Tải bản đầy đủ (.docx) (26 trang)

CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ Ở VIỆT NAM

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (240.52 KB, 26 trang )

Kinh tế phát triển

ĐỀ TÀI: CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ VÀ PHÁT
TRIỂN KINH TẾ Ở VIỆT NAM

Nhóm 2 – N02.1

1


Kinh tế phát triển

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay, trong bối cảnh của xu hướng toàn cầu hóa và cuộc cách mạng công nghệ đang diễn ra
sôi động với tốc độ nhanh. Điều đó làm cho tốc độ di chuyển tư bản qua biên giới giwuax các
quốc gia có xu hướng gia tăng mạnh mẽ, sự phụ thuộc lẫn nhau ở mức toàn cầu hóa đang được
xúc tiến đồng thời sự cải tiến về kĩ thuật cũng làm thay đổi bản chất kinh tế xã hội. Bởi vậy, một
kinh tế có cơ cấu linh hoạt sẽ đạt được một sự phát triển nhanh chóng.
Đối với Việt Nam là một đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội với nông nghiệp lạc hậu, công
nghiệp hóa mới ở chặng đường đầu, xu thế toàn cầu hóa đang đặt ra thách thức lớn với đối với
tiến trình công nghiệp hóa ở Việt Nam. Mỗi bước tiến của quá trình công nghiệp hóa-hiện đại
hóa góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển. Cơ cấu ngành kinh tế đang là một bài toán nan giải ảnh
hưởng tới sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam trên con đường hội nhập quốc tế.
Từ khi tiến hành cuộc cải cách đất nước cho đến thời điểm hiện tại thì nước ta luôn quan
tâm chú trọng phát triển kinh tế công nghiệp hóa, hiện đại hóa là nhiệm vụ trung tâm.Qúa trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa với nội dung chính là sự nghiệp chuyển dịch cơ cấu kinh tế với bộ
phận cơ bản hợp thành giữa chúng là cơ cấu ngành kinh tế, cơ cấu thành phần kinh tế và cơ cấu
vùng kinh tế. Trong những năm gần đây thì nền kinh tế Việt Nam đã có sự chuyển dịch cơ cấu
kinh tế rõ ràng, cơ cấu ngành kinh tế có những chuyển biến tích cực đó là tỷ trọng các ngành


công nghiệp và dịch vụ phát triển nhanh và chiếm tỷ trọng lớn, tỷ trọng ngành nông nghiệp đã có
dấu hiệu giảm đáng kể. Những biến đổi tích cực đó đã góp phần tạo đà cho nền kinh tế phát triển
tăng trưởng nahnh, và ổn định hơn.
Nhận thức được tầm quan trọng của dịch chuyển cơ cấu kinh tế đối với sự phát triển kinh
tế của đất nước nên nhóm em đã tập trung nghiên cứu vào đề tài “ Chuyển dịch cơ cấu ngành
kinh tế và phát triển kinh tế của Việt Nam “

Nhóm 2 – N02.1

2


Kinh tế phát triển

NỘI DUNG
CHƯƠNG I: Cơ sở lý luận về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế và phát triển kinh tế ở Việt
Nam.
I. Khái niệm và phân loại cơ cấu ngành kinh tế.
1. Khái niệm cơ cấu ngành kinh tê
Cơ cấu ngành kinh tế là tương quan giữa các ngành trong tổng thể, thể hiện mối quan hệ
hữu cơ và sự tác động qua lại cả về số lượng và chất lượng giữa các ngành với nhau.
2. Phân loại cơ cấu ngành kinh tê
Cơ cấu ngành kinh tế được chia ra 3 nhóm ngành được hình thành trên cơ sở phân công lao động
xã hội và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất tạo nên các ngành chuyên môn hóa tổng hợp.




Ngành nông nghiệp: nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp ( Khu vực I ).
Ngành công nghiệp: công nghiệp nặng, công nghiệp nhẹ, xây dựng ( Khu vực II ).

Ngành dịch vụ: thương mại, bưu điện, du lịch ( Khu vực III ).

=>Cơ cấu ngành kinh tế là tổ hợp các ngành hợp thành các tương quan tỷ lệ, biểu hiện mối quan
hệ giữa các nhóm ngành của nền kinh tế, là bộ phận cấu thành cơ cấu của nền kinh tế được hình
thành trên sự phân công lao động xã hội và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, hình thành
nên các vùng chuyên môn hóa tổng hợp.
II. Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế và phát triển kinh tế Việt Nam
1. Khái niệm và phân loại chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tê
1.1. Khái niệm
Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế là quá trình thay đổi từ trạng thái này sang trạng thái
khác theo hướng ngày càng hiện đại, phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất và phân
công lao động xã hội.
1.2. Phân loại
Nói một cách cụ thể, chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế hợp lý, tiến bộ là thay đổi về:




Thay đổi số lượng các ngành.
Thay đổi tỷ trọng trong nội bộ ngành.
Thay đổi các ngành trong tổng thể.

Nhóm 2 – N02.1

3


Kinh tế phát triển



Thay đổi vị trí, mối quan hệ giữa các ngành.

2. Sự cần thiêt phải chuyển dịch cơ cấu kinh tê ở nước ta hiện nay.
Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế là quá trình nâng cao hiệu quả cảu sự kết hợp các yếu
tố nguồn lực. Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế mang tính tất yếu do yêu cầu của CNH – HĐH,
do việc nâng cao sức cạnh tranh chủ động hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế, do yêu cầu của
việc phát triển kinh tế thị trường theo đinh hướng XHCN.
 Do yêu cầu tất yếu của sự nghiệp CNH – HĐH.

Phát triển lực lượng sản xuất – cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội trên cơ sở thực hiện
cơ khí hóa nền sản xuất xã hội và áp dụng những thành tựu KHKT hiện đại:
+

Cải tiến lao động thủ công, lạc hậu thành lao động sử dụng máy móc đó là bước chuyển
đổi cơ bản từ nền kinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế công nghiệp.
+ Phải hiện đại hóa các ngành để nhằm nâng cao năng suất lao động cũng như chất lượng
sản phẩm, hàng hóa đi liền với cơ khí hóa là điện khí hóa, tự động hóa sản xuất từng
bước. => Sự nghiệp CNH – HĐH đòi hỏi phải xây dựng và phát triển mạnh mẽ các ngành
công nghiệp để phát triển kinh tế.
+ Sử dụng kĩ thuật công nghệ cao làm tăng năng suất lao động xã hội, chất lượng đời sống
nâng cao, sản phẩm tốt dẫn đến cạnh tranh hàng hóa, nền kinh tế thị trường phát triển. =>
Rút ngắn khoảng cách tụt hậu xa về kinh tế giữa nước ta và các nước tiên tiến, nâng cao
sức cạnh tranh cảu hàng hóa doanh nghiệp và nền kinh tế để từ đó tham gia hội nhập kinh
tế quốc tế ở thế chủ động.
 Do yêu cầu của việc phát triển kinh tế thị trường theo hướng XHCN.
Quá trình hình thành và phát triển của ngành kinh tế, đặc biệt là những ngành có hàm lượng khoa
học cao, sự xuất hiện các vùng sản xuất chuyên canh tập trung, không chỉ là biểu hiện của sự
phát triển của lực lượng sản xuất, phát triển cơ sở vật chất – kỹ thuật trong tiến trình CNH –
HĐH mà còn làm cơ cấu kinh tế để thay đổi hợp lý.
Nghĩa là trong nền kinh tế thị trường như nước ta hiện nay, đòi hỏi các ngành kinh tế trọng yếu

cần phải có phương hướng chuyển dịch hợp lý và hiện đại thông qua việc áp dụng KHKT tiên
tiến.
Sự phát triển mạnh mẽ ngành công nghiệp sẽ tạo ra tư liệu sản xuất cho ngành nông nghiệp để
ngành nông nghiệp ngày càng sản xuất được nhiều sản phẩm đạt chất lượng tốt mà lực lượng sản
xuất tập trung trong ngành này càng ngày càng giảm hơn.
Mạng lưới dịch vụ với tư cách một ngành kinh tế phát triển có thể phục vụ tốt hơn cho sự phát
triển mạnh mẽ của ngành công nghiệp và nông nghiệp.
Đồng bộ các ngành kinh tế then chốt có xu hướng phát triển mạnh mẽ về chất và phân phối một
cách hợp lý về lượng sẽ tạo điều kiện để các thành phần kinh tế phát triển, các vùng kinh tế cùng
Nhóm 2 – N02.1

4


Kinh tế phát triển
phát triển làm cho nền kinh tế quốc dân tăng trưởng vững mạnh, chính trị xã hội ổn định lâu dài,
dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh.
 Do yêu cầu tất yếu của việc nâng cao sức cạnh tranh chủ động hội nhập kinh tế khu vực –

quốc tê.
Mở cửa nền kinh tế là nhu cầu cấp bách đối với nền kinh tế nước ta trong việc mở cửa, hội nhập
đẩy mạnh xuất khẩu, coi xuất khẩu là hướng ưu tiên trọng điểm, giảm thiểu lượng hàng hóa nhập
khẩu. Như vậy, kinh tế trong nước mới phát triển nhanh, thu nhập, đời sống của nhân dân mới
được nâng cao.
Mở rộng kinh tế quan hệ của nước ta với nước khác trở thành một tất yếu kinh tế, tạo khả năng
để nước ta tranh thủ vốn, kĩ thuật, công nghệ, kinh nghiệm tổ chức quản lý nâng cao tỷ trọng
kinh tế ngành công nghiệp mũi nhọn.
Muốn xây dựng nền kinh tế mới đòi hỏi tất yếu phải điều chỉnh cơ cấu ngành kinh tế để vừa phải
hội nhập khu vực vừa hội nhập toàn cầu.
=>Như vậy để đưa Việt Nam thoát khỏi nền kinh tế lạc hậu, yếu kém, đời sống nhân dân lao

động tăng cao thì việc chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế là tất yếu.
3. Những tiêu chí cơ bản phản ánh sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tê.
3.1. Cơ cấu tổng sản phẩm quốc nội (GDP)
Trong đánh giá chuyển dich cơ cấu ngành kinh tế, cơ cấu FDP giữa các ngành kinh tế là
một trong những tiêu chí quan trọng nhất phản ánh xu hướng vận động và mức độ thành công
của công nghiệp hóa.
Để đánh giá sát thực hơn cơ cấu ngành kinh tế, việc phân tích cơ cấu các phân ngành
phản ánh sát thực hơn khía cạnh chất lượng và mức độ hiện đại hóa của nền kinh tế.
3.2. Cơ cấu lao động đang làm việc trong nền kinh tế
Trong quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa, sự chuyển dich cơ cấu ngành kinh tế còn
được đánh giá qua một tiêu chí rất quan trọng là cơ cấu lao động đang làm việc trong nền kinh tế
được phân bổ như thế nào vào các lĩnh vực sản xuất khác nhau.
So với cơ cấu GDP, cơ cấu lao động phân theo ngành được đánh giá cao là do tiêu chí
này không chỉ phản ánh sát thực hơn mức độ chuyển biến sang xã hội công nghiệp của một đất
nước mà còn bị ảnh hưởng bởi nhân tố ngoại lai hơn.
3.3. Cơ cấu hàng xuất khẩu

Nhóm 2 – N02.1

5


Kinh tế phát triển
Trong điều kiện cả một nền kinh tế đang công nghiệp hóa, cơ cấu mặt hàng xuất khẩu
cũng được xem như một tiêu chí quan trọng đánh giá mức độ thành công của quá trình chuyển
dịch cơ kinh tế theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa.
Hầu hết các nước đã trải qua quá trình công nghiệp hóa để trở thành một nước công
nghiệp phát triển đều cơ bản trải qua một mô hình chung trong cơ cấu sản xuất và cơ cấu hàng
xuất khẩu là: từ chỗ chủ yếu sản xuất và xuất khẩu hàng sơ chế sang các mặt hàng công nghiệp
chế biến, lúc đầu là sản phẩm của công nghiệp chế biến sử dụng nhiều lao động, kỹ thuật thấp

như dệt may, lắp ráp, chế biến nông lâm ngư nghiệp,… chuyển dần sang sản phẩm sử dụng nhiều
công nghệ kĩ thuật cao như điện tử, cơ khí chế tạo,…
4. Những nhân tố tác động đên chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tê.
4.1. Nhóm các nhân tố của đầu vào sản xuất
Nhóm này bao gồm toàn bộ các nguồn lực mà xã hôi có thể huy động được vào quá trình sản
xuất, bao gồm các nhân tố chính là: nguồn lực tự nhiên, nguồn lực con người, nguồn vốn và tiềm
lực khoa học – công nghệ.
4.2. Nhóm các nhân tố đầu ra của sản xuất ( yếu tố thị trường)
Nếu các nhóm yếu tố đầu vào phản ánh sự tác động của các nguồn nhân lực có thể huy động cho
sản xuất và sự phân bố chúng vào những lĩnh vực sản xuất kinh doanh khác nhau, thì nhóm các
yếu tố đầu ra của sản phẩm quyết định xu hướng vận động của thị trường, nơi phát ra tín hiệu
quan trọng bậc nhất dẫn dắt các nguồn vốn đầu tư cũng như các nguồn lực sản xuất khác quyết
định phân bổ vào lĩnh vực sản xuất nào, với quy mô bao nhiêu. Những nhân tố này bao gồm:
dung lược thị trường và thói quen của người tiêu dùng.
- Dung lượng thị trường: độ lớn của dung lượng thị trường là một trong những nhân tố có ý
nghĩa đối với sự chuyển dich các nguồn lực được phân bổ vào các lĩnh vực sản xuất khác nhau,
dung lượng thị trường ( lượng cầu) được quy định bởi quy mô dân số và mực thu nhập. Khi mức
thu nhập của dân cư còn thấp, hầu hết thu nhập chỉ được chi dùng cho những mặt hàng thiết yếu.
Nhưng khi thu nhập của dân cư tăng lên, cơ cấu tiêu dùng của họ cũng thay đổi theo hướng chi
cho các mặt hàng cao cấp tăng lên. Rõ ràng những dấu hiệu dịch chuyển cơ cấu có khả năng
thanh toán dẫn dắt hướng đầu tư kinh doanh của các nhà đầu tư và vì thế, tác động không nhỏ
dẫn đến sự hình thành và chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế.
- Thói quen (thị hiếu) của người tiêu dùng: tính ưa thích theo thói quen tiêu dùng một số loại sản
phẩm nào đó đòi hỏi các nhà đầu tư phải nghiên cứu để tìm cách đáp ứng, vì thế tình trạng thỏa
dụng của người tiêu dùng đã trở thành một trong các chỉ tiêu tác động vào sự chuyển dịch cơ cấu
ngành kinh tế.
4.3. Nhóm các nhân tố về chính sách của nhà nước

Nhóm 2 – N02.1


6


Kinh tế phát triển
Quá trình chuyển dich cơ cấu ngành kinh tế chịu sự tác động tổng hợp của nhiều nhân tố.
Trong điều kiện hiện nay, dưới tác động của quá trình toàn cầu hóa, thị trường hóa và tiến bộ
khoa học công nghệ diễn ra nhanh chóng, bản thân những nhân tố tác động đến sự chuyển dịch
cơ cấu ngành kinh tế cũng không ngừng biến đổi và hàm chứa những nội dung kinh tế không
hoàn toàn giống nhau. Vì vậy, khi đánh giá mức độ tác động của từng nhân tố cũng như tổng hợp
các nhân tố đó, cần phải nhìn nhận chúng như những quá trình động để xem xét xu hướng tác
động dài hạn lên quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành của kinh tế. Nhưng dù có tiếp cận vấn đề
như thế nào thì trong một nền kinh tế thị trường, tập hợp các nhân tố đầu vào ( nguồn lực sản
xuất), đầu ra ( điều kiện thị trường) và cơ chế chính sách ( chủ yếu là sự tác động của nhà nước)
vẫn là những tác nhân quan trọng nhất đối với xu hướng chuyển dịch cơ cấu của nền kinh tế.
5. Ý nghĩa của chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tê.
Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế luôn là một trong những vấn đề then chốt, đóng vai trò rất
quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế quốc dân.
Một là, phát huy các lợi thế so sánh để khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực phát
triển của quốc gia, địa phương như về đất đai, tài nguyên thiên nhiên, vốn nguồn nhân lực, trên
cơ sở đó, tái cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng phân bổ những nguồn lực từ khu vực có năng suất
thấp sang khu vực có năng suất cao hơn.
Hai là, tạo ra sức sản xuất hàng hóa với khối lượng lớn, chất lượng cao, đa dạng về chủng loại
để đáp ứng nhu cầu cho nhân dân và suất khẩu.
Ba là, tạo công ăn việc làm và không ngừng tăng thi nhập, nâng cao mức sống cho người lao
động tạo cơ hội thuận lợi cho mọi thành phần trong xã hội vươn lên làm giàu chính đáng trong
khuôn khổ pháp luật.
Bốn là, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, mở ra cơ hội cho các ngành
tiến hành CNH – HĐH nâng cao trình độ áp dụng KHKT – CN cao và phương thức quản lý tiên
tiến vào các hoạt động sản xuất – kinh doanh, mở ra cơ hội để thâm nhập càng sâu vào nền kinh
tế thế giới.

Việt Nam đã ngày một phát triển và đạt được những thành công vì đã có sự chuyển dịch cơ cấu
ngành kinh tế đúng hướng. Tỷ trọng ngành nông nghiệp giảm từ 24,53% năm 2000 xuống còn
20,30% năm 2007, công nghiệp xây dựng tăng từ 36,73% năm 2000 lên 41,58% năm 2007, dịch
vụ giảm nhẹ từ 38,74% năm 2000 xuống 38,12% năm 2007. Điều đó đã làm cho tốc độ tăng
trưởng kinh tế của Việt Nam đạt khá cao, với mức bình quân giai đoạn 2000 – 2007 đạt 7,7%.
6. Mối quan hệ giữa chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tê và phát triển kinh tê ở Việt Nam
Sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế phản ánh xu thế công nghiệp hóa và là dấu hiệu phản ánh
mặt đối tượng của quá trình phát triển, là nội dung quan trọng nhất của phát triển kinh tế. Trạng
thái cơ cấu ngành là dấu hiệu phản ánh trình độ phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Qúa trình
Nhóm 2 – N02.1

7


Kinh tế phát triển
chuyển dịch cơ cấu ngành là một quá trình diễn ra liên tục và gắn liền với sự phát triển kinh tế.
Ngược lại nhịp độ phát triển, tính chất bền vững của quá trình tăng trưởng lại phụ thuộc vào khả
năng chuyển dịch cơ cấu ngành linh hoạt, phù hợp với những điều kiện bên trong, bên ngoài của
lợi thế tương đối của nền kinh tế.
Qua những phân tích ở trên về cơ cấu ngành kinh tế, sự dịch chuyển cơ cấu ngành kinh tế
và thực trạng chuyển dịch nền kinh tế ở nước ta, mỗi cá nhân con người Việt đều thấy được mối
quan hệ giữa chuyển dịch cơ cấu ngành với sự phát triển chung của nền kinh tế. Nó có một ý
nghĩa hết sức quan trọng vì gắn với nó là cả một động thái về phân bổ các nguồn lực hạn hẹp của
một quốc gia trong những thời điểm nhất định vào những hoạt động sản xuất riêng, Sự chuyển
dịch cơ cấu ngành thể hiện tính hiệu quả của việc phân bổ nguồn lực, sự chuyển dịch cơ cấu
ngành hợp lý đã tác động tới sự phát triển kinh tế của Việt Nam.
CHƯƠNG II. Thực trạng quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế và phát triển kinh tế
ở Việt Nam.
I. Quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở Việt Nam
1. Cơ cấu GDP.

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nước ta theo cơ cấu GDP được biểu hiện:tăng nhanh tỉ
trọng GDP của các ngành công nghiệp và xây dựng;dịch vụ;giảm tỉ trọng GDP của ngành nônglâm-thủy sản.
1.1. Ngành kinh tế vĩ mô

Bảng1:cơ cấu GDP theo ngành kinh tế qua các năm.Đơn vị:%
Năm
GDP
Nông-lâm-thủy
sản
CN& xây dựng
Dịch vụ

1990
100

1995
100

1997
100

2000
100

2005
100

2010
100


38.74

27.18

25.77

24.53

20.9

20.58

22.67
38.59

28.76
32.08
36.73
41
41.09
44.06
42.15
38.73
38.1
38.33
Nguồn:Tổng hợp số liệu của Tổng cục thống kê

Biểu đồ:Cơ cấu GDP theo ngành kinh tế qua các năm
Nhìn vào bảng biểu và biểu đồ chúng ta thấy rằng cơ cấu ngành kinh tế đã có sự thay đổi đáng kể
theo hướng tích cực.Tỷ trọng GDPcủa ngành nông-lâm-thủy sản trong cơ cấu kinh tế quốc dân

giảm nhanh từ 38.74%(1990) xuống 24.53%(2000) và đến giảm còn 20.58%(2010) trong khi sản
Nhóm 2 – N02.1

8


Kinh tế phát triển
lượng của nông nghiệp vẫn không ngừng tăng(cả về giá trị và hiện vật).Tuy nhiên tỷ trọng ngành
nông-lâm-thủy sản còn chiếm tỷ trong cao trong GDP của đất nước vì đây là một ngành mà sản
xuất còn phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên,bị giới hạn bởi năng xuất,diện tích ,khả năng
khai thác,giá cả chịu nhiều tác động của thị trường thế giới.Tỷ trọng GDP của ngành công
nghiệp& dịch vụ đã tăng nhanhtừ 22.67%(1990) lên 36.73%(2000) và tăng đến
41.09%(2010).Tỷ trọng GDP của ngành dịch vụ chưa có biến động nhiều:1990 đạt 38.59% đến
năm 2000 đạt 38.73% có tăng một chút nhưng không đáng kể và năm 2010 giảm xuống còn
38.33%.Bê n cạnh đó cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn cũng đã có sự chuyển dịch ngày
càng tích cực theo hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa.Tỷ trong giá trị sản xuất công nghiệp khu
vực nông thôn đã tăng từ 17,3%(năm 2001) lên 19,3%(năm 2007);công nghiệp,thương mại và
dịch vụ cũng được tập trung phát triển tại đây.
Cơ cấu nền kinh tế đã chuyển dịch tích cực theo hướng mở cửa,hội nhập vào kinh tế toàn
cầu.Hoạt động đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài đã bắt đầu được triển khai.
Kết quả chuyển dịch cơ cấu kinh tế sau 20 năm đổi mới là một trong ngững nguyên nhân
quan trọng và cơ bản nhất đưa đến các kết quả và thành tựu tăng trưởng kinh tế kar quan,tạo ra
những tiền đề vật chất trực tiếp để chúng ta được các cân đối vĩ mô của nền kinh tế như thu chi
ngân sách,vốn tích lũy,cán cân thanh toán quốc tế....,góp phần bảo đảm ổn định và phát triển
kinh tế xã hội theo hướng bền vững.Các chương trình mục tiêu quốc gia về xóa đói giảm
nghèo,chương trình đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội cho các vùng khó khăn,các
chương trình tín dụng cho người nghèo và chính sách hỗ trợ trực tiếp đã mang lại kết quả rõ
rệt.Tỷ lệ hộ nghèo đã giảm từ 17,2%(năm 2006) xuống còn 14,7%(nam 2007) năm 2008 còn
13,1%.Chỉ số phát triển con người HDI đã không ngừng tăng,được lên hạng 4 bậc,từ thứ 109 lên
105 trong tổng số 177 nước....Tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2007 đạt 8.5% là tốc độ tăng

trưởng cao nhất kể từ năm 1997.Tỷ lệ đầu tư so với GDP năm 2007 quá cao lên tới 44 %.Sự sôi
động của thị trường tài chính,hoạt động ngân hàng và thị trường bất động sản ít chuyển hóa sang
nền kinh tế thực.Khu vực tìa chính,ngân hàng và bảo hiểm vẫn chưa chiếm chưa tới 2% GDP
năm 2007.
Bảng2: tăng trưởng GDP,2003-2007(%)
2003

2004

2005

2006

2007

Tốc độ tăng(%)
GDP
7.34
7.79
8,44
Nông-lâm-thủy sản
3,62
4,36
4,02
Công nghiệp-xây dựng
10,48
10,22
10,69
Dịch vụ
6,45

7,26
8,48
Nguồn:Tổng cục Thống kê và tính toán của Viện NCQLKTTƯ

8,17
3,4
10,37
8,29

8,48
3,4
10,6
8,68

Mặc dù chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của nước ta đã đem lại những kết quả rất tích
cực nhưng nhìn chung so với yêu cầu hội nhập kinh tế thế giới,tốc độ chuyển dịch cơ cấu ngành
kinh tế của nước ta còn chậm và chưa hiệu quả,chưa thể hiện sự chuyển dịch rõ ràng để hướng
Nhóm 2 – N02.1

9


Kinh tế phát triển
tới cơ cấu kinh tế hiện đại.Tỷ trọng của ngành nông-lâm-thủy sản có xu hướng giảm nhưng vẫn
chiếm 1 tỷ lệ lớn trong cơ cấu GDP(chiếm trên 20%),trình độ kỹ thuật nhìn chung vẫn còn ở
mức trung bình.Trong khi đó ngày dịch vụ có nhiều tiềm năng và cơ hội phát triển thì lại có xu
hướng giảm nhẹ.
1.2. Nội bộ ngành
*Ngành nông-lâm-thủy sản:có nhiều bước tiến bộ.Trong khi giá trị tuyệt đối của sản xuất nông
nghiệp tiếp tuc tăng thì tỷ trọng nông nghiệp trong GDP ngày càng giảm.

Bảng3: Cơ cấu giá trị sản xuất nông nghiệp theo giá thực tế.Đơn vị:%
Năm
Nông Nghiệp
Lâm nghiệp
Thủy sản

1990
1996
2000
84.36
80.67
80.16
5.28
5.24
4.48
10.36
14.09
15.36
Nguồn:Niên giám thống kê năm 2011

2005
71.46
3.7
24.84

2010
75.86
2.63
21.51


Trong cơ cấu ngành nông-lâm-thủy sản thì tỷ trọng nông nghiệp chiếm vị trí độc tôn và không ổn
định, đang có xu hướng giảm từ 84.36%(1990) giảm xuống còn 75.86%(2010).Tuy nhiên nông
nghiệp cũng đã góp phần lớn vào việc tăng kim ngạch xuất khẩu.Một số mặt hàng xuất khẩu
chủ lực như gạo,cà phê,cao su…của nước ta vẫn khá cao:xuất khẩu gạo đạt kim ngạch 4,4 tỉ
USD,cà phê 2,6 tỷ USD,cao su 2,2 tỷ USD trong năm năm 2001-2005 .Tỷ trọng lâm nghiệp có
xu hướng giảm mạnh từ 5.28%(1990) còn 2.63%(2010) điều này phản ánh thực trạng về việc
khai thác rừng tới mức cạn kiệt và đang gây ra những hậu họa khôn lường.Tỷ trọng ngư nghiệp
tăng nhưng không ổn định:giai đoạn từ năm 1990-2000 có xu hướng tăng chậm từ 10.36% tăng
lên 15.36% nhưng từ năm 2000-2005 tăng manh từ 15.36% lên 24.84% và giảm trong khoảng từ
năm 2005-2010 lại giảm nhẹ xuống còn 21.51%.Trong giai đoạn 2005-2010,thủy sản đã có bước
phát triển đáng kể,công tác nuôi trồng thủy sản được coi trọng nhất là vùng ven biển.Những cơ
sở sản xuất giống và nuôi tôm xuất khẩu được phát triển,mở rông các hình thức lien doanh với
nước ngoài để nuôi tôm được triển khai… .Tuy nhiên,Tiềm năng thủy sản ở nước ta là rất lớn:có
bờ biển dài hơn 3200km trải dài suốt 13 vĩ độ bắc nam,ven bờ có nhiều đảo,vùng vịnh và hàng
vạn hecsta đầm phá….nhưng khả năng khai thác và đánh bắt còn hạn chế,sự phát triển của ngành
thủy sản chưa tương xứng với tiềm năng sẵn có của nước ta.Mặt khác công nghệ tự động hóa
chưa được ứng dụng rộng rãi trong các dây chuyền chế biến như đánh bong,phân loại gạo,sản
xuất bánh kẹo,chế biến thức ăn chăn nuôi…..
-Chúng ta đi xét thêm 1 khía cạnh nhỏ trong nội bộ ngành nông nghiệp:
Bảng4: Cơ cấu giá trị sản xuất trồng trọt,chăn nuôi,dịch vuj nông nghiệp.Đơn vị:%
Năm
Nhóm 2 – N02.1

1991

1995
10

2000


2005

2010


Kinh tế phát triển
Trồng trọt
Chăn nuôi
Dịch vụ nông nghiệp

79.6
17.9
2.5

78.1
18.9
3

78.2
19.3
2.5

73.6
24.6
1.8

73.4
25.1
1.5


Trong cơ cấu ngành nông nghiệp: ngành trồng trọt chiếm tỷ trọng lớn nhất luôn giữ ở mức cao
và có xu hướng giảm từ 79.6%(1991) còn 73.4%(2010).Trong trồng trọt diện tích trồng lúa giảm
dần để tăng diện tích trồng các loại cây có giá trị kinh tế cao như cây công nghiệp ngắn
ngày:bong,mía,đậu tương…;cây công nghiệp lâu năm:cao su,hạt têu,cây ăn qủa…song vẫn đảm
bảo an ninh lương thực quốc gia và gia tăng xuất gạo.Bên cạnh đó sự chuyển dịch cơ cấu cây
trồng ngày càng có hiệu quả và đáp ứng được nhu cầu của thị trường.Tỷ trọng ngành chăn nuôi
tăng nhẹ qua các năm nhưng vẫn chiếm tỷ trọng nhỏ trong cơ cấu ngành,chưa có những chuyển
biến rõ rệt.Đặc biệt thực hiện chủ trương chuyển dịch cơ câu skinh tế của Đảng và Nhà
nước,những năm gần đây đã có sự chuyển mạnh một phần diện tích trồng lúa có năng suất,hiệu
quả thấp sang nuôi trồng thủy sản(tập trung nhiều ở vùng đồng bằng song Cửu Long và duyên
hải Nam Trung bộ,nhờ vậy đã góp phần tích cực chuyển dich cơ cấu kinh tế nông nghiệp.Tỷ
trọng dịch vụ nông nghiệp giảm dần từ 2.5%(1991) còn 1.5%(2010) và chiếm tỷ lệrất nhỏ trong
cơ cấu ngành.Điều đó cho ta thấy nông nghiệp nước ta đã từng bước phát triển theo một cơ cấu
tiên tiến.
Tuy nhiên sự vận động của nông-lâm-thủy sản trong quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh
tế cũng bộc lộ nhiều khó khăn và hạn chế.Thứ nhất,cơ cấu sản xuất nông nghiệp có trình độ sản
xuất hàng hóa thấp,tính độc canh,tự cấp tự túc còn nặng nề.Giữa nông,lâm nghiệp và thủy sản
chưa tạo thành một cơ cấu thống nhất.Nông nghiệp nước ta không thể phát triển cùng một lúc tất
cả các ngành nông nghiệp ngay được mà phải có sự hỗ trợ cho nhau thì mới tạo đà và nền tảng
cho chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp;có phát triển và cung cấp đầy đủ lương thực thực
phẩm thì mới có thể đưa được chăn nuôi phát triển.Thực trạng nông lâm thủy sản Việt Nam còn
thấp xâ so với yêu cầu phát triển nền nông nghiệp “sạch”,chưa khai tối đa và tận dụng hết nguồn
tài nguyên sẵn có.
Kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp của Indonesia:Với hơn 200 triệu dân và
70% dân cư sống ở nông thôn,ngành nông nghiệp Indonesia có vai trò qaun trọng đối với sự phát
triển của đất nước.vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp của Indonesia được quan tâm
sau sắc trong đó chính sách phát triển nông nghiệp tập trung san rxuaats lương thực,thực phẩm
và đề cao khu vực nông thôn.Để thực hiện việc dễ dàng trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
nghiệp ,chính phủ nước này đã tăng cường phát triển cơ sở hạ tầng như đường xá,công trình thủy
lợi,nghiên cứu ứng dụng các loại giống cao sản…đều được trợ giá ở mức độ khác nhau.Đây

chính là điều kiện nhằm khuyến khích phát triển cho nền kinh tế nông nghiệp.Cơ cấu và diện tích
trồng lien tục được mở rộng,chú trọng phát triển những cây công nghiệp có giá trị xuất khẩu ở
các trang trại nhà nước và cá nhân.Trong khu vực Đông Nam Á,Indonesia thực hiện khá tốt
chính sách phát triển kihn tế trang trại.Nhờ đó,Indonesia trở thành nước xuất khẩu ca cao,cà
phê,chè hàng đầu thế giới.Chính phủ nước này luôn cố gắng duy trì sự cân bằng tương đối giữa
Nhóm 2 – N02.1

11


Kinh tế phát triển
nông nghiệp và những ngành công nghiệp,dịch vụ…đưa khoa học kỹ thuật vào sản xuất,thúc đẩy
xuất khẩu,hỗ trợ giải quyết các yếu tố đầu vào,đầu ra cho sản xuất nông nghiệp.
*Nội bộ ngành công nghiệp& xây dựng
Bảng5: cơ cấu giá trị sản xuất công nghiệp theo giá thực tế.Đơn vị:%
Năm
2005
2007
2008
2009
2010
CN chế biến và chế tạo
82.8
84.9
85.1
85.4
87.6
Sản xuất phân phối điện,khí đốt,nước
5.5
4.9

4.5
4.9
4.5
nóng,hơi nước và điều hòa không khí
Cung cấp nước,hoạt động quản lý và xử
0.5
0.5
0.5
0.5
0.6
lý nước thải,rác thải
Khai khoáng
11.2
9.7
9.9
9.2
7.3
Nhìn vào bảng số liệu trên ta thấy ngành công nghiệp khai khoáng có tỷ trọng giảm dần từ
11.2%(2005) xuống còn 7.3%(2010) điều đó góp phần giải quyết nguy cơ cạn kiệt nguồn tài
nguyên trong tương lai.Tron gkhi đó tỷ trọng ngành CN chế biến và chế tạo luôn chiếm tỷ trọng
lớn trong cơ cấu ngành công nghiệp và có xu hướng ngày càng tăng qua các năm;tăng từ
82.8%(2005) lên 87.6%(2010).
Qua đó ta nhận thấy xu hướng chuyển dịch trong những năm gần đây là tích cực theo hướng
công nghiệp hóa,hiện đại hóa,phù hợp với điều kiện của nước ta.Các ngành có công nghệ cao
được mở rộng và phát triển hơn tạo ra những sản phẩm tiêu dung có giá trị cao,đáp ứng nhu cầu
tiêu dùng ngày một nâng lên ở trong nước và tham gia xuất khẩu như ô tô,sản phẩm điện tử,tàu
thủy….Các ngành có trình độ công nghệ trung bình và thấp phát triển ở tốc độ trung bình để duy
trì cung cấp những sản phẩm thông thường thiết yếu cho nhân dân.Sự phát triển của ngành chế
biến lương thực thực phẩm đã làm cho nông nghiệp chuyển mạnh sang sản xuất hàng hóa;đồng
thời sự phát triển nhanh của các ngành điện tử,hóa chất...đã kích thích sản xuất và tiêu dùng phát

triển.Bên canh đó tỷ trọng giá trị sản xuất công nghiệp khu vực nông thôn đã tăng từ 17,3%(năm
2001) lên 19,3%(năm 2007).
Ngành công nghiệp tuy có tốc độ tăng trưởng cao nhưng yếu tố hiện đại trong toàn ngành
chưa được quan tâm đúng mức,trình độ kỹ thuật công nghệ nhìn chung vẫn ở mức trung
bình,những ngành công nghệ cao chưa phát triển .
*Nội bộ ngành dịch vụ
Trước đây ngành dịch vụ tập trung đầu tư vào cơ sở hạ tầng đặc biệt là các khu đô thị mới,giao
thông ,phát triển đa dạng các loại hình dịch vụ.Trong đó ngành dịch vụ đã được nước ta tập trung
phát triển như một ngành kinh tế mũi nhọn với lượng khách quốc tế đến Việt Nam lien tục tăng
qua các năm tăng từ 250(1990) lên 2140(2000) nghìn lượt người[Nguồn:Tổng cục thống kê].
Từ năm 2000 cho đến nay,ngành dịch vụ của nươc sta tiếp tục phát triển không ngừng.Xét bảng
dưới đây:
Nhóm 2 – N02.1

12


Kinh tế phát triển
Bảng6:tỷ trọng đóng góp của các ngành dịch vụ vào GDP
Năm
Ngành dịch vụ
Thương mại
Khách sạn và nhà hàng
Vận tải,bưu chính và du
lịch
Trung gian tài chính
Khoa học và công nghệ
Bất động sản và tư vấn
Quản lý nhà nước


2000
38.74
14.23
3.25

2005
38.01
13.56
3.49

2006
38.06
13.63
3.68

2007
38.12
13.66
3.93

2008
38.1
13.82
4.38

2009
39.01
14.32
4.54


3.93

4.36

4.5

4.44

4.53

4.45

1.84
0.53
4.34

1.8
0.63

1.81
0.62

1.81
0.62

1.84
0.62

1.92
0.64


4.01

3.78

3.78

3.63

3.66

2.73

2.75

2.74

2.74

2.77

2.86

Giáo dục và đào tạo
3.36
3.21
3.15
3.15
2.6
2.66

Y tế và xã hội
1.36
1.48
1.45
1.45
1.25
1.28
Thể thao và văn hóa
0.58
0.5
0.47
0.47
0.41
0.41
Hoạt động của các tổ
0.14
0.13
0.12
0.12
0.13
0.13
chức đoàn thể
Các dịch vụ cộng
2.23
1.94
1.93
1.92
1.94
2.06
đồng,xã hội và cá nhân

Hộ gia đình với người
0.22
0.17
0.17
0.17
0.17
0.18
giúp việc
Thông qua bảng số liệu trên ta có thể thấy ngành dịch vụ chiếm mooyj tỷ trọng rất lớn trong lĩnh
vực dịch vụ và có xu hướng lien tục tăng nhẹ:tăng từ 38.74% (2000) lên 39.01%(2009).Bên cạnh
đó cũng xuất hiện rất nhiều các ngành dịch vụ mới như chứng khoán,dịch vụ giúp việc,khách sạn
và nhà hang…tuy tỷ trọng còn thấp nhưng cũng đã góp phần làm đa dạng hóa lĩnh vực dịch vụ
của nước ta.Những ngành dịch vụ có hàm lượng chất xám và giá trị tăng cao như dịc vụ tài
chính-tín dụng,dịch vụ tư vấn chậm phát triển.Tình trạng độc quyền dẫn tới giá cả dịch vụ
cao,chất lượng dịch vụ còn thấp.
Mặc dù đã xuất hiện môt số ngành dịch vụ mới và lĩnh vực dịch vụ đã không ngừng phát triển
trong những năm qua tuy nhiên nhìn chung tỷ trọng của khu vực dịch vụ trong cơ cấu kinh tế của
nước ta vẫn còn thấp so với các nước trong khu vực.
2. Cơ cấu lao động.
Cơ cấu lao động là một phần trong cơ cấu kinh tế ngành. Cơ cấu lao động đã có sự
chuyển đổi tích cực gắn liền với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Do tỷ trọng của ngành
công nghiệp xây dựng và dịch vụ tăng dần từng năm vì vậy cơ cấu lao động có sự thay đổi.
Lao động trong các ngành dịch vụ và công nghiệp xây dựng tăng lên. Tỷ trọng lao động của các
ngành công nghiệp và xây dựng trong tổng số lao động xã hội tăng từ 12,1% năm 2000 lên
17,9% năm 2005; lao động trong các ngành dịch vụ tăng từ 19,7% lên 25,3%; lao động trong các
Nhóm 2 – N02.1

13



Kinh tế phát triển
ngành nông lâm, thủy sản giảm từ 68,2% xuống còn 56,8%. Đến năm 2010 Việt Nam sẽ cố gắng
đưa tỷ lệ lao động nông nghiệp sẽ còn khoảng 50%.
Bảng 7: cơ cấu lao động theo nhóm kinh tế ( % )
Năm

Tổng số

Nông, lâm,
thủy sản

1990
100
73,00
1995
100
71,30
2000
100
65,10
2005
100
57,20
2006
100
55,20
2007
100
53,90
2008

100
52,50
Nguồn: Thời báo kinh tế năm 2008 - 2009

Công nghiệp
xây dựng

Dịch vụ

11,20
11,40
13,10
18,20
19,20
20
20,30

15,80
17,30
21,80
24,60
25,60
26,10
26,70

Như vậy cơ cấu lao động theo ngành kinh tế đã chuyển dịch theo hướng tích cực trong
tổng số lao động tăng them từ 1990 đến năm 2008 ( 15624,9 nghìn người). Nhóm Nông lâm thủy
sản đã thu hút thêm 2148 nghìn người, chiếm 13,8% tổng số tăng. Nhóm ngành công nghiệp đã
thu hút thêm 6079,8 nghìn người, chiếm 38,9% tổng số tăng. Nhóm ngành dịch vụ đã thu hút
thêm 7396,4 nghìn người, chiếm 47,3% tổng số tăng. Nhóm ngành dịch vụ tăng nhiều nhất. Sau

đó đến công nghiệp xây dựng. Do năng suất lao động của nhóm ngành công nghiệp xây dựng
( 62924 đồng/người) nên con đường chuyển dịch lao động cơ cấu theo ngành tăng và dich cao
hơn nhóm ngành nông, lâm, thủy sản. Do vậy, cơ cấu lao động sẽ dịch chuyển theo con đường
nào mà năng suất lao động chung và con đường giảm thiểu mứa sống dân cư, giảm tỷ lệ nghèo
cao.
Hiện nay, do khu vực kinh tế nhà nước hiệu quả kinh doanh cũng như đóng góp vào GDP
còn thấp. Mặt khác do lương của khu vực kinh tế nhà nước còn thấp. Vì vậy có sự chảy máu chất
xám từ nhà nước sang khu vực kinh tế ngoài nhà nước.
Bảng 8: Cơ cấu lao động theo khu vực
Phân theo ngành kinh tế

Nhóm 2 – N02.1

Tổng số

14

Nhà nước

Ngoài Nhà Có
vốn
nước
đầu

nước
ngoài


Kinh tế phát triển
Tổng số

100,00
Nông nghiệp và Lâm nghiệp
0,43
Thủy sản
0,04
Công nghiệp khai thác mỏ
0,17
Công nghiệp chế biến
60,29
SX và PP điện, khí đốt, nước
2,16
Xây dựng
10,14
Thương nghiệp
11,99
Khách sạn và Nhà hàng
2,44
Vận tải, Kho bãi và Thông tin lien lạc 8,11
Tài chính, tín dụng
0,75
Hoạt động khoa học và công nghệ
0,01
Kinh doanh tài sản và dịch vụ tư vấn
2,18
Giáo dục và Đào tạo
0,08
Y tế và hoạt động cứu trợ xã hội
0,05
Hoạt động văn hóa và thể thao
0,44

Phục vụ cá nhân và công cộng
0,72
Nguồn: Tổng cục thống kê TP HCM năm 2005

100,00
0,93
0,03
0,26
49,14
4,87
15,34
15,32
2,48
7,34
0,66
1,90
0,46
1,27

100,00
0,08
0,15
56,85
9,52
14,48
2,18
12,78
0,83
0,02
2,26

0,04
0,11
0,29
0,41

100,00
0,13
0,01
88,82
0,33
1,00
1,00
2,78
1,72
0,81
2,60
0,33
0,06
0,67
0,13

( Nguồn: thời báo kinh tế Việt Nam 2008- 2009)
Trong tổng số lao động tăng thêm của toàn bộ nền kinh tế 15624,9 nghìn người trong thời
kỳ 1990 -2008 thì khu vực nhà nước tăng thêm 657,7 nghìn người chiến 4,2% tổng số tăng thêm
khu vực ngoài nhà nước và vốn đầu tư nước ngoài tăng thêm 14967,2 nghìn người chiếm 42,9%
tổng số tăng thêm. Do vậy cơ cấu lao động hiện nay có sự chuyển dịch. Xét riêng trong các loại
hình doanh nghiệp tổng số lao động tính đến năm 2007 là 6715,2 nghìn người, tăng 89,9% so với
năm 2000. Bình quân 11,9% cao gấp nhiều lần của toàn nền kinh tế quốc dân trong thời gian
tương ứng. Về số tuyệt đối, tổng số lao động trong các doanh nghiệp tăng 3128,5 nghìn người.
Trong đó doanh nghiệp nhà nước giảm 188,6 nghìn người, doanh nghiệp ngoài nhà nước tăng

2329 nghìn người chiếm 73% tổng số tăng. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 1037
nghìn người chiếm 32,7% tổng số tăng. Như vậy doanh nghiệp ngoài nhà nước và vốn đầu tư
nước ngoài đã đóng góp tích cực vào việc thu hút lao động.

Nhóm 2 – N02.1

15


Kinh tế phát triển
Lao động hiện nay không chỉ số lượng mà còn chất lượng. Hiện nay các trường đại học
cao đẳng chuyên nghiệp với số lượng các trường ngày càng tăng vì vậy tỷ trọng lao động đã qua
đào tạo tăng từ 20% năm 2000 lên 25% năm 2005. Tuy nhiên theo thống kê của Bộ LĐ-TB-XH,
năm 2005 có đến 74,7% lực lượng lao động chưa qua đào tạo; còn số lao động đã qua đào tạo
cũng không hoàn toàn giỏi nghề. Chính vì vậy, năng suất của lao động Việt Nam kém lao động
các nước trong khu vực ASEAN từ 2 đến 15 lần. Chất lượng nguồn nhân lực của Việt Nam năm
2008 mới chỉ đạt 3,79 điểm ( thang điểm 10), xếp thứ 11 trong 12 nước châu Á tham gia xếp
hạng, theo đánh giá mới của Ngân hàng Thế giới (WB). Một nghiên cứu khác cho thấy lao động
Việt Nam chỉ đạt 32/100 điểm. Trong khi đó, những nền kinh tế có chất lượng lao động dưới 35
điểm đều có nguy cơ mất sức cạnh tranh trên thị trường toàn cầu.
II. Nguyên nhân và hạn chế của quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở Việt Nam.
1.Nguyên nhân
1.1. Nguyên nhân khách quan
- Thứ nhất, rút kinh nghiệm từ bài học không thành công trong quá khứ về phân bổ nguồn lực
phát triển, vấn đề công nghiệp hóa nói chung và chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế nói riêng được
nhìn nhận lại theo tinh thần đổi mới tư duy kinh tế.
- Chúng ta đều biết, Việt Nam cũng như các nước thuộc hệ thống XHCN đã có một thời kỳ dài
theo đuổi mô hình công nghiệp hóa XHCN theo phương châm chủ đạo là ưu tiên phát triển công
nghiệp nặng. Đồng thời, trong kế hoạch hóa tập trung, mọi nguồn lực phát triển của nền kinh tế
hầu như nằm trong khu vực công hữu nên ưu tiên phát triển công nghiệp nặng cũng đồng nghĩa

với ưu tiên cho riêng khu vực quốc doanh. Việt Nam là một nước bước vào quá trình công
nghiệp hóa muộn nên ít nhất rút ra được bài học sau sự sụp đổ của các nước XHCN tiếp cận mô
hình công nghiệp hóa sớm hơn trong cơ chế kế hoạch hóa tập chung:
+ Nhận thức về quá trình tái sản xuất mở rộng với quy luật “các ngành sản xuất tư liệu
sản xuất để chế tạo tư liệu tiêu dùng; và chậm nhất là sự phát triển của sản xuất tư liệu tiêu dùng.
Tỏng thời đại toàn cầu hóa ngày nay, không phải chỉ xem xét bó hẹp trong phạm vi mỗi nền kinh
tế quốc gia, mà còn trong những điều kiện cụ thể, nền kinh tế mang tính toàn cầu trong sự phân
công lao động quốc tế.
+ Đối với mỗi nền kinh tế quốc gia, nhất là với những nền kinh tế còn kém phát triển,
không thể tập trung mọi nguồn lực hiện có của đất nước để ưu tiên phát triển riêng ngành công
nghiệp nặng mà không chú ý đến các ngành kinh tế khác. Bởi thực tế cho thấy rằng trong lúc
nguồn vốn tích lũy cho công nghiệp hóa còn rất thiếu, sản xuất chưa đủ tiêu dùng, mà dồn mọi
nguồn lực sẵn có cho công nghiệp nặng thì các khu vực sản xuất khác sẽ không có điều kiện phát
Nhóm 2 – N02.1

16


Kinh tế phát triển
triển. Công nghiệp nặng với đặc điểm cần lượng vốn đầu tư lớn, thời gian hoàn vốn dài…, đã
hạn chế khả năng khắc phục những thiếu thốn trước mắt về lương thực, thực phẩm và hàng tiêu
dùng thiết yếu.
1.2. Nguyên nhân chủ quan
Nước ta đã có sự đổi mới về chính sách cơ cấu, ngày càng phù hợp hơn với tình hình thực
tế, nên đã có tác dụng thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong thời kỳ công
nghiệp hóa.
-Những chính sách điều chỉnh cơ cấu đầu tư, phân bổ lại nguồn lực của nền kinh tế nói chung và
nguồn vốn ngân sách nói riêng đã có tác dụng làm giảm bớt mức độ căng thẳng do chủ trương
tập trung ưu tiên phát triển công nghiệp nặng quá sức chịu đựng của nền kinh tế gây ra.
- Cùng với sự điều chỉnh cơ cấu đầu tư là các chính sách khuyến khích sự phát triển một nền

kinh tế đa hình thức sở hữu. Nông nghiệp đã từ chỗ sản xuất không đủ lương thực tiêu dùng đã
nhanh chóng trở thành một trong số những quốc gia có lượng gạo xuất khẩu hàng đầu thế giới.
2. Hạn chê.
Nếu đánh giá khách quan thì quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế của nước ta hiện
nay vẫn bộc lộ nhiều hạn chế. Nếu nhìn nhận ở khía cạnh chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế theo
hướng phát triển xuất khẩu, thì tỷ trọng của ngành nông – lâm – thủy sản còn chiếm cao trong
GDP của đất nước. Đây là ngành mà sản xuất phải phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên, bị
giới hạn bởi năng suất, diện tích, khả năng khai thác, giá cả sản phẩm lại chịu nhiều tác động của
sự biến động lên xuống trên thị trường thế giới.
Tỷ trọng của ngành chăn nuôi trong nông nghiệp cũng thấp và chưa có dấu hiệu phát triển
trong những năm tới. Đồng thời, tỷ trọng của ngành công nghiệp chưa cao, đặc biệt là ngành
công nghiệp chế tạo. Tỷ trọng ngành công nghiệp chế biến của nước ta còn nhỏ ( tỷ lệ sản phẩm
chế biến trong cơ cấu xuất khẩu chỉ tăng khoảng 1.5% / năm), vì thế kéo theo tỷ trọng hàng xuất
khẩu đã qua chế biến vẫn còn thấp, mới xuất khẩu chủ yếu hàng thô, sơ chế, làm hạn chế giá trị
của sản phẩm.
Tỷ trọng thấp của ngành dịch vụ trong GDP càng cho thấy quá trình chuyển dịch cơ cấu
ngành kinh tế của nước ta chưa có khả năng tạo ra sự chuyển biến mạnh trong xuất khẩu của đất
nước. Ngoài ra, năng lực cạnh tranh yếu của nhiều mặt hàng cũng như sản phẩm dịch vụ đã hạn
chế và làm cho sự phát triển xuất khẩu trở nên không vững chắc.
CHƯƠNG III. Giải pháp thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế để phát triển kinh tế
ở Việt Nam.
I.Giải pháp chính sách cơ bản

Nhóm 2 – N02.1

17


Kinh tế phát triển
1. Xây dựng quy hoạch và đẩy mạnh chiên lược phát triển hợp lý, hiện đại những ngành kinh

tê quan trọng ( công nghiệp – nông nghiệp – dịch vụ)


Về công nghiệp:

Chúng ta cần tập chung đầu tư theo chiều sâu: huy động tối đa nguồn vốn đầu tư, mua mới
những thiết bị, máy móc tiên tiến nhằm đưa vào ứng dụng trong các ngành kinh tế.
Đặc biệt chú trọng đầu tư trong các ngành công nghiệp nhẹ và công nghiệp chế biến, từ đó tạo
tiền đề để phát triển công nghiệp nặng.
Tập chung sane xuất các mặt hàng có khả năng xuất khẩu và công nghiệp hóa nông thôn, tạo
dựng thị trường để các loại hình kinh tế đều có thể tham gia phát triển.
Áp dụng khoa học công nghệ để phát triển các ngành công nghiệp tạo ra tư liệu sản xuất: sản
xuất dầu khí, luyện kim, hóa chất, điện tử,…và vận dụng hiệu quả công nghệ thông tin vào mọi
lĩnh vực.
Mục tiêu đề ra:
+ Giá trị sản xuất công nghiệp tăng.
+ Đầu tư nghiên cứu và hợp tác chế tạo để tiến tới sản xuất thành công máy công cụ, các
dây truyền chế biến, các loại máy phục vụ cho công nghiệp. tăng khả năng chế tạo các loại máy
móc sử dụng trong công nghiệp chế biến và nông nghiệp.
+ Phát triển khu công nghệ cao. Tự sản xuất linh kiện, phụ kiện, các loại máy móc công
nghệ. Áp dụng hiệu quả công nghẹ thông tin, đổi mới công nghệ giảm nhập khẩu tăng lượng
hàng xuất khẩu.
+ Đẩy mạnh công nghiệp chế biến nông lâm thủy sản, đầu tư công nghệ để sản phẩm của
ngành này đạt chất lượng tốt, đủ điều kiện cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
+ Tích cực hoàn thiện các công trình thủy điện.
+ Chú trọng tới các ngành khai thác và chế biến khoáng sản.


Về nông nghiệp:


+ Dựa vào điều kiện tự nhiên lao động của từng vùng sản xuất hàng hóa chuyên canh phù hợp.
Ứng dụng khoa học công nghệ, công nghệ khoa học và sản xuất. gắn liền nông nghiệp với công
nghiệp chế biến. Liên tục khai hoang, mở rộng đất thường xuyên. Phân bố lực lượng lao động
thật hợp lý nhằm nâng cao thu nhập cho người nông dân.
+ Âp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật một cách đồng bộ: chuyển đổi mùa vụ, cơ cấu cây trồng
theo hướng thâm canh, tăng năng suất lúa, tăng sản lượng cá loại rau quả,…
Nhóm 2 – N02.1

18


Kinh tế phát triển
+ Chăn nuôi: khuyến khích tạo điều kiện thuận lợi về vốn, kĩ thuật để phát triển hộ hoặc nông
trại chăn nuôi quy mô lớn. Ứng dụng công nghệ sinh học để cải tiến về nguồn thức ăn, về con
giống,… Đầu tư trang thiết bị để phát triển đánh bắt xa bờ, xây dựng hiệu quả và mở rộng ngành
nuôi trồng thủy sản, tạo điều kiện cho ngành công nghiệp chế biến.
+ Phát triển thủ công nghiệp, đặc biệt là ngành truyền thống thêu đan.


Về dịch vụ:

+ Đa dang hóa các loại hình phục vụ nhằm tạo dựng thị trường tiêu thụ các sản phẩm xã hội, đáp
ứng và cải thiện đời sống.
+ Phát triển thương mại: nội thương và ngoại thương quan tâm đến các vùng nông thôn.
+ Phát triển mạnh du lịch thành ngành mũi nhọn.
+ Nâng cao xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, cải thiện, nâng cáo trình độ, mở rộng các ngành
giao thông vận tải, bưu chính viễn thông.
+ Các loại hình dịch vụ về tài chính, ngân hàng, dịch vụ y tế, giáo dục,…phấn đấu phát triển.
2. Xây dựng và hoàn thiện thể chê kinh tê thị trường
Điểm đột phá cho chính sách này là thông tin thị trường minh bạch công khai dễ tiếp

nhận. Để thực hiện biện pháp này cần:
+ Thiết lập một cơ chế thu nhập, xử lý, cung cấp thông tin thống nhất có nhiệm vụ hỗ trợ doanh
nghiệp.
+ Xây dựng mạng lưới các cơ quan tổ chức liên thông thực hiện nhiệm vụ này.
+ Trong giai đoạn đầu để xây dựng hệ thống thông tin đầu tư của Nhà nước là chủ yếu, đầu tư cơ
sở hạ tầng thiết yếu, phục vụ phát triển kinh tế và xã hội.
3. Mở rộng thị trường
Kết hợp mở rộng thị trường trên thị trường quốc tế với tăng sức mua thị trường trong
nước đặc biệt chú ý tới thị trường nông thôn. Trong điều kiện chuyển sang nền kinh tế thị trường
các giải pháp thúc đẩy tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế căn cứ vào nhân tố đầu vào,
căn cứ vào xu hướng vận động của thị trường để lựa chọn các lĩnh vực, sản phẩm, sản phẩm tiến
hành đầu tư. Đối với thị trường nước ngoài, nên đưa ra một số chương trình hành động về xuất
khẩu. Theo số liệu năm 2004, với 1% giá trị xuất khẩu vào 4 thị trường: Mỹ, EU, Nhật Bản và
Trung Quốc là 52 tỷ USD gấp 2 lần tổng kim ngạch xuất khẩu thực năm 2004 là 26 tỷ USD. Nên
mục tiêu của chúng ta là xuất khẩu với mục tiêu là chiếm 1% doanh số nhập khẩu của một trong
4 thị trường trên. Đối với thị trường trong nước, trong điều kiện toàn cầu hóa không chỉ là thị
trường dành riêng cho các công ty trong nước mà là một bộ phận của thị trường quốc tế. Nâng
Nhóm 2 – N02.1

19


Kinh tế phát triển
cao thu nhập cho người dân được coi là yếu tố quyết định để khởi động thị trường trong nước
vào thời điểm hiện nay. Giải quyết những vẫn đề này là đẩy mạnh quá trình đô thị hóa, cần có
những hành động cụ thể:
+ Đổi mới chế độ quản lý hộ khẩu theo kiểu phân biệt thành thị và nông thôn.
+ Tích cực phát triển thành phố.
+ Tăng đầu tư cơ sở hạ tầng.
II. Giải pháp trực tiếp

1.Lựa chọn các ngành cần tập trung phát triển
Với tiềm năng thế mạnh của dất nước cũng như xuất phát từ trạng thái nguồn lực của đất
nước: lao động dồi dào, vốn thì rất khan hiếm, dự trữ đất đai và các tài nguyên khác tính trên đầu
người thấp và ngày càng cạn kiệt, hơn nữa nước ta nằm trong khu vực địa lý thuộc khu vực kinh
tế có độ năng động, bản than nền kinh tế bắt kịp vào quỹ đạo kinh tế khu vực, quan hệ kinh tế
quốc tế có nhiều thuận lợi yêu cầu về tính hiệu quả trong khuôn khổ những mục tiêu tăng trưởng
kinh tế cao, đòi hỏi chiến lược cơ cấu trong giai đoạn đầu phải có những ưu tiên cho những
ngành sử dụng nhiều lao động, có năng lực dịch chuyển cao, một khi các tương quan nguồn lực
thay đổi.
Như vậy để xác định một số lĩnh vực trọng điểm trong thời gian trước mắt cần thỏa mãn
các điều kiện sau:
+ Những lĩnh vực có lợi thế về các nguồn tài nguyên thiên nhiên
+ Những lĩnh vực khai thác được nhiều nguồn nhân lực sẵn có
+ Những lĩnh vực có chỉ số ICOR thấp
Còn với tầm nhìn trung và dài hạn các ngành được xem là mũi nhọn ngoài 3 tiêu thức
trên phải có tính định hướng công nghệ kỹ thuật hiện đại cho nền kinh tế. Vì vậy về dài hạn các
tiêu thức của các lĩnh vực được chọn là ngành “mũi nhọn” là:
- Định hướng công nghệ – kỹ thuật tiên tiến
- Định hướng xuất khẩu
- Định hướng sử dụng các lợi thế về nguồn lực, trước tiên là nguồn lao động.
- Chỉ số ICOR hợp lý
Các tiêu thức trên đều hướng tới mục tiêu dài hạn của nền kinh tế là tăng trưởng nhanh
với hiệu quả sử dụng vốn cao, tăng nguồn thu nhập, tạo công ăn việc làm.
Nhóm 2 – N02.1

20


Kinh tế phát triển
Về phương diện làm chính sách cần nhận thức rõ rằng xét toàn bộ nền kinh tế những

ngành tập trung nhiều lao động trong giai đoạn hiện nay là cơ sở để Việt Nam tiến hành nâng cấp
ngành nghề, chỉ khi các ngành nghề tập tring nhiều lao động được phát triển hoàn toàn mới có
thể tích lũy đủ vốn và kỹ thuật cho phát triển ngành tập trung vốn và kỹ thuật sau này. Để tiếp
cận vào chuỗi giá trị toàn cầu các ngành sản xuất cần tìm ra phân đoạn thị trường mà nhà đầu tư
có thể tham gia, tranh thủ mọi cơ hội để nâng cao vị thế trong chuỗi giá trị. Muốn vậy nhà nước
cần có những chính sách nhằm xây dựng một thể chế hỗ trợ thị trường như:
- Cung cấp thông tin giá rẻ hoặc miễn phí tỏng đó có các lĩnh vực nên đầu tư, được
khuyến khích đầu tư cần có những ưu đãi để hướng nhà đầu tư vào các lĩnh vực nhà nước
khuyến khích.
- Cải cách hành chính, giảm thiểu chi phí gia nhập thị trường và tạo môi trường xã hội hỗ
trợ doanh nghiệp.
- Cải tạo và tổ chức lại đối với các lĩnh vực thuộc các ngành tập trung vốn và kỹ thuật,
song song với điều đó có thể tiếp tục hỗ trợ cho ít ngành tập trung vốn và kỹ thuật có cơ sở trong
nước vững chắc hoặc có lợi thế so sánh.
- Trong giai đoạn hiện nay điều quan trọng để chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hợp
lý cần phải có tư duy mở cửa và hội nhập để phát triển ngành nghề trong điều kiện toàn cầu hóa.
Điều đó không chỉ đòi hỏi phải phân chia hợp lý các nguồn nhân lực hiếm hoi trong nước cho
các ngành sản xuất mà còn phải tích cực thu hút nguồn vốn và kỹ thuật tiên tiến nước ngoài để
phát triển những ngành mới cải tạo những ngành cũ, tham gia và nâng cấp vị thế trong chuỗi giá
trị toàn cầu.
Trên cơ sở nguyên tắc chung như vậy có thể xác định một số hướng cơ bản cho các nhóm
cơ bản như sau:
+ Nhóm ngành sản xuất nông nghiệp mà trọng tâm sản xuất lương thực (lúa gạo). Xét
trên phương diện sản xuất lúa gạo là ngành có ý nghĩa đặc biệt đối với sản xuất nông nghiệp: vừa
là ngành sản xuất lương thực cơ bản truyền thống, vừa có ý nghĩa ổn định kinh tế xã hội của một
đất nước đông dân. Xét ở góc độ chuyển dịch cơ cấu lao động sản xuất lúa gạo sẽ là lĩnh vực
đóng vai trò khu đệm đảm bảo cho quá trình giảm bớt lao động trong khu vực truyền thống sang
khu vực công nghiệp – dịch vụ hiện đại. Vì thế sản xuất nông nghiệp vẫn là ưu tiên hàng đầu
trong thời gian ngắn và trung hạn.
+ Nhóm ngành công nghiệp – dịch vụ sử dụng nhiều lao động: tập hợp nhóm này là các

ngành thuộc công nghiệp nhẹ ( may mặc, đồ gỗ, gia công,…) sử dụng nhiều lao động, phần lớn
là lao động phổ thông công nghệ không cao thu hồi vốn nhanh và khả năng linh hoạt thích ứng
với môi trường kinh doanh khá tốt. Kinh nghiệm của các nước đi trước cho thấy rằng hầu hết các
nước đã CNH đều đi qua nhóm các ngành này để phát triển. Điều khác biệt là quy mô và thời
gian duy trì nhóm ngành này. Xu hướng chung là các nước đi sau rút ngắn đáng kể giai đoạn trải
Nhóm 2 – N02.1

21


Kinh tế phát triển
qua sự phát triển quy mô lớn của nhóm ngành này với vai trò mở đường và thúc đầy quá trình
CNH. Ở Việt Nam những ngành này đang có dấu hiệu phát triển tốt vì phù hợp với điều kiện và
khả năng hấp thu công nghệ kỹ thuật của nền kinh tế. Vì vậy không cần phải có chính sách
khuyển khích đặc biệt nào từ phía nhà nước mà chỉ cần thực hiện đúng các cam kết chính sach
hiện có như chính sách đối với doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động, nhất là lao động nữ, các
chính sách tiếp cận nguồn vốn tín dụng, đất đai và các chính sách khác, cũng như đảm bảo tát cả
các doanh nghiệp phải tuân thủ pháp luật một cách nghiêm minh, bình đẳng và hơn hết là không
gay cản trở nào đối với các doanh nghiệp.
+ Nhóm ngành công nghiệp dựa vào khai thác tài nguyên thiên nhiên: tuy không phải là
quốc gia được đánh giá là giàu tài nguyên thiên nhiên nhưng Việt Nam cũng không phải là nước
quá nghèo tài nguyên thiên nhiên, và có thể dựa vào việc khai thác một số loại tài nguyên thiên
nhiên để phát triển nhóm ngành công nghiệp khai thác, đóng góp vào tăng trưởng GDP và xuất
khẩu, thu hút một lực lượng đáng kể lao động, cung cấp nguồn nguyên liệu đầu vào cho nhiều
ngành công nghiệp khác. Tuy nhiên đây là nhóm ngành cần vốn đầu tư lớn, công nghệ khai thác
và chế hiến ngày cáng hiện đại, yêu cầu về mức độ hiệu quả kinh tế theo quy mô lớn và đăch biệt
có tính tranh dành cao so với các ngành kinh tế khác và có ảnh hưởng trực tiếp tới môi trường.
Vì vậy Nhà nước một mặt cần khuyến khích các nhà đầu tư tham gia thăm dò tìm kiếm khai thác
và chế biến các loại tài nguyên dưới nhiều hình thức khác nhau. Mặt khác nhà nước cần trực tiếp
tổ chức đầu tư, phát triển nhóm ngành này nhằm tận dụng ưu thế trời cho để nhanh chóng tạo

dựng một nền công nghiệp trong giai đoạn đầu tiên thực hiện CNH.
+ Nhóm ngành công nghiệp và dịch vụ công nghệ cao: trong toàn bộ nền kinh tế nói
chung việc thực hiện rút ngắn quá trình CNH và chuyển dich cơ cấu ngành kinh tế theo hướng
hiện đại chủ yếu bằng cách rút ngắn thời gian trải qua các bước tuần tự từ thấp đến cao của thang
bậc công nghệ – kỹ thuật thì có một phần tinh hoa về ưu tú và trí tuệ, năng lực kinh doanh và tài
chính, cần thiết và hoàn toàn có thể tập trung ngay vào việc tiếp cận và phát triển những ngành,
lĩnh vực sản xuất dịch vụ dựa trên công nghệ – kỹ thuật cao của thế giới như: sản xuất và chế tạo
một số thiết bị, linh kiện điện tử, áp dụng công nghệ sinh học trong nông nghiệp,…
+ Nhóm ngành định hướng xuất khẩu: trong điều kiện toàn cầu hóa và gia tăng hội nhập
kinh tế quốc tế khái niệm xuất khẩu đã được mở rộng nội hàm: không chỉ gói gọn trong nội dung
đem lại các loại vật phẩm hàng hóa sản xuất trong nước ra bán ở nước ngoài mà còn bao gồm cả
sản phẩm dịch vụ ( phi vật chất).
2. Xác định những lĩnh vực nhà nước đầu tư
Ngày nay cả trong thực tế và lý thuyết không mấy ai còn nghi ngờ việc nhà nước có nên can
thiệp vào kinh tế hay không mà là can thiệp như thế nào và bằng cách nào để thị trường làm
được tốt nhất vai trò của nó. Nhà nước đã lựa chọn một số lĩnh vực để tập trung đầu tư vào
những giai đoạn nhất định, đã từng đóng gớp vào việc đưa một số nền kinh tế chậm phát triển trở

Nhóm 2 – N02.1

22


Kinh tế phát triển
thành những nền kinh tế công nghiệp mới, những lĩnh vực nhà nước cần phải và chỉ nên trực tiếp
đầu tư là những lĩnh vực cần thiết cho hoạt động kinh tế và xã hội:
-Các lĩnh vực xây dựng cơ sở hạ tầng: lý do chính là đầu tư nhiều vốn, thời hạn thu hổi vốn lâu,

- Các lĩnh vực nghiên cứ công nghệ, khoa học cơ bản như toán, lý, hóa, kinh tế chính trị,…


KẾT LUẬN
Trên đây là những tìm hiểu cơ bản về vấn đề chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế. Những
tìm hiểu đó có vai trò quan trọng trong việc đinh hướng phát triển kinh tế Việt Nam. Cùng với
thời gian quan điểm về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế đã có những chuyển biến lớn và căn
bản.
Từ thực tế Việt Nam đã và đang thực hiện quá trình CNH – HĐH, chuyển dịch cơ cấu
kinh tế đã cho thấy ý nghĩa của việc xác định rõ đường lối, đích của quá trình thực hiện. Cơ cấu
kinh tế đã có những thay đổi theo hướng tích cực, từng bước khai thác và phát huy lợi thế của
từng từng ngành kinh tế góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cao qua các thời kỳ và qua các
năm.
Đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt được bước chuyển biến quan trọng về nâng
cao hiệu quả và tính bền vững của sự phát triển, sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát
triển. Cải thiện rõ rệt đời sống vật chất, văn hóa và tinh thần của nhân dân. Tạo được nền tảng để
đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển kinh tế tri thức, nâng cao vị thế của Việt
Nam trên trường quốc tế thì chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế luôn là một giải pháp để tăng
trưởng và phát triển kinh tế. Để chuyển dịch cơ cấu kinh tế có hiệu quả cũng chính là quá trình
thay đổi cấu trúc ngành kinh tế.

Nhóm 2 – N02.1

23



×