ĐỀ CƯƠNG NGHE GIẢNG MÔN KHÁI LUẬN PHẬT HỌC
I / Tính Huyền Sử
Giá trị của tính huyền sử :
1 / Huyền sử là sự ghi lại về cuộc đời của các đấng giáo chủ mà
không phải chỉ riêng đức Phật , mà các tơn giáo đều có huyền sử về
giáo chủ của mình, và thường khơng chứng minh được bằng khoa học
, không được giới nghiên cứu xem là nguồn tin cậy , nhưng đâylại là
nguồn quan trọng để tôn giáo tồn tại .
-Nếu các tơn giáo khơng có yếu tố huyền sử này, thì khó mà tồn tại
cho đến ngày nay , và huyền sử giúp nối kết tín đồ với giáo chủ .
( niềm tin tôn giáo ).
- Cực kì quan trọng với tín ngưỡng và tơn giáo , khơng có giáo chủ
nào của các tơn gióa trên thế giới khơng có yếu tố huyền sử . đức
PhậtThích Ca cũng vậy , yếu tố huyền sử về Ngài được ghi qua các bộ
kinh truyền thống .
-Sẽ nói lên những điều linh thiêng huyền bí về một con người đặc biệt
là tơn giáo.
-Nó sẽ có thật đối với một số người đã trải qua , thực nghiệm .
2/ Có những năng lượng tinh thần mà chúng ta khơng nói được như
tình mẹ với con , có những sự thiêng liêng vượt ngoài tầm tư duy của
chúng ta .
Vd khi đứa con đi ra ngoài đường , người mẹ cảm thấy nóng ruột , lo
lắng , bồn chồn . .. sau đó đứa con mình gặp những điều bất chắc ,
được gọi làthần giao cách cảm .
(Đạo Phật có phải một tôn giáo không ?
-Một tôn giáo cần hội đủ 3 yếu tố : giáo chủ ,giáo chế , tín đồ . Đạo
Phật đủ 3 yếu tố này,đạo Phật còn là một hệ thống của triết học , đạo
đức tâm lí học ….)
-Trong kinh Nikaya A Hàm (Nam Truyền) và Bắc truyền cũng có đề
cập đến:
4 nguồn gốc .
1 Kinh Vị tằng Hữu Pháp ( Trung Bộ III) . Tơn giả A Nan nói về
19 sự kiện hi hữu khi đức Phật đản sanh , khi một Đức Như
Lai , ( chánh niệm , …sanh , an trú ở Tusita, nhập vào mẫu thai ,
hào quang vô lượng chiếu khắp các thế giới….)….
“ Bạch Thế Tôn , con tận mặt nghe , con tận mặt ghi nhớ từ thế Tôn :
“ chánh niệm tỉnh giác , này A Nan da , Bồ tátsanh ra trong thiên
chúng Tusita”
…. Bồ tát từ thiên chúng Tusita mạng chung, nhập vào mẫu thai …
Khi bồ tát nhập vào mẫu thai , một hào quang vô lượng , thần diệu ,
thắng xa oai lực của chư Thiên hiện ra cùng khắp thế giới .. , và mười
ngàn thế giới nàychuyển động , rung động , chuyển động mạnh . ….
2 Đại Bổn Kinh ( Trường bộ I) , thuyết về thân thế bảy vị Phật
trong quá khứ cho đến đời sống của đức Phật hiện tại và các vị
bồ tát hộ trì ( Tỳ Bà Thi Phật ,Thi Khí Khật, Câu Lưu Tôn Phật ,
Câu Na HàmPhật, Ca Diếp Phật , Thích Ca Mâu Ni Phật ) . ,
- trong kinh này Phật dạy về một vị Phật ra đời thì có hai vị Bồ
Tát ln ln hộ trì , như Phật Thích Ca có hai vị hộ trì là bồ tát
mục kiền liên , xá lợi phất ( theo Nam truyền ) . theo Bắc
truyền là Văn thù sư lợi và phổ hiền bồ tát .
- những hiện tượng lạ xuất hiện khi đức Phật nhập thế như hào
quang vô lượng, tứ thiên vương canh gác , đi bảy bước “ Ta là
bậc tối thượng, tối tôn , cao nhất ở trên đời”
Như trong kinh có ghi Bồ Tát Hộ Minh trên cung trời Đâu Suất
đã tu vơ lượng kiếp ,chỉ cịn một kiếp nữa sẽ thành Phật.
Từ cung trời Đâu Suất Ngài nhìn xuống nhân gian để tìm gia
đình thích hợp , có đạo đức , nhập thai xuống để tiếp tục tu hành
một kiếp cuối .
Hình ảnh ngài từ cung trời đâu suất cưỡi voi trắng sáu ngà hiện
xuống ứng mộng vào hồng hậu maya , sau đó ngài thị hiện giữa
cõi đời nhân lúc thân mẫu giơ tay vịn cành hoa vô ưu trong
vườn LâmTỳ Ni khi ngài vừa bước ra bụng mẹ có chư thiên
cung nữ tới đỡ Ngài , có bốn vị chư thiên rưới nước xuống để
tắm cho Ngài và sau đó Ngài cất bảy bước chân đi trên bảy đóa
sen rồi dõng dạc tuyên bố “ thiên thượng thên hạ duy ngã độc
tôn” .khi Ngài vừa sanh ra bảy ngày thì mẹ Maya xả báo thân .
3 Câu chuyện về thái Tử Phổ Quang (samantaprabhasa ) lấy hiệu
Thiện huệ (Sumedha) , chuyện kể rằng xưa có một vị thái tử
xin cha đi xuất gia , nghe có Phật Nhiên Đăng ra đời , thái tử đi
đến chỗ Phật nghe thuyết pháp , lúc ấy cũng có một cơ gái đến
nghe thuyết Pháp và cầm theo 5 bông hoa sen , ngài thấy đẹp và
muốn mua lại , cô gái không bán và đưa ra điều kiện có thể cho
khơng ngài chỗ hoa ấy , là lấy tơi làm vợ , thái tử khơng chịu vì
ngài có tâm xuất gia , khơng muốn lấy vợ con , cơ mới nói nếu
cưới cơ, cơ sẽ thỏa mãn tất cả những ước muốn của ngài cho đời
xuất gia , và với lời hứa đó , thái tử đồng ý.
Mua hoa xong thái tử và cô gái không làm sao mà vào được mới
tung 5 đóa hoa lên và la rằng con xin cúng dường Thế Tôn . 5
bông hoa ấy kết thành 5 đài hoa , gió thổi đến nơi Phật , sau đó
hai người được đến gặp Phật và thái tử đi xuất gia .
4 . Bồ Tát Thiện Huệ tái sanh làm thái tử Vessantara, thực hành
Bồ tát đạo , sanh lên cõi trời Tuisita . sau 4000 năm , ngài xuất
thân giáng thế để giáo hóa chúng sanh sau khi quán sát 5 nhân
duyên đầy đủ :
1 thời điểm giáng sanh
Thời mạt pháp , khi tuổi thọ của con người chỉ khoảng 100t
2 địa điểm giáng sinh
Thành Ca tỳ la vệ ( trung tâm điểm để lan tỏa giáo pháp đi khắp
nơi )
Nơi đông đảo bà la môn nghiên cứu , tu tập theo 4 tạng kinh vệ đà .
Trong khu vực xứ Ma kiệt đà có một vương quốc láng giềng được
1000 vị Phật quang lâm , ban phước ra trì .
3 Đẳng cấp của dịng họ đức Phật sẽ đản sanh
4 Lựa chọn mẹ
5 Gia đình đức Phật sẽ đản sanh .
2/ yếu tố lịch sử
Rất quan trọng trong đạo Phật
Tổ chức liên hiệp quốc , khơng có mang tính tơn giáo nhưng vào năm
1999, tổ chức này đã quyết định công nhận 3 ngày lễ của Đp , ngày
Phật đản sanh, thành đạo và nhập diệt thành đại lễ của tổ chức này .
Vì giáo lí của đức Phật hay những lời dạy của đức Phật khi người ta
đưa vào những mục tiêu của tổ chức này thì nó có giá trị .
1 Q hương của Đức Phật …. Như trong tài liệu trước .
2 vấn đề gia phả của Đức Phật
Tham khảo thêm trong sách
3 cuộc sống trước khi xuất gia
Đp sanh ra như một con người bình thường ( sanh ra từ thai mẹ ) ,
sống như một con người ( có gia đình , vợ con ) , lớn lên với đầy đủ
cảm xúc hỷ , nộ , ái , ố .
Đp là một nhân vật đặc biệt , Ngài là thái tử cho nên ngài được giáo
dục với một nền giáo dục đặc thù ., cựckì đặc biệt , những vị dạy ngài
là những nhân vật xuất chúng , ở trong 3 cung điện theo 3 mùa khác
nhau .
Đức Phật trở thành một người phi thường từ một vị trí tầm thường ,
là ngài đã được ở , hưởng thụ một nền giáo dục , mơi trường ni
dưỡng với tình thương đặc biệt , cho nên ngài giỏi ở mọi mặt .
Ngài cũng xúc động trước 4 cảnh , lão, bệnh, tử và vị đạo sư , cũng
xúc động trước cái đẹp .
Ngài từ bỏ mọi dục lạc mà cả cuộc đời đang khao khát để xuất gia tìm
đạo. Trong khicon người lịng đầy dục vọng con người ta khó lịng
mà bỏ được ,
Từ bỏ vợ đẹp , con thơ ( mới sanh) , ngai vàng danh vọng để tìm cầu
chân lí .
+) sự xuất thế vĩ đại : bỏ cái đang có để tìm cái chưa biết có hay
khơng .
1), thái tử Tất đạt đa đã có mọi thứ từ mà con người từ thời ngài đến
bây giờ đang vươn tới , đang tranh đấu , đang tìm mọi cách để đạt
được , thậm chí dùng thủ đoạn , những âm mưu cực kì đen tối để đạt
được mục tiêu .
2) Ngài đang có cả một thế giới tài , săc, danh , thực thùy , địa vị ,
quyền lợi …, ngài bỏ cả để đi tìm chân lí=> từ bỏ cái có để tìm cái
chưa biết có hay khơng .
=> bài học từu thầy giáo thọ :
( giới cư sĩ )
Từ bỏ thói hư, tật sấu , giận hờn , sân si , ghen tỵ , đố kị .cái gì cần
bng thì bng , đơi khi chúng ta chấp thủ một ý niệm làm cho
chúng ta rối loạn , thì chúng ta phải buông xả .
Học nghệ thuật buông xả , biết cách buông , biết cách nắm .
(Giới xuât gia)
Học theo hạnh cảu Ngài , đem đó vào đời sống tu tập hàng ngày ) .
Không phân biệt người nghèo và giàu khi bước chân vào chùa xuất
gia , bớt kiện tụng , ganh ghét nhau để hướng mục tiêu giải thoát ,
mục tiêu tu hành của mình vào một mục tiêu cao đẹp hơn .
Đừng vì tài sắc, danh , thực thùy mà làm biến chất , sai lệch mục
tiêu xuất gia ban đầu .
Không làm nô lệ cho tiền tài để thỏa mãn dục vọng của mình, làm
mất đi cái hồn của người xuất gia .
1 )Bài học tăng ni, cư sĩ Phật tử rút ra được gì từ sự từ bỏ cuả
đức Phật . ?
Mỗi người tự soạn theo ý riêng của mình . ( giáo thọ có nhắc sẽ
cho trong đề thi ) .
2 ý nghĩa quá trình tầm sư học đạo của Đức Phật ( thầy nói sẽ
cho trong đề thi )
Đức Phật từ bỏ cuộc sống vương giả trở thành một người sống
khơng gia đình ,từ bỏ gia đình .
1 Alara kalama chứng cảnh thiền thứ 7 : vô sở hữu xứ .
Mục tiêu đi xuất gia tìm đạo của tơi không phải chứng vô sở hữu xứ
định, mục tiêu xuất gia của tơi là giải thốt khổ đau.
5đức của người xuất gia ( Sa Di) :
1 Nhất giả phát tâm xuất giahồi bội đạo cố ( mến tưởng đạo giải
thốt nên xuất gia ) .
2 Nhị giả hủy kì hình hảo ứng pháp phục cố ( cạo tóc ,cạo râu để
phù hợp với đạo giải thốt , đầu trịn áo vuông ) .
3 Tam giả cắt ái từ thân ( cắt bỏ sợi dây tình cảm gia đình , khơng
cịn ai là thân thuộc nữa cả) . (Phải có tâm từ rộng lớn , đừng ái
cá nhân .)
4 Hủy kì thân mạng tơn sùng đạo cố ( năm 1963 có nhiều thánh đệ
tử khi đạo Pháp gặp lâm nguy các ngài tự thiêu để bảo vệ chánh
pháp , ví dụ như Bồ Tát Thích Quảng Đức ). Người tu chân lí ,
đạo giải thốt là quan trọng chúng ta phải ln ln bám trụ cái
lí tưởng xuấ gia , có thể từ bỏ thân mạng khơng được qn đi chí
nguyện , lí tưởng tìm cầu giải thốt .
5 Ngũ giả chí cầu đại thừa vị độ nhân cố ( cầu giáo pháp giải
thốt hồn tồn để mà độ tận tất cả chúng sanh )
Khi chứng đến cảnh thứ bảy ngài nói rằng mục tiêu của tơi
xuất gia từ bỏ gia đình , sống khơng gia đình , khơng phải vì
cảnh giới thiền thứ 7mà mục tiêu là giải thoát , giác ngộ , cho
nên trên đường tu tập của quý thầy cô có thể có những thành
cơng và nhớ lời dạy của đức Phật là mục tiêu xuất gia khơng
phải vì những thành cơng nho nhỏ đó mà phải vì lí tưởng giải
thoát .
Đức Phật từ bỏ cảnh giới thiền thứ bảy như từ bỏ một đôi dép
rách .
2 Uddaka Ramaputta .
Trong thời gian 6 tháng ngài cũng chứng được cảnh giới cao nhất của
Uddaka Ramaputta là vô sở hữu xứ định , cảnh giới thiền thứ 8 .
Lúc này thầy của đức Phật cũng đến nói với ngài là những gì tơi biết
ngài đã biết ,những gì tơi học ngàu đã học , những gì tơi tu ngài đã tu ,
những gì tơi chứng ngài đã chứng , ngài quả vị bây giờ, trí tuệ và quả
chứng ngang bằng tơi , mời ngài ở lại đây để lãnh đạo đại chúng ( vì
lúc này Uddaka Ramaputta đã quá già , cần người kế vị) .
Dức Phật lặp lại câu nói mục tiêu xuất gia của tôi không phải là
vô sở hữu sứ định .
Sau khi từ bỏ hai vị thầy này , ngài được biết có 5 tơn giả tu ở vùng
núi tuyết , ngài đã đến nhập hội chúng 5 vị này . lúc đầu ngài tôn 5 vị
này làm thầy nhưng chỉ 2 tháng 15 ngày sau , thì 5 vị này tơn đức
Phật trở lại làm thầy . Vì ngài tu khổhạnh đến mức 5 vị ấy không ai tu
khổ hạnh bằng ngài .
Trong thời gian tu tập ở đây ngài đã nỗ lực quá mức , cơ thể ngài suy
nhược , một ngày ngài chỉ ăn một hạt mè , vào một đêm ngài đã ngất
xỉu bởi vì kiệt sức , trong khi ngất xỉu ngài té , nằm trước cửa hang ,
khi ngài lạnh quá thì ngài tỉnh lại , và từ đó ngài giác tỉnh rằng khơng
thể có một cái trí tuệ tồn giác trong một cơ thể bệnh tật
=> cho nên người tu sĩ chúng ta phải tu cả thân lẫn tâm , cũng biết
thân ngũ ẩm này là giả tạm nhưng phải biết bồi dưỡng nó để làm
phương tiện chứ khơng phải để hưởng thụ . ăn để mà sống chứ không
phải sống để mà ăn .
Ngài nhận diện ra đạo khổ hạnh ép xác này không phải là chánh đạo ,
cho nên ngài từ bỏ 5 vị này ngài đi tiếp .
Cuối cùng ngài về Bồ Đề Đạo Tràng , ở đó , sau 49 ngày thiền định
dưới cội cây bồ đề, ngài đã chứng đắc quả vị Phật .
Trong kinh nói rằng ngài ngồi ở đó 49 ngày nhưng thật sự ban ngày
ngài có đi khất thực ở làng gần đó là Ưu lâu tần loa , rồi ngài cũng
xuống tắm ở sông Ni Liên Thiền . sau 49 ngày ngài quay về trong nội
tâm , thiền định bằng kinh nghiệm từ lúc ngài chứng sơ thiền lúc 9t,
rồi chứng đến thiền thứ 8 , đi qua diệt , thọ tưởng , định , cuối cùng
chứng được tam minh , lục thông . tuyên bố thành bậc chánh đẳng
chánh giác .
Bài học thầy muốn dạy :
1 , đức Phật sanh ra là một con người cho nên ngài cũng học tập
như mọi con người , ngài không phải là một con người toàn tri
khi sinh ra mà ngài cũng học thế học trong lúc tại gia , nếu lúc
sanh ra ngài đã biết hết mọi thứ rồi thì chúng ta đừng học mà
thành Phật , thành thánh …
Vì ngài sinh ra khơng biết gì cũng như chúng ta , và cũng học
tập , và chúng ta trở thành ông nọ bà kia , giám đốc ,… là do
quá trình học tập mà thành tựu .
Ngài đi tu tập ngài cũng là người đi học đạo với ngoại đạo , với
5 tôn giả Kiều Trần Như , quá trình mà ngài trải qua ba giai
đoạn này để cho biết rằng cái trí tuệ ,cái kiến thức mà ngài
chứng đắc không phải là thứ tưởng tượng , ngài phải đi từ kinh
nghiệm thực tế tu tập , cho nên Đạo Phật là đạo đi từ thực tế mà
ra chứ không phải đi từ trong tưởng tượng ( đi theo lí thuyết và
thực hành )
Q trình học của mình những gì đã đạt được mà chúng ta xem
đó là tối thượng thì chúng ta sẽ chìm ngay ở đó vì ngã .
Dừng để những thứ tài danh tầm thường nó cột mình , đừng trở
thành cơng cụ cho những vật vọng của những cá nhân khác . đệ
tử Đức Phật là trượng phu , đừng để người ta cúng mình vài ba
chục triệu , vài ba thứ gì đó rồi để người ta sai mình như là
người nhà của họ . phải nhìn cuộc đời của Đức Phật để học , để
hành .
Ý nghĩa : giúp chúng ta nhận biết :
1/ hai cực đoan hưởng thụ khoái lạc và khổ hạnh ép xác là hai
con đường cực đoan , tốn cơng vơ ích , khơng đưa đến giải thoát
.
2/ mọi hiểu biết hay tri kiến màchúng ta có được đều được đúc
kết từ q trình học tập , kinh nghiệm .
3/khơng thể có một tinh thần minh mẫ trong một cơ thể ốm yếu ,
suy nhược . con đường trung đạo mới giúp chúng ta nhận chân
được chân lí tối thượng .
4/ với lí tưởng tìm cầu chân lí tối thượng , khi chưa đạt được thì
dù có gặp bao khó khăn cũng khơng được bỏ cuộc .
5/ muốn đạt đến thành cơng tì phải trải qua rất nhiều khó khăn ,
thử thách , vơ số chướng ngại , , sự chứng ngộ lệ thuộc vào múc
độ nỗ lực của mỗi người .
6/ hạnh phúc có mặt ngay trong giờ phút hiện tại , không cần ở
đâu xa.
7/Ai cũng có thể đạt được quả vị giác ngộ như đức Phật , nếu
chúng ta có thể chiến thắng được tự thân.
« dầu tại bãi chiến trường
Thắng hàng ngàn quân địch
Tự thắng mình tốt hơn
Thật chiến thắng tối thượng » ( pháp cú 103).
II/ nguyên nhân của khổ là ái.
Sự đoạn tận là ái là chân lí thứ 3 , là niết bàn , sau đoạn tận ái là sự
đoạn tận khổ.
Con đường để đoạn tận ái là con đường bát chánh đạo .
‘Mới sanh ra thì đã khóc chóe
Trần gian vui sao chẳng cười khì’.
Khổ ( Dukkha ) hai mặt tâm lí và vật lí :
Tâm lí nó vơ thường nó khổ đau , trống rỗng làm cho ta khổ .
Vật lí nó thay đổi nó biến chuyển làm cho chúng ta khổ .
Cho nên Nguyễn Du có nói : trăm năm trong cõi người ta chữ tài chữ
mệnh khéo là ghét nhau , trải qua một cuộc bể dâu , những điều trơng
thấy mà đau đớn lịng . ..
Người đời biết vạn vật vô thường là khổ nhưng chấp chặt tự ái nên
càng đau khổ hơn .
{Ngô tất tố dịch : thân như bóng chớp chiều tà , cỏ xuân tươi tốt xuân
qua rụng rời , xá chi suy thịnh cuộc đời , thịnh suy như hạt sương rơi
đầu cành ( Vạn Hạnh Thiền Sư ) }.
Khổ do mình chấp nó là mình , rồi cứ phải tư duy về nó nên khổ . nó
ở đó kệ nó , tự tại với nó , với nguyên lí của nó , như thân này thì phải
tiết mồ hơi , mình khơng muốn cũng khơng được vì đó là ngun lí
của nó , ngun lí cuộc sơnga này là như thế , mình nắm được nó thì
mình sống một cách tự tại .
Có nhiều người có bệnh nan y nhưng người ta vẫn sống rất tích cực ,
yêu đời , nhưng có nhiều người khơng bệnh gì cả nhưng mang cái
bệnhtâm lí , ln lnu ám .
Tập đế , nguyên nhân của khổ .
-Theo kinh nguyên thủy Nikaya thì ái là nguyên nhân của khổ .
-Theo kinh bắc truyền thì thủ là nguyên nhân của khổ .
-Đức Phật dạy các hình thái khổ đau của cuộc sống đều bắt nguồn ái ,
chính sự khao khát , ham muốn , dục vọng , thèm thuồng xuất hiện
dưới nhiều hình thức đã làm phát sinh mọi thứ khổ đau.
-Khổ bắt nguồn vì chúng ta khơng thỏa mãn được bản ngã của mình ,
những thứ mà chúng ta mong muốn , thất vọng với những ước vọng
của mình , hy vọng của mình , nó hiện diện dưới nhiều hình thức mà
đức Phật gọi chung là khát ái , hay dục ái .
-Những dư nghiệp của quá khứ mà chúng ta đang thọ nhận , do lịng
tham, chấp thủ, vơ minh của chúng ta .
Câu chuyện minh họa
-Có một bà mẹ rấtthưog con trai của mình , bà khơng muốn đứa trẻ
của bà chia sẻ tình cảm với ai cả , đứa trẻ này có tình thương với một
cơ gái , và dứt khoát phải cưới làm vợ , cuối cùng vì thương con bà
cưới cơ bé ấy về làm vợ cho con , bà thấy tình cảm của bà bị chia sẻ
cho đứa con dâu này cho nên bà ganh tỵ , ghen ghét, khó chịu , ln
cáu gắt với con dâu . bà ghĩ chỉ có cách là giết con nhỏ này thơi thì
đứa con mới dành hết tình cảm cho bà , hơm ấy bà nấu ăn bình
thường và bà để thuốc độc trong chén cơm của con dâu, , đứa con tria
đi về đói bụng ngồi ăn cơm trúng chén thuốc độc của vợ , chết và bà
khổ đau vô cùng
Ai càng nhiều thì càng khổ , ái ít thì ít khổ
đức Phật nói : này các đệ tử ta nói rằng nguyên nhân của khỏ là
ái , và ta nói rằng người Phật tử cần phải đoạn trừ ái dục , đó là
lịng ích kỷ , lịng thù hận , thamluyến lục nhục , ái luyến lục
trần …. Nhưng ta không bảo đoạn trừ sự độ lượng ,tha thứ bao
dung lòng thương con người với con người và đồng loại .
ái mức độ trên chính là ái vị kỉ , ái nhục dục và ái những thứ mà
đưa đến khổ đau , đức Phật bảo đoạn , cịn những tình thương
bao la , người thương người .. đức Phật khơng bảo đoạn trừ cái
đó . cho nên trong đạo Phật chủ chương rất rõ ràng ,
mặc dù ái là nguyên nhân chính sanh ra khổ đau nhưng ái
không phải là nguyên nhân đầu tiên , bởi ái là nguyên nhân dễ
thấy nhất vào thời điểm cảu đức Phật .vì ái là dễ thấy cho nên
Đức Phật nói ái là nguyên nhan của khổ , do chấp thủ quá sânh
ra khổ nên thủ cũng là nguyên nhân của khổ . , nhưng ái là
nguyên nhân trực tiếp , rõ ràng và dễ thấy nhất .
Ái có ba loại là dục ái , hữu ái và phi hữu ái :
1 dục ái ( kammatanha)
Là nhấn mạnh về yếu tố nhục dục , yếu tố thỏa mãn các căn , thèm
khát về nhục dục , thèm khát về thỏa mãn các căn, ái luyến cõi
dục , lấy dục làm gốc ; ví dụ tuổi trẻ bây giờ nặng về dục ái đó là
thỏa mãncảm xúc đối với 6 căn 6 trần.
Vd khi buồn chán ta tìm một thứ gì đó để ăn , mở TV để xem …
2/ hữu ái
Khát ái sự hiện hữu , hiện diện , muốn sống lâu , muốn tồn tại …
những người càng già chừng nào thì càng nặng chừng đó .
Khát ái sự nổi tiếng , mọi người đều biết đến mình .
3 Vô hữu ái :
Không muốn hiện diện không muốn tồn tại , chán đời , chán cuộc
sống này . , có nhiều người họ sống trong xa đọa ,hay thấy cảnh
cha mẹ vì đồng tiền bát gạo mà đánh chửi nhau sanh tâm buồn
chán , ,muốn tự tử .
-Theo số liệu 1183 lồi chim và 1130 lồi động vật có vú đang có
nguy cơ bị hủy diệt tồn bộ , nhiều lồi động vật có nguy cơ bị tuyệt
chủng vì để thỏa mãn cảm xúc khát ái của chúng ta (thèm của ngon
vật lạ ).
4 chanda cũng dịch là khát ái nhưng mà còn được dịch là ước muốn ,
cũng có 3 loại :
1 kammachanda : tham dục , ước muốn thỏa mãn nhục dục , đam mê,
hoàn toàn bất thiện .
1 kattuvimyatachanda ( trung tính) : lờ ước muốn tự nhiên khi
mắt thấy sắc , tai nghe tiếng , mũi ngửi mùi hương , cái này
khơng có tội , không thiện không ác .
2 dhammachanda : ước muốn thiện pháp , tu tập , giải thốt . ham
thích chân lí , thúc đẩy giải thốt : thiện ( ước muốn chân lí khi
đã đạt đuwọc mục tiêu ) .
Bốn nguyên nhân hau điều kiện , còn gọi là thức ăn làm nền tảng
cho sự hiện hữu :
Thức ăn để ni dưỡng ái có 4 loại :1 đồn thực : tất cả những loiạ
thức ăn chúng ta ănđể nuôi dưỡng cơ thể này .
2xúc thực : thức ăn từ 6 căn tiếp xúc với 6 trần . thức thực : thức
ăn dành cho tâm trí nhhư tươngr tượng nhớ nhung ,
3 tư niệm thực : thức ăn nuôi dưỡng điều thiện hay bất thiện .là ước
muốn là ý chí muốn sống , là hành động muốn tồn tại tương tục ,
tăng trưởng , nó tạo ra nguồn gốc của sự sống tuuwong tục bằng
các loại nghiệp chính là tư tâm sở .
Như vậy , ý hành , tư niệm và nghiệp đều có chung ý nghĩa , vì
nghiệp là hành động có tác chứ khơng phải tất cả hành động : tác
động của nghiệp tùy thuộc vào ý nghiệp . tuy nhiên khát ái , ý chí
hay nghiệp ( dù thiện hay ác ) đều có kết quả là một năng lực đưa
đến tái sanh ; nó là kết hợ của những sức mạnh , hay năng lực vật lí
và tâm lí .
Cái ta gọi ‘chết’ chỉ là sự chấm dứt sự vận hành của cơ thể vật lí ,
nhưng năng lượng hay ý chí tiếp tục tồn tại .
ĐIỀU GÌ KHIẾN KHỔ KÉO DÀI ? sự chấm dứt khổ .
Đức Phật cho rằng khơng có ngun nhân đầu tiên , chính ái hay sự
khao khát xuất hiện dưới nhiều hình thức ( dục ái , hữu ái , vơ hữ ái
) . phát sânh khổ đau sânh tử ,nhưng ái không phải là nguyên nhân
đàu tiên , mà là nguyên nhân dễ thấy và gần gũi nhất ( vào thời đức Phật ) .
Niết Bàn Là GÌ ?
- Niết bàn , Nê hoàn , dịch âm từ tiếng phạn Nirvana : Nir
( Niết) : ra khỏi. Vana ( bàn ) : rừng mê . niết bàn là ra khỏi
rừng mê.
- Niết là chẳng , diệt là bàn : niết bàn niết bàn là khơng diệt
sanh tử , cịn phiền não là còn sanh diệt , hết phiền não là hết
sạch sanh tử luân hồi.
- Niết bàn cũng có nghia là không ngăn ngại , NB là bất sanh
( khhông sânh mê lầm) , giải thốt ( mọi sự trói buộc ) chấp
ngã chấp pháp . tịch diệt ( vắng lặng , dứt sạch mê lầm ) .
- Quan niệm sai lầm : niết bàn PG là hư vô ,tịch diệt , là
khơng tưởng ,… ; vì khi nghe đến NB là diệt , người ta vội
nghĩ ngay là hoại diệt , khơng có gì tồn tại . tuy nhiên , diệt
của diệt đế là diệt tận nguồn gốc khổ đau , mê lầm , phiền
não . khi thứ này diệt tận , hạnh phúc mới có mặt .
- Nb chính là giải thoát ngay trong đời sống hiện tạicủa chửng
ta .
- Niết bàn ở đâu ?
Ngôn ngữ của chúng ta không đủ khả năng để diwễn đạt niết
bàn , mà chỉ có thể dùng để cân đo , đong đếm , và ngay về
chuyện thường ngày chúng ta cũng không thể dùng ngơn ngữ
mà diễn đạt được .
Ví dụ như yêu hay ghét là gì ? là cái mà hầu như ai cũng trải qua
nhưng không thể diễn tả được .
Nói theo Vũ Văn Chương : ngơn ngữ trần gian là túi rách / chở
không đầy hai tiếng mẹ ơi .
Câu chuyện ngụ ngôn về rùa và cá.
Đức Phật dùng ngôn ngữ phủ định để diễn tả Niết bàn :
Ái là nhân ; ái diệt là niết bàn , tham , sân , si .. cũng như vậy .
-phiền não diệt là niết bàn , xa lìa hữu vi là NB, hữu diệt là NB
-NB là tịch diệt , vô vi : ‘ đó là sự chấm dứt rốt ráo dục vọng, vứt bỏ ,
từ chối nó , thốt khỏi nó , .
- đức Phật dạy trong tất cả các pháp , hữu vi hay vơ vi , giải thốt , ly
tham cao nhất : ấy là giải thoát kiêu mạn , diệt trừ tham , nhổ tận gốc
rễ chấp thủ , đaạp tắt khát ái ,.. « sự từ bỏ , phá bỏ dục vọng , khát ái
vưới 5 uẩn chính là sự chấm dứt khổ , tức NB.
Hữu dư y và vô dư y niết bàn theo truyền thống Pali :
- Hữu dư y niết bàn
Sopadisesa nibbana : người đã đạt được cảnh giới giải thoát khỏi
luân hồi , trừ diệt hết thảy phiền não , cắt đức 10 kiết sử , thủ tiêu
hoàn toàn tham, sân si, nhưng nhục thân cịn tồn tại – phía Vedanta
gọi là hữu thân giaỉ thoát .
- Vô dư y niết bàn :
Anupadiséa nibbanda : cảnh rgiói giải thốt hịa tồn khơng cịn nhục
thể .- phái vedata gọi là vơ thân giải thốt .
Niết bàn của Phật giáo ngun thủy có thể trình bày qua 3 phương
diện :
- Luân lí ( đạo đức ) : nếu đứng về mặt đạo đức thì niết bàn là
mộttrạng thái về đạo đức , chứng được ngay trong đời sống
này bởi phương pháp luân lí thiền định và trí tuệ . đạo đức
cũng là sila, là giới , cho nênthay vì chúng ta nói đạo đức
hay ln lí thì NB có thể chứng trong đời này bằng ln lí,
bằng giữ giới và hành thiền định . « đạo đức đồng nghĩa với
hạnh phúc » .
- niết bàn là một trạngthái ln lí đạo đức có được nhờ ứng
dụng phương pháp giới , định , tuệ . nếu hàng ngày chúng ta
sống có đúng giới , định , tuệ thì chúng ta đã có niết bàn
( cấp độ ở đời sống ) .
- Tâm lí :nói về thiền định hay tu tập thiền định với mục đích
hướng dẫn tâm tư vào một trạng tháikhơng cịn dụclạc thế
gian và đau khổ . mục đích này đạt được nhờ giải thốt tâm
trí ra ngồi mọi vấn đề thế tục .
- Siêu hình :‘ này các Tỳ Kheo , có cái bất sanh , bất tạo tác ,
vô vi’, -nghĩa là PGNT không xem NB như đoạn diệt , mà
là một cách gì tích cực , nhưng vô biên không thể diễn tả
như hư không. NB vượt ra khỏi 3 dục giới và vượt ra khỏi 3
thế giới ,và được gọi là siêu thế giới . trạng thái này cần sự
tự chứng ngộ .
- Niết bàn theo bắc truyền :
Vô trụ xứ NB :đây là NB của bồ tát , tuy làm việc lợi tha mà vẫn
trong chánh quán : quán các pháp như huyễn hóa , khơng có sanh
tử , khơng có thật NB khơng bao giờ bị dính mắc ( vơ trụ ) , bồ tát
thường ra vào sanh tử lấy lục độ để độ sanh , nhưng vẫn ở trong
NB tự tại .
- Tánh tịnh NB : NB tự tánh vắng lặng , thường tồn tại trong
tâm chư Phật , và trong tâm của chúng ta , còn gọi là Phật
tánh . cho nên chúng ta phải có niềm tin là mình có niết bàn
tịch tĩnh trong tâm và chúng ta có chứng đắc được ,. Mê thì
sanh tử , ngộ là niết bàn.
- Cư trần lạc đạo thả tùy duyên
- Cơ tắc xan hề thốn tắc niên
- gia trung hữu bảo thôi tầm mích
- đối cảnh vơ tâm mạc vấn thiền .
sống đời vui đạo hãy tùy dun ,
đói thì ăn , mệt ngủ liền
trong nhà có báu thơi tìm kiếm
đối cảnh khơng chấp hỏi chi thiền
( Cư trần lạc đạo phú – Trần Nhân Tông )