TIỂU LUẬN
MƠN: THỂ CHẾ CHÍNH TRỊ THẾ GIỚI ĐƯƠNG ĐẠI
Đề tài:
SO SÁNH THỂ CHẾ CHÍNH TRỊ LIÊN HIỆP VƯƠNG QUỐC ANH –
BẮC AILEN VÀ THỂ CHẾ CHÍNH TRỊ CỘNG HỊA LIÊN BANG
ĐỨC
MỤC LỤC
I. ĐẶT VẤN ĐỀ...............................................................................................1
II. NỘI DUNG..................................................................................................2
2.1. Các khái niệm cơ bản.................................................................................2
2.2.Lịch sử hình thành thể chế chính trị Liên hiệp vương quốc Anh- Bắc
Ailen và Cộng hòa Liên Bang Đức...................................................................9
2.3. Sự giống và khác nhau giữa thể chế cộng hòa bán tổng thống của Liên
hiệp vương quốc Anh- Bắc Ailen và Cộng hòa Liên Bang Đức.....................18
III. KẾT LUẬN..............................................................................................23
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.....................................................25
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Thể chế chính trị là một trong những vấn đề quan trọng của khoa học
chính trị được nhiều các học giả quan tâm nghiên cứu. Qua nhiều giai đoạn
hình thành và phát triển, cho đến nay thể chế chính trị của các quốc gia trở
nên hồn thiện hơn và đa dạng hơn so với các giai đoạn trước. Trong thời kỳ
hiện tại này, trước xu thế phát triển mạnh mẽ của thế giới trên tất cả các lĩnh
vực từ kinh tế, xã hội, văn hóa đến chính trị, mỗi quốc gia ln cố gắng xây
dựng và hồn thiện thể chế chính trị của mình để phát triển đất nước.
Hiện nay ở châu Âu có: Áo, Phần Lan, Pháp, Ai-xơ-len, Ai-rơ-len, Bồ
Đào Nha, Bun-ga-ri, Lít-va, Ba Lan, Ru-ma-ni, Nga, Ucrai-na, Đức, Anh....
Quốc gia Đức là quốc gia độc lập có chủ quyền ở khu vực Trung Âu. Quốc
gia này là một nước cộng hòa dân chủ tự do và là một nước nghị viện liên
bang. Liên hiệp Vương quốc Anh và Bắc Ireland lập nền trên thể chế quân
chủ lập hiến với thủ tướng đảm nhiệm vị trí đứng đầu chính phủ. Đây là hệ
thống chính trị đa nguyên với sự ủy thác một phần quyền lực cho xứ Scotland,
xứ Wales và Bắc Ireland. Quyền hành pháp thuộc về chính phủ. Đây là hai
quốc gia có thể chế chính trị rất nổi bật.
Vậy thì, thể chế chính trị của hai đất nước này có gì nổi bật. Tìm hiểu
vấn đề này, ngồi việc hệ thống hóa những thơng tin về thể chế cộng hòa bán
tổng thống của Liên hiệp vương quốc Anh – Bắc Ailen và thể chế Chính trị
Cộng hịa Liên Bang Đức dưới góc nhìn chính trị học so sánh, đề tài cũng
muốn rút ra những điểm giống và khác nhau, những kết luận tổng quan trọng
của hai thể chế này.
Từ đó có những góc nhìn đối chiếu trong quá trình xây dựng nhà nước
pháp quyền ở Việt Nam. Với lý do trên, đề tài: “So sánh thể chế chính trị
Liên hiệp vương quốc Anh – Bắc Ailen và thể chế Chính trị Cộng hịa Liên
Bang Đức” được chọn làm tiểu luận hết mơn của mình.
1
II. NỘI DUNG
2.1. Các khái niệm cơ bản
2.1.1. Chính trị
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam giải thích: Chính trị là tồn bộ
những hoạt động mà tương ứng với nó là mối quan hệ giữa con người với
nhau trong các vấn đề gắn với quan hệ giai cấp, dân tộc, quốc gia và các tầng
lớp xã hội mà cốt lơi của nó là các vấn đề giành, giữ và sử dụng quyền lực
nhà nước. Tuy nhiên, trên thực tế có khá nhiều những quan điểm, trường phái
khác nhau định nghĩa về chính trị. Theo Harold Lasswell thể chế chính trị là
về vấn đề ai đạt được cái gì, khi nào, như thế nào và tại sao đạt được. Còn
David Easton cho rằng chính trị là sự phân phối bắt buộc những giá trị của
một xã hội. Một học giả chính trị học (Nhà Kinh tế chính trị học và xã hội
học) Max Weber lại cho rằng: chính trị là quá trình để giành quyền lực và ảnh
hưởng sự phân phối quyền lực giữa các quốc gia hoặc giữa các yếu tố trong
một quốc gia. Theo quan điểm của Bernard Crick thì chính trị là chính phủ
dưới một dạng nhất định, một phương thức đặc biệt để làm nên và thực hiện
chính sách, luật lệ tác động lên dân chúng. Nghiên cứu chính trị theo nghĩa
rộng hơn thì chính trị liên quan đến 6 khía cạnh: 1) cộng đồng, 2) luật lệ, 3)
cấu trúc kinh tế, 4) xung đột và mâu thuẫn lợi ích, 5) quản trị và 6) quyền lực.
Về khía cạnh cộng đồng: chính trị là về những cộng đồng do con người tổ
chức nên. Có 3 yếu tố trong cộng đồng chính trị là: dân cư sinh sống trong
lãnh thổ có chính phủ. Theo khía cạnh luật lệ thì chính trị gồm các luật lệ của
cộng đồng gồm cả thành văn và các quy tắc không thành văn. Theo khía cạnh
cấu trúc kinh tế: quy tắc kinh tế quyết định cách chúng ta đánh giá về kinh tế
như cái gì là giá trị, cái gì được coi là hàng hoá, và tài sản được đánh giá như
thế nào. Về khía cạnh thứ 4 (xung đột và mâu thuẫn lợi ích) thì chính trị là
xung đột và mâu thuẫn lợi ích trên các quy tắc điều chỉnh cộng đồng. Xung
đột khơng chỉ là chiến tranh mà cịn là sự khơng hồ hợp, mâu thuẫn. Với
2
khía cạnh quản trị, điều hành thì chính trị là sự điều hành và quản lý cộng
đồng. Quản lý gồm việc tạo ra các quy tắc cho cộng đồng, các quyết định
phân phối trong cộng đồng, giải quyết xung đột bằng luật lệ. Quản lý cũng
bao hàm thực hiện quyền lực. Theo khía cạnh cuối cùng là quyền lực thì
chính trị là quyền lực trong cộng đồng. Quyền lực là khái niệm trung tâm của
chính trị với quyền lực và việc thực hiện nó tạo ra các hệ quả của chính trị
(theo nghĩa tích cực). Quyền lực là khả năng thống trị của một người đối với
người khác trong một xung đột lợi ích (theo nghĩa tiêu cực).
Như vậy luận văn đã phân tích chính trị theo cách hiểu đa dạng với 6
khía cạnh như trên. Nghiên cứu chính trị để hiểu được bằng cách nào con
người tính tốn và đạt được điều mình muốn, những điều tạo cho họ có thể
tồn tại trong cộng đồng một cách hồ bình và hoà hợp.
Theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác Lê nin thì chính trị bắt nguồn từ
quan hệ về lợi ích giữa các giai cấp, các nhóm xã hội, các quốc gia dân tộc.
Trong đó cơ bản và quan trọng nhất là lợi ích kinh tế Tiếp theo, Lê nin cho
rằng điều chi phối trực tiếp chính trị là quan hệ giai cấp và vấn đề quyền lực
nhà nước là yếu tố trung tâm, then chốt nhất trong chính trị. Nói đến chính trị
là phải nói đến giai cấp và nhà nước. Điều quan trọng nhất trong chính trị đó
là tổ chức chính quyền nhà nước. Do vậy, từ những phân tích trên có thể kết
luận như sau: Chính trị là quan hệ giữa các giai cấp, các quốc gia, các dân tộc,
các lực lượng xã hội trong việc giành, giữ và thực thi quyền lực nhà nước.
2.1.2. Thể chế chính trị
Nghiên cứu chính trị trong mối quan hệ với các yếu tố khác thì chính trị
là một lĩnh vực rất rộng với nhiều mối quan hệ khác nhau với không gian và
thời gian xác định như quan hệ giữa các giai cấp, giữa các đảng phái chính trị
với các giai cấp và với nhà nước, giữa nhà nước với công dân, giữa công dân
với nhau và mối quan hệ giữa các tổ chức trong mỗi nhà nước. Xét về mặt kết
cấu thì chính trị bao gồm các yếu tố như: 1) Chính sách, các quyết định của
các chủ thể chính trị; 2) Các thiết chế và thể chế chính trị; 3) Quan hệ con
3
người chính trị - giới lãnh đạo chính trị với cơng dân. Như vậy thể chế chính
trị là một yếu tố quan trọng trong chính trị. Và cũng giống như chính trị, có
nhiều quan điểm đưa ra khái niệm về thể chế chính trị. Có quan điểm cho
rằng thể chế chính trị có thể là nội dung, phương thức tổ chức và hoạt động
của hệ thống chính trị của một quốc gia mà trọng tâm là nhà nước, được thể
hiện trên các mức độ: 1) Hoạt động: cơ cấu vận hành của hệ thống chính trị;
2) Cấu trúc: đảng cầm quyền, bộ máy nhà nước, các tổ chức chính trị xã hội;
3) Pháp luật: Những định chế gồm hiến pháp, pháp luật và các quy định nhằm
bảo vệ hệ thống chính trị quốc gia. Ngồi ra, một quan điểm khác lại cho rằng
thể chế chính trị gồm: 1) Những chuẩn mực, quy chế, quy phạm, luật lệ phản
ánh mối quan hệ chức năng giữa các bộ phận của một tổng thể - chỉnh thể
(trong đời sống xã hội); 2) Những dạng thức, những cấu trúc tổ chức phân bố
theo những chức năng của hệ thống xã hội; 3) Hoặc thể chế là tổng hợp gồm
cả hai cấp độ mà cấp độ này là cơ sở để xác định cấp độ kia. Căn cứ vào mức
độ tham gia của nhân dân vào các cơng việc của nhà nước thì có thể chế chính
trị hành vi và thể chế chính trị tổ chức. Thể chế chính trị hành vi là tập hợp
các quy tắc được hình thành trong quá trình phát triển của quốc gia, quy định
sự tham gia của dân chúng vào các cơng việc của nhà nước theo một hình
thức nhất định. Hình thức này trở thành các quy tắc xử sự của các công dân
thông qua các hành vi ứng xử của mình trong các cơng việc của quốc gia như
việc nhân dân tham gia bỏ phiếu trưng cầu dân ý do quốc gia tổ chức. Thể chế
chính trị tổ chức được hiểu theo 2 nghĩa: một là các tổ chức, các cơ quan thực
hiện các công việc của nhà nước; hai là bao gồm toàn bộ các quy tắc xử sự
của cơ quan, tổ chức khi thực thi quyền hạn của mình. Những cơ quan và tổ
chức này là những tổ chức chính trị có mối tương quan chặt chẽ với nhau và
hợp thành hệ thống chính trị của mỗi quốc gia. Hệ thống chính trị này ở tầm
vĩ mơ bao gồm: cơ quan nhà nước, các nhóm lợi ích, đảng phái chính trị và
các đồn thể chính trị khác.
4
Từ những quan điểm trên, luận văn tổng hợp và nêu khái niệm thể chế
chính trị như sau: Thể chế chính trị bao gồm: 1) Một hệ thống các cơ quan
nhà nước tổ chức theo nguyên tắc phân chia quyền lực giữa lập pháp, hành
pháp, tư pháp, giữa chính phủ trung ương và cơ quan địa phương; 2) đảng
phái chính trị, nhóm lợi ích và mối quan hệ giữa các cơ quan này với các thể
chế nhà nước; 3) Thể chế chính trị cũng là các luật cơ bản như hiến pháp và
luật bầu cử. Và sau đây luận văn sẽ tập trung phân tích thể chế chính trị thơng
qua một hệ thống các cơ quan quyền lực nhà nước: quốc hội, chính phủ, tư
pháp, đảng phải chính trị, các định chế về tổng thống, thủ tướng và quy định
bầu cử…
2.1.3. Khái quát một số thể chế chính trị trên thế giới
Như đã trình bày ở trên, luận văn lựa chọn phân tích thể chế chính trị
tổ chức do vậy sẽ tập trung nghiên cứu các cơ quan nhà nước ở trung ương
gồm: nguyên thủ quốc gia, cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp, nhưng
trước hết là nguyên thủ quốc gia và tiếp theo là mối quan hệ của nguyên thủ
quốc gia với các cơ quan nhà nước trong thể chế. Theo cách tiếp cận này thì
hiện nay trên thế giới có hai loại thể chế chính trị cơ bản: qn chủ và cộng
hồ. Nói chung, thể chế qn chủ là thể chế “mà ở đó nguyên thủ quốc gia
do thế tập mà ra, quyền lực nhà nước có nguồn gốc từ cơi „hư vơ‟ do thiên
đình định đoạt”. Thể chế cộng hoà là thể chế “nguyên thủ quốc gia do bầu
cử lập nên và quyền lực nhà nước có nguồn gốc từ nhân dân” . Trong thể chế
quân chủ lại có hai loại cơ bản: quân chủ tuyệt đối và quân chủ đại nghị.
Quân chủ tuyệt đối là một loại hình tổ chức mà quyền lực nhà nước hầu như
tập trung trong tay nhà vua. Đây là loại hình của nhà nước phong kiến. Hiện
nay trên thế giới cịn có hai nước là Ơ-man và Xu-đăng vẫn cịn tổ chức theo
loại mơ hình này. Ở các nước này khơng có hiến pháp, khơng có các cơ quan
đại diện, Kinh Cô-ran được sử dụng như hiến pháp. Nhà Vua là người có
quyền lực nhà nước cao nhất, đồng thời cũng là người đứng đầu về tinh thần
của đất nước. Thể chế quân chủ đại nghị là thể chế mà quyền lực được chia
5
đều cho cả vua và nghị viện cùng một số cơ quan nhà nước khác. Quyền lực
của vua bị hạn chế bởi hiến pháp. Do vậy, hình thức thể chế này cịn có tên
gọi là qn chủ lập hiến hoặc quân chủ đại nghị. Quân chủ đại nghị là thể
chế khá phổ biến hiện nay ở các nước châu Âu như Vương quốc Anh,
Vương quốc Bỉ, Hà Lan, Đan Mạch, Na Uy...Trong đó Anh quốc là điển
hình cho mơ hình thể chế chính trị này. Trong thể chế quân chủ đại nghị,
nguyên thủ quốc gia là các vị vua, quốc výõng, hồng để được truyền ngơi
lại cho các thế hệ sau (cha truyền con nối). Cơ quan hành pháp (chính phủ)
được thành lập và hoạt động khi có tín nhiệm của cơ quan lập pháp (nghị
viện). Thể chế chính trị quân chủ đại nghị ở các nước đang phát triển thì có
điểm khác biệt với các nước phát triển đã trình bày ở trên bởi vì các vị vua
vẫn có ảnh hưởng rất lớn đến đời sống chính trị của các quốc gia này (như ở
Thái Lan, Malai-xi-a,…) Đặc biệt ở Liên bang Ma-lai-xi-a thì ngun thủ
quốc gia khơng phải do truyền ngôi mà là do những ngýời đứng đầu các tiểu
bang thay nhau trị vì vương quốc này với nhiệm kỳ 5 năm theo sự lựa chọn
của Hội nghị các tiểu vương quốc. Bên cạnh đó, ở một số quốc gia Ả rập
như Bu-tan, Ka-ta-ra có hiến pháp quy định nghị viện là cơ quan có quyền
lập pháp độc lập nhưng cũng quy định đây là cơ quan tư vấn cho nhà vua.
Vua là người đứng đầu chính phủ, hoặc có quyền trao cho người trong gia
đình là người đứng đầu chính phủ.
Mơ hình thể chế chính trị hiện đại thứ hai là thể chế cộng hòa. Thể chế
cộng hoà mới xuất hiện vài trăm năm nay, kể từ khi cuộc các mạng tư sản nổ
ra ở các nước Châu Âu. Nói chung thì hình thức thể chế này có nhiều đặc
điểm giống với thể chế quân chủ đại nghị, ngoại trừ người đứng đầu nhà
nước, nguyên thủ quốc gia được thành lập không do thế tập mà do bầu cử.
Nhân dân trực tiếp hoặc gián tiếp bầu ra người đứng đầu quốc gia mình. Vị
nguyên thủ quốc gia này được hiến pháp gọi là tổng thống, người đại diện cho
nhà nước về đối nội và đối ngoại. Tuy nhiên, quyền hạn của tổng thống có
thực sự hay khơng, hình thức hay khơng hình thức phụ thuộc vào chính thể
6
chế chính trị của quốc gia đó thuộc hình thức thể chế cộng hồ nào. Hiện nay
trên thế giới có 4 hình thức thể chế chính trị cộng hịa gồm: Cộng hoà đại nghị
(Parliamentarism), Cộng hoà tổng thống (Presidentialism), Cộng hoà bán tổng
thống (SemiPresidentialism) và Cộng hoà xã hội chủ nghĩa (Socialism). Thể
chế cộng hồ đại nghị có những đặc điểm sau: Nguyên thủ quốc gia do nghị
viện bầu ra, chính phủ đứng đầu là thủ tướng chịu trách nhiệm trước nghị
viện. Nguyên thủ quốc gia không trực tiếp tham gia giải quyết các công việc
của đất nước. Việc người dân không trực tiếp bầu tổng thống mà gián tiếp
thông qua nghị viện là nguyên nhân làm cho nguyên thủ quốc gia không thực
quyền. Các quốc gia châu Âu theo mơ hình thể chế này như: Cộng hồ I-ta-lia, Cộng hoà Liên bang Đức, Hy Lạp. Trong các quốc gia thể chế cộng hồ đại
nghị, ngun thủ quốc gia khơng là người đứng đầu cơ quan hành pháp và
cũng không là thành viên của chính phủ. Hiến pháp của các nước này cịn quy
định cụ thể về việc khơng chịu trách nhiệm của tổng thống. Ví dụ như điều 90
Hiến pháp I-ta-li-a quy định: “Tổng thống nước cộng hồ khơng chịu trách
nhiệm về các hoạt động của mình trong thời gian đảm nhiệm chức vụ, trừ
trường hợp phản bội tổ quốc hoặc có hành động xâm phạm đến bản Hiến
pháp này”.
Về mối quan hệ giữa nguyên thủ quốc gia với chính phủ, tổng thống
được quy định có quyền bổ nhiệm người đứng đầu chính phủ. Nhưng trên
thực tế, thủ tướng thường là người đứng đầu đảng giành thắng lợi trong
cuộc bầu cử vào nghị viện. Như vậy, tổng thống ở thể chế cộng hoà đại
nghị cũng giống như nguyên thủ quốc gia ở thể chế quân chủ đại nghị đều
tồn tại mang tính hình thức. Cơ quan hành pháp và thủ tướng ngày càng trở
thành cơ quan trung tâm, thực hiện chủ yếu quyền lực trong thể chế nhà.
Khác với thể chế cộng hoà đại nghị, cộng hoà tổng thống là thể chế mà
tổng thống vừa là nguyên thủ quốc gia, đồng thời là người đứng đầu và
điều hành trực tiếp chính phủ. Tổng thống do nhân dân trực tiếp hoặc gián
tiếp bầu nên không chịu trách nhiệm trước nghị viện. Thành viên của chính
7
phủ đều do tổng thống bổ nhiệm hoặc chỉ định và chịu trách nhiệm trực
tiếp trước tổng thống. Ở những thể chế chính trị này đã áp dụng tồn bộ nội
dung học thuyết phân chia quyền lực, quyền lực nhà nước được phân chia
giữa ba cơ quan: lập pháp, hành pháp và tư pháp. Mối quan hệ giữa Tổng
thống (nhánh hành pháp) với Quốc hội (nhánh lập pháp) là quan hệ kiềm chế
và đối trọng lẫn nhau. Quyền lực của tổng thống được tăng cường và chính
phủ khơng có chức danh thủ tướng. Loại hình thể chế này được áp dụng phổ
biến ở các nước châu Mỹ la tinh như Bra-xin, Mê-hi-cô, Ác-hen-ti-na…và
Hoa Kỳ là nước được coi là khuôn mẫu và đầu tiên thành lập mơ hình thể
chế này. Nhưng ngược lại, hình thức thể chế này lại khơng phổ biến ở khu
vực châu Âu
Thể chế cộng hoà xã hội chủ nghĩa là thể chế chịu ảnh hưởng đầu tiên từ
mơ hình thể chế nhà nước Liên Xơ trước những năm 1990. Hiện nay, thể chế
chính trị cộng hồ xã hội chủ nghĩa khơng cịn ở khu vực châu Âu mà gồm ở
một số ít các quốc gia trong đó có Cộng hồ Xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Thể
chế chính trị của Việt Nam hiện nay theo quy định của Hiến pháp năm 1992
tuy có một số thay đổi nhưng vẫn theo nguyên tắc tập quyền (khác với nguyên
tắc tam quyền phân lập như đã trình bày trong thể cộng hoà tổng thống ở
trên). Quyền lực tập trung vào cơ quan lập pháp (Quốc hội). Quốc hội bầu
những chức vụ cao cấp nhất của nhà nước như Chủ tịch nước, Thủ tướng,
Chánh án Toà án và Viện trưởng Viện Kiểm soát nhân dân tối cao. Nguyên
thủ quốc gia của thể chế chính trị Việt Nam là Chủ tịch nước, người đại diện
cho nhà nước trong các hoạt động đối nội và đối ngoại. Người đứng đầu
Chính phủ là Thủ tướng có nhiệm vụ lãnh đạo và điều hành các cơng việc của
Chính phủ Việt Nam. Và như vậy thì tuy có những đặc điểm riêng, nhiều ý
kiến của các nhà nghiên cứu về thể chế chính trị cho rằng thể chế chính trị của
Việt Nam hiện nay có những điểm chung với chính thể cộng hồ đại nghị.
Thể chế cộng hoà thứ tư là thể chế cộng hoà bán tổng thống. Thể chế này có
8
nhiều đặc điểm cụ thể khác với cả ba thể chế trên. Ngoài ra, đây là một thể
chế phổ biến hiện nay ở khu vực châu Âu.
2.2. Lịch sử hình thành thể chế chính trị Liên hiệp vương quốc AnhBắc Ailen và Cộng hòa Liên Bang Đức
2.1.1. Liên hiệp vương quốc Anh – Bắc Ailen
Sự hình thành và phát triển của thể chế chính trị nước Anh gắn với lịch
sử châu Âu. Sau khi đế quốc La Mã sụp đổ, từ thế kỷ V - X ở châu Âu hình
thành chế độ phong kiến, nhiều vương quốc mới ra đời, là cơ sở cho sự hình
thành các quốc gia - dân tộc sau này. Từ thế kỷ XI-XV là thời kỳ phát triển
của chế độ phong kiến Tây Âu. Từ thế kỷ XVI - XVII là thời kỳ tan rã của
chế độ phong kiến.
Thể chế chính trị Anh hiện nay là kết quả của hơn 7 thế kỷ đấu tranh,
phát triển liên tục. Vào thế kỷ XII, Anh là quốc gia hùng mạnh nhất châu Âu,
thiết lập chế độ chuyên chế cao độ, mọi quyền hành đều tập trung vào Nhà
vua. Tuy nhiên, sự hà khắc quá mức của nền thống trị chuyên chế đã dẫn đến
mâu thuẫn giữa Nhà vua với giáo hội và các giai tầng khác trong xã hội. Các
lãnh chúa phong kiến liên kết với tầng lớp kỵ sĩ và thị dân liên tục nổi dậy
khởi nghĩa. Dưới sức ép của những người khởi nghĩa, năm 1215 vua John
buộc phải ký vào bản yêu sách của họ, bản Đại Hiến chương tự do (Magna
Carta), gồm 63 điều khoản thỏa thuận giữa Nhà vua và thần dân, theo đó đảm
bảo quyền tự do của nhân dân (quý tộc, thị dân, nông dân...). Thực chất của
những điều khoản này là hợp pháp hoá quyền lực của tầng lớp quý tộc, hạn
chế quyền độc đoán của Nhà vua, xác nhận quyền tự do của các thành phố,
quyền tự do đi lại buôn bán. Sau này, mỗi khi các vị Vua tìm cách huỷ bỏ bản
Hiến chương, giới quý tộc phong kiến lại liên kết với kỵ sĩ và nông dân đứng
lên chống lại.
Tuy nhiên, do cần nhiều tiền để tiến hành các cuộc chiến tranh phục vụ
cuộc sống xa hoa, và để chia cho con cháu, hằng năm Nhà vua đều triệu tập
9
đại diện các lãnh địa đến để phân bổ và tăng thuế. Năm 1265, sau khi đánh
bại quân đội triều đình, lãnh tụ một cuộc khởi nghĩa là Bá tước Mơnphơ nắm
chính quyền, xác lập liên minh giữa q tộc phong kiến với thị dân và kỵ sĩ.
Ông triệu tập một hội nghị không những bao gồm các nhà quý tộc, tăng lữ,
mà cịn có cả đại biểu của thị dân, kỵ sĩ. Mỗi lãnh địa được cử 2 đại biểu kỵ sĩ
và mỗi thành thị cử 2 đại biểu thị dân tới dự. Hội nghị này được coi là Quốc
hội đầu tiên của nước Anh (Parliament).
Từ thế kỷ XI, tầng lớp thị dân ở Anh đã phát triển khá đông đảo, các
thành thị được hưởng quy chế tự trị, họ bầu ra Hội đồng nhân sĩ để quản trị
thành phố. Trước đòi hỏi về thuế ngày càng tăng của Nhà vua, các đại biểu
địa phương không thể tự quyết định, mà phải quay về địa phương để xin ý
kiến. Từ đó, họ trở thành người giữ vai trị truyền đạt ý kiến của nhân dân đến
Nhà vua. Đổi lại, các đại diện địa phương đặt yêu sách ngược lại: địi Vua
phải nới lỏng chế độ chun chế, cơng bố các khoản thu - chi.
Đến thế kỷ XIV, do sự phân biệt đẳng cấp, Quốc hội Anh bắt đầu chia
thành hai viện: Viện Bình dân (Hạ nghị viện), gồm đại biểu của kỵ sĩ, thị dân;
và Viện Quý tộc (Thượng nghị viện) gồm đại biểu của giới quý tộc, tăng lữ
cao cấp. Cũng từ đó, Quốc hội mở rộng quyền lực, trở thành cơ quan lập pháp
tối cao, quy định vua không được thu thuế khi chưa được Quốc hội thông qua,
các vấn đề ngân sách hay khiếu nại về hoạt động của chính quyền đều thuộc
thẩm quyền của Quốc hội. Tuy nhiên, Quốc hội Anh chỉ đại diện cho quyền
lợi của những giai cấp, tầng lớp trên. Dân chúng nghèo khổ ở nơng thơn và
thành thị đều khơng có đại biểu.
Vào thế kỷ XV, việc nước Anh thất bại trong cuộc chiến tranh kéo dài
ngót trăm năm với Pháp (1338 - 1453) đã thúc đẩy xung đột về quyền lực
giữa hai phe quý tộc dẫn đến cuộc “chiến tranh hoa hồng” (1455 - 1485). Kết
quả là cả hai phe quý tộc đều thất bại và quyền lực của Nhà vua chiếm ưu thế.
Một chính quyền quân chủ chuyên chế hình thành và được tầng lớp quý tộc
mới, thị dân giàu có ủng hộ. Nhà vua lập tịa án hành chính đặc biệt (gọi là
10
Tòa án Phòng Sao) nhằm đập tan sự chống đối của các địa phương, cấm các
quý tộc tổ chức quân đội riêng. Vai trò của Quốc hội bị lu mờ, tuy nhiên triều
đình vẫn phải hỏi ý kiến Quốc hội khi muốn đánh thuế và làm luật.
Đến thế kỷ XVII, nền công nghiệp và thương mại phát triển mạnh,
nhưng nước Anh vẫn duy trì thể chế chuyên chế phong kiến. Vua nắm toàn
quyền, cả lập pháp, hành pháp, tư pháp, đứng trên cả nhà thờ. Vua lập Viện
Cơ mật bao gồm những nhà q tộc nổi tiếng, đóng vai trị cố vấn cho Vua
trong việc điều hành đất nước.
Do phải tiến hành các cuộc chiến tranh liên miên, triều đình thường rơi
vào cảnh túng thiếu, nên thường xuyên tăng thuế sản xuất, định ra các loại
thuế mới, đòi cho vay cưỡng bức. Xã hội Anh chỉ trích mạnh mẽ hệ thống
điều hành đất nước của Nhà vua, nghi ngờ Vua sủng ái đạo Thiên chúa. Cả
nước ln ở trong tình trạng không ổn định, các phe phái đấu tranh giành
quyền lực, đụng độ quân sự xảy ra liên tiếp. Sau nhiều lần bị giải tán, năm
1640, Nhà vua phải triệu tập cuộc họp mới của Quốc hội và Quốc hội trở
thành quốc hội dài hạn, nâng cao vai trò của mình. Các đại biểu Quốc hội tổ
chức thành uỷ ban, chuyển đổi những yêu sách, đòi hỏi Nhà vua bằng văn
bản. (Đây là tiền thân của các văn bản dự án luật mà Quốc hội dự thảo).
Quốc hội giải tán các tịa án chính trị chun chế, địi huỷ bỏ giáo hội, tước
bỏ quyền lãnh đạo quân đội của vua, thành lập quân đội của Quốc hội...
Cuộc tranh giành quyền lực giữa Quốc hội và Nhà vua lên đến cao điểm
trong phong trào Thanh giáo (1642-1649). Quốc hội ra quyết định xử tử Vua
Sáclơ I, bãi bỏ nền quân chủ, bãi bỏ Thượng viện. Nước Anh trở thành nước
cộng hòa.
Nhưng sau đó quyền lực lại rơi vào chế độ bảo hộ độc tài của Crômôen
và con trai ông ta. Sau khi giải tán Quốc hội dài hạn (1653), Crômôen và hội
đồng sĩ quan đã công bố một bản hiến pháp mới, gọi là Công cụ điều hành.
Hiến pháp quy định: quyền lập pháp thuộc về một viện, kỳ họp hằng năm của
11
Quốc hội không được kéo dài quá 5 tháng, nhiệm kỳ 3 năm, chỉ người giàu
mới có quyền bầu cử.
Thực chất, đây là chế độ chuyên chế độc tài của giai cấp tư sản và giới
quý tộc mới. Năm 1658, Crômôen qua đời. Năm 1660, sau 12 năm chiến
tranh, loạn lạc, Quốc hội khơi phục lại chế độ bảo hồng, chế độ hai viện như
trước, cử người đi mời con của Sáclơ I về kế thừa ngai vàng, đó là Sáclơ II.
Cuộc đấu tranh giữa các phe phái thống trị dẫn đến sự phân chia thành
hai đảng: Tori và Uých. Đảng Tori (tiền thân của Đảng Bảo thủ hiện nay)
bao gồm những phần tử bảo hoàng, bảo thủ, những đại điền chủ. Đảng Uých
(tiền thân của Đảng Tự do hiện nay) bao gồm những đại diện của giới công
nghiệp và thương mại. Đây là mốc đánh dấu sự ra đời hệ thống hai đảng tư
sản ở Anh.
Năm 1688, hai đảng Tori và Uých liên kết tiến hành cái gọi là cuộc cách
mạng vinh quang, phế truất vua Giêm II. Năm 1689, Vinhem lên ngôi và ký
một văn kiện mà sau này trở thành cơ sở pháp lý cho nền quân chủ lập hiến
Anh - bản Dự luật về các quyền. Văn kiện này thể hiện sự thoả hiệp giữa Nhà
vua và các giai cấp thống trị. Nó bảo đảm quyền lực tối cao của Quốc hội:
quyền lập pháp, chính sách thuế, tự do tranh cãi tại Quốc hội, quản lý quân
đội, bảo đảm quyền tự do cá nhân... Đây là mốc đánh dấu bước chuyển từ chế
độ quân chủ chuyên chế sang quân chủ lập hiến.
Như vậy, cuộc đảo chính diễn ra do sự thoả hiệp giữa tầng lớp quý tộc
phong kiến với giai cấp tư sản, mặc dù giữa họ có đầy mâu thuẫn. Giới quý
tộc vẫn bảo lưu được vị trí thống sối của mình trong bộ máy nhà nước và
phần lớn đất đai, nghĩa là cuộc cách mạng tư sản Anh chưa được tiến hành
đến cùng, là cuộc cách mạng không triệt để. Nhân dân, chủ yếu là nơng dân,
là những người thiệt thịi nhất sau cách mạng. Do đó, theo Mác, thể chế nhà
nước Anh sau cách mạng tư sản khơng phải là gì khác ngồi sự thoả hiệp giữa
giai cấp tư sản - giai cấp tuy khơng chính thức, song thực tế thống trị mọi mặt
đời sống xã hội - với giới quý tộc điền chủ chính thức cầm quyền.
12
Sau cách mạng, quyền lực của Quốc hội ngày càng mở rộng, quyền của
vua chỉ cịn là hình thức. Năm 1707, Vua (Nữ hoàng Anna) dùng quyền phủ
quyết lần cuối cùng đối với các đạo luật của Quốc hội. Gioóc I, ơng vua xuất
thân từ một cơng quốc Đức, nói tiếng Anh không thạo nên không muốn tham
gia các cuộc họp Viện Cơ mật. Vì vậy, Viện cử Thượng thư thứ nhất, người
có uy tín nhất điều khiển phiên họp. Từ đó tạo thành tiền lệ: Vua khơng tham
gia cơng việc nhà nước. Sau này, Thượng thư thứ nhất được gọi là Thủ tướng,
Viện Cơ mật chuyển thành Nội các. Thủ tướng và Nội các không phụ thuộc
vào Nhà vua, chỉ chịu trách nhiệm trước Quốc hội. Quốc hội thông qua Đạo
luật về quyền hành hạn chế tối thiểu quyền của Vua. Vua khơng có quyền duy
trì hay bãi bỏ luật pháp, đặt thuế hay tuyển binh... nếu không được sự đồng ý
của Quốc hội. Quyết định của Vua chỉ có hiệu lực khi có chữ ký của Thủ
tướng.
Do vai trò của Quốc hội tăng, nên khi Nhà vua bổ nhiệm các vị Bộ
trưởng phải được Quốc hội tín nhiệm. Quốc hội có quyền truy tố các Bộ
trưởng. Để chống lại sự lạm dụng quyền truy tố của Quốc hội luôn đe dọa các
vị Bộ trưởng (nhiều người phải từ chức hoặc bị cách chức), Nội các đi đến
nhất trí là nếu bất cứ Bộ trưởng nào bị đe dọa thì cả tập thể Nội các cùng chịu
trách nhiệm và cùng tuyên bố từ chức. Điều này trở thành áp lực đối với Quốc
hội. Nguyên tắc “Chính phủ chịu trách nhiệm trước Quốc hội, hai cơ quan đều
có quyền giải tán lẫn nhau” được thực hiện. Sau nhiều lần mâu thuẫn, giải tán
lẫn nhau, cả Quốc hội và Chính phủ đều học được sự thận trọng, kiềm chế.
Tuy nhiên, vai trị của Chính phủ tăng dần lên và Quốc hội bị đẩy xuống hàng
thứ hai.
Đến thế kỷ XIX, Quốc hội mới thực sự là cơ quan lập pháp. Thành viên
Hạ viện gồm 2 đại biểu hiệp sĩ của mỗi lãnh địa và 2 đại biểu từ mỗi thị trấn.
Khi các khu công nghiệp phát triển mạnh, dân số tăng nhanh, nhưng khơng có
đại biểu trong Hạ viện, dẫn đến sự sửa đổi luật bầu cử năm 1832, lập lại bình
đẳng giữa các thị trấn cũ và khu đô thị mới.
13
Năm 1867, một đạo luật cải cách khác được ban hành, mở rộng quyền
bầu cử đến tầng lớp trung lưu. Năm 1872, áp dụng luật bỏ phiếu kín. Năm
1885, luật quy định nhiệm kỳ Hạ viện là 7 năm, tăng số đại biểu của các khu
công nghiệp. Năm 1888, tư sản hoá bộ máy nhà nước, xoá bỏ kiểu tự trị địa
phương của các đại chủ, giáo hội. Năm 1918, quyền bầu cử áp dụng cho nam
trên 21, nữ trên 30.
Vào đầu thập kỷ 20 của thế kỷ XX, cuộc đấu tranh giữa các đảng diễn ra
quyết liệt, Công đảng mạnh lên và tăng cường đại diện của mình trong Quốc
hội. Trong cuộc bầu cử năm 1923, Công đảng đã đánh bại Đảng Bảo thủ.
Công đảng chiếm 191 ghế trong Quốc hội và trở thành đảng cầm quyền. Nội
các một đảng lần đầu tiên xuất hiện ở Anh. Nhưng đến năm 1924, Công đảng
bị thất bại và Đảng Bảo thủ giành lại quyền thành lập Chính phủ.
Bộ máy nhà nước Anh còn được củng cố bằng hệ thống các quan hệ
chính trị với các xứ tự trị, như Canada, Ơxtrâylia, Niu Dilân, Nam Phi theo
Quy chế Oétmintơ. Căn cứ theo đó, Thống đốc các xứ tự trị là người bản xứ,
do vua Anh bổ nhiệm, nhưng chịu sự quản lý của Chính phủ chính quốc.
Chức năng của Thống đốc mơ phỏng chức năng Vua nước Anh.
Lịch sử Vương quốc Anh có nhiều thời kỳ mất ổn định bởi các mâu
thuẫn dân tộc, tôn giáo, đặc biệt là giữa các vùng lãnh thổ. Vương quốc Anh
sáp nhập xứ Uên vào lãnh thổ của mình năm 1535, Ailen năm 1542, Scốtlen
năm 1603.
Năm 1921, Ailen tách ra làm hai phần: cư dân 26 quận miền nam, hầu
hết theo Cơ đốc giáo, được hưởng quy chế tự trị. Năm 1949, nước Cộng hòa
Ailen với diện tích 70.000 km2 và dân số 3,5 triệu người, tuyên bố độc lập;
cư dân 6 quận ở miền bắc, với 2/3 theo đạo Tin lành, 1/3 theo Cơ đốc giáo (có
nguồn gốc từ Scốtlen từ thế kỷ XVII - XVIII) vẫn thuộc Vương quốc Anh.
Nhưng ở Bắc Ailen liên tục diễn ra mâu thuẫn tôn giáo, dẫn đến nội chiến,
xung đột kéo dài cho đến ngày nay.
Các vùng lãnh thổ trên được hưởng quyền tự trị rộng rãi. Sau nhiều lần
thành lập rồi bị giải tán, đến nay ở tất cả các xứ đều có Quốc hội, Chính phủ
14
riêng, nhưng vẫn đặt dưới sự cai quản của Chính phủ Anh. Có một Bộ trương,
thực chất là Tồn quyền phụ trách Bắc Ailen.
Từ thế kỷ XVI-XIX, nước Anh xâm chiếm các thuộc địa từ châu Á,
châu Phi, Mỹ latinh và trở thành quốc gia có lãnh thổ rộng nhất thế giới
(khoảng 35 triệu km, gấp 143 lần nước Anh, có dân số hơn 500 triệu người,
gấp 12 lần nước Anh). Anh là nước thắng trận trong hai cuộc chiến tranh thế
giới thế kỷ XX. Ngày nay, hệ thống thuộc địa tan rã, nhưng Anh vẫn là một
trong những nước tư bản phát triển nhất thế giới, là thành viên của khối G7,
khối NATO, khối EU..., thành viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp
quốc.
2.1.2. Liên bang Đức
Vào thế kỷ VIII, thuật ngữ “Đức” bắt đầu được sử dụng. Nó chính là
ngơn ngữ của các dân tộc ở phía đông, và những người sống ở vùng này được
gọi là người Đức.
Đế chế thứ nhất của Đức được thành lập năm 800. Nó dựa vào Giáo
hồng để cai trị các dân tộc. Sau này, khi Pháp, Anh, Tây Ban Nha trở thành
những đế quốc quân chủ chuyên chế hùng mạnh, nước Đức, Ý vẫn duy trì chế
độ phong kiến phân quyền. Đến năm 1789, đế chế Đức bao gồm khoảng 320
nhà nước độc lập. Năm 1806, đế chế này bị Napôlêông tiêu diệt. Dưới sự điều
hành của Pháp, Hội nghị Viên đã thành lập một khuôn khổ liên bang cho
nước Đức bao gồm 39 nhà nước, đứng đầu là Áo - Chủ tịch vĩnh viễn Quốc
hội Liên bang. Sau thất bại của Napôlêông, Công ước Pari 1814 đã thành lập
nên Liên minh Đức, gồm 34 quốc gia - các vương quốc, công quốc, quận
quốc và một số thành phố tự do, đứng đầu là Áo. Tuy nhiên, đó là liên minh
lỏng lẻo giữa các quốc gia vẫn tồn tại thuế hải quan. Năm 1834, giữa Phổ và
một số quốc gia khác đã ký Liên minh thuế quan, liên kết các tầng lớp thương
nhân. Giai cấp tư sản Đức bắt đầu tham gia cuộc đấu tranh giành chính quyền.
Nước Phổ ngày càng lớn mạnh, trở thành trung tâm kinh tế và chi phối nền
chính trị Đức. Năm 1844, giai cấp cơng nhân đã tuyên bố về sự tồn tại của
15
mình, thơng qua cuộc khởi nghĩa của thợ dệt Xiledơ chống phong kiến và nền
chuyên chế.
Cuộc cách mạng Pháp năm 1848 đã tạo thời cơ cho nhân dân Đức đấu
tranh chống vua Phổ. Năm 1849, bản hiến pháp đầu tiên do Quốc hội soạn
thảo đã có một số yếu tố “tự do chủ nghĩa” nên vua Phổ yêu cầu xem xét lại.
Theo đó, cử tri bao gồm tất cả đàn ông được phân thành ba hạng theo mức
đóng thuế. Hai hạng đầu, những người đóng thuế nhiều, có số lượng không
đáng kể nhưng lại lựa chọn 2/3 số đại biểu Quốc hội. Kết quả, có 250/350
thành viên Quốc hội là quan chức. Hiến pháp thành lập hai viện: Hạ viện do
dân bầu, Thượng viện gồm các hồng thân, quốc thích của Nhà vua. Vua vẫn
toàn quyền: quyền sáng kiến luật và quyền phủ quyết tuyệt đối đối với Quốc
hội và đứng đầu quyền hành pháp. Hiến pháp cũng đề cập đến một số tun
ngơn về quyền bình đẳng: tự do ngôn luận, hội họp, liên minh, bất khả xâm
phạm nhân cách... Tuy nhiên, chính quyền sử dụng mọi cách để vơ hiệu hố
các quyền đó.
Từ năm 1850, Liên bang Đức được thiết lập, củng cố, thúc đẩy nền kinh
tế phát triển vượt bậc. Năm 1861, Vua Wiliam I lên ngôi Vua Phổ, Bismark
làm Thủ tướng. Năm 1866, Phổ đánh tan quân Áo, Đan Mạch, ép Áo phải từ
bỏ chức Chủ tịch Liên bang Đức; và Phổ thành lập Liên minh các quốc gia
Bắc Đức. Năm 1867, Liên minh có thể chế hiến pháp, đứng đầu là Tổng
thống- tức là Nhà vua Phổ, Thủ tướng và hai viện, trong đó Hạ viện được bầu
bằng hình thức phổ thơng đầu phiếu. Năm 1870, sau khi thắng Pháp, Phổ thu
hút thêm một số quốc gia phía nam và thành lập Đế chế Đức - đế chế thứ hai.
Năm 1871, Đế chế Đức thông qua hiến pháp, theo đó Đế chế gồm 22
nước quân chủ và một vài thành phố tự do, đứng đầu là Vua Phổ - quốc gia
chiếm 60% dân cư và hơn một nửa lãnh thổ. Vua Phổ lãnh đạo quân đội, bổ
nhiệm tất cả mọi quan chức của Đế chế, kể cả Thủ tướng, thành viên
Thượng viện, và khi cần thiết thì cả các Bộ trưởng. Thượng viện là Hội đồng
Liên minh, gồm 58 thành viên, trong đó có 17 đại biểu của Phổ, đứng đầu là
16
Thủ tướng Phổ. Để bác bỏ một vấn đề nào đó, chỉ cần 14 phiếu, vì vậy các
quốc gia nhỏ hầu như khơng có quyền. Hạ viện có nhiệm kỳ 5 năm, có vai
trị rất hạn chế, dễ dàng bị Thượng viện giải tán. Quyền lực nhà nước tập
trung vào tay Thủ tướng Bismark, các Bộ trưởng chỉ là người giúp việc. Tuy
nhiên, hiến pháp 1871 cũng chứa đầy mâu thuẫn. Ví dụ, Tổng thống Đế chế
bị hạn chế bởi chữ ký thứ hai của Thủ tướng, người do chính ông ta bổ niệm
và miễn nhiệm theo ý mình; và bị hạn chế bởi Thượng viện, nhưng ơng ta lại
có thể ra lệnh cho các đại diện của mình ở Thượng viện bãi bỏ bất cứ đạo
luật nào.
Việc nước Đức thống nhất đã thúc đẩy sự lớn mạnh nhanh chóng của
nền kinh tế, chẳng bao lâu sau đã trở thành nước đứng đầu châu Âu. Sinh sau,
đẻ muộn, bị thiệt thòi trong vấn đề thuộc địa, nước Đức đòi phải phân chia lại
thế giới. Đức là nước gây ra hai cuộc chiến tranh thế giới trong thế kỷ XX.
Trong Chiến tranh thế giới thứ nhất, đặt chức vị Thống chế. Thể chế chính trị
phátxít được thiết lập và tồn tại dựa trên các chính sách khủng bố các lực
lượng dân chủ và phong trào cộng sản. Quyền tự do cá nhân, ngơn luận, báo
chí, hội họp bị thủ tiêu. Tất cả các đảng phái bị cấm hoạt động. Quốc hội phải
bỏ phiếu tự giải tán, chuyển toàn bộ quyền lực vào tay Chính phủ, thực chất là
Đảng Quốc xã. Đây là Đế chế thứ ba.
Nước Đức phátxít chủ động gây ra cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai
(1939 - 1945), nhưng đã bị Liên Xô và quân Đồng minh tiêu diệt. Hội nghị
quốc tế Pốtxđam đã đưa ra chính sách chung quy định thể chế nhà nước Đức
sau chiến tranh, theo đó, xác lập ở Đức một chế độ tạm chiếm. Liên Xơ chiếm
giữ phần phía Đơng; Mỹ - Anh - Pháp chiếm giữ phần phía Tây. Quân đội
Đức bị giải giáp, các tội phạm chiến tranh bị xét xử, loại bỏ tiềm năng công
nghiệp quân sự, khôi phục trật tự dân chủ. Kết quả là ra đời hai nhà nước:
vùng phía Tây thành lập Cộng hịa Liên bang Đức (7-9-1949), nhà nước dân
chủ tư sản; vùng phía Đơng thành lập Cộng hòa Dân chủ Đức (7-10-1949),
nhà nước xã hội chủ nghĩa.
17
Sau hàng chục năm tồn tại và đấu tranh, ngày 3-10 1990, nước Đức
thống nhất, nhà nước Cộng hòa Dân chủ Đức tan rã. Phần lãnh thổ phía Đơng
thành lập 5 bang mới và sáp nhập vào Cộng hòa Liên bang Đức. Thủ đô Đức
cũng được chuyển từ Bon về Béclin.
2.3. Sự giống và khác nhau giữa thể chế cộng hòa bán tổng thống
của Liên hiệp vương quốc Anh- Bắc Ailen và Cộng hòa Liên Bang Đức
2.3.1. Hiến pháp
Điểm giống nhau: Cả 2 nước đều có Hiến pháp
Khác nhau:
- Đặc điểm của Hiến pháp Anh là không thành văn. Hiếp pháp là tổng
thể các văn bản, các quy phạm pháp luật được hình thành theo tập tục truyền
thống, các án lệ của Tịa án tối cao có liên quan tới tổ chức quyền lực nhà
nước, nhưng không được nhà nước tuyên bố hoặc ghi nhận là một luật cơ bản
- Hiến pháp ở Đức có tên gọi là Luật cơ bản. Các chương về thể chế
nhà nước, hiến pháp uy định rõ vị trí, quyền hạn của từng cơ bản. Hiến pháp
quy định rõ: tất cả quyền lực thuộc về nhân dân, nhân dân nắm quyền lực nhà
nước, quyết định cuối cùng của chế độ hiếp pháp. Hiến pháp tuyên bố Hạ
viện, cơ quan do nhân dân trực tiếp bầu ra là cơ quan quyền lực nhà nước tối
cao.
2.3.2. Thể chế nhà nước
Lập pháp
Điểm giống nhau: Nghị viện là cơ quan quyền lực tối cao, có quyền
làm tất cả.
Điểm khác nhau:
Hiến pháp bất thành văn và chủ quyền thuộc về Nghị viện: Anh khơng
có một văn kiện duy nhất chỉ rõ sự cấu thành và các quyền lực của các thể chế
nhà nước và các quyền công dân. Những điều này được xác định trong một số
luật, thông lệ và quy ước cơ bản. Nghị viện thường tuân thủ những luật mang
18