĩa Mác - Lê nin làm nền tảng cho
6
tư tưởng đấu tranh cách mạng. Đảng không hợp hiến phản đối hiến pháp và
chế độ chính trị hiện hành có mưu đồ lật đổ chính quyền nhà nước bằng cách
mạng; sau khi giành chính quyền sẽ thay đổi chế độ chính trị. Trong xã hội xã
hội chủ nghĩa, những đảng chính trị lấy chủ nghĩa Mác - Lê nin, chủ nghĩa
dân tộc, dân chủ làm nền tảng được coi là hợp hiến, những đảng chính trị theo
hệ tư tưởng khác đều không hợp hiến, riêng trường hợp của quốc gia Trung
Hoa vẫn tồn tại các đảng chính trị theo hệ tư tưởng tư sản. Điều này xuất phát
từ lịch sử nhà nước Trung Hoa do có những vùng đất địi ly khai như Đài
Loan, vùng đất bị chiếm đóng và đã trao trả như Ma Cao, Hồng Công nên
chưa thể thống nhất theo sự lãnh đạo của một đảng.
Dựa vào thái độ chính trị có đảng cánh tả, đảng cánh hữu. Đảng cánh tả
là đảng đề xướng cải cách xã hội, đề cao tự do, ủng hộ sự công bằng, bình
đẳng, hữu ái, quyền lợi, tiến bộ và chủ nghĩa quốc tế, nhấn mạnh trách nhiệm
của nhà nước đối với toàn bộ kinh tế xã hội và hướng tới xây dựng xã hội tốt
đẹp ở tương lai, ủng hộ xu thế hoà hiếu trong quan hệ quốc tế. Đảng cánh hữu
là đảng đề xướng duy trì trật tự hiện hữu, chủ trương uy quyền, đẳng cấp,
trách nhiệm, duy trì các giá trị truyền thống, dân tộc chủ nghĩa và coi trọng
giá trị tôn giáo. Đảng cánh hữu chủ trương tự do kinh tế tư nhân, không cần
sự can thiệp của nhà nước vào kinh tế thị trường để thị trường tự điều tiết, bảo
vệ lợi ích dân tộc, quốc gia. Trong xã hội hiện đại, việc phân biệt rạch rịi
đảng cánh tả và đảng cánh hữu khơng cịn được đề cao, có thể một đảng cánh
tả liên minh với một đảng cánh hữu để nắm chính quyền “Đảng Xã hội dân
chủ Đức liên minh Đảng dân chủ Thiên chúa giáo giai đoạn 2005 - 2009 để
thiết lập một chính phủ liên minh” [14]. Ở Anh, Công Đảng là lực lượng đại
diện chủ yếu của đảng cánh tả, Đảng Bảo thủ là lực lượng chủ yếu đại diện
cho đảng cánh hữu.
Dựa vào chế độ chính trị xã hội thì có đơn đảng hay đa đảng. Đơn đảng
là trong quốc gia chỉ có duy nhất một đảng được phép hoạt động, nằm trong
7
quy định của hiến pháp và sự ủng hộ của nhân dân. Các đảng chính trị khác
khơng được quy định trong hiến pháp nên không được phép hoạt động nếu có
hoạt động đều trái hiến pháp, pháp luật như Lào, Việt Nam, Cu Ba, Triều
Tiên.
Trong các nước tư bản chủ nghĩa như Anh, Mỹ thì khơng có hệ thống
đơn đảng. Đa đảng là trong quốc gia có từ hai đảng trở lên. Đa đảng gồm có
đa đảng hình thức và đa đảng thực tế. Với mơ hình đa đảng hình thức: Trong
một số quốc gia có nhiều đảng chính trị hoạt động song nó chỉ mang ý nghĩa
hình thức, việc hoạt động trên thực tế của các đảng này rất mờ nhạt không
được sự ủng hộ của quần chúng nên ít có khả năng giành được thắng lợi trong
các lần bầu cử nghị viện. Ở đây, thực chất chỉ tồn tại hai đảng thay nhau nắm
chính quyền điều hành nhà nước và xã hội, điển hình như là Đảng dân chủ và
Đảng cộng hịa (Mỹ); Đảng bảo thủ và Cơng đảng (Anh). Hệ thống hai đảng
cho phép đảng đối lập có vai trị lớn hơn. Đảng đối lập hình thành với tư cách
là người kiểm tra, kiểm soát hoạt động của đảng cầm quyền, buộc đảng cầm
quyền phải có trách nhiệm cao hơn với hoạt động lãnh đạo, điều hành đất
nước của mình. Với mơ hình đa đảng thực tế tức là các đảng chính trị tồn tại
và hoạt động độc lập, cạnh tranh nhau quyết liệt, mỗi đảng chính trị có tư
tưởng, quan điểm riêng. Đa đảng thực tế đại diện cho các nhóm xã hội, tầng
lớp, giai cấp khác nhau nên khi bầu cử nghị viện sẽ không có đảng chính trị
nào giành được đa số phiếu bầu tuyệt đối nên khó có thể thành lập chính phủ.
Hệ thống đa đảng được cử tri ủng hộ vì cho phép cử tri tự do lựa chọn những
đảng có quan điểm chính trị phù hợp với lợi ích và nguyện vọng của mình.
Nhưng càng nhiều đảng thực tế thì càng nhiều quan điểm chính trị khác nhau
và việc dung hịa các quan điểm đó là khơng thể đạt được như kỳ vọng, càng
nhiều đảng thực tế thì sẽ khó khăn cho cử tri trong việc nên lựa chọn ủng hộ
chính đảng nào. Như vậy, hệ thống đơn đảng, lưỡng đảng, đa đang đều có
những ưu điểm và khuyết điểm.
8
Phân loại đảng dựa theo các tiêu chí trên để thấy rằng đảng chính trị ở
từng góc độ, khía cạnh, lĩnh vực đều có những điểm ưu việt và hạn chế nhất
21 định. Việc áp dụng mơ hình đơn đảng, đa đảng phải dựa vào nhiều nhân tố,
trong đó nhân tố lịch sử, văn hóa, sự ủng hộ của quần chúng, xu hướng phát
triển hình thái xã hội của thời đại là nhân tố quan trọng quyết định quốc gia
nên chọn mơ hình nào là phù hợp. Sự lựa chọn chế độ chính trị của mỗi quốc
gia dân tộc tránh áp dụng máy móc mơ hình đảng chính trị của nước này vào
nước khác ảnh hưởng đến sự tồn tại, phát triển của quốc gia, dân tộc mình.
c. Chức năng của đảng chính trị hiện nay
Dựa trên vai trị là lực lượng lãnh đạo nhà nước, đảng chính trị được cụ
thể hóa thành các chức năng sau:
Một là, đảng chính trị là đề ra cương lĩnh, mục tiêu và các biện pháp
thực hiện
Hai là, đảng chính trị là đại diện ý chí, lợi ích cơ bản cho nhóm người,
tầng lớp, giai cấp ủng hộ và bầu ra.
Ba là, đảng chính trị thu hút và tập hợp quần chúng.
Bốn là, đảng chính trị hoạt động giành và giữ chính quyền.
Năm là, đảng chính trị đối lập giám sát hoạt động của đảng cầm quyền.
2.2. Những vấn đề về đảng chính trị ở Anh, Mỹ
Các quốc gia Anh, Mỹ là những nước có nền kinh tế phát triển ở tốp
đầu thế giới. Sự phát triển này gắn liền với nhân tố đảng chính trị. Ở mỗi quốc
gia Anh, Mỹ mang đặc trưng điển hình cho những mơ hình nhà nước: Mơ
hình đại nghị, mơ hình tổng thống và mơ hình hỗn hợp. Vì vậy, nghiên cứu
các đảng chính trị ở ba mơ hình nhà nước khác nhau sẽ giúp độc giả có cái
9
nhìn tồn diện, đầy đủ hơn về sự tồn tại, phát triển và những đóng góp của các
đảng chính trị hiện nay.
2.2.1. Đảng phái chính trị ở Anh hiện nay
Các đảng chính trị Anh quốc đã có đóng góp to lớn vào đời sống kinh
tế, chính trị, xã hội và lãnh đạo bộ máy nhà nước hoạt động kỷ cương, hiệu
quả. Tác giả khái qt tình hình kinh tế, chính trị, xã hội, tổ chức bộ máy
chính quyền Anh quốc để thấy được vị trí, vai trị và những đóng góp to lớn
của các đảng chính trị Anh.
2.2.1.1. Khái qt tình hình kinh tế- xã hội, tổ chức bộ máy nhà nước
tác động đến hoạt động lãnh đạo của các đảng chính trị của Anh.
Khái qt tình hình kinh tế- xã hội.
Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland là một quốc gia nằm ở phía
tây bắc châu Âu. Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland bao gồm 4 phần
chính là Anh (England), Scotland, Wales và Bắc Ireland và một số hòn đảo,
quần đảo khác ở nhiều nơi trên thế giới.
Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland hiện tại là liên minh cuối
cùng của hàng loạt những liên minh từng được thành lập trong vòng 300 năm
qua. Vương quốc Scotland và Vương quốc Anh từng tồn tại với tư cách các
quốc gia độc lập với hoàng gia và các cơ cấu chính trị riêng biệt từ thế kỷ thứ
IX. Xứ Wales cũng từng một thời là lãnh thổ độc lập đã rơi vào tầm kiểm sốt
của hồng gia Anh từ sau đạo luật Rhuddlan năm 1284 và chính nó cũng trở
thành một phần của Vương quốc Anh theo các điều luật trong đạo luật Wales.
Theo đạo luật liên minh 1707, các nước Anh và Scotland, vốn từng là
các quốc gia liên minh riêng biệt từ năm 1603, đã đồng ý thành lập một liên
minh chính trị gọi là Vương quốc Anh. Đạo luật liên minh 1800 đã thống nhất
Vương quốc Anh với Vương quốc Ireland, nước này đã dần rơi vào vòng
10
kiểm soát của Anh từ giai đoạn 1541 - 1691, để hình thành nên Vương quốc
Liên hiệp Anh và Ireland. Nước Cộng hòa Ireland tuyên bố độc lập năm 1922
sau khi tách khỏi hòn đảo Ireland với 26 hạt, 6 hạt cịn lại hình thành nên Bắc
Ireland vẫn nằm trong Vương quốc Anh. Là một cường quốc công nghiệp và
hàng hải trong thế kỷ XIX, Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland thường
được gắn liền với danh hiệu quốc gia góp phần "hình thành nên thế giới hiện
đại" khi đóng vai trị quan trọng hàng đầu trong việc phát triển các tư tưởng
về sở hữu, chủ nghĩa tư bản và dân chủ nghị viện phương Tây cũng như có
những đóng góp to lớn trong văn học, nghệ thuật, khoa học và công nghệ. Ở
thời cực thịnh, đế quốc Anh trải dài trên hơn một phần tư bề mặt trái đất và
chiếm một phần ba dân số thế giới, biến nó trở thành đế chế lớn nhất trong
lịch sử. Tuy nhiên, nửa đầu thế kỷ XX, sức mạnh của nó dần suy giảm sau
những hậu quả của Chiến tranh thế giới thứ nhất và thứ hai. Nửa sau thế kỷ
XX, đế quốc này tan rã và Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland đã tái
lập lại hình ảnh quốc gia thịnh vượng và kinh tế phát triển của mình hiện nay.
Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland đã trở thành một thành viên Liên
minh Châu Âu từ năm 1973. Quan điểm của chính phủ hiện tại về việc hội
nhập sâu thêm vào tổ chức này hiện không thống nhất, khi Đảng Bảo thủ ủng
hộ việc thu hồi lại một số quyền lực cho quốc gia không phải hội nhập tất cả
vào Liên minh Châu Âu. Hiện nay Chính phủ Anh quyết định không sử dụng
đồng tiền chung euro [16, tr.4].
Trong Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland có sự phân hóa xã hội
lớn, giới thượng lưu sở hữu toàn bộ phương tiện sản xuất, chiếm phần lớn của
cải xã hội, giới trung lưu không sở hữu phương tiện sản xuất nhưng do lao
động trí óc nên thu nhập của giới này khá, tốt, còn tầng lớp lao động, dân
nghèo thu nhập thấp, đời sống khó khăn. Chính phủ Anh có chương trình nhà
nước phúc lợi, phân phối lại thu nhập thông qua thuế để cải thiện đời sống
cho tầng lớp người lao động. Hiện nay, Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc
11
Ireland được đánh giá là quốc gia có sự cơng bằng nhất về khoản thu nhập
hiện tại sau thuế, tuy nhiên, sự phân hóa giàu nghèo vẫn cao ở Anh quốc
Khái quát tổ chức bộ máy Nhà nước.
Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland là nước quân chủ lập hiến,
có hệ thống luật pháp theo mơ hình án lệ. Các thể chế chính trị chính:
Nữ hồng là Ngun thủ quốc gia, đứng đầu cơ quan lập pháp và hành
pháp, Tổng tư lệnh tối cao các lực lượng vũ trang và là người đứng đầu Giáo
hội Anh. Trên thực tế, quyền lực của Nữ hồng chỉ có tính chất tượng trưng.
Ngoài ra, Nữ hoàng là nguyên thủ quốc gia của 16/54 nước thuộc Khối thịnh
vượng chung.
Cơ quan lập pháp: Nghị viện Anh được cấu thành bởi 3 thành phần:
Vua (hay Nữ hoàng), Thượng viện và Hạ viện, cả ba thành phần chỉ họp
chung trong những sự kiện đặc biệt (như khi Nữ hoàng khai mạc Nghị viện
mới) và chỉ mang ý nghĩa tượng trưng. Mỗi viện đều có các uỷ ban đảm
nhiệm các công việc khác nhau.
Hạ viện là cơ quan duy nhất được dân bầu và trên thực tế là cơ quan lập
pháp chủ yếu. Thượng viện: Còn gọi là Viện nguyên lão, Thượng viện Anh có
tất cả 770 nghị sỹ (số lượng này thường thay đổi theo thời gian), gồm” (1)
các Thượng nghĩ sỹ cha truyền con nối có dịng dõi q tộc và Hồng gia; (2)
Thượng nghị sỹ là những chức sắc quan trọng của Giáo hội Anh và (3) Những
chính khách có cơng lao lớn với đất nước.
Chính phủ hiện đang tiến hành cải cách thượng viện theo hướng xoá bỏ
chế độ cha truyền con nối, thay vào đó là cử những người có cơng với đất
nước được Nữ hoàng phong tước. Chủ tịch thượng viện là thành viên của
Chính phủ do Nữ hồng bổ nhiệm theo đề nghị của thủ tướng, nhiệm kỳ 5
năm. Giúp việc cho Chủ tịch là 2 Phó Chủ tịch do thượng viện bầu, nhiệm kỳ
12
1 năm. Thượng viện có 17 Ủy ban thường trực, thành viên mỗi ủy ban được
bổ nhiệm theo tỷ lệ số ghế của các đảng phái trong Nghị viện. Nhà nước
không trả lương cho các thành viên thượng viện nhưng phải trả chi phí cho
các chuyến cơng tác và các lệ phí khác. Thượng viện giữ quyền lực về tư
pháp và được coi là Tòa án tối cao ở nước Anh. Hệ thống tư pháp đặt dưới sự
lãnh đạo của chủ tịch thượng viện. Kết luận của thượng viện được coi là phán
quyết cuối cùng cho một vụ án. Thành viên của thượng viện không qua bầu
cử của nhân dân. Hạ viện: Là cơ quan lập pháp gồm 650 nghị sỹ, mỗi nghị sỹ
được bầu từ một khu vực bầu cử. Hiện tại Vương quốc Anh được chia thành
650 khu vực bầu cử, với 533 ở Anh, 40 ở xứ Wales, 59 ở Scotland, và 18 ở
Bắc Ireland, việc bầu cử được bầu theo nguyên tắc phổ thông đầu phiếu,
nhiệm kỳ 5 năm.
Hạ viện là nơi thông qua các đạo luật, chủ trương, chính sách lớn về
kinh tế, xã hội, chính trị, đối nội và đối ngoại, giám sát hoạt động của chính
phủ. Từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai đến nay, Đảng bảo thủ và Công đảng
thay nhau chiếm đa số trong vạ viện. Tuy nhiên, sau bầu cử ngày 6/5/2010,
lần đầu tiên trong 70 năm, Anh có chính phủ liên minh giữa Đảng bảo thủ và
Đảng dân chủ tự do. Đảng bảo thủ chiếm 306 ghế, Công đảng chiếm 258 ghế
và Đảng dân chủ tự do chiếm 57 ghế. Ngồi ra cịn các đảng nhỏ khác như
Đảng dân chủ hợp nhất, và các đảng mang tính chất địa phương như đảng
Plaid Cymru ở Xứ Uên, đảng Quốc gia Scốt ở Scotland, đảng Sinn Fein ở ắc
Ai-len... chiếm 28 ghế. Hạ viện bầu chủ tịch và các phó chủ tịch. Chủ tịch hạ
viện không được phát biểu, biểu quyết (trừ trường hợp tỷ lệ phiếu thuận và
phiếu chống ngang nhau) trong phiên họp. Hạ viện thành lập các ủy ban, gồm
ủy ban thường trực và ủy ban lâm thời, hầu hết công việc của Hạ viện được
do các ủy ban đảm nhiệm soạn thảo, thảo luận, thẩm tra các dự án luật nhưng
không được biểu quyết thông qua.
Nội các: Khoảng 22-23 thành viên do thủ tướng chỉ định và Nữ hoàng
phê duyệt, bao gồm các bộ trưởng các bộ, bộ trưởng khơng bộ tạo thành chính
13
phủ của Nữ hoàng. Cơ quan tư pháp: Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc
Ireland có ba hệ thống pháp luật riêng. Luật Anh được áp dụng ở Anh và xứ
Wales, Luật Bắc Irland áp dụng ở Bắc Irland, Luật Scotland áp dụng ở
Scotland.
Thượng viện là nơi xét cuối cùng ở Anh. Chánh án Tòa án tối cao và
các thượng nghị sỹ hoạt động như Tòa án tối cao. Chủ tịch thượng viện là
Chánh án Tòa án tối cao, phán quyết của Chủ tịch thượng viện là phán quyết
cuối cùng của bản án. Hầu như các phán quyết của thượng viện mang tính
giải thích luật và đưa ra những quan điểm ủng hộ của mình với các bản án đã
xét xử ở cấp dưới. Các thẩm phán được trả lương từ ngân sách Nhà nước,
không được nằm trong hạ viện, muốn trở thành thẩm phán phải từ bỏ vị trí
trong hạ viện. Các thẩm phán chỉ bị sa thải khi thượng viện, hạ viện đề xuất
và Nữ hoàng chuẩn y. Việc bổ nhiệm thẩm phán do Chánh án tòa án tối cao Chủ tịch thượng việnthành viên nội các chuẩn y.
2.2.1.2. Các đảng chính trị cầm quyền ở Anh
a. Đảng Bảo thủ Anh
(1) Về nguồn gốc Đảng bảo thủ Anh có nguồn gốc từ đảng Tory, một
đảng bảo hồng vào thế kỷ XVII. Vì vậy, Đảng bảo thủ hiện vẫn cịn được
biết với cái tên Tory Party, chính trị gia thuộc đảng này và những người ủng
hộ vẫn được gọi là những Tories. Đảng này còn mang cái tên Bảo thủ vào
đầu thế kỷ XX khi Đảng liên minh với phe liên hiệp trong Đảng tự do (phe
liên hiệp chống lại sự ủng hộ của Đảng tự do đối với việc trao quyền tự chủ
cho Ireland trong Vương quốc Liên hiệp Anh và Ireland). Từ đó, đảng có tên
Bảo thủ và Liên hiệp như hiện nay. Đảng Bảo thủ nắm chính quyền hai phần
ba thời gian trong thế kỷ XX. Sau thất bại ở kỳ bầu cử năm 1997 trước Cơng
đảng, Đảng bảo thủ trở thành đảng đối lập chính trong chính phủ. Hiện Đảng
bảo thủ là đảng lớn thứ nhất tính theo số ghế đại biểu 330/650 trong hạ viện.
14
Lãnh đạo đảng hiện nay là ông David Cameron, giữ chức từ năm 2005.
Đảng bảo thủ chủ trương duy trì chế độ tư bản hiện hành, một châu Âu liên
hiệp, tán thành giải quyết các vấn đề chính trị bằng phương pháp thực dụng,
chống chủ nghĩa xã hội, chỉ tán thành những cải cách xã hội. Trước đại
chiến thế giới lần thứ hai, Đảng bảo thủ đã nhiều lần lên cầm quyền.
(2) Về các phe phái trong Đảng bảo thủ Đảng bảo thủ có nhiều phe
phái trong nội bộ theo những quan điểm chính trị khác nhau, nổi bật là phái
Bảo thủ truyền thống, phái Một Quốc gia bảo thủ, phái Đảng bảo thủ thị
trường tự do. Phái bảo thủ truyền thống: là phái duy trì các giá trị truyền
thống thể hiện qua phương châm: truyền thống, trung thành và dân tộc được
thành lập năm 2005 do Chủ tịch Ủy ban tài chính Đảng bảo thủ Edward
Leigh khởi xướng. Hiện nay phái Bảo thủ xã hội có một số thành viên trong
nghị viện và chính phủ đương nhiệm. Quan điểm chính trị của phái này là
duy trì Anh quốc theo trật tự Giáo hội hiện thời không muốn sự phá vỡ cấu
trúc gia đình truyền thống và tách rời một phần quyền lực, lãnh thổ thuộc địa
ra khỏi Liên hiệp Anh, không mong muốn xây dựng một cộng đồng sâu rộng
ở Châu Âu. Phái Một quốc gia bảo thủ (còn được gọi là phái dân chủ Tory)
là một hình thức của chủ nghĩa bảo thủ chính trị Anh ủng hộ xu thế gia đình
truyền thống và chủ nghĩa thực dụng. Cụm từ “phái dân chủ Tory” có nguồn
gốc với Benjamin Disraeli (1804-1881), người từng là phát ngôn viên của
Đảng bảo thủ và trở thành Thủ tướng chính phủ vào tháng Hai năm 1868.
Với triết lý chính trị của mình, ơng muốn xây dựng một xã hội mà các cơng
dân có trách nhiệm hỗ trợ giúp đỡ lẫn nhau không phân biệt tầng lớp thượng
lưu, trung lưu hay hạ lưu, cảnh báo nước Anh sẽ trở nên chia thành hai
“quốc gia” của người giàu và người nghèo, công nghiệp gia tăng và sự bất
bình đẳng tràn lan. Ơng ủng hộ các biện pháp để cải thiện cuộc sống của
tầng lớp lao động. Triết lý chính trị đó được Disraeli đưa vào các chương
trình hành động của chính phủ trong nhiệm kỳ làm thủ tướng của mình. Đến
15
cuối thế kỷ XIX, Đảng bảo thủ đã có sự phân hóa một nhóm tách ra đi theo
hướng chủ nghĩa thị trường tự do. Đảng bảo thủ bắt đầu hình thành hai phái:
phái Một quốc gia bảo thủ và phái chủ nghĩa thị trường tự do. Phái chủ
nghĩa thị trường tự do hay chủ nghĩa Thatcher do chính trị gia bảo thủ Anh
bà Margaret Thatcher khởi xướng từ năm 1975 với quan điểm chính trị cắt
giảm chi tiêu cơng, tham gia vào tái phân phối phúc lợi xã hội và áp dụng
đường lối cứng rắn để giảm lạm phát, kiềm chế tăng giá. Quan điểm học
thuyết và chính sách kinh tế thị trường tự do của à đã được các đảng phái
chính trị của nước Anh đặt lịng tin. Những người ủng hộ phái chủ nghĩa thị
trường tự do của à đã được gọi với tên “Thatcherites”.
(3) Tổ chức bộ máy của Đảng Bảo thủ: Tổ chức bộ máy của đảng gắn
liền với hoạt động bầu cử vào hạ viện. Chỉ có nghị sỹ Đảng bảo thủ mới được
quyền bầu lãnh đạo đảng. Những ai muốn tham gia tranh cử lãnh đạo đảng
phải được sự đồng ý của 10% nghị sỹ của đảng. Trong lần bỏ phiếu thứ nhất,
người giành chiến thắng thì phải đạt đa số phiếu và hơn người thứ hai 15%.
Nếu không thành công, lần bỏ phiếu thứ hai, người giành chiến thắng chỉ cần
đạt đa số phiếu. Nếu không thành công ở lần hai, phải bầu lần thứ ba, chỉ
chọn hai người có số phiếu cao nhất.
b.Đảng dân chủ tự do
(1) Về nguồn gốc ngày 02 tháng 3 năm 1988, Đảng dân chủ xã hội sáp
nhập vào Đảng tự do sau cuộc bỏ phiếu của các đảng viên vào năm 1989 đã
đổi tên đảng thành Đảng dân chủ tự do. Quan điểm chính trị của Đảng dân
chủ tự do theo chủ nghĩa tự do xã hội và chủ nghĩa tự do kinh tế. Theo đó,
chủ nghĩa tự do xã hội ủng hộ hoạt động tự do của xã hội dân sự, chống
phân biệt chủng tộc, giới tính, khuyết tật, tơn giáo và tình dục, ủng hộ những
cuộc hơn nhân đồng tính, nghiên cứu di truyền, đề xuất một lệnh ân xá cho
những người di cư bất hợp pháp đã sống ở Anh trong một thập niên mà
16
khơng có một hồ sơ tội phạm, mong muốn thắt chặt kiểm soát người nhập cư
trái phép. Chủ nghĩa tự do kinh tế ủng hộ việc áp thuế tiến bộ và sự phân
phối lại kinh tế trong xã hội, đẩy mạnh cung cấp dịch vụ cơng cộng, tài
chính, cho phép nhập cư, đa phương, việc can thiệp vào các nước khác chỉ
khi được sự đồng ý và ủng hộ của Liên hiệp quốc, chống lại việc làm nóng
lên tồn cầu của một số quốc gia, ủng hộ việc giải rác vũ khí hạt nhân đe dọa
an ninh tồn cầu, ủng hộ nhất thể hóa Châu Âu. Trong cương lĩnh chính trị,
Đảng dân chủ tự do xác định: “Xây dựng một xã hội cơng bằng và tự do,
khơng cịn nghèo đói, thiếu hiểu biết, tôn trọng quyền đấu tranh cho tự do,
nhân phẩm, lương tâm, hạnh phúc cá nhân, quyền phát triển tài năng, xây
dựng một nền giáo dục đa dạng, sáng tạo, thúc đẩy vai trị của nhà nước
đóng góp đầy đủ cho cộng đồng, mọi cơng dân có quyền tham gia vào các
quyết định có ảnh hưởng đến cuộc sống của họ”. Năm 2014, lãnh đạo của
Đảng là Nick Clegg. Đảng dân chủ tự do có 71 trong Thượng viện và 12
trong Nghị viện châu Âu, 57 nghị sĩ trong hạ viện với 23% phiếu bầu và trở
thành đảng lớn thứ ba trong hạ viện đứng sau Đảng bảo thủ với 307 phiếu
bầu và Công đảng với 258 phiếu. Do không đảng nào chiếm đa số, Đảng dân
chủ tự do đã tham gia chính phủ liên minh với đảng Bảo thủ, với Nick Clegg
trở thành phó thủ tướng Anh.
Đảng dân chủ tự do gồm các tổ chức đảng ở Anh, xứ Wales, Scotland,
hội nghị của đảng diễn ra một năm 2 lần. Điều hành công việc chung của
đảng dưới sự chủ trì của chủ tịch đảng, Ủy ban của đảng gồm chủ tịch đảng,
phó chủ tịch, các đảng viên trong nghị viện, ủy viên hội đồng địa phương, đại
diện của các đảng ở Anh, xứ Wales, Scotland, các thành viên mà hội đồng địa
phương bầu ra.
c. Công Đảng Anh
17
(1) Về nguồn gốc Công đảng, một số tài liệu tiếng Việt ghi là Đảng lao
động Anh hay Đảng lao động Vương quốc Anh, kể từ ngày thành lập vào năm
1990, đã trở thành đảng chính trị chính của phe cánh tả tại Anh, Scotland và
Wales. Hiện nay, lãnh đạo đảng tạm thời là bà Harriet Harman. Công đảng
Anh được thành lập với tư cách đại diện chính trị cho những lợi ích của giai
cấp cơng nhân và các tổ chức cơng đồn.
2.2.1.3. Cách thức hoạt động của các đảng chính trị Anh
Các đảng chính trị hoạt động chủ yếu dựa trên ba nguyên tắc cơ bản:
Thứ nhất, tổ chức tham gia hoạt động bầu cử đưa đội ngũ đảng viên vào bộ
máy chính quyền nhà nước để tiến hành cai trị đất nước. Thứ hai, tổ chức xây
dựng và thực thi chương trình nghị sự, chính sách, hệ thống luật của nhiệm kỳ
mà đảng cầm quyền. Thứ ba, hoạt động kiểm soát quyền lực nhà nước đối với
đảng cầm quyền
Thứ nhất, tham gia hoạt động bầu cử. Hình thức bầu cử là đảng nào
giành chiến thắng phải được đa số phiếu tương đối. Trước khi tiến hành bầu
cử các quốc gia phải lập danh sách cử tri tham gia bầu cử. Việc lập danh sách
cử tri có ý nghĩa quan trọng xác nhận về mặt pháp lý quyền bầu cử của công
dân để tránh việc gian lận trong bầu cử cũng như đảm bảo quyền lợi bầu cử
của công dân. Cơng dân có thể đăng ký vào nhiều danh sách cử tri ở các khu
vực khác nhau, nhưng khi bỏ phiếu chỉ có quyền bỏ phiếu ở một đơn vị bầu
cử và bỏ phiếu một lần. Pháp luật bầu cử của Anh quy định, công dân Anh
thường trú tại đơn vị bầu cử vào thời điểm đăng ký danh sách cử tri mới có
quyền bầu cử và thực hiện theo nguyên tắc phổ thông đầu phiếu- mỗi cử tri
chỉ được phép bầu cho một nghị sỹ. Ở Anh quốc có 650 đơn vị bầu cử. Mỗi
đơn vị bầu cử chỉ được chọn ra một nghị sỹ vào Hạ viện, người giành chiến
thắng trong bầu cử là người có số phiếu cao nhất và không nhất thiết phải quá
bán. Khi người giành chiến thắng ở một đơn vị bầu cử thì sẽ là người đại diện
18