Tải bản đầy đủ (.pdf) (27 trang)

Tiểu luận pháp luật đại cương hậu quả của tham nhũng đối với sự phát triển kinh tế ở việt nam

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (761.59 KB, 27 trang )

1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU .............................................................................................................. 3
1. Lý do lựa chọn đề tài ................................................................................... 3
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài ............................................ 4
2.1 Mục đích nghiên cứu của đề tài ............................................................ 4
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài ........................................................... 4
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài ............................................. 4
3.1. Đối tượng nghiên cứu của đề tài .......................................................... 4
3.2. Phạm vi nghiên cứu của đề tài ............................................................. 4
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài .............................. 4
4.1. Cơ sở lý luận của đề tài ......................................................................... 4
4.2. Phương pháp nghiên cứu của đề tài ................................................... 4
5. Ý nghĩa của đề tài......................................................................................... 4
6. Kết cấu của tiểu luận ................................................................................... 5
NỘI DUNG ........................................................................................................... 5
I. Một số vấn đề chung về tham nhũng .......................................................... 5
1. Khái niệm tham nhũng ............................................................................ 5
2. Tham nhũng và những biểu hiện đặc trưng .......................................... 6
3. Dấu hiệu đặc trưng của hành vi tham nhũng ........................................ 7
4. Nguyên nhân dẫn đến tham nhũng......................................................... 9
5. Phân loại tham nhũng ............................................................................ 10
II. Hậu quả của tham nhũng đối với sự phát triển kinh tế ở Việt Nam hiện
nay ................................................................................................................... 12
1. Đối với ngân sách.................................................................................... 12


2


2. Đối với khu vực tư nhân ........................................................................ 15
3. Đối với người dân ................................................................................... 16
4. Đối với nền kinh tế.................................................................................. 17
5. Đối với phát triển đất nước ................................................................... 18
III, Một số giải pháp phòng chống tham nhũng ở Việt Nam..................... 18
IV. Kết quả nổi bật trong cơng tác phịng, chống tham nhũng thời gian
qua ................................................................................................................... 22
KẾT LUẬN ........................................................................................................ 25
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................... 27


3

MỞ ĐẦU

1. Lý do lựa chọn đề tài
Tham nhũng và cuộc đấu tranh chống tham nhũng là vấn đề nóng bỏng, phức
tạp, nan giải và bức xúc nhất hiện nay ở nước ta. Tham nhũng đã và đang đe dọa
đến sự tồn vong của Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa. Đây cũng chinhs
là vấn đề liên quan nhiều nhất, chi phối đến quá trình xây dựng và phát triển của
đất ước.
Tệ nạn tham nhũng, lãng phí đã được khái quát, nêu rõ bản chất và nguy cơ
hậy quả tai hại của nó đối với đất nước như giặc nội xâm, đe dọa đến sự sống còn
của chế độ. Hiểu rõ nguy cơ đó, thời gian qua Đảng và Nhà nước ta luôn luôn
quan tâm đề ra những chủ trương, giải pháp phòng , chống tham nhũng, lãng phí
và các cơ chế, chính sách có liên quan, ban hành và triển khai thực hiện Chiến
lược quốc gia về phòng, chống tham nhũng đến năm 2020… Những năm gần đây,
nhất là khi có Nghị quyết Trung ương 4 ( khóa XI ): “Một số vấn đề cấp bách về
xây dưng Đảng hiện nay”, cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí đã
đạt được một số kết quả nhất định: Nhiều vụ tham nhũng lớn, phức tạp, gây hiệu

quả nghiêm trọng đặc biệt là kinh tế, từ lâu đã bị xử lý kỉ luật nghiêm khắc đối
với những cán bộ đã dính líu vào tham nhũng rồi những bản án tử hình, tù chung
thân và bắt buộc phải bồi thường tiền, tài sản đã tham nhũng của Nhà nước, của
nhân dân, làm cho tệ nạn tham nhũng từng bước được kiềm chế. Song, tình trạng
tham nhũng, lãng phí hiện nay vẫn cịn nghiêm trọng, phạm vi rộng, tính chất
phức tạp, làm cho nhân dân lo lắng, giảm lòng tin vào sự lãnh đạo của Đảng, sự
điều hành, quản lý của Nhà nước.
Xuất phát từ những lý do trên, tôi cảm thấy rất quan tâm và búc xúc về hậu
quả mà tham nhũng tác động đến nền kinh tế ở Việt Nam hiện nay. Vì vậy, tơi lựa


4

chọn đề tài “ Hậu quả của tham nhũng đối với sự phát triển kinh tế ở Việt Nam
hiện nay” làm đề tài tiểu luận của mình.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
2.1 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Làm rõ những hậu quả mà tham nhũng gây ra nó tác động lên nền kinh tế ở
Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, từ đó tìm ra những biện pháp phịng chống
tham nhũng, cơng tác tư tưởng trong việc đấu tranh phòng chống tham nhũng.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Tìm hiểu thực trạng tham nhũng ở nước ta những năm gần đây, nguyên nhân
gây ra thực trạng này và giải pháp nâng cao hiệu quả trong phòng chống, tham
nhũng ở nước ta trong giai đoạn hiện nay
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
3.1. Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Hậu quả của tham nhũng đối với sự phát triển kinh tế ở nước ta hiện nay.
3.2. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Phạm vi không gian: Trên phạm vi cả nước
- Phạm vi thời gian: 3 năm gần đây

4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài
4.1. Cơ sở lý luận của đề tài
Dựa trên các đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước, hệ thống quan
điểm của Mác – Lê nin trong phòng chống tham nhũng
4.2. Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Đề tài sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu,…
5. Ý nghĩa của đề tài


5

Đề tài làm sáng tỏ những hậu quả mà tham nhũng gây ra nó tác động đến nền
kinh tế của nước ta như thế nào, từ đó đưa ra những giải pháp hiệu quả để nâng
cao q trình phịng chống tham nhũng.
6. Kết cấu của tiểu luận
Tiểu luận gồm 3 phần: phần mở đầu, phần nội dung, phần kết luận và danh
mục tài liệu tham khảo.

NỘI DUNG

I. Một số vấn đề chung về tham nhũng
1. Khái niệm tham nhũng
Tham nhũng là một hiện tượng xã hội phức tạp với nhiều biểu hiện khác
nhau. Các quốc gia ở các trình độ phát triển khác nhau, điều kiện kinh tế, chính
trị, xã hội khác nhau quan niệm về tham nhũng cũng rất khác nhau. Trong từng
quốc gia, ở mỗi giai đoạn phát triển, khái niệm tham nhũng đưa ra cũng thay đổi
tương ứng để chỉ ra những loại hành vi tham nhũng nào là phổ biến. Vì vậy khó
có thể có một khái niệm chung nhất về tham nhũng cho mọi quốc gia, mọi chế độ
chính trị; tham nhũng cũng khơng phải là một khái niệm nhất thành bất biến xuyên
qua các thời kỳ phát triển đối với từng quốc gia, khu vực.

Ở góc độ chung nhất, thuật ngữ “tham nhũng” (corruption) có gốc là một
động từ tiếng La-tinh “corruptus”, nghĩa là lạm dụng, phá hoại hay vi phạm. Như
vậy, từ gốc rễ của nó, thuật ngữ “tham nhũng” hàm ý những hành vi trái phép
hoặc bất hợp pháp.
Ngân hàng Thế giới (WB) coi tham nhũng là "Sự lạm dụng chức vụ công để
tư lợi". Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) quan niệm "Tham nhũng là lạm dụng
chức vụ công hoặc chức vụ tư để tư lợi".


6

Theo Tổ chức Minh bạch quốc tế (TI) thì "Tham nhũng là hành vi của công
chức trong khu vực công, dù là chính trị gia hay cơng chức dân sự, trong đó họ
làm giàu một cách khơng đúng đắn hay bất hợp pháp cho bản thân hoặc cho người
thân của họ bằng việc lạm dụng quyền lực công đã được giao cho họ".
Công ước Liên hợp quốc về chống tham nhũng năm 2003 không đưa ra khái
niệm về tham nhũng mà chỉ khuyến cáo các quốc gia thành viên cần phải quy định
các hành vi sau đây là tội phạm: Hối lộ (trong khu vực công và khu vực tư); tham
ô; lợi dụng ảnh hưởng để trục lợi; làm giàu bất hợp pháp; biển thủ trong khu vực
tư; tẩy rửa tài sản do phạm tội mà có…
Theo Từ điển Luật học Việt Nam năm 2006: "Tham nhũng là hành vi lợi
dụng chức vụ, quyền hạn hưởng lợi ích vật chất trái pháp luật, gây thiệt hại cho
tài sản của Nhà nước, tập thể, cá nhân, xâm phạm hoạt động đúng đắn của các cơ
quan, tổ chức".
Ở Việt Nam, theo Luật Phịng, chống tham nhũng năm 2005 thì "tham nhũng
là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì
vụ lợi” (Luật Phịng, chống tham nhũng sửa đổi năm 2018, có hiệu lực từ ngày
1/7/2019 giữ nguyên khái niệm này). Vụ lợi được hiểu là: "Lợi ích vật chất, tinh
thần mà người có chức vụ, quyền hạn đạt được hoặc có thể đạt được thơng qua
hành vi tham nhũng" (Điều 2 Luật Phịng, chống tham nhũng). Đây là một khái

niệm tương đối bao quát, đủ để xác định bản chất của hành vi tham nhũng phổ
biến trong xã hội Việt Nam hiện nay.
Tuy có nhiều quan niệm và cách diễn đạt khác nhau, nhưng có một điểm
chung thống nhất là: Tham nhũng là hành vi của người (hoặc nhóm người) có
quyền lực, đã lợi dụng quyền lực để trục lợi riêng.
2. Tham nhũng và những biểu hiện đặc trưng
Trong lịch sử phát triển xã hội loài người, sự tồn tại quyền lực xã hội là một
tất yếu để bảo đảm sự tồn tại của cộng đồng. Trong cộng đồng đó, con người theo


7

bản năng luôn vươn lên để ngày càng thoả mãn nhu cầu về vật chất và tinh thần.
Sự vươn lên khơng đồng đều của từng nhóm người dẫn đến sự phân hoá xã hội
(từ cộng đồng nguyên thủy chất phác, bình đẳng, cùng làm cùng hưởng, dần dần
hình thành các thị tộc, bộ lạc, liên minh bộ lạc... và các thiết chế quyền lực thơ sơ
ra đời). Theo đó, quyền lực xã hội vốn trong sáng cũng dần bị tha hố. Trong hồn
cảnh đó, một số người (Tộc trưởng, Tù trưởng...) đã lợi dụng quyền lực cộng đồng
trao cho để chiếm đoạt công khai hoặc không công khai tài sản cộng đồng để thoả
mãn nhu cầu cá nhân, chế độ tư hữu ra đời và phát triển. Bản chất hành vi này
chính là hành vi tham nhũng. Vì vậy, tham nhũng là một hiện tượng xã hội tiêu
cực có tính lịch sử, xuất hiện gắn liền với sự xuất hiện chế độ tư hữu và sự xuất
hiện các thiết chế quyền lực xã hội. Trong các dạng quyền lực xã hội thì quyền
lực nhà nước là một dạng quyền lực rất dễ bị lợi dụng để tham nhũng. Vì vậy, có
thể khẳng định rằng tham nhũng tồn tại ở mọi chế độ xã hội, với những biểu hiện
và mức độ khác nhau, tuỳ thuộc bối cảnh chính trị, kinh tế, xã hội của mỗi quốc
gia, mỗi vùng lãnh thổ trong từng giai đoạn phát triển.
Trong xã hội hiện đại, tham nhũng xảy ra ở tất cả các quốc gia không phân
biệt chế độ chính trị, trình độ phát triển kinh tế giàu hay nghèo. Trong từng quốc
gia, tham nhũng có thể xảy ra ở nhiều lĩnh vực kinh tế - xã hội. Tham nhũng luôn

song hành cùng quyền lực. Nhiều người coi tham nhũng là "bóng tối vươn theo
quyền lực", thậm chí là "khuyết tật bẩm sinh" của quyền lực. Chừng nào các hình
thức quyền lực chính trị cịn bị tha hố, quyền lực nhà nước cịn bị lợi dụng, quyền
lực khơng được kiểm sốt thì nguy cơ xảy ra tham nhũng là hiện hữu. Nhận thức
như vậy để chúng ta ý thức rõ ràng nguy cơ tiềm tàng của nó khi thực hành quyền
lực trong tiến trình phát triển của xã hội, theo đó để có các giải pháp "ngăn chặn
và từng bước đẩy lùi" tệ nạn này.
3. Dấu hiệu đặc trưng của hành vi tham nhũng
Hành vi tham nhũng phải bao gồm đồng thời ba dấu hiệu đặc trưng sau:
Thứ nhất, tham nhũng phải được thực hiện bởi người có chức vụ, quyền hạn.


8

Luật Phịng, chống tham nhũng quy định 4 nhóm người có chức vụ, quyền
hạn bao gồm:
a. Cán bộ, cơng chức, viên chức;
b. Sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng trong cơ quan,
đơn vị thuộc Quân đội nhân dân; sỹ quan, hạ sỹ quan nghiệp vụ, sỹ quan, hạ sỹ
quan chuyên môn - kỹ thuật trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân;
c. Cán bộ lãnh đạo, quản lý trong doanh nghiệp của Nhà nước; cán bộ lãnh
đạo, quản lý là người đại diện phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp.
d. Người được giao thực hiện nhiệm vụ, cơng vụ có quyền hạn trong khi thực
hiện nhiệm vụ, cơng vụ đó.
e. Ngồi ra, theo Bộ luật Hình sự 2015, chủ thể của các hành vi tham ơ tài
sản, nhận hối lộ cịn có thể là người có chức vụ, quyền hạn trong các doanh nghiệp,
tổ chức ngồi nhà nước.
Thứ hai, người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền
hạn trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ được giao.
Sự lợi dụng, lạm dụng thông qua: (1) hoặc là chức năng chính quyền; (2)

hoặc là chức năng tổ chức, lãnh đạo; (3) hoặc là chức năng hành chính, kinh tế
theo nhiệm vụ, công vụ được giao; (4) hoặc theo thẩm quyền chun mơn mà
người đó đảm nhận.
Thứ ba, người thực hiện hành vi tham nhũng phải có mục đích, động cơ vụ
lợi (vụ lợi là lợi ích vật chất, tinh thần mà người có chức vụ, quyền hạn đạt được
hoặc có thể đạt được thơng qua hành vi tham nhũng).
Đây là dấu hiệu bắt buộc phải có để phân biệt hành vi tham nhũng với những
hành vi vi phạm pháp luật khác do người có chức vụ, quyền hạn thực hiện. Nếu
thiếu một trong ba dấu hiệu đặc trưng trên thì khơng bị coi là hành vi tham nhũng
mà bị coi là hành vi vi phạm pháp luật khác.


9

4. Nguyên nhân dẫn đến tham nhũng
Hiện nay, tham nhũng là vấn đề mang tính tồn cầu nhưng đồng thời nó cũng
chứa đựng những yếu tố đặc thù gắn với từng quốc gia. Về cơ bản mỗi quốc gia
có những nguyên nhân, điều kiện phát sinh tham nhũng riêng. Tuy nhiên, dựa trên
cơ sở xem xét nguyên nhân, điều kiện phát sinh tham nhũng của các nước trên thế
giới, thấy rằng tuy có điểm riêng nhưng cũng có một số ngun nhân, điều kiện
mang tính chất chung, tương đồng. Đó là:
Sự phát triển của các hình thái nhà nước, đặc biệt là trong điều kiện phát triển
kinh tế thị trường, các quan hệ kinh tế, chính trị tạo ra tiền đề khách quan cho
tham nhũng nảy sinh, phát triển. Các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin cho rằng
nguồn gốc sâu xa của tệ tham nhũng là sự gặp nhau của hai nhân tố: quyền lực
cơng và lịng tham cá nhân. Trong xã hội có giai cấp, nhà nước trước hết đại diện
cho quyền lực của một giai cấp nhất định, nó có chức năng điều hịa những lợi ích
của các giai cấp khác nhau, thậm chí đối lập nhau. Quyền lực của nhà nước khi
được trao cho những con người cụ thể, những người đại diện cho nhà nước thực
thi quyền lực cơng, nếu khơng có cơ chế kiểm soát dễ dẫn tới sự lợi dụng quyền

lực hoặc lạm quyền. Sự gặp nhau giữa quyền lực công khi không được chế ước
với nhu cầu cá nhân vượt quá giới hạn cho phép, lòng tham, đã dẫn tới việc sử
dụng quyền lực công phục vụ cho nhu cầu cá nhân. Đó chính là cơ sở nảy sinh
tham nhũng. Tham nhũng còn được coi là “sản phẩm của sự tha hóa quyền lực”.
Tham nhũng là hệ quả tất yếu của của nền kinh tế kém phát triển, quản lý
kinh tế, xã hội lỏng lẻo, yếu kém, tại đó một phần quyền lực chính trị được biến
thành quyền lực kinh tế. Thực tế cho thấy ở các quốc gia có nền kinh tế phát triển,
quản lý công khai, minh bạch, văn minh thì tham nhũng xảy ra ít hơn. Ngược lại,
ở các quốc gia, vùng lãnh thổ đang phát triển, trình độ quản lý và dân trí chưa cao
thì ở đó tham nhũng phức tạp hơn.
Hệ thống pháp luật chưa hoàn thiện và đồng bộ hoặc thực thi pháp luật yếu
kém cũng là một nguyên nhân và điều kiện của tham nhũng. Cơ chế, chính sách,


10

pháp luật chưa đầy đủ, thiếu đồng bộ, thiếu nhất quán có nhiều “kẽ hỡ” tạo cho
những người có chức vụ, quyền hạn, điều kiện để “lách luật” trục lợi, làm giàu
bất chính.
Phẩm chất chính trị đạo đức của đội ngũ có chức, có quyền bị suy thối đặc
biệt là suy thối tư tưởng chính trị. Họ sẵn sàng bỏ qua lợi ích chung, lợi ích tập
thể để trục lợi, làm giàu bất chính cho bản thân, gia đình, họ hàng mình; nhất là
trong điều kiện khủng hoảng chính trị, xã hội, kinh tế ảnh hưởng tiêu cực tới đạo
đức của đội ngũ cơng chức.
Trình độ dân trí thấp, ý thức pháp luật của người dân chưa cao tạo điều kiện
cho những người có chức quyền có thể nhũng nhiễu, hạch sách dân chúng, vòi
vĩnh nhận quà biếu, tặng hay nói cách khác là nhận hối lộ. Thực tế ở các nước
phát triển có trình độ dân trí cao thì tham nhũng ít xảy ra hơn là những nước đang
phát triển và kém phát triển với trình độ dân trí thấp, người dân chưa có điều kiện
tham gia vào cuộc đấu tranh chống tham nhũng.

Bộ máy hành chính nhà nước cồng kềnh, với nhiều thủ tục hành chính phiền
hà, nặng nề, bất hợp lý tạo điều kiện cho một số cán bộ, công chức nhà nước sách
nhiễu, ăn hối lộ của người dân, doanh nghiệp. Một số nước còn tồn tại cơ chế
“xin-cho”, đó là “mảnh đất màu mỡ” của tham nhũng.
Chế độ, chính sách đãi ngộ, nhất là vấn đề tiền lương cho cán bộ, công chức
chưa thỏa đáng. Một khi cán bộ, công chức nhà nước chưa thể sống no ấm, đầy
đủ với tiền lương của mình thì tất yếu họ sẽ tìm mọi cách để kiếm thêm thu nhập
từ chính cơng việc, chức vụ mà nhà nước giao cho mình kể cả tham nhũng.
5. Phân loại tham nhũng
Tham nhũng vật chất: Là dạng tham nhũng nhằm thỏa mãn những nhu cầu
vật chất của cá nhân như tiền bạc, tài sản... Đây là dạng tham nhũng phổ biến và
dễ nhận thấy. Trước đây, tham nhũng vật chất chủ yếu chỉ xảy ra ở lớp người có
quyền lực với thủ đoạn chủ yếu là dùng quyền lực được giao để chiếm đoạt tài


11

sản của nhà nước, của công dân nhằm vụ lợi cá nhân, nhưng ngày nay tham nhũng
vật chất đã lan rộng ra mọi tầng lớp dân cư trong xã hội, kể cả lớp người trước
đây không thể tham gia vào hoạt động này như thầy giáo, thầy thuốc… Tại nhiều
quốc gia đang phát triển, tham nhũng vật chất đã trở thành nguồn sống chủ yếu
của một bộ phận quan chức và tầng lớp dân cư có địa vị trong xã hội.
Tham nhũng quyền lực: Là dạng tham nhũng mà người tham nhũng lợi dụng
quyền lực cá nhân để đưa những người thân tín vào bộ máy cơng quyền cũng như
vào các tổ chức chính trị, xã hội, đơn vị kinh tế, tài chính... vì động cơ vụ lợi.
Tham nhũng quyền lực thường thể hiện ở các mức độ khác nhau như: Lạm dụng,
vận dụng một cách sai trái các quyền hợp pháp được nhà nước và xã hội trao cho;
tạo ra các hình thức để mở rộng quyền lực nhằm thỏa mãn những lợi ích khơng
hợp pháp; lợi dụng quyền lực để thỏa mãn khát vọng về quyền lực nhằm duy trì
quyền lực đã tham nhũng được hoặc mưu cầu cương vị quyền lực cao hơn… Điển

hình cho dạng tham nhũng quyền lực là hiện tượng nhiều cá nhân không xứng
đáng, khơng đủ phẩm chất, trình độ, năng lực nhưng lại chiếm giữ nhiều cương
vị, nhiều vị trí quan trọng trong bộ máy nhà nước, các tổ chức, đơn vị kinh tế, tài
chính. Tư tưởng “một người làm quan cả họ được nhờ”, “tham quyền cố vị” chính
là biểu hiện rõ nét nhất của dạng tham nhũng này.
Tham nhũng chính trị: Là dạng tham nhũng được hình thành do sự câu kết
giữa những người có ảnh hưởng trong hệ thống chính trị, chủ yếu là những quan
chức cấp cao trong bộ máy cầm quyền, nhằm tạo ra những quyết định, hay tìm
cách tác động thiên lệch vào những quyết sách của nhà nước có lợi cho một cá
nhân, doanh nghiệp hoặc những nhóm lợi ích nào đó. Như vậy, có thể hiểu tham
nhũng chính trị là sự lạm dụng quyền lực chính trị được giao để thu lợi riêng, với
mục đích tăng quyền hoặc tăng tài sản. Biểu hiện của dạng tham nhũng này là:
dùng vị trí chính trị, ảnh hưởng chính trị của mình để can thiệp vào việc có hoặc
khơng đưa ra một quyết định mang tính chính trị (chính sách, đạo luật, thỏa
thuận…) một cách thiên vị nhằm mục đích vụ lợi; mua bán, trao đổi các chức vụ


12

chính trị, vị trí có quyền lực, chạy chức, chạy quyền, sau đó dùng vị trí của mình
để trục lợi cá nhân…
Tham nhũng hành chính: Là dạng tham nhũng xảy ra phổ biến trong các hoạt
động quản lý hành chính của đội ngũ cơng chức hành chính. Ở đó những người
được giao quyền đã sử dụng quyền lực hành chính, trình tự thủ tục hành chính để
gây khó khăn cho công dân hoặc tổ chức nhằm trục lợi cho bản thân. Biểu hiện
của tham nhũng hành chính là: hạch sách, nhũng nhiễu trong việc thực hiện một
thủ tục, một quyết định cụ thể nào đó mà cơng dân, tổ chức có quyền được hưởng
từ cơ quan hành chính nhà nước; thiên vị trong thực hiện pháp luật…
Tham nhũng kinh tế: Là dạng tham nhũng xảy ra trong hoạt động quản lý
kinh tế, như: sản xuất kinh doanh, dịch vụ, mua sắm tài sản công, quản lý tài sản…

được thực hiện bởi những người có thẩm quyền trong quản lý nhà nước về kinh
tế, những người có thẩm quyền trong doanh nghiệp nhà nước. Biểu hiện của tham
nhũng kinh tế là: chiếm đoạt trái phép các tài sản của nhà nước, công dân nhằm
trục lợi cá nhân; ra các quyết định kinh tế trái pháp luật hoặc thiên vị nhằm trục
lợi cá nhân; lợi dụng sơ hở của pháp luật hoặc vi phạm pháp luật để tiến hành sản
xuất, kinh doanh, trục lợi, gây thiệt hại cho xã hội.

II. Hậu quả của tham nhũng đối với sự phát triển kinh tế ở Việt
Nam hiện nay
1. Đối với ngân sách
Ngân sách nhà nước là nguồn thu, chi cho tất cả các hoạt động của nhà nước
ở trung ương cũng như địa phương. Tội phạm tham nhũng có nhiều hình thức,
phương pháp thực hiện tham nhũng, mà một trong số đó là tham ô tài sản. Tham
ô tài sản có thể coi như một tội cơ bản và dễ dàng nhận ra đối với tác hại kinh tế
cho ngân sách, ngân quỹ. Bên cạnh đó, cịn có một số hành vi khác cũng tác động
đến việc làm thất thốt, lãng phí ngân sách, ngân quỹ mặc dù có thể khơng trực
tiếp hoặckhơng hồn tồn làm thất thốt tiền trong ngân sách như: lạm dụng chức


13

vụ, quyền hạn trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì trục lợi (điểm c); lợi dụng
chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành nhiệm vụ cơng vụ vì trục lợi ( điểm d); lạm
quyền trong khi thi hành nhiệm vụ, cơng vụ vì trục lợi (điểm đ); lợi dụng chức vụ,
quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi (điểm e); lợi dụng chức
vụ, quyền hạn sử dụng trái phép tài sản cơng vì vụ lợi ( điểm i); giả mạo trong
cơng tác vì vụ lợi (điểm g) khoản 1 điều 2 luật phòng chống tham nhũng 2018.
Điểm chung giưa các hành vi này là người có chức vụ, quyền hạn sử dụng quyền
lực của mình nắm giữ một cách sai trái tác động trực tiếp hoặc gián tiếp vào ngân
sách, ngân quỹ của cơ quan đơn vị nhà nước, hoặc công ty, doanh nghiệp tư nhân

để chiếm giữ tiền trong ngân sách, ngân quỹ. Cuối cùng dẫn đến mất đi một nguồn
kinh phí lớn cho cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp. Mà một khi có tham nhũng sảy
ra đối với ngân sách, ngân quỹ sẽ để lại những hậu quả nặng nề.
Thứ nhất, nó góp phần bội chi ngân sách ngân quỹ, khiến cho cơ quan, doanh
nghiệp phải đau đầu tìm giải pháp thu chi cho hiệu quả. Kể cả trường hợp tác
động không q lớn vào ngân sách thì nó cũng làm mất đi một lượng lớn tiền đầu
tư vào các khoản chi. Như vậy sẽ khơng có các khoản chi cho những lĩnh vực nào
đó do thiếu tiền hoặc vì thế mà lại phải thu thêm tiền vào.
Thứ hai, tham nhũng ảnh hưởng đến chức năng của ngân sách nên hoạt động
của cơ quan đơn vị bị ảnh hưởng do thiếu kinh phí hoạt động. Về lâu dài việc này
dẫn tới hiệu quả làm việc của cơ quan tổ chức đó giảm sút kéo theo kết quả đạt
được không cao, sản phẩm tạo ra không đạt chỉ tiêu về chất lượng. Đơn giản hoạt
động của một cơ quan hành chính nhà nước mà thiếu hụt ngân sách do tham
nhũng, khi chưa tạm ứng được nguồn ngân sách từ tuyến trên và không có giải
pháp để giải ngân ngân sách bị rút ruột tham ơ thì các khoản chi cho hành động
của cơ quan hành chính đó sẽ khơng cịn từ đó ảnh hưởng đến công việc chung
của cơ quan. Hậu quả sau cùng là một phần hoặc tất cả hoạt động của cơ quan đó
bị kém hiệu quả. Một khi kết quả đạt được khơng cao nó sẽ khiến cho kết quả đạt
được đó tạo ra giá trị thấp cho xã hội. Phần kết quả mất đi do có tham nhũng cũng


14

sẽ tạo ra được tiền cho xã hội. Tuy nhiên thật đáng tiếc là kết quả đó-số tiền đó bị
lãng phí.
Thứ ba, tham nhũng tiền trong ngân sách làm thiếu hụt ngân sách buộc phải
tăng thêm tiền trong thu ngân sách. Đây là một hậu quả hết sức quan trọng tăng
thêm tiền vào các khoản thu ngân sách dẫn đến nhiều hậu quả khác. Đơn cử, đó
là tăng thuế, tuy nhiên tăng thuế là một vấn đề nhạy cảm và không phải lúc nào
cũng tăng được. Trong kinh tế học, người ta đã chỉ ra rằng tăng thuế lên nhiều có

thể dẫn đến nghèo hố một bộ phận dân cư, khiến cho đất nước đã nghèo còn
nghèo hơn, hoặc nghiêm trọng là ý chí bất hợp tác, bức xúc trước chính sách thuế
này của chính phủ, dẫn tới biểu tình, bạo loạn. Ngồi ra, việc thu thêm thuế, phí
cũng như các nguồn thu khác cũng là một điều dẫn tới tình trạng chỉ tìm được giải
pháp tạm thời chứ chưa đi sâu vào căn nguyên, chưa giải quyết được vấn nạn mà
lâu dài chỉ làm cho vấn đề phức tạp hơn. Cái căn nguyên gây lãng phí ở đây là
tham nhũng, thế nhưng nếu giải pháp đưa ra là tăng khoản thu mà khơng diệt tham
nhũng thì vẫn cứ để cho tham nhũng thừa cơ gây hại. Sau cùng thu vào càng nhiều
thì tham nhũn phát triển cũng chiếm đoạt càng lắm. Như vậy chỉ có hại cho người
dân.
Thứ tư, tham nhũng gây thất thoát cho ngân sách. Như đã nói, nói gây bội
chi nên xét từ đầu chí cuối tham nhũng làm giảm nguồn thu của ngân sách . Với
tình hình đó có thể tính tỉ lệ thất thốt trong một lĩnh vực kinh tế giữa tiền thu vào
và tiền tham nhũng thì tỉ lệ cứ mười đồng thu vào lại có ít nhiều vài đồng bị chiếm
hữu bất hợp pháp do tham nhũng, hoặc có lĩnh vực khác tỉ lệ tham nhũng cao hơn
rất nhiều so với tiền thu vào ngân sách. Nó gây hậu quả lãng phí lớn cho kinh tế
nhà nước và thiệt hại toàn dân. Hiện nay trên thế giới cịn có những cơ quan
chun nghiên cứu, thông kê những số liệu này và ở nhiều nơi con số lên đến rất
cao.
Thứ năm, tham nhũng khiến cho ngân sách không đủ tiền để chi cho các
khoản chi đặc biệt là trong chi thường xuyên, chi đầu tư phát triển và chi trả nợ.


15

Do không được chi tiền để phục hồi và phát triển kinh tế, nền kinh tế đất nước sẽ
chậm phát triển, khó trả nợ nước ngồi. Lại nói về trả nợ nước ngoài, hiện nay,
Việt nam đang là nước đang phát triển, nước nước ngồi chưa cao nhưng khơng
phải là chúng ta không nợ và dễ trả nợ. Nên cần có một tiềm lực kinh tế đủ mạnh
để trả nợ đặc biệt là nợ công. Nợ công vô cùng cao và khó khăn trong việc trả nợ,

phải có thời gian tránh vỡ nợ công. Nếu như tham nhũng ngân sách hoạt động
mạnh vào thời điểm này thì là một vấn đề cũng rất khó khăn cho chúng ta.
2. Đối với khu vực tư nhân
Trong khu vực tư nhân, tham nhũng cũng để lại những hậu quả khó khăn về
nhiều phương diện cho chủ doanh nghiệp, doanh nghiệp kinh doanh, cá nhân
người công nhân và cả thị trường kinh doanh. Xét về dấu hiệu, đặc điểm, tham
nhũng trong môi trường tư có những dấu hiệu nhận biết riêng ít nhiều phản ánh
bản chất cũng như q trình hoạt động của nó. Chẳng hạn như:
Tham nhũng trong khu vực tư nhân diễn ra không phức tạp bằng tham nhũng
trong khu vực nhà nước. Trong nhiều trường hợp, quy mô, phạm vi, mức độ
nghiêm trọng không nhiều bằng trong môi trường nhà nước. Tuy nhiên vẫn cần
phải nói rằng , trong mơi trường tư tham nhũng cũng có ảnh hưởng rất lớn đến
các doanh nghiệp. Trong tham nhũng ở các công ty, tập đồn tư nhân, có một mơ
hình tham nhũng là hình một liên minh cán bộ-doanh nghiệp để trục lợi. Việc hình
thành liên minh này thường dựa trên quan hệ xã hội và có tính bảo mật thơng tin
khá tốt, ít tiếp cận từ bên ngoài được. khi thành lập các mơ hình tham nhũng kiểu
này, tính “lợi ích nhóm” đặt lên rất cao và có chia trác tài sản tham nhũng theo tỉ
lệ giữa những người trong nhóm.
Tham nhũng trong khu vực tư nhân chủ yếu gây hậu quả về kinh tế trong khi
tham nhũng trong khu vực nhà nước gây ra cả hậu quả về chính trị, kinh tế, văn
hoá xã hội và quản lý nhà nước.


16

Tham nhũng trong khu vực tư thường là những vụ án, vụ tham nhũng nhỏ
trong khi tham nhũng lớn thường là trong khu vực nhà nước hoặc ít nhiều có liên
hệ đến người có chức vụ, quyền hạn trong khu vực nhà nước.
Với những đặc điểm như vậy, tham nhũng trong lĩnh vực tư nhân đã có sự
phát triền rộng khắp trong những năm gần đây và tác hại của nó đánh giá chung

càng ngày càng trở nên nghiêm trọng. Số tiền bị tham nhũng vẫn đang lớn dần
theo thời gian. Chính những điều này đã tạo ra các tác hại tiêu cực của nó. Tham
nhũng làm kìm hãm sự phát triển của cơng ty, xí nghiệp, ảnh hưởng đến doanh
thu và lợi nhuận ròng. Tham nhũng phát triển một cách sâu rộng, các doanh nghiệp
càng bị ảnh hưởng nhiều. Trong nhiều trường hợp, tâm lý chủ doanh nghiệp sẽ
cảm thấy khó khăn khi lựa chọn con đường kinh doanh cũng như đưa ra các quyết
định trong đầu tư, phát triển doanh nghiệp. Tâm lý lo ngại này tiến triển phát sinh
tiêu cực các doanh nhân từ bỏ ý định kinh doanh. Xét ở phạm vi hẹp, nó có hại
cho chính doanh nghiệp đó phải giải thể, xét ở phạm vi rộng nó làm nền kinh tế
nhà nước đi xuống. Các khoản tiền thu phí, lệ phí, thuế từ doanh nghiệp đối với
nhà nước cũng khơng cịn, từ đó làm giảm ngân sách.
3. Đối với người dân
Trong một nền kinh tế, người dân nói chung là người tiêu dùng cho các sản
phẩm của doanh nghiệp sản suất. Thị trường kinh tế phát triển, thị trường người
tiêu dùng cũng có nhiều khởi sắc, còn nếu nền kinh tế bị ảnh hưởng mà ở đây là
vì tham nhũng, thì thị trường người tiêu dùng cũng sẽ bị ảnh hưởng ở những khía
cạnh nào đó. Ta thấy, với cơng dân do là những người chi trả tiền để mua sản
phẩm nên họ phải chụi mức giá từ phía nhà sản xuất. Tuy nhiên, như đã nói ở
phần 3, tham nhũng có ở rất nhiều hoạt động thương mại, từ sản xuất, vận chuyển,
kinh doanh, quảng cáo,… Và chính vì vậy trong suốt q trình một sản phẩm đến
tay người tiêu dùng, nó phải trải qua rất nhiều giai đoạn chi trả tiền cho tham
nhũng. Tổng thiệt hại tiền bỏ ra này được doanh nghiệp cộng hết nâng cao giá sản
phẩm để tránh thua lỗ. Nên người dân đang ngầm trả tiền cho các cá nhân tham


17

nhũng . Nói cách khác, đây được coi như một dạng thuế khơng chính thức
(unofficial tax) đánh vào dân. Điều này khiến người dân mất đi một khoản tiền
lớn tính trên diện rộng nền kinh tế, gây nghèo hoá đất nước,đặc biệt là tác động

tiêu cực với những người nghèo vốn đã khó khăn lại càng thêm khó khăn.
4. Đối với nền kinh tế
Tính trên diện rộng cả nền kinh tế, tham nhũng sẽ có một tác hại vơ cùng
lớn. Nó làm kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế. Trong các trường hợp, vì trục
lợi cá nhân mà người có chức vụ quyền hạn sẽ tìm cách chiếm hữu trái phép tài
sản tham nhũng dẫn đến mất trắng một lượng giá trị vật chất vô cùng lớn nếu xét
rộng trên phạm vi toàn xã hội. Thiệt hại quy đổi sang tiền này nếu đem đầu tư
phát triển nền kinh tế sẽ có một kết quả vơ cùng lớn. Chí ít, cũng có cả hàng loạt
cơng trình phục vụ nền kinh tế được xây dựng, hoặc tạo ra hiệu quả trên thực tiễn
đối với dự án phát triển kinh tế của nhà nước hay đưa vào sản xuất kinh doanh thì
tạo ra khơng ít giá trị tài sản. Tham nhũng làm mất đi một lượng lớn tiền của của
nhà nước, doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước, từ đó các chủ thể này
khơng có tiền để phát triển kinh tế. Hoạt động thương mại của các doanh nghiệp
vì thế mà giảm sút. Các hoạt động sản xuất, kinh doanh bị thu hẹp dần đi dẫn đến
thị trường kinh tế kém phát triển đi. Một ngành nghề kém phát triển có thể kéo
theo một hoặc nhiều nghành nghề khác kém phát triển, dẫn đến thực trạng cả nền
kinh tế bị ảnh hưởng. Tham nhũng làm mất đi một lượng tiền của nhân dân hặc
một bộ phận chủ thể phục vụ cho cả nhân người có chức có quyền từ đó dẫn đến
người dân bị mất tiền để đầu tư, phát triển vào nền kinh tế. Tham nhũng khiến
không thể đủ ngân sách để chi cho các khoản chi phát triển nền kinh tế, hụt rỗng,
xuống cấp các dự án, cơng trình xây dựng cho sự phát triển kinh tế, hành vi tham
nhũng còn gây ảnh hưởng đến các chương trình hành động của chính phủ nhằm
phát triển kinh tế. Nó làm giảm hiệu quả chủ trương, chính sách của Đảng về phát
triển kinh tế, xâm phạm các hoạt động của nhà nước về lĩnh vực kinh tế. Những
điều này tác động trực tiếp lên nền kinh tế. Vì vậy, tham nhũng tác động đến các


18

cơng ty và tồn hệ thong chính trị nên chi phối tiêu cực cho nền kinh tế, giảm chỉ

số GNP, tổng sản phẩm quốc dân ở một góc độ nhỏ.
5. Đối với phát triển đất nước
Tham nhũng làm hoạt động của bộ máy nhà nước trở nên sai làm. Vì động
cơ vụ lợi các cá nhân có chức vụ, quyền hạn sẵn sàng vi phạm các quy định của
pháp luật. Như vậy xét ở tầm vĩ mơ, nó làm ảnh hưởng đến hoạt động của cơ quan
nhà nước, nói cách khác là làm chệch quỹ đạo phát triển đất nước vì khi cơ quan
nhà nước hoạt động khơng hiệu quả sẽ dẫn đến chức năng phát triển đất nước bị
suy giảm.
Tham nhũng gây hậu quả to lớn về kinh tế. Mà kinh tế là lĩnh vực trụ cột của
mỗi quốc gia. Trong phát triển đất nước, quốc gia nào cũng lấy kinh tế làm phát
triển trọng tâm vì kinh tế có sự chi phối đến tất cả những lĩnh vực cịn lại. Khi
kinh tế phát triển chậm lại thì các lĩnh vực khác cũng khó có cơ hội phát triển cao.
Vậy nên tham nhũng gây hậu quả về kinh tế cũng là kéo đi xuống tất cả các lĩnh
vực của đời sống xã hội. Đặc biệt là những vụ tham nhũng nghìn tỷ đồng, chục tỷ
đồng. Khó có khả năng phục hồi cho kinh tế đất nước để phát triển đất nước những
vụ án tham nhũn lớn như vậy. Nó gây hao tốn nhân vật lực, thời gian, tiền của để
khắc phục. Nếu có số liệu thống kê, ta thấy cứ mỗi vụ thất thốt tiền nghìn tỷ,
chục nghìn tỷ như vậy sẽ mất một thời gian dài để đất nước phát triển trở lại nếu
như số tiền đó khơng bị tham nhũng.

III, Một số giải pháp phòng chống tham nhũng ở Việt Nam
Một là, giữ vững nền tảng tư tưởng, thường xuyên giáo dục chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp
luật của Nhà nước, nhiệm vụ và yêu cầu đặt ra đối với cán bộ, đảng viên trong
từng giai đoạn cách mạng.
Chỉ có nắm vững chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường
lối cách mạng của Đảng mới bảo đảm cho cán bộ, đảng viên xác định đúng mục


19


tiêu, lý tưởng, trung thành tuyệt đối với Đảng, Tổ quốc và Nhân dân. Thực hiện
giáo dục liêm chính, đẩy mạnh cơng tác thơng tin, tun truyền về phịng, chống
tham nhũng: “Liêm” là ln ln tơn trọng giữ gìn của công và của dân; trong
sạch, không tham lam địa vị, tiền của, danh tiếng, không cậy quyền thế mà đục
khoét, ăn của dân, dìm dập người giỏi, để giữ địa vị và danh tiếng của mình.
“Chính” là thẳng thắn, đứng đắn. Đối với mình: khơng tự cao, tự đại, ln chịu
khó học tập cầu tiến bộ, ln kiểm điểm mình để phát huy điều hay, sửa đổi những
khuyết điểm. Đối với người: khơng nịnh hót người trên, xem khinh người dưới,
ln giữ thái độ chân thành, khiêm tốn, đồn kết, không dối trá, lừa lọc. Ðối với
việc: đặt việc công lên trên việc tư, làm việc gì cũng phải đến nơi, đến chốn, khơng
ngại khó, nguy hiểm, cố gắng làm việc tốt cho dân, cho nước.
Hai là, coi trọng giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng
viên.
Có thấm nhuần đạo đức cách mạng, cán bộ, đảng viên mới giữ gìn được lối
sống trong sạch, kiên quyết đấu tranh với chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, thực dụng và
mọi tệ nạn xã hội. Chính phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng
viên là sức “đề kháng” mạnh mẽ chống lại mọi suy thoái, biến chất. Nghị quyết
Hội nghị Trung ương lần thứ 4 khóa XI và Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần
thứ 4 khóa XII của Đảng đã chỉ rõ những biểu hiện suy thối về tư tưởng chính
trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của cán bộ, đảng viên và
những giải pháp cơ bản để khắc phục, ngăn ngừa. Trong tình hình hiện nay, cùng
với việc thực hiện quyết liệt các giải pháp nêu trên, cần bổ sung thêm những biện
pháp, những cách làm mới, thiết thực. Đổi mới công tác quản lý, kê khai tài sản
của đảng viên đối với chi bộ; tăng cường các biện pháp giáo dục, kiểm tra, giám
sát cán bộ, đảng viên. Nếu như những biểu hiện “lệch chuẩn”, sự suy thoái về đạo
đức, lối sống sớm được phát hiện, chấn chỉnh từ nơi đảng viên cơng tác, thì sự tha
hóa, tham nhũng sẽ được ngăn chặn kịp thời.


20


Ba là, xác định tiêu chí và thực hiện có hiệu quả nội dung xây dựng Đảng về
đạo đức, kết hợp hiệu quả việc thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ
4 (khóa XI) và Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 4 khóa XII của Đảng gắn
với việc thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư
tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”.
Bốn là, các cấp ủy, tổ chức đảng cần chú trọng công tác kiểm tra, giám sát
việc thực hiện cam kết của cán bộ, đảng viên ở địa phương, cơ quan, đơn vị.
Từng tổ chức cơ sở đảng cần hoàn thiện và thực hiện nghiêm quy định về
trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là của bí thư cấp ủy các
cấp. Tiếp tục đổi mới nội dung, hình thức, nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ;
đề cao tinh thần tự phê bình và phê bình, khắc phục tình trạng nể nang, né tránh,
ngại đấu tranh với những biểu hiện vi phạm. Đồng thời, có cơ chế bảo vệ, khuyến
khích người dám đấu tranh, bảo đảm ngăn chặn kịp thời mọi biểu hiện “tự diễn
biến”, “tự chuyển hóa” ngay từ cơ sở. Cơng tác kiểm tra, giám sát của Đảng cần
tích cực, chủ động và kịp thời bổ sung những nội dung phù hợp; phối hợp chặt
chẽ với cơng tác bảo vệ chính trị nội bộ trong phát hiện, xử lý cán bộ, đảng viên
vi phạm. Từng cấp ủy, tổ chức đảng, ủy ban kiểm tra các cấp nắm rõ thực trạng
và nguy cơ của tình hình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ngay trong tổ chức mình;
kịp thời phát hiện sớm và ngăn chặn hiệu quả mọi biểu hiện vi phạm. Tăng cường
hơn nữa vai trò, hiệu quả hoạt động của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống
tham nhũng, các cơ quan nội chính, ủy ban kiểm tra các cấp cũng như các cơ quan
pháp luật.
Về cán bộ và công tác cán bộ, Đảng ta đã luôn khẳng định: công tác cán bộ
là khâu then chốt của công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Cuộc đấu
tranh PCTN có thành công vững chắc hay không phụ thuộc một phần quan trọng
vào việc có làm tốt cơng tác cán bộ hay khơng. Vì vậy, trong thời gian tới cần
thực hiện nghiêm Quyết định số 205-QĐ/TW ngày 23/9/2019 của Bộ Chính trị về
kiểm sốt quyền lực trong cơng tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền.



21

Năm là, phát huy vai trị tích cực của báo chí, truyền thơng, kiểm sốt, quản
lý tốt các hoạt động báo chí, xuất bản, internet và mạng xã hội.
Phát huy vai trị, trách nhiệm của các cơ quan báo chí, truyền thông trong
đấu tranh với các luận điệu thù địch, sai trái, phịng, chống “tự diễn biến”, “tự
chuyển hóa”. Các cơ quan báo chí, truyền thơng phải phản ánh trung thực, kịp
thời, góp phần đưa chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước vào cuộc sống và
là kênh thông tin quan trọng phát hiện những mặt tiêu cực trong xã hội, những
biểu hiện suy thoái của cán bộ, đảng viên, cơng chức, viên chức. Bên cạnh đó,
báo chí, truyền thơng đóng vai trị giám sát và phản biện xã hội; nâng cao hiệu
quả tuyên truyền, nêu gương người tốt, việc tốt, lấy nhân tố tích cực để đẩy lùi
tiêu cực, chú trọng việc giáo dục đạo đức bằng cách nêu gương của cán bộ, đảng
viên, thực hiện nghiêm Quy định số 08-QĐi/TW ngày 25/10/2018 của Ban Chấp
hành Trung ương quy định trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước
hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung
ương.
Sáu là, hồn thiện chính sách tiền lương và chế độ đãi ngộ để từng bước nâng
cao đời sống vật chất, tinh thần và lợi ích thiết thân của đội ngũ cán bộ, đảng viên.
Bảo đảm thu nhập, tiền lương tương xứng với sự đóng góp, phù hợp với cơng
sức, trí tuệ của mỗi người đã cống hiến; thực hiện đẩy mạnh cải cách tiền lương,
thu nhập, chính sách nhà ở bảo đảm cuộc sống cho cán bộ, đảng viên, công chức
để góp phần PCTN. Ngồi sự nỗ lực vươn lên của bản thân mỗi cán bộ, đảng viên,
công chức, viên chức thì trách nhiệm của cấp ủy đảng, chính quyền, người đứng
đầu cơ quan, đơn vị các cấp phải thật sự quan tâm đến điều kiện làm việc, thu
nhập và cuộc sống cho họ. Chống đặc quyền, đặc lợi, đồng thời có những chính
sách, quy định chế độ khen thưởng cả về vật chất và tinh thần, bảo đảm công khai,
dân chủ, công bằng giữa các cấp quản lý cán bộ và giữa cán bộ, công chức với
nhân dân.



22

IV. Kết quả nổi bật trong cơng tác phịng, chống tham nhũng
thời gian qua
Đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là cuộc đấu tranh lâu dài, đầy
cam go, phức tạp. Trong q trình đổi mới, Đảng ta ln quan tâm đẩy mạnh đấu
tranh phòng, chống tham nhũng và coi đây là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của
công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Thời gian qua, nhất là trong nhiệm kỳ Đại
hội XII của Đảng, “công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng đã được lãnh
đạo, chỉ đạo quyết liệt, bài bản, đi vào chiều sâu, có bước tiến mạnh, đạt nhiều kết
quả cụ thể rất quan trọng, toàn diện, rõ rệt, để lại dấu ấn tốt, tạo hiệu ứng tích cực,
lan tỏa mạnh mẽ trong tồn xã hội và thực sự “đã trở thành phong trào, xu thế”,
được cán bộ, đảng viên và nhân dân đồng tình, ủng hộ, đánh giá cao, được quốc
tế ghi nhận”.
Tham nhũng từng bước được kiềm chế, ngăn chặn, góp phần quan trọng giữ
vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, củng cố niềm tin của cán bộ,
đảng viên và nhân dân đối với Đảng, Nhà nước. Kết quả điều tra dư luận xã hội
do Ban Tuyên giáo Trung ương tiến hành gần đây cho thấy 93% người dân được
hỏi ý kiến bày tỏ tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng trong đấu tranh phòng, chống
tham nhũng. Đây là tỷ lệ tín nhiệm rất cao, thể hiện sự đồng lịng, nhất trí của tồn
Đảng và tồn dân ta trong cơng cuộc nhiều khó khăn và địi hỏi sự kiên trì này,
góp phần đập tan mọi luận điệu chống phá, xuyên tạc của các thế lực thù địch về
cơng tác phịng, chống tham nhũng ở nước ta.
Cơng tác thơng tin, tun truyền về phịng, chống tham nhũng được coi trọng,
góp phần tạo sự chuyển biến về nhận thức và hành động của cán bộ, đảng viên,
công chức, viên chức và nhân dân. Điểm mới trong công tác thông tin tuyên
truyền, giáo dục là đã chủ động thông tin kịp thời cho báo chí để định hướng dư
luận về kết quả thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, kỷ luật, xử lý các vụ việc, khởi tố,

điều tra, truy tố, xét xử các vụ án tham nhũng, kinh tế, kể cả những vấn đề nhạy
cảm, xã hội quan tâm; nhắc nhở, chấn chỉnh, xử lý nghiêm nhiều vi phạm trong


23

cơng tác thơng tin, tun truyền về PCTN(1). Báo chí vừa phản ánh về công tác
PCTN, vừa đấu tranh phản bác luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, làm
cho nhân dân hiểu rõ hơn về những khó khăn, phức tạp, cũng như quyết tâm của
Đảng, Nhà nước trong PCTN(2). Truyền thơng, báo chí đã góp phần đắc lực trong
công tác PCTN.
Công tác phát hiện, xử lý các hành vi tham nhũng được đẩy mạnh, tạo chuyển
biến rõ nét. Đáng chú ý, công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật trong Đảng
tiếp tục được tập trung thực hiện đạt nhiều kết quả quan trọng, thiết thực góp phần
ngăn ngừa sự suy thối về đạo đức, lối sống, tiêu cực, tham nhũng của một bộ
phận cán bộ, đảng viên. Công tác phát hiện, xử lý tham nhũng được tiến hành
quyết liệt, đẩy nhanh tiến độ điều tra, truy tố, xét xử nghiêm minh, kịp thời nhiều
vụ án tham nhũng, kinh tế đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp, dư luận xã hội quan
tâm, với những mức án nghiêm khắc và nhân văn, tích cực thu hồi tài sản tham
nhũng; thực hiện đúng quan điểm chỉ đạo của Đảng: Khơng có vùng cấm, khơng
có ngoại lệ, khơng có đặc quyền, bất kể người đó là ai. Cơng tác thanh tra, kiểm
tốn được triển khai tương đối tồn diện, có trọng tâm, trọng điểm, tập trung vào
những lĩnh vực nhạy cảm dễ phát sinh tham nhũng; đã phát hiện nhiều vụ việc có
hành vi tham nhũng và liên quan đến tham nhũng.
Quan hệ hợp tác quốc tế về phòng, chống tham nhũng giữa Việt Nam với
nhiều quốc gia trên thế giới tiếp tục được mở rộng và củng cố; qua đó đã cung cấp
cho bạn bè trên thế giới những thông tin và tiến bộ của Việt Nam trong cơng tác
phịng, chống tham nhũng; đồng thời tiếp thu được nhiều kinh nghiệm tốt, tranh
thủ sự hỗ trợ, hợp tác của các quốc gia, tổ chức quốc tế để nâng cao hiệu quả cơng
tác phịng, chống tham nhũng.

Hơn bảy năm, kể từ khi thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống
tham nhũng đến cuối năm 2020, các cơ quan tố tụng đã khởi tố, điều tra, truy tố,
xét xử 1.900 vụ án tham nhũng, với hơn 4.400 bị can. Riêng Ban Chỉ đạo đã đưa
vào diện theo dõi, chỉ đạo hơn 800 vụ án, vụ việc. Chưa bao giờ có nhiều cán bộ


24

cấp cao vướng vào vịng lao lý vì tham nhũng, cố ý làm trái như nhiệm kỳ khóa
XII của Đảng…
Những kết quả đạt được khẳng định quyết tâm rất cao của Đảng, Nhà nước
trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, "khơng có vùng cấm, khơng có ngoại
lệ, bất kể người đó là ai, khơng chịu sức ép của bất kỳ cá nhân nào". Công tác này
thực sự "đã trở thành phong trào, xu thế", được cán bộ, đảng viên và Nhân dân
đồng tình, ủng hộ, đánh giá cao; được quốc tế ghi nhận.
Chín tháng năm 2021, Bộ Tài chính đã thực hiện 05 cuộc thanh tra hành
chính (trong đó, 02 cuộc triển khai từ các kỳ trước chuyển sang, 03 cuộc thực hiện
trong kỳ) gồm 04 cuộc thanh tra theo kế hoạch đã phê duyệt, 01 thanh tra đột xuất;
lưu hành 02 kết luận thanh tra tại 02 đơn vị. Qua thanh tra kiến nghị xử lý tài
chính, nộp ngân sách nhà nước.
Bộ Tài chính tăng cường cơng tác kiểm tra nội bộ tại các đơn vị, góp phần
ngăn ngừa, phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm trong thực hiện nhiệm vụ, công
vụ của cán bộ, công chức và người lao động trong tồn ngành tài chính. Kết quả,
toàn ngành đã thực hiện 907 cuộc kiểm tra nội bộ, qua kiểm tra đã phát hiện và
kiến nghị xử lý tài chính 273.637 triệu đồng, đồng thời kiến nghị xử lý hành chính
đối với 115 tổ chức và 430 cá nhân, đã xử lý 545 trường hợp, trong đó đã xử lý
kiểm điểm rút kinh nghiệm 428 người, khiển trách 02 người.
Trong quý III/2021, Thanh tra Bộ Tài chính đã triển khai 07 cuộc thanh
tra, hồn thành thanh tra đối với 11 cuộc thanh tra đã triển khai kỳ trước chuyển
sang. Qua thanh tra, kiểm tra phát hiện và kiến nghị xử lý tài chính 5.286 triệu

đồng tại 15 đơn vị, trong đó kiến nghị thu hồi ngân sách nhà nước hơn 471 triệu
đồng; xử lý tài chính khác 4.814 triệu đồng; ban hành 10 quyết định xử phạt vi
phạm hành chính với tổng số tiền 220 triệu đồng.
Cơ quan Thuế đã thực hiện 44.425 cuộc thanh tra, kiểm tra và kiểm tra
567.591 hồ sơ khai thuế tại cơ quan thuế. Số tiền kiến nghị xử lý qua thanh tra,
kiểm tra 30.640 triệu đồng; ban hành 39.917 quyết định xử phạt vi phạm hành


25

chính với tổng số tiền 1.845 triệu đồng. Số tiền đã nộp ngân sách nhà nước là
4.564 triệu đồng.
Hệ thống Hải quan đã thực hiện 48 cuộc thanh tra, kiểm tra, gồm 43 cuộc
trong kế hoạch thanh tra và 05 cuộc đột xuất. Qua thanh tra phát hiện và kiến nghị
truy thu là 50.826 triệu đồng; ban hành 32 quyết định xử phạt vi phạm hành chính
với tổng số tiền xử phạt 17.964 triệu đồng với số tiền nộp ngân sách nhà nước hơn
58.809 triệu đồng.
Các tổ chức chính trị, cơ quan báo chí thuộc Bộ Tài chính đã có những
đóng góp quan trọng trong cơng tác tun truyền, phổ biến chính sách, pháp luật
về PCTN. Qua cơng tác thơng tin tuyên truyền, công khai, minh bạch về lĩnh vực
tài chính; giải đáp những vướng mắc về cơ chế, chính sách của người dân và
doanh nghiệp, góp phần nâng cao chất lượng hoạt động giám sát thực thi công vụ
cũng như phịng, chống tiêu cực trong cán bộ, cơng chức.

KẾT LUẬN
Hiện nay, trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng, tệ nạn tham
nhũng khó lường về cả hình thức, tính chất và quy mơ. Đặc biệt, ở các nước
đang phát triển, tham nhũng trở thành một gánh nặng lớn đối với cơng cuộc
chống đói nghèo, lạc hậu. mặc dù công cuộc chống tệ nạn tham nhũng đã có
được những tiến bộ nhất định nhưng tệ nạn này vẫn là một nguy cơ mang tính

tồn cầu, đe dọa sự phát triền của xã hội, do vẫn còn tồn tại rất nhiều rào cản
trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng.
Cơng tác phịng, chống tham nhũng trở thành một u cầu bức xúc của tồn
xã hội, địi hỏi phải phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, tư
tưởng, tổ chức, hành chính, kinh tế, hình sự và của từng thành viên xã hội. Muốn
vậy, công việc trước tiên cần phải tiến hành là tuyên truyền, giáo dục ý thức
trách nhiệm mỗi người dân đối với cuộc đấu tranh này. Xuất phát từ yêu cầu đó,


×