Tiểu môn: Tổng quan chính sách công
PHẦN MỞ ĐẦU
1-Tính cấp thiết của đề tài.
Tổ chức thực thi chính sách là một khâu hợp thành chu trình chính sách,
là trung tâm kết nối các bước trong chu trình chính sách. So với các khâu
khác, tổ chức thực thi có vị trí đặc biệt quan trọng trong chu trình chính sách,
vì đây là bước thực thi chính sách của cán bộ - công chức trong bộ máy quản
lý nhà nước. Như vậy tổ chức thực thi chính sách là toàn bộ quá trình chuyển
hóa ý chí của chủ thể trong chính sách thành hiện thực với các đối tượng quản
lý nhằm đạt mục tiêu định hướng.
Đây là một quá trình phức tạp, diễn ra trong một thời gian dài và trải qua
nhiều bước khác nhau. Việc tổ chức thực thi có hiệu quả chính sách không chỉ
góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu của chính sách mà còn khẳng định
tính đúng đắn của chính sách, vai trò của chủ thể trong việc hoạch định chính
sách, góp phần nâng cao niềm tin của đối tượng quản lý đối với chủ thể chính
sách cũng như niềm tin của nhân dân đối với các cấp ủy Đảng và chính
quyền.
Nhận thức đúng đắn vị trí, vai trò, ý nghĩa của việc thực thi chính sách;
những năm qua, các cấp ủy Đảng, chính quyền huyện Đăk Glong đã tập trung
lãnh đạo, chỉ đạo, phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị trong việc phối
hợp triển khai thực hiện các chính sách của nhà nước và đạt được những kết
quả tích cực. Nền kinh tế có bước phát triển và tăng trưởng khá, từng bước
vượt vươn lên để sớm thoát ra khỏi huyện nghèo kém phát triển; An ninh
quốc phòng được giữ vững; chính trị ổn định, góp phần xây dựng một một
tỉnh Đăk Nông hòa chung với cả nước với mục tiêu “hòa bình, dân chủ và tiến
bộ xã hội”.
Học viên: Đoàn Văn Phương
Trang 1
Tiểu môn: Tổng quan chính sách công
Tuy nhiên, vì nhiều lý do khác nhau, quá trình tổ chức thực thi chính
sách trong thời gian qua vẫn còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm
vụ trong tình hình mới. Với phương châm mà Đảng ta đã đánh giá “khâu tổ
chức thực hiện vẫn là khâu yếu nhất”. Vì vậy việc nghiên cứu, phân tích bộ
máy quản lý nhà nước có sự phối hợp hoạt động của các tổ chức trong hệ
thống chính trị tham gia vào việc thực hiện chính sách vừa có ý nghĩa lý luận,
vừa có ý nghĩa thực tiển sâu sắc, nhằm khắc phục tình trạng chồng chéo, trùng
lắp, đùn đẩy, giữa các tổ chức trong hệ thống chính trị, góp phần nâng cao
hiệu quả thực thi chính sách.
Qua kiến thức của bài giảng và được sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn
Thị Lan Hương, tôi mạnh dạn chọn đề tài: “phân tích mối quan hệ giữa các tổ
chức trong hệ thống chính trị tham gia vào việc thực hiện các chính sách ở địa
phương nhìn từ thực tiễn huyện Đăk Glong, tỉnh Đăk Nông” làm tiểu luận
môn học phân tích chính sách công.
2- Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
Đề tài nghiên cứu mối quan hệ giữa bộ máy quản lý nhà nước và các tổ
chức chính trị tham gia thực hiện chính sách trên địa bàn huyện Đăk Glong,
tỉnh Đăk Nông từ năm 2015 đến nay.
3- Phương pháp nghiên cứu.
Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi sữ dụng phương pháp duy vật
biện chứng, phương pháp thống kê, phương pháp phân tích và khái quát hóa...
4- Kết cấu tiểu luận.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tiểu luận gồm có 3 nội dung cơ bản:
Học viên: Đoàn Văn Phương
Trang 2
Tiểu môn: Tổng quan chính sách công
- Những vấn đề lý luận về tổng quan chính sách công. Hệ thống chính trị
và mối quan hệ giữa bộ máy quản lý nhà nước và các tổ chức chính trị đối với
việc thực thi chính sách.
- Những kết quả phối hợp thực hiện các chính sách công ở địa phương,
thực tiễn tại huyện Đăk Glong từ 2015 đên nay.
- Những giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường mối quan hệ giữa bộ máy
quản lý nhà nước và các tổ chức của hệ thống chính trị trong quá trình thực
thi chính sách công.
Tuy nhiên do điều kiện thời gian và năng lực nghiên cứu hạn chế nên
tiểu luận khó lòng tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong sự chỉ bảo của thầy
hướng dẫn, các thầy cô giáo và sự tham gia của các bạn đồng nghiệp để tiểu
luận được hoàn thiện.
Học viên: Đoàn Văn Phương
Trang 3
Tiểu môn: Tổng quan chính sách công
PHẦN NỘI DUNG
I. Cơ sở lý luận.
1. Chính sách và việc thực thi chính sách.
1.1. Chính sách.
Trong hệ thống các công cụ quản lý được Nhà nước sữ dụng để điều
hành hoạt động kinh tế- xã hội thì chính sách được coi là công cụ nền tảng
định hướng cho các công cụ khác. Bởi lẽ, thông qua chính sách, nhà nước
dùng để định hướng cho các chủ thể khác nhau trong xã hội cùng hành động
vì mục tiêu chung và bày tỏ thái độ chính trị của mình với các biến cố xảy ra
trong từng giai đọan phát triển, chẵng hạn như chính sách thu hút đầu tư,
chính sách cho người nghèo, chính sách cho thương bệnh binh, chính sách
phát triển kinh tế xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số... Như vậy có thể hiểu
chính sách là những hành động ứng xữ của chủ thể với các hiện tượng tồn tại
trong quá trình vận động phát triển nhằm đạt mục tiêu nhất định. Chính sách
công một cách đơn giản là những chủ trương, chế độ mà Nhà nước ban hành,
điều đó đúng nhưng chưa đủ. Nếu không có việc thực thi chính sách để đạt
được những kết quả nhất định thì những chủ trương, chế độ chỉ là những khẩu
hiệu.
Từ khái nhiệm chung về chính sách và qua sự phân tích trên, chúng ta đi
đến khái niệm về chính sách công như sau: Chính sách công là những hành
động ứng xữ của Nhà nước với các vấn đề phát sinh trong đời sống cộng
đồng, được thể hiện bằng nhiều hình thức khác nhau, nhằm thúc đẩy xã hội
phát triển.
1.2. Thi chính sách.
Học viên: Đoàn Văn Phương
Trang 4
Tiểu môn: Tổng quan chính sách công
Tổ chức thực thi chính sách là một khâu hợp thành chu trình chính sách,
là trung tâm kết nối các bước trong chu trình chính sách. So với các khâu
khác, tổ chức thực thi có vị trí đặc biệt quan trọng trong chu trình chính sách,
vì đây là bước hiện thực hóa chính sách trong đời sống xã hội. Như vậy tổ
chức thực thi chính sách là toàn bộ quá trình chuyển hóa ý chí của chủ thể
trong chính sách thành hiện thực với các đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu
định hướng. Đây là một quá trình phức tạp, diễn ra trong một thời gian dài và
trải qua nhiều bước khác nhau và đòi hỏi phải có sự tham gia của cả hệ thống
chính trị.
2. Hệ thống chính trị.
Khái niệm hệ thống chính trị được ghi nhận trong Hiến pháp nước ta
năm 2013. Theo đó, hệ thống chính trị của nước ta bao gồm các yếu tố thể
chế, tạo thành mô hình tổng thể của nó, đó là: Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc.
Đảng Cộng sản Việt Nam là một yếu tố cấu thành của hệ thống chính trị,
đồng thời là hạt nhân lãnh đạo và là bộ phận quan trọng trong cơ cấu quyền
lực chính trị của đất nước. Đảng liên hệ mật thiết với nhân dân, chịu sự giám
sát của nhân dân, hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.
Nhà nước là tổ chức thể hiện ý chí, quyền lực của nhân dân. Nhà nước
Việt Nam thống nhất 3 quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, với sự phân
công rành mạch 3 quyền đó.
Mặt trận Tổ quốc Việt nam là liên minh chính trị của các đoàn thể nhân
dân và cá nhân tiêu biểu của giai cấp và tầng lớp xã hội, các dân tộc, tôn giáo,
là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân. Đảng Cộng sản vừa là thành
viên, vừa là người lãnh đạo Mặt trận. Các đoàn thể nhân dân tùy theo tính
chất, tôn chỉ và mục đích của mình, vừa vận động đoàn viên, hội viên giúp
Học viên: Đoàn Văn Phương
Trang 5
Tiểu môn: Tổng quan chính sách công
nhau chăm lo bảo vệ các lợi ích thiết thực, vừa giáo dục nâng cao trình độ mọi
mặt cho đoàn viên, hội viên, vừa tham gia quản lý nhà nước.
3. Vai trò và mối quan hệ giữa các tổ chức trong hệ thống chính trị
tham gia thực thi chính sách.
Trong hệ thống chính trị, các yếu tố cấu thành có mối liên hệ mật thiết
với nhau, có sự tác động qua lại với nhau. Mỗi yếu tố có vị trí, vai trò, chức
năng nhiệm vụ riêng, nhưng nhằm một mục đích chung là phục vụ sự nghiệp
đổi mới, vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vì lợi ích của nhân dân và Tổ
quốc.
Đảng Cộng sản Việt Nam là bộ phận quan trọng và là hạt nhân lãnh đạo
hệ thống chính trị. Đảng có trách nhiệm vạch ra cương lĩnh, chiến lược,
đường lối, chính sách và định hướng lớn; Đảng không trực tiếp quyết định xử
lý các vấn đề cụ thể, thuộc chức năng của nhà nước, không làm thay những
công việc thuộc trách nhiệm, thẩm quyền của Nhà nước. Văn kiện Đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng chỉ rõ: “Đảng lãnh đạo Nhà nước thông
qua việc đề ra đường lối, chủ trương, các chính sách lớn, định hướng cho sự
phát triển và kiểm tra việc tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng
và Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước”. Ở cấp ngành và địa phương, tổ chức
đảng có trách nhiệm xây dựng mục tiêu và phương hướng phát triển của
ngành, địa phương trên cơ sở đề xuất của chính quyền, của lãnh đạo chuyên
môn, bảo đảm quán triệt đường lối chung của Đảng, thực hiện đúng chính
sách và pháp luật của Nhà nước, phù hợp với yêu cầu và khả năng thực tế của
ngành, địa phương.
Trên cơ sở đường lối đổi mới đất nước được đại hội lần thứ VI của Đảng
thông qua và tiếp tục được khẳnh định qua các đại hội VII, VIII, IX , X, XI và
đại hội XII, Đảng đề ra những nghị quyết, chủ trương để giải quyết những vấn
Học viên: Đoàn Văn Phương
Trang 6
Tiểu môn: Tổng quan chính sách công
đề cấp bách của các lĩnh vực đời sống xã hội như nghị quyết đổi mới cơ chế
quản lý kinh tế; nghị quyết về xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm
đà bản sắc dân tộc; nghị quyết về giáo dục đào tạo và khoa học công nghệ;
nghị quyết về an ninh quốc phòng; nghị quyết về vấn đề dân tộc, tôn giáo,
nghị quyết về nông nghiệp, nông dân và nông thôn...Đặc biệt Đảng đã ban
hành những nghị quyết, chủ trương tăng cường, đổi mới sự lãnh đạo của Đảng
đối với hệ thống chính trị; định hướng việc xây dựng và hoạt động của Nhà
nước, Mặt trận Tổ quốc và đoàn thể nhân dân. Nhìn chung những chủ trương,
nghị quyết của Đảng ngày càng sát hợp với sự phát triển của thực tiễn trong
từng thời kỳ, góp phần thực hiện thắng lợi của công cuộc đổi mới đất nước.
Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về
nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông
dân và đội ngũ trí thức. Nhà nước được tổ chức và hoạt động trên cơ sơ Hiến
pháp, pháp luật. Nhà nước luôn chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng
của nhân dân. Trên cơ sở đường lối đổi mới, và các chủ trương, nghị quyết
của Đảng trong hoạt động đối nội và đối ngoại; Nhà nước thể chế hóa, đề ra
những chính sách, chiến lược, kế họach cụ thể và tổ chức thực hiện thông qua
hoạt động, quản lý, điều hành, đưa các chủ trương, nghị quyết của Đảng vào
cuộc sống. Đó là tập trung xây dựng, đổi mới thể chế hành chính trên các lĩnh
vực, trước hết là hình thành thể chế kinh tế phù hợp với yêu cầu phát triển nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; đẩy mạnh cải cách nền hành
chính nhà nước mà trọng tâm là cải cách thủ tục hành chính; về chiến lược
xây dựng và phát triển đất nước trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế
quốc tế; chiến lược bảo vệ an ninh quốc gia; chiến lược bảo vệ môi trường;
chương trình xóa đói giảm nghèo, chương trình phát triển kinh tế xã hội vùng
Học viên: Đoàn Văn Phương
Trang 7
Tiểu môn: Tổng quan chính sách công
đồng bào dân tộc thiểu số; chương trình kiên cố hóa trường học; chương trình
an sinh xã hội...
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với tư cách là một bộ phận trong hệ thống
chính trị, là kênh thông tin quan trọng để Đảng và Nhà nước nắm bắt việc
thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; phát
huy dân chủ, quyền làm chủ của nhân dân thông qua cơ chế tham gia quản lý
lẫn cơ chế tác động vào quản lý nhà nước bằng các quyền và trách nhiệm cụ
thể của Mặt trận. Các quyền và trách nhiệm này đã được thực hiện trong mối
quan hệ gắn bó chặt chẽ giữa Mặt trận Tổ quốc với nhân dân và Nhà nước
cũng như vai trò cầu nối giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước của Mặt trận
Tổ quốc Việt nam, thể hiện trên những mặt sau.
Thông qua các tổ chức thành viên như đoàn thanh niên, hội phụ nữ, hội
nông dân, liên đoàn lao động, hội cựu chiến binh... và các thành viên là các cá
nhân tiêu biểu trong các giai cấp, các tầng lớp xã hội, các dân tộc, các tôn
giáo, doanh nhân...; Mặt trận Tổ quốc đã tuyên truyền, vận động các tầng lớp
nhân dân thực hiện quyền làm chủ, thực hiện dân chủ ở cơ sở; thi hành các
chính sách, pháp luật của Nhà nước; thực hiện các phong trào mang tính tòan
dân như phong trào đền ơn đáp nghĩa, cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây
dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư; chương trình xóa đói giảm nghèo;
chương trình phòng chống tệ nạn xã hội; phong trào quần chúng bảo vệ an
ninnh Tổ quốc. Đồng thời, tổng hợp ý kiến của nhân dân và các thành viên
của Mặt trận kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền những tâm tư
nguyện vọng chính đáng của nhân, phản ánh những vấn đề còn bất cập, còn
hạn chế trong quá trình thực thi chính sách để các cơ quan nhà nước tiếp thu,
bổ sung, điều chỉnh các chính sách cho phù hợp với thực tế, góp phần đưa
chính sách vào cuộc sống.
Học viên: Đoàn Văn Phương
Trang 8
Tiểu môn: Tổng quan chính sách công
II- Những kết quả phối hợp thực hiện các chính sách ở địa phương,
tiễn tại huyện Đăk Glong từ 2015 đên nay.
1. Sơ lược về huyện Đăk Glong.
Huyện Đăk Glong, tỉnh Đăk Nông được thành lập từ việc chia tách
huyện Đăk Nông cũ thành 02 đơn vị hành chính là huyện Đăk Glong và Thị
xã Gia Nghĩa theo Nghị định số 82/2005/NĐ-CP, ngày 27 tháng 6 năm 2005
của Chính Phủ, là huyện nằm ở phía Đông Nam của tỉnh Đắk Nông, có tổng
diện tích tự nhiên là 144.875,46 ha, tiếp giáp với huyện Lăk của tỉnh Đăk Lăk
ở phía Đông Bắc; tiếp giáp với các huyện của tỉnh Lâm Đồng (gồm có: Đam
Rông ở phía Đông, Lâm Hà ở phía Đông Nam, Di Linh và Bảo Lâm ở phía
Nam); tiếp giáp với các huyện trong tỉnh (bao gồm: Đắk R'lấp và Thị xã Gia
Nghĩa ở phía Tây Nam, Đắk Song ở phía Tây và Krông Nô ở phía Bắc). Toàn
huyện hiện nay có 70.265 dân đang sinh sống trên địa bàn huyện, gồm 7 đơn
vị hành chính cấp xã, cả 7/7 xã đều là xã đặc biệt khó khăn; bao gồm 27 dân
tộc anh em, trong đó đồng bào DTTS tại chỗ cư trú lâu đời trên địa bàn huyện
chủ yếu là dân tộc Mạ, MNông, E đê, v.v…Về nhân lực: Số người trong độ
tuổi lao động là 29.160 người chiếm tỷ lệ hơn 50% dân số toàn huyện, trong
đó lao động nữ: 14.356 người. Lao động chủ yếu là lao động ở nông thôn, lao
động thủ công chưa qua đào tạo, chất lượng lao động thấp (chiếm trên 80%),
còn lại là lao động trong lĩnh vực tiểu thủ công nghiệp, dân dụng, tiểu thương
có mức thu nhập thấp. Những năm qua, thực hiện đường lối đổi mới của
Đảng, các chính sách phát triển kinh tế xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng,
nhất là chính sách phát triển kinh tế xã hội miền núi; các cấp ủy Đảng, chính
quyền, Mặt trận Tổ quốc từ huyện đến cơ sở đã có sự phối hợp trong tổ chức,
triển khai thực hiện các chính sách của Nhà nước, đưa các chính sách đi vào
cuộc sống.
Học viên: Đoàn Văn Phương
Trang 9
Tiểu môn: Tổng quan chính sách công
2. Cơ sở để thực thi chính sách công ở địa phương.
Trong hệ thống chính trị, cơ quan hành pháp là một trong ba nhánh
quyền lực của Nhà nước. Điều 94, Hiến pháp 2013 quy định: “Chính phủ là
cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam, thực hiện quyền hành pháp, là cơ quan chấp hành của Quốc hội.
Chính phủ chịu trách nhiệm trước Quốc hội và báo cáo công tác trước Quốc
hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước”. Cùng với Chính phủ, các
cơ quan hành chính nhà nước là cơ quan chịu trách nhiệm chính trong việc
thực thi chính sách công. Bên cạnh đó, các cơ quan đại diện (Hội đồng nhân
dân các cấp), cũng được coi là cơ quan hành pháp, tham gia vào quá trình
thực thi chính sách công.
Với những lý luận như đã nêu trên đối với cấp huyện thì cơ quan nhà
nước (UBND huyện), chịu trách nhiệm trước HĐND cùng cấp trong việc thực
thi chính sách công và chịu sự phản biện của Mặt trận và các tổ chức đoàn
thể. Thực thi chính sách công là giai đoạn quan trọng trong quá trình chính
sách, là giai đoạn hiện thực hóa mục tiêu chính sách công. Quy trình triển
khai thực thi chính sách công được chia thành 3 giai đoạn cơ bản: xây dựng
và ban hành văn bản chỉ đạo thực thi chính sách công; tổ chức thực hiện và sơ
kết, tổng kết thực hiện chương trình, dự án thực thi chính sách công. Các giai
đoạn đó được chia thành 7 bước: xây dựng kế hoạch; phổ biến quy chế, tuyên
truyền chính sách; phân công phối hợp thực hiện chính sách; duy trì chính
sách; điều chỉnh chính sách; theo dõi, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện chính
sách; tổng kết đánh giá rút kinh nghiệm.
2.1. Xây dựng kế hoạch.
Trên cơ sở Nghị quyết, đối với huyện Đăk Glong là Nghị quyết đại hội
huyện Đảng bộ lần thứ III, nhiệm kỳ 2015 - 2020 về “Nâng cao năng lực lãnh
Học viên: Đoàn Văn Phương
Trang 10
Tiểu môn: Tổng quan chính sách công
đạo và sức chiến đấu của Đảng bộ, phát huy tiềm năng, lợi thế, đưa huyện
Đắk Glong phát triển nhanh và bền vững. Huy động mọi nguồn lực xã hội để
phát triển nông nghiệp, nông thôn mới gắn với phát triển văn hóa nông thôn,
kết hợp đẩy mạnh phát triển kinh tế công nghiệp và dịch vụ nhằm tiếp tục
chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Phát huy dân chủ, giải quyết tốt các vấn đề bức
xúc xã hội, ổn định và cải thiện đời sống nhân dân. Tăng cường công tác quốc
phòng - an ninh, bảo đảm ổn định chính trị - xã hội. Đẩy mạnh cải cách hành
chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác chỉ đạo điều hành của bộ máy nhà
nước cấp huyện, xã. Đổi mới nội dung, phương thức, nâng cao chất lượng
hoạt động của Mặt trận và các đoàn thể, phát huy dân chủ và sức mạnh đại
đoàn kết toàn dân trong thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp,
nông thôn trên địa bàn”.
UBND huyện, Mặt trận và các tổ chức đoàn thể xây dựng chương trình
hành động triển khai thực hiện nghị quyết của cấp ủy, các đơn vị đã xây dựng
kế hoạch có lộ trình theo từng năm để triển khai thực hiện; xây dựng qui chế
phối hợp giữa các đơn vị để phối hợp thực hiện, nội dung quy chế được cụ thể
hóa cho từng đơn vị, phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng cá nhân người đứng
đầu. Theo đó, các phòng chuyên môn có trách nhiệm hướng dẫn về các quy
trình kỹ thuật, Mặt trận và các tổ chức chính trị xã hội có trách nhiệm tuyên
truyền vận động hội, đoàn viên hưởng ứng tham gia thực hiện. Định kỳ, cấp
ủy, tổ chức sơ tổng kết và báo cáo kết quả thực hiện để Ban chấp hành huyện
Đảng bộ xem xét cho ý kiến, định hướng về chủ trương, biện pháp khắc phục
những bất cập, hạn chế nhằm thực hiện thắng lợi các mục tiêu đề ra.
2.2. Phổ biến quy chế, tuyên truyền chính sách.
Từ nghị quyết, các chương trình, quy chế đã xây dựng cùng với các văn
bản chỉ đạo của cấp trên (nghị quyết của trung ương, địa phương, văn bản của
Học viên: Đoàn Văn Phương
Trang 11
Tiểu môn: Tổng quan chính sách công
các bộ ngành, của tỉnh, …) các cấp chính quyền từ huyện xuống xã trên địa
bàn huyện tổ chức tuyên truyền trong lực lượng quần chúng nhân dân nhận
thức sâu sắc các chủ trương chính sách của Đảng và nhà nước.
2.3. Phân công phối hợp thực hiện chính sách, theo dõi, kiểm tra, đôn
đốc việc thực hiện chính sách.
Các cơ quan ban ngành trên địa bàn huyện đã phân công phân nhiệm cụ
thể để triển khai thực hiện chính sách, huyện đã ban hành quyết định phân
công theo dõi (Quyết định số 12/QĐ-HU của Ban thường vụ huyện ủy về
phân công các đồng chí ủy viên ban thường vụ, ủy viên ban chấp hành theo
dõi chỉ đạo việc triển khai thực hiện nghị quyết).
Theo dõi kiểm tra được cấp ủy quan tâm chỉ đạo, hàng năm các cấp xây
dựng chương trình kiểm tra giám sát, cấp ủy giao cho UBKT huyện ủy,
HĐND giám sát, thanh tra của UBND huyện thanh tra, sự giám sát phản biện
của Mặt trận và các tổ chức đoàn thể.
2.4. Duy trì chính sách, điều chỉnh chính sách.
Vấn đề duy trì thực hiện chính sách luôn được huyện quan tâm, trong
quá trình duy trì thông qua các đồng chí thành viên ban chỉ đạo phản ánh việc
thực hiện các chính sách đã đưa ra chính quyền và các tổ chức chính trị bàn
luận đánh giá và đưa ra việc điều chỉnh hợp lý hơn bảo đảm tính khoa học và
hợp lý với các chính sách của cấp trên.
2.5. Tổng kết đánh giá rút kinh nghiệm
Công tác tổng kết đánh giá luôn là vấn đề quan tâm của cả hệ thống
chính trị, trên địa bàn huyện luôn có sự đánh giá hàng năm theo một chu trình,
cấp dưới đánh giá, lên cấp trên đánh giá; các tổ chức đánh giá (chính quyền,
Học viên: Đoàn Văn Phương
Trang 12
Tiểu môn: Tổng quan chính sách công
mặt trận và các tổ chức đoàn thể), sau cùng là cấp ủy đánh giá và từ đó đưa ra
các giải pháp điều chỉnh cho năm sau và trong nhiệm kỳ.
3. Đánh giá kết quả thực thi chính sách công trên địa bàn.
Nhờ có sự phối hợp chặt chẽ giữa các tổ chức trong hệ thống chính trị
trong quá trình tham gia thực thi chính sách, những năm qua; đặc biệt là từ
năm 2015 đến nay huyện đã đạt được những kết quả tích cực trên các mặt của
đời sống xã hội, (tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ tăng từ 35 % lên 55 %, tỷ
trọng nông nghiệp giảm từ 65 % xuống còn 45 %; kết cấu hạ tầng được đầu tư
có trọng điểm và phát huy hiệu quả tốt, 100 % xã có đường ô tô đến trung tâm
xã, 100 % thôn bản được phủ sóng phát thanh và truyền hình). Kinh tế của
huyện từng bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực, tăng dần tỷ
trọng thương mại - dịch vụ và công nghiệp, giảm dần tỷ trọng nông nghiệp.
Nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả
và bền vững, trong đó chú trọng phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ
cao và mở rộng chăn nuôi. Huy động các nguồn lực xã hội để xây dựng nông
thôn mới, thực hiện lộ trình xây dựng nông thôn mới theo kế hoạch đã đề ra.
Phát triển công nghiệp gắn với đô thị hoá nông thôn phù hợp với quy hoạch,
đảm bảo tính bền vững về môi trường, quốc phòng - an ninh và các điều kiện
kinh tế - xã hội khác. Chất lượng giáo dục - đào tạo, chú trọng đầu tư cơ sở
vật chất cho các trường học. Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời
sống văn hóa” và các phong trào văn hóa, văn nghệ, thể dục, thể thao đáp ứng
nhu cầu của người dân. Mạng lưới y tế được củng cố, nâng cao chất lượng
khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe cho nhân dân. Sử dụng có hiệu quả các
nguồn lực đầu tư cho công tác giảm nghèo bền vững, nhất là giảm nghèo
trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số; thực hiện kịp thời, có hiệu quả các
chính sách an sinh xã hội.
Học viên: Đoàn Văn Phương
Trang 13
Tiểu môn: Tổng quan chính sách công
Tuy nhiên bên cạnh những kết quả đạt được, sự phối hợp giữa các tổ
chức trong hệ thống chính trị trong việc thực thi chính sách vẫn còn nhiều mặt
hạn chế bất cập. Một số chương trình hành động của Huyện ủy còn rập khuôn,
thiếu cụ thể, thiếu tính sáng tạo; chức năng kiểm tra, giám sát của cấp ủy chưa
được phát huy đúng mức; Tính năng động, sáng tạo của chính quyền các cấp
còn hạn chế, chậm cụ thể hóa các chương trình hành động của cấp ủy; Một số
kế họach biện pháp, giải pháp thực hiện còn chung chung, thiếu thực tế, tính
khả thi không cao. Vai trò của Mặt trận và các tổ chức thành viên chưa được
phát huy đúng mức. Công tác tuyên truyền, vận động các hội, đoàn viên chấp
hành pháp luật, tham gia thực hiện các chương trình, các phong trào ở địa
phương chưa thường xuyên, liên tục, hiệu quả chưa cao.
Những hạn chế, yếu kém trên do nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu do
các nguyên nhân sau.
Phương thức lãnh đạo, lề lối làm việc của các cấp ủy Đảng chậm đổi
mới. Chưa xác định rõ vị trí của cấp ủy trong hệ thống chính trị nói chung và
trong quan hệ với nhà nước nói riêng. Do vậy trong tổ chức thực hiện chính
sách vẫn còn tình trạng bao biện làm thay hoặc buông lỏng trong lãnh đạo,
kiểm tra, giám sát.
Năng lực quản lý, chỉ đạo, điều hành của chính quyền chưa ngang tầm
nhiệm vụ, tính chịu trách nhiệm thiếu rõ ràng, cụ thể. Chức năng, nhiệm vụ,
quyền hạn, tổ chức bộ máy, mối quan hệ của một số cơ quan, tổ chức chưa
thật rõ, còn chồng chéo, trùng lắp... Việc phân công, phân cấp, phân quyền
giữa các ngành, các cấp và trong từng cơ quan, tổ chức chưa hợp lý, mạnh mẽ
và đồng bộ; còn tình trạng bao biện, làm thay hoặc bỏ sót nhiệm vụ. Cải cách
hành chính, nhất là cải cách thủ tục hành chính chuyển biến chậm, không
đồng bộ, chưa đáp ứng yêu cầu.
Học viên: Đoàn Văn Phương
Trang 14
Tiểu môn: Tổng quan chính sách công
Hoạt động của Mặt trận và các tổ chức thành viên còn mang nặng hành
chính hóa, giấy tờ. Sự phối hợp giữa Nhà nước, Mặt trận và các tổ chức chính
trị xã hội còn nhiều hạn chế, mang tính hình thức, chồng chéo, hiệu quả chưa
cao. Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục về nội dung và yêu cầu của
chính sách có khi chưa đầy đủ, rõ ràng và kịp thời tới những đối tượng liên
quan (nhà chức trách, những người thực thi và người dân), dẫn đến hiểu sai.
Sự phân công nhiệm vụ giữa các đơn vị tổ chức thực thi chính sách chưa
thực sự khoa học, vẫn có sự chồng chéo, trùng lặp giữa quyền hạn và lợi ích.
Cơ chế phối hợp giữa các cấp và giữa các cơ quan đồng cấp chưa chặt chẽ,
đặc biệt trong việc chia sẻ, trao đổi, công khai thông tin. Bên cạnh đó, một bộ
phận trong đội ngũ cán bộ, công chức thiếu năng lực, trình độ và sự trong
sạch trong thực thi chính sách cũng đang là một trong những nguyên nhân
bóp méo, thậm chí đi ngược lại mục tiêu của chính sách.
Những quy chế, thủ tục lập ra trong quá trình tổ chức thực thi chính sách
thường thiếu tính ổn định tương đối, gây xáo trộn cho quá trình thực thi chính
sách công. Thủ tục hành chính còn nhiều phức tạp, rắc rối gây khó khăn, cản
trở việc thực thi chính sách.
III. Một số giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường mối quan hệ giữa
các tổ chức trong hệ thống chính trị tham gia thực hiện chính sách.
Để tăng cường mối quan hệ giữa các tổ chức trong hệ thống chính trị
tham gia thực thi chính sách cần thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:
1. Phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, mối quan hệ giữa các
tổ chức trong hệ thống chính trị, nhất là mối quan hệ Đảng lãnh đạo, Nhà
nước quản lý trong điều kiện Đảng duy nhất cầm quyền.
Đảng lãnh đạo nhà nước bằng đường lối, chủ trương, chính sách và định
hướng lớn; Đảng không trực tiếp quyết định xữ lý các vấn đề cụ thể, thuộc
Học viên: Đoàn Văn Phương
Trang 15
Tiểu môn: Tổng quan chính sách công
chức năng của nhà nước, không làm thay những công việc thuộc trách nhiệm,
thẩm quyền của Nhà nước.
Đảng lãnh đạo nhà nước thông qua công tác kiểm tra, phát hiện, xử lý để
đảm bảo cho sự quản lý, điều hành của bộ máy nhà nước và chính quyền các
cấp theo đúng đường lối, định hướng của Đảng và theo Hiến pháp, pháp luật.
2- Đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt
động hiệu lực, hiệu quả và phù hợp với thể chế kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa nhằm tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng; nâng cao hiệu
lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước và chất lượng hoạt động của Mặt trận Tổ
quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội; phát huy quyền làm chủ của nhân dân.
Tinh giản biên chế gắn với cơ cấu lại, nâng cao chất lượng, sử dụng hiệu quả
đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; giảm chi thường xuyên và góp phần cải
cách chính sách tiền lương.
Nhất thể hóa các cơ quan đảng với cơ quan chính quyền để có sự đồng
nhất cao trong việc thực thi chính sách.
3- Tăng cường trách nhiệm của Nhà nước và chính quyền các cấp trong
việc thể chế hóa, cụ thể hóa các chủ trương của Đảng, hiện thực hóa đi vào
cuộc sống.
Đổi mới cơ cấu tổ chức bộ máy Chính phủ và chính quyền các cấp theo
hướng tinh gọn, có chất lượng cao, với một đội ngũ cán bộ công chức có
phẩm chất chính trị và có năng lực quản lý nhà nước, quản lý kinh tế, quản lý
xã hội.
Nâng cao vai trò, trách nhiệm của Nhà nước, phát huy dân chủ vai trò
phản biện của Mặt trận và các tổ chức đoàn thể tham gia xây dựng và tổ chức
thực thi chính sách.
Học viên: Đoàn Văn Phương
Trang 16
Tiểu môn: Tổng quan chính sách công
4- Nâng cao vai trò của Mặt trận và các tổ chức chính trị xã hội trong
công tác phối hợp thực thi các chính sách.
Đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận và các tổ chức
thành viên theo hướng sâu sát cơ sở; tuyên truyền vận động các hội đoàn viên
chấp hành và thực hiện có hiệu quả các chính sách, pháp luật của nhà nước,
khắc phục tình trạng hành chính hóa trong tổ chức và hoạt động. Tổ chức các
hình thức tuyên truyền, phổ biến và quán triệt phù hợp như: mở các lớp tập
huấn tập trung để quán triệt, nghiên cứu các nội dung chính sách, bàn các giải
pháp và phân công thực hiện; tổ chức các lớp tuyên truyền chính sách cho các
cơ quan thông tin đại chúng, cán bộ tuyên truyền.
Xây dựng và tổ chức thực hiện có hiệu quả qui chế phối hợp giữa Mặt
trận và chính quyền các cấp, đề cao vai trò giám sát, tham gia xây dựng chính
quyền, tham gia quản lý xã hội.
5- Tổ chức thực hiện một cách khoa học, hợp lý, phân công trách nhiệm
cụ thể cho các tổ chức, cá nhân liên quan; xác định người chịu trách nhiệm
chính và những người tham gia phối hợp trong quá trình tổ chức thực hiện
chính sách. Trong phân công nhiệm vụ, cần chú ý đến khả năng, tính chất
chuyên môn và thế mạnh của từng người; hạn chế tình trạng trùng chéo nhiệm
vụ và không rõ trách nhiệm.
6- Thanh tra kiểm tra việc thực hiện chính sách. Mục đích của việc thanh
tra, kiểm tra là phát hiện, phòng ngừa và xử lý vi phạm (nếu có); phát hiện sơ
hở trong cơ chế quản lý, trong chính sách và pháp luật để kiến nghị với cơ
quan thẩm quyền có biện pháp khắc phục. Đồng thời, thông qua đó để phát
huy nhân tố tích cực góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước,
sự phối hợp của mặt trận và các tổ chức đoàn thể, bảo vệ lợi ích của Nhà
nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức liên quan.
Học viên: Đoàn Văn Phương
Trang 17
Tiểu môn: Tổng quan chính sách công
PHẦN KẾT LUẬN
Tổ chức thực thi chính sách là một bộ phận cấu thành trong chu trình
chính sách. Nó kết hợp chặt chẽ với các bộ phận khác trong chu trình tạo nên
Học viên: Đoàn Văn Phương
Trang 18
Tiểu môn: Tổng quan chính sách công
một hệ thống nhất. Ngay quá trình tổ chức thực thi cũng bao gồm nhiều bước
hợp thành một hệ thống. Vì thế khi tiến hành tổ chức thực thi chính sách phải
đảm bảo tính hệ thống trong mỗi quá trình. Nội dung của tính hệ thống bao
gồm: hệ thống mục tiêu và biện pháp của chính sách; hệ thống trong sử dụng
công cụ quản lý khác của nhà nước; hệ thống trong tổ chức bộ máy tổ chức
thực thi chính sách...
Từ sự phân tích trên, để quá trình thực thi chính sách đạt hiệu quả, cần
phải huy động sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị. Trong đó cần
phân định rõ vị trí, vai trò cũng như mối quan hệ giữa các tổ chức tham gia
vào quá trình thực thi chính sách. Theo đó, vai trò định hướng lãnh đạo, kiểm
tra giám sát của các cấp ủy có ý nghĩa vô cùng quan trọng, có tác động trực
tiếp đối với toàn xã hội, mà trước hết đối với các tổ chức đảng, cán bộ đảng
viên, hạt nhân chính trị trong các cơ quan, đoàn thể. Các cấp chính quyền với
tư cách là người trực tiếp tổ chức và duy trì thực thi chính sách, là yếu tố chủ
quan, có vai trò quyết định đến kết quả tổ chức thực hiện. Nếu đội ngũ cán bộ
công chức có năng lực, có phẩm chất đạo đức tốt, có tinh thần trách nhiệm sẽ
góp phần nâng cao hiệu quả thực thi chính sách. Ngược lại, nếu thiếu năng
lực thực tế, các cơ quan có thẩm quyền thực thi chính sách sẽ đưa ra những kế
họach dự kiến không sát thực tế, làm lãng phí nguồn huy động, làm giảm hiệu
lực, hiệu quả của chính sách, thậm chí làm biến dạng chính sách. Mặt trận và
các tổ chức thành viên có vai trò quan trọng trong việc tuyên truyền phổ biến
làm cho hội đoàn viên nhận thức đầy đủ ý nghĩa và mục tiêu của chính sách
cũng như lợi ích mà chính sách mang lại cho họ; đồng thời vận động hội,
đoàn viên chấp hành chính sách, tạo ra những phong trào thi đua thực hiện
chính sách, góp phần đưa chính sách đi vào cuộc sống.
Như vậy, các yếu tố cấu thành nên hệ thống chính trị có mối liên hệ mật
thiết với nhau, có sự tác động qua lại với nhau. Mỗi yếu tố có vị trí, vai trò,
Học viên: Đoàn Văn Phương
Trang 19
Tiểu môn: Tổng quan chính sách công
chức năng nhiệm vụ riêng trong tổ chức, hoạt động nhưng có mối quan hệ
chặt chẽ với nhau trong quá trình thực thi chính sách và có ảnh hưởng quyết
định đến hiệu quả thực thi chính sách. Những thành tựu đạt được cũng như
những hạn chế, bất cập trong quá trình phối hợp thực thi chính sách giữa các
tổ chức trong hệ thống chính trị thời gian qua sẽ là bài học kinh nghiệm quí
báu để các cấp ủy Đảng, chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể đổi mới về nội
dung, phương thức hoạt động, đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, sớm đưa nước ta
thoát khỏi tình trạng kém phát triển, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội
công bằng, dân chủ, văn minh.
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU......................................................................................1
1-Tính cấp thiết của đề tài......................................................................1
Học viên: Đoàn Văn Phương
Trang 20
Tiểu môn: Tổng quan chính sách công
2- Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.....................................................2
3- Phương pháp nghiên cứu...................................................................2
4- Kết cấu tiểu luận.................................................................................2
PHẦN NỘI DUNG..................................................................................4
I. Cơ sở lý luận.........................................................................................4
1. Chính sách và việc thực thi chính sách.............................................4
1.1. Chính sách..........................................................................................4
1.2. Thi chính sách....................................................................................4
2. Hệ thống chính trị...............................................................................5
3. Vai trò và mối quan hệ giữa các tổ chức trong hệ thống chính trị
tham gia thực thi chính sách..........................................................................6
II- Những kết quả phối hợp thực hiện các chính sách ở địa phương,
thực tiễn tại huyện Đăk Glong từ 2015 đên nay...........................................9
1. Sơ lược về huyện Đăk Glong..............................................................9
2. Cơ sở để thực thi chính sách công ở địa phương............................10
2.1. Xây dựng kế hoạch...........................................................................10
2.2. Phổ biến quy chế, tuyên truyền chính sách......................................11
2.3. Phân công phối hợp thực hiện chính sách, theo dõi, kiểm tra, đôn
đốc việc thực hiện chính sách.........................................................................12
2.4. Duy trì chính sách, điều chỉnh chính sách........................................12
2.5. Tổng kết đánh giá rút kinh nghiệm..................................................12
3. Đánh giá kết quả thực thi chính sách công trên địa bàn...............13
III. Một số giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường mối quan hệ giữa
các tổ chức trong hệ thống chính trị tham gia thực hiện chính sách........15
PHẦN KẾT LUẬN................................................................................19
Học viên: Đoàn Văn Phương
Trang 21