Tải bản đầy đủ (.docx) (15 trang)

Phân tích chi tiết tác phẩm Vợ nhặt

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (115.54 KB, 15 trang )

VỢ NHẶT – KIM LÂN
I. Tác giả
- 1920-2007
- Tên khai sinh: Nguyễn Văn Tài
- Hồn cảnh gia đình khó khăn, chỉ học hết tiểu học, vừa làm thợ sơn guốc, vừa khắc
tranh bình phong và viết văn
-> 1 nhà văn với trình độ học vấn như vậy mà có thể viết được những tác phẩm xuất sắc
thì chắc chắn là “thần mượn tay người” viết
- Là 1 cây bút chuyên viết truyện ngắn
- Phong cách nghệ thuật:
 Thế giới nghệ thuật trong sqangs tác của KL phần lớn là hình ảnh người nông dân
và phong tục tập quán vùng nông thơn
 Có sự am hiểu sâu sắc và có nhiều trang viết đặc sắc về phong tục, đời sống làng
quê đặc biệt là có sự am hiểu tinh tường về cảnh ngộ và tâm lí của người nơng dân
II. Tác phẩm
- Hoàn cảnh: tiền thân là 1 chương trong tiểu thuyết “Xóm ngụ cư”, được nhà văn viết
ngay sau CMT8 nhưng dang dở và thất lạc bản thảo. 1954, theo đơn đặt hàng của Báo
Văn nghệ, KL đã dựa vào 1 phần cốt truyện cũ để viết lên “Vợ nhặt”
- Tác phẩm viết về cái đói và hiện thực khốc liệt của nạn đói 1945 nhưng thể hiện niềm
tin vào cuộc sống và tình yêu thương đùm bọc lẫn nhau giữa những con người nghèo khổ
như chính Kim Lân đã nói “Khi tơi viết, ý tưởng thường trực trong tơi là những người nói
dù thế nào đi chăng nữa vẫn luôn khao khát cuộc sống tốt hơn, vẫn tin tưởng một cách
mơ hồ vào cuộc sống tương lai”.
- VN được in trong tập “Con chó xấu xí” (1962)
- “Vợ nhặt” là truyện ngắn đặc sắc viết về người nông dân trong nạn đói năm 1945
III. Phân tích chi tiết
1, Tình huống truyện: Tràng nhặt vợ
- Nhan đề “Vợ nhặt”:
 Nhặt: hành động vu vơ, khơng chỉ đích -> Sự vật nhỏ bé khơng có giá trị và từ
dưới lên
 Vợ: có vai trị vơ cùng quan trọng trong đời người đàn ông




-> Nhan đề đã hé mở tình huống của tác phẩm cho thấy thân phận con người rất rẻ
rúng, rơm rạ, có thể nhặt ở bất cứ đây, bất cứ lúc nào
- Mâu thuẫn:
 Người như Tràng mà lại có được vợ: ngoại hình xấu xí, thơ kệch; tính tình có phần
khơng bình thường, ăn nói cộc lốc, thơ lỗ; nhà nghèo, đi làm thuê
 Nói đến chuyện dựng vợ, gả chồng là hạnh phúc nhưng Tràng có vợ vào những
ngày đói khát ghê sợ. Hồn cảnh Tràng nhặt vợ rất là bi đát
=> Ý nghĩa:
- Khắc hoạ tính cách nhân vật
- Tư tưởng chủ để:
 Giá trị hiện thực: phản ánh chân thực đời sống xã hội những năm đói hồnh
hành
 Giá trị nhân đạo: khẳng định vẻ đẹp tâm hồn của các nhân vật (yêu thương,
đồng cảm, thấy hiểu, lạc quan, khát khao mãnh việt về mái ấm gia đình)
- Thúc đẩy sự phát triển của cốt truyện -> khai thác diễn biến tâm lý nhân vật
2. Nhân vật Tràng
A, Chân dung, lai lịch
- Chàng là người nông dân ngự cư, nghèo
- Nghề nghiệp bấp bênh
- 2 mẹ con: mẹ gố, con cơi
- Ngoại hình thơ kệch, “hai con mắt nhỏ tí”, “hai bên quai hàm bạnh ra”, thân hình to lớn
vập vạp, trí tuệ ngờ nghệch, vụng về, ...
- Cuộc sống lao động vất vả nghèo khổ đã hằn lên ngoại hình của hắn: “Tràng đi từng
bước mệt mỏi, chiếc áo nâu tàn vắt sang một bên cánh tay, cái đầu trọc nhẵn chúi về phía
trước…”
-> Dưới ngòi bút tả thực của Kim Lân, nhân vật Tràng hiện lên thật đáng thương, tội
nghiệp đến thắt lòng, ở Tràng đã hội tụ đủ các yếu tố bất lợi để Tràng có thể lấy được vợ
B, Sự kiện quan trọng mang tính bước ngoặt làm thay đổi cuộc đời Tràng

- Lần 1: là lúc đẩy xe thóc lên dộc nên đã hò 1 câu cho đỡ mệt. Hắn hò
“Muốn ăn cơm trắng mấy giò này


Lại đây mà đẩy xe bị với anh, nì!
-> Lời hị của Tràng chỉ là lời nói đùa của người lao động. Ấy thế mà, Thị đã “lon ton”
chạy lại đẩy xe bò cho Tràng.
- Lần 2: Tràng trả hàng xong, ngồi uống nước thì Thị “sầm sập” chạy đến, “sưng sỉa”:
“Điêu! Ngươi thế mà điêu!” Lúc thấy Tràng có vẻ dễ bắt nạt thị liền cong cớn hơn. Rồi
Tràng cũng phải chiều lòng cho thị ăn bánh đúc. Thấy ăn hai con mắt trũng hoáy của thị
sáng bừng lên. Thị khơng cịn biết ngại là gì cắm đầu ăn một mạch bốn bát bánh đúc. Ăn
xong thị dùng đôi đũa quệt ngang miệng mà thở.
- Khi được Tràng đề nghị là về làm vợ mình “Có về với tớ thì ra khn hàng lên xe rồi
cùng về” thì Thị đã không ngần ngại mà theo anh về nhà luôn
-> KL đã khéo léo sử dụng ngôn ngữ đời sống để tạo nên những lời đối thoại đặc sắc,
diễn tả tài tình cuộc gặp gỡ giữa Tràng và Thị. Ban đầu chỉ là đùa cợt, sau đó là sự cảm
thương của Tràng trước hoàn cảnh của Thị.
- Khi người đàn bà quyết định theo mình về: Tràng trợn nghĩ về việc đèo bòng thêm
miệng ăn, nhưng rồi tặc lưỡi “chậc, kệ”. Đây không phải quyết định của kẻ bồng bột mà
là thái độ dũng cảm, chấp nhận hoàn cảnh, khát khao hạnh phúc gia đình, thương yêu
người cùng cảnh ngộ.
- Đưa người đàn bà lên chợ tỉnh mua đồ: mua 1 cái thúng, còn mua vài thứ lặt vặt, đánh
một bữa no nê rồi cùng đẩy xe bò về. Tràng đã trở lên hồn tồn khác, qua đó diễn tả sự
nghiêm túc, chu đáo của Tràng trước quyết định lấy vợ.
=> Hạnh phúc đến một cách bất ngờ đã khiến Tràng trở thành 1 con người hoàn toàn
khác hẳn, tế nhị, tâm lí và cũng hào phóng hơn. Với Tràng thì người đan bà khốn khổ, đói
khát, lăn xả vào hắn để kiếm miếng ăn, bám chặt lấy hắn để chạy trốn cái đói, tuyệt nhiên
khơng phải là 1 người vợ theo không, mà là một người vợ thực sự đúng nghĩa, thiêng
liêng nhất. Dù nghèo thì anh cũng muốn đánh dấu người đặc biệt trọng đại trong cuộc đời
mình, cũng muốn thể hiện thái độ trân trọng với thị bằng 1 lần được coi thường đồng tiền.

Sự chu đáo, nghiêm túc của người đàn ông thực sự trường thành. Chính hạnh phúc lứa
đơi đã khiến Tràng trở lên tâm lí hơn rất nhiều
C. Diễn biến tâm trạng của Tràng
*Trên đường Tràng dẫn thị về nhà
- “mặt hắn có cái gì hớn hở khác thường”, “tủm tỉm cười một mình”, “cảm thấy vênh
vênh tự đắc”, ...
-> Khắc hoạ dáng vẻ tươi tỉnh, hân hoan, hạnh phúc ở Tràng, khác hẳn với sự ủ rũ, mệt
mỏi trước đây. Niềm hạnh phúc bất ngờ đã đem lại nguồn sinh lực tràn trề cho người đàn


ông nghèo khổ, xoa đi mọi sự ảm đạm của đói khát. KL đã diễn tả thành cơng trạng thái
vui sướng, hạnh diện bừng lên trên gương mặt, lấp lánh trong ánh mắt của Tràng
- Trước sự tò mò của dân ngụ cư, Tràng lấy làm thích ý lắm, cái mặt của vênh lên tự đắc
với mình -> Sự thích chí, cảm giác hãnh diện của người đan ơng ngụ cư, khi lần đầu tiên
được đi bên cạnh người phụ nữ. Niềm hạnh phúc của 1 con người được mong muốn được
sống bình thường, được u thương, được chăm sóc, được làm tròn bổn phận người
chồng, người cha đã khiến cho Tràng quên đi tất cả nghèo đói, chết chóc và cả dị nghị
của những người xung quanh
*Khi về đến nhà
- “xăm xăm bước vào trong nhà”, “thu dọn những niêu bát, xống áo vứt bừa bộn” và
thanh minh về sự bừa bộn ấy: “Khơng có người đàn bà, nhà cửa thế đấy!”
- “Ngượng nghịu”, “đứng tây ngây ra giữa nhà mộ lúc” -> Hành động ngượng nghịu
nhưng chân thật, mộc mạc, đánh trúng tâm lý của người đàn ông lần đầu tiên ở gần, ở
cạnh người phụ nữ. Tâm trạng của Tràng được nhà văn miêu tả rất tự nhiên
- “Thấy sờ sợ” và không hiểu sao “hôm nay bà lão về muộn thế không biết!”. Cảm giác
phấp phổng, lo âu có thể là lo sợ mẹ khơng đồng ý với quyết định của mình. Đặc biệt,
những suy nghĩ ngô nghê nhưng chân thành của hắn khi ngạc nhiên về cái buồn cười của
thị cho thầy Tràng đã rất trân trọng người đàn bà khốn khổ, trân trọng sự đồng tình của
mẹ và q trọng hạnh phúc của chính mình
- Nhìn người đàn bà ngồi ngay giữa nhà, hắn “ngờ ngợ” nhưng khơng phải thế, ra hắn đã

có vợ rồi đấy ư. Người đàn ông khốn khổ này đã quá bất ngờ trước hạnh phúc lớn lao của
đời mình, để rồi ngỡ ngàng không tin vào điều đang xảy ra trước mắt
* Giới thiệu thị với bà cụ Tứ
- Khi bà cụ về, Tràng như một đứa trẻ, reo lên: “U đã về đấy!…Sao u về muộn thế! Làm
tôi đợi nóng cả ruột”. Đề nghị mẹ ngồi lên gường, lên giếc chính diện
- Tràng chủ động giới thiệu với mẹ bằng hai chữ “nhà tôi”, “chúng tôi”, “nhà tôi nó về nó
làm bạn với tơi”. Tâm lí của Tràng đã xóa tan sự căng thẳng trong buổi đầu gặp mặt, anh
coi đây là một việc nghiêm túc: muốn sống lâu dài với người phụ nữ.
-> Bằng câu nói ấy, Tràng đã xác định rõ ràng mối quan hệ của mình với người phụ nữ để
người nghe và bà cụ Tứ buộc phải chấp nhận. Khơng chỉ vậy câu nói cịn lí giải mối quan
hệ với vợ là dun số – một cách lý giải của một người từng trải, chín chắn, chững chạc.
- Khi bà cụ Tứ tỏ ý mừng lòng Tràng thở phào, ngực nhẹ hẳn đi.
*Sau đêm tân hôn


- Thấy trong người “êm ái lửng lơ như nguời vừa ở trong giấc mơ đi ra”. KL đã miêu tả
rất tài tình trạng thái hân hoan, thoải mái sau đêm tân hơn. Đặc biệt là ơng cịn chú ý tới
cảm giác ngỡ ngàng, ngạc nhiên của chàng không thể tin vào những gì hắn đang có. Chao
ơi hạnh phúc giữa năm đói như một điều xa xỉ, cầm nắm ở trong tay mà vẫn khơng tin đó
là sự thật.
- Tràng chợt nhận ra sự thay đổi khác lạ xung quanh mình “nhà cửa sân vườn hơm nay…
đã hót sạch”. Ngôi nhà đã được thu dọn, gọn gàng, sạch sẽ hơn so với mọi ngày.
- Tràng còn nhận ra sự thay đổi trong hình ảnh người mẹ, của vợ: Vợ trở về bản tính hiền
hậu, đúng mực của mình; mẹ thì tươi tỉnh hẳn lên, đang lúi húi giữa đám cỏ dại.
- Thúc đẩy trong Tràng nhiều cảm xúc: Những cảm xúc hồi hộp, lo lắng, hạnh phúc lẫn
lộn Tràng dần chuyển sang ý thức được hạnh phúc bản thân. Con người mong hạnh phúc
đến và hạnh phúc đến lượt nó có thể làm thay đổi con người. Trước hạnh phúc Tràng như
lột xác, lần đầu tiên, anh ta run rẩy sống trong một cảm giác rất người: “Bỗng nhiên hắn
thấy thương yêu, gắn bó với cái nhà của hắn lạ lùng”. Hắn đã có một gia đình: Hắn sẽ
cùng vợ sinh con đẻ cái ở đấy…”. Bây giờ hắn mới thấy hắn nên người”. Hai chữ “nên

người” hạ xuống như một điểm nhấn xác nhận sự biến đổi về chất ở Tràng. Cái gốc của
sự biến đổi ấy chính là gia đình. Nó là nền tảng của xã hội. Cái gốc của sự biến đổi ấy
chính là gia đình. Nó là nền tảng của xã hội. Là căn cốt của nhân tính. Tràng phục sinh
nhân tính nhờ vươn tới ý thức về gia đình.
- Song chi tiết đắt nhất của Kim Lân khơng phải ở đó mà có lẽ là ở câu văn này:” Hắn
xăm xăm chạy ra giữa sân, hắn cũng muốn là một việc gì để dự phần tu sửa lại căn nhà”.
Hai chữ “xăm xăm” gợi lên bao nhiêu là hăm hở, háo hức trong bước chân của Tràng tìm
đến hạnh phúc. Nhưng điều quan trọng hơn đấy là dấu hiệu một bước ngoặt lớn ở Tràng.
So với cái dáng “ngật ngưỡng” ở mở đầu tác phẩm, hành động xăm xăm này là một đột
biến không chỉ ở dáng đi mà còn là thay đổi cả số phận, tính cách của Tràng: từ đau khổ
sang hạnh phúc, từ ngây dại sang nhận thức mới mể, cùng với ý thức trách nhiệm với gia
đình. Nàng Kiều xưa từng “xăm xăm băng lối vườn khuya một mình” (Truyện Kiều –
Nguyễn Du). Gót chân đến với hạnh phúc của Kiều táo bạo thế mà cứ chênh vênh, đơn
độc khiến cho người đọc lo lắng bởi chỉ có một mình giữa đêm trăng trung cổ. Còn cái
“xăm xăm” của Tràng mới vững khỏe, tự tin làm sao, bởi Tràng có cả một gia đình. Và
đó là cái xăm xăm của con người trong hạnh phúc.
=> Với những chuyển biến trên, ta thấy Tràng đã có sự trưởng thành mạnh mẽ trong suy
nghĩ và nhận thức. Hạnh phúc gia đình góp phần làm hoàn thiện nhân cách của chàng,
đẩy lùi mọi đói khát và chết chóc.
- Khi ý thức được tương lai hạnh phúc của riêng mình, tâm trạng Tràng chuyển biến sang
một dự cảm đổi đời: Khi miếng cám đắng chát, ngậm ứ xuất hiện trong âm thanh tiếng
trống thu thuế, dồn dập, là lúc cuộc sống đã bị đẩy đến miệng vực của cái đói, cái chết thì


cũng là lúc hình ảnh lá cờ đỏ hiện lên làm nên một câu rất quan trọng của tác phẩm:
“Trong óc Tràng vẫn thấy đám người đói và lá cờ đỏ bay phấp phới”. Lá cờ đỏ - hình
tượng thống qua ấy khi được đặt vào đoạn kết mang bao sức nặng về tư tưởng và nghệ
thuật cho thiên truyện. Nếu vắng chi tiết này tác phẩm sẽ xa lối kết cấu khép của văn học
hiện thực phê phán. Sự có mặt của chi tiết nghệ thuật này khiến cho câu chuyện có một
cái kết mở nhờ thế thiên truyện đã đóng lại. Nhưng số phận nhân vật vẫn tiếp tục được

vận động theo hướng lạc quan, đi lên chứ không bế tắc như anh Pha của Nguyễn Công
Hoan, chị Dậu của Ngơ Tất Tố, Chí Phèo của Nam Cao… Hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng đã
vẫy lên như một tín hiệu đổi đời, một tương lai tươi sáng.
*Nghệ thuật, nội dung:
- NT:
 Tình huống truyện độc đáo, đặc sắc
 Khắc hoạ tâm lí nhân vật tài tình
 Khéo léo đưa ngôn ngữ cuộc sống của đời sống vào tác phẩm 1 cách tự nhiên
-> Nhân vật hiện lên cụ thể và sinh động: có tấm lịng nhân hậu, giàu tình yêu thương,
niềm tin tưởng mãnh liệt với tương lai
- Nội dung: Qua hình tượng nhân vật Tràng, Kim Lân cịn khẳng định hiện thực cuộc
sống có ngột ngạt, tăm tối đến đâu thì sự sống vẫn trỗi dậy, vươn lên mãnh liệt, con
người vẫn cố gắng vật lộn với hoàn cảnh để khẳng định tư cách ngời sáng của mình.
Xét cho cùng, hình tượng nhân vật Tràng đã giúp Kim Lân thể hiện được thành công
một khúc ca chứa đựng niềm tin mãnh liệt của con người vào sự sống: “sự sống chẳng
bao giờ chán nản” (Xuân Diệu), chính là biểu hiện giá trị nhân đạo mang những nét
nhân văn cao cả và rất riêng của Kim Lân. Nó giúp người đọc nhận ra được nét đặc
sắc riêng của tác phẩm khi đặt bên cạnh những sáng tác viết về người nông dân trước
sự thử thách của cái nghèo, cái đói.
3. Nhân vật bà cụ Tứ
A. Giới thiệu nhân vật
- Bà cụ Tứ là một điển hình của người nông dân thế kỷ trước, sống một đời với những
gánh nặng mưu sinh vất vả lại phải vật lộn với cái đói khủng khiếp những năm 19441945.
- Bà cụ Tứ là người đàn bà góa chồng, sống trong một căn “nhà” rách nát trong xóm Ngụ
Cư. Hình ảnh bà cụ xuất hiện trong truyện cũng chỉ vỏn vẹn mấy từ, nhưng in đậm trong
tâm trí người đọc bức chân dung của một người phụ nữ trải qua gần hết đời người với
những nhọc nhằn, tủi khổ, đó là một bóng dáng gầy yếu, bệnh tật miệng “húng hắng ho”,
dáng người “lọng khọng”, ln “lẩm bẩm tính tốn gì trong miệng”. Nhìn vào cảnh ấy,



tức thời trong trí óc người đọc đã hiện lên cái số phận khốn khổ của bà, khi mà cả đời cụ
Tứ có lẽ đã chịu nhiều đau thương vất vả, hồn cảnh neo đơn, cố sức ni lớn con cái, rồi
đến khi đã tuổi gần đất xa trời, bà vẫn không được hưởng cuộc sống an nhàn, mà vẫn
phải chịu cảnh khốn khổ, gồng mình chống chọi với cơn đói khủng khiếp.
- Khơng chỉ vậy cả cuộc đời bà cụ Tứ vẫn ln phải chịu những dày vị, day dứt về
chuyện không thể lo nổi cho cậu con trai duy nhất một người vợ, chỉ vì bà nghèo quá.
Nhưng càng trong những hồn cảnh ngặt nghèo, khốn khó, thơng qua cách miêu tả diễn
biến tâm lý tinh tế từ ngòi bút Kim Lân, vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ này lại càng
hiện lên rõ nét, đó là vẻ đẹp thiêng liêng của tình mẫu tử, niềm hy vọng về cuộc sống tốt
đẹp hơn và tấm lòng bao dung, cảm thông cho những số phận bất hạnh.
B. Diễn biến tâm trạng bà cụ Tứ
* Ngạc nhiên, bất ngờ
- Chiều hôm trước, bà cụ Tứ mang một tâm trạng ngạc nhiên khi từ ngoài ngõ đi vào,
thấy thái độ khác thường của Tràng "reo lên như một đứa trẻ" và "lật đật chạy ra đón
mình" thì bà lão theo con vào trong nhà với tâm trạng "phấp phỏng".
-> Đó là biểu hiện của sự lo lắng, của sự hồi hộp bởi bà khơng biết có sự gì sẽ đợi mình ở
trong nhà.
- Khi đến giữa sân, nhìn thấy người đàn bà thì bà cụ ngạc nhiên "đứng sững lại" - một
biểu hiện nữa của sự ngạc nhiên và đó là "sự ngạc nhiên hơn". Điều đó chứng tỏ sự ngạc
nhiên trong bà càng lúc càng nhiều, sự ngạc nhiên sau lớn hơn sự ngạc nhiên trước. Tác
giả đã dùng ngôn ngữ độc thoại nội tâm để diễn tả tâm trạng băn khoăn, thắc mắc của bà
cụ lúc này. Hàng loạt câu hỏi đặt ra trong đầu óc già nua của bà: "Quái, sao lại có người
đàn bà nào ở trong ấy nhỉ? Người đàn bà nào lại đứng ngay đầu giường thằng con mình
thế kia? Sao lại chào mình bằng u? Không phải con cái Đục mà. Ai thế nhỉ?" Một loạt các
câu hỏi ấy chính là sự lục tìm trong trí óc của mình để tìm câu trả lời cho thỏa đáng.
- Nhưng bà cụ vẫn chưa tìm thấy câu trả lời, vì thế mà bà đổ lỗi cho cặp mắt của mình,
khơng tin vào mắt mình "bà lão hấp háy cặp mắt cho đỡ nhoèn vì tự dưng bà lão thấy mắt
mình nhoèn ra thì phải". Bà lão "nhìn kĩ người đàn bà lần nữa, vẫn chưa nhận ra người
nào" nên bà quay sang dò hỏi con trai với sự ngạc nhiên khơng hiểu của chính mình.
- Khi người đàn bà trông thấy bà cụ về, cất tiếng chào "U đã về ạ", thì kể cả tiếng chào ấy

- một lời chào thân mật cũng không làm bà hiểu ra. Bà vẫn băn khoăn, phân vân đoán
định và một câu hỏi nữa đặt ra: "Ô hay, thế là thế nào nhỉ?" rồi bà lão "băn khoăn ngồi
xuống giường".
- Mãi đến khi Tràng vừa giới thiệu, vừa giải thích "đây là nhà tơi" rồi "chúng tơi phải
dun phải kiếp với nhau... Chẳng qua nó cũng là cái số cả" thì bà lão mới bắt đầu hiểu


ra. Khi hiểu ra thì bà lão "cúi đầu nín lặng". Cái tư thế "cúi đầu nín lặng" của bà cụ Tứ
hàm chứa biết bao suy nghĩ, tâm sự, nỗi niềm và những tâm sự, nỗi niềm ấy khó có thể
nói thành lời.
=> Dường như qua tư thế đó, người đọc dần dần nhận ra nội tâm phong phú bên trong cái
vẻ tưởng chừng như già nua, lẩm cẩm của bà. Trong bà cùng một lúc xuất hiện cả con
người lí trí và con người tình cảm. Con người lí trí khơng chỉ giúp bà hiểu ra là con trai
bà đã có vợ mà nó cịn giúp cho bà hiểu ra những khó khăn, đói nghèo mà Tràng phải
chịu đựng; rồi lại giúp bà hiểu ra chính số phận bất hạnh của đời bà khiến cho con bà
sống trong hoàn cảnh trớ trêu như vậy. Cịn con người tình cảm của bà tỏ ra rất "xót
thương cho số kiếp đứa con mình". Sự ai ốn, sự xót thương đó vừa hướng tới chính
mình, vừa hướng tới con bà, vừa thể hiện nỗi đau của bản thân, vừa mang tình thương tới
người con trai. Bởi vậy cho nên bao cảm xúc của bà lão vừa tội nghiệp, lại vừa nhân hậu
biết bao!
*Xót thương, ai ốn cho số kiếp của con trai mình và tủi thân cho chính mình
- Cảm xúc trong bà càng lúc càng cụ thể hữu hình: "Chao ơi, người ta dựng vợ gả chồng
cho con là lúc trong nhà ăn nên làm nổi, những mong sinh con đẻ cái nở mặt sau này.
Cịn mình thì..".
-> KL rất là khéo léo khắc hoạ nội tâm để làm nổi bật lên tâm trạng của nhân vật. Nước
mắt người mẹ lặng lẽ rơi xuống trong mặc cảm thân phận, trong nỗi đau khơng lo nổi cho
con. Bà khóc vì chưa làm tròn bổn phận, trách nhiệm của người mẹ. Đoạn văn ngắn ngủi
nhưng chất chưa bao suy tư của người mẹ nông dân nghèo khổ. Đoạn văn không chỉ là
những câu trần thuật đơn thuần mà mỗi câu văn đều rưng rức cảm xúc xót thương của tác
giả.

*Tình thương và lịng biết ơn con dâu
- Diễn biến câu chuyện đã lên tới đỉnh điểm. Cái sắc sảo, tinh tế trong nghệ thuật miêu tả
tâm lí nhân vật của Kim Lân được thể hiện khá đậm nét. Cả ba nhân vật đều có chung
một tâm trạng căng thẳng. Tràng và người "vợ nhặt" chờ đợi người mẹ già nua lên tiếng.
Bà cụ Tứ hiểu ra câu chuyện thì sự đau buồn của bà khiến cho bà lão "khẽ thở dài" vì bà
muốn giấu đi nỗi buồn khổ và sự lo lắng của chính mình. Bà lão tạm thời bứt ra khỏi tâm
trạng triền miên của cảm xúc suy tư để hướng về người vợ nhặt, để "đăm đăm nhìn người
đàn bà" khi thị "cúi mặt xuống, tay vân vê tà áo đã rách bợt". Bà lão khơng chỉ nhìn
người con dâu bằng thị giác mà còn hướng tới con dâu bằng cả tấm lịng. Vì thế bà lão
nghĩ: "Người ta có gặp bước khó khăn, đói khổ này, người ta mới lấy đến con mình. Mà
con mình mới có vợ được..."
-> Người mẹ nghèo khổ và nhân hậu, giàu lòng vị tha và rất mực nhạy cảm ấy đã thấu
hiểu cảnh ngộ người đàn bà xa lạ. Đặc biệt lại biết ơn thị đã đem đến hạnh phúc cho con


bà. KL cũng rất khéo léo khi chọn đối thoại nội tâm qua đó bộc lộ những suy nghĩ âm
thầm diễn ra trong nỗi lòng của bà cụ Tứ. Đặt suy nghĩ của bà trong hoàn cảnh xã hội lúc
bấy giờ cho thấy suy nghĩ của bà cụ rất đáng trân trọng
* Vui mừng trước hạnh phúc của con
- Bà lão "nhẹ nhàng" nói với "nàng dâu mới": "Ừ, thơi thì các con phải duyên phải kiếp
với nhau, u cũng mừng lịng...".
-> Chỉ 1 câu nói mà chất chứa biết bao tình người. KL đã rất tinh tế trong việc lựa chọn
từ ngữ để diễn tả tâm trạng nhân vật. Nếu bằng lòng chỉ là sự chấp nhận 1 cách bắt buộc
thì “mừng lịng” đứng sau sự bàng hồng là cả niềm vui, niềm phấn khởi, vất vả, hi sinh
cả đời vì con nên bà lão mừng lắm trước sự thực rằng con đã có vợ. Bởi vì từ đây nó sẽ
yên bề gia thất như biết bao người đàn ông khác. Một câu nói nhẹ nhàng của bà mà diễn
tả được của niềm phấn khởi của người mẹ trước hạnh phúc của con, xua đi biết bao lo
lắng trong Tràng và đặc biệt trả lại danh dự cho người đàn bà vợ nhặt. Qua đó mở ra 1
trang đời mới cho Thị cũng như gia đình bà cụ Tứ
- Khi đã nhận "nàng dâu mới" thì bà cụ Tứ tiếp tục tâm sự, từ tốn dặn dò các con mình:

"Nhà ta thì nghèo con ạ. Vợ chồng chúng mày liệu mà bảo nhau làm ăn. Rồi ra may mà
ông giời cho khá... Biết thế nào hở con, ai giàu ba họ, ai khó ba đời? Có ra thì rồi con cái
chúng mày về sau".
-> Bà cụ đã lấy triết lý dân gian để giao vào lòng các con niệm tin, hi vọng. Tận đáy lịng
người mẹ nghèo khổ khơng mong đợi gì hơn là các con hồ thuận, biết yêu thương gắn
bó chia sẻ, biết sống bằng lao động chân chính của mình.
*Lo lắng, băn khoan cho tương lai của các con
- Vốn là người từng trải lại đứng trước sự diệt vong của nạn đói, bà cụ “nghĩ đến ông lão,
nghĩ đến đứa con gái út. Bà lão nghĩ đến cuộc đời cực khổ dài dằng dặc của mình". Tất cả
đã hiện về như một cuốn phim dài bất tận, như một tấn bi kịch của cuộc đời bà.
- Từ những cảm xúc đó, tâm trạng lo lắng lại một lần nữa hiện về trong bà, bà lo cho các
con: "Vợ chồng chúng nó lấy nhau, cuộc đời chúng nó liệu có hơn bố mẹ trước kia
khơng?..".
-> KL miêu tả tâm lý của nhân vật hết sức tài tình- người già hay lau nước mắt. Giọt
nước mắt đắng chát của cuộc đời cơ cực, giọt nước mắt của những niềm vui, niềm hạnh
phúc ở người mẹ suốt đời vì hạnh phúc của con.
C. Sáng hơm sau
- Tâm trạng của bà cụ Tứ vào chiều hôm trước là sự đan xen cảm xúc lo lắng, vui mừng,
xót xa, buồn tủi, thế nhưng vào buổi sáng của ngày hôm sau, thì tâm trạng bà ln tràn


ngập một niềm vui. Niềm vui ấy được thể hiện trên khuôn mặt của người mẹ: "bà nhẹ
nhõm, tươi tỉnh khác ngày thường, cai mặt bủng beo u ám của bà rạng rỡ hẳn lên". Niềm
vui còn được thể hiện qua hành động của bà: "xăm xắn thu dọn, quét tước nhà cửa" với ý
nghĩ "thu xếp của nhà cho quang quẻ, nền nếp thì cuộc đời họ có thể khác đi, làm ăn có
cơ khấm khá hơn".
- trong bữa ăn đầu tiên của ba mẹ con, dẫu chỉ có "rau chuối thái rối, và một đĩa muối ăn
với cháo" nhưng bà "tồn nói chuyện vui, tồn chuyện sung sướng về sau này". Câu
chuyện người mẹ già kể cho các con vào bữa cơm đầu tiên sau ngày cưới, mặc dù đó vẫn
chỉ là chuyện làm ăn, chuyện gia cảnh nhưng trong câu chuyện của bà khơng cịn có q

khứ mà chỉ có tương lai. Câu chuyện của bà thật giản dị! Đó là chuyện mua gà, ni gà,
có đàn gà con mà người mẹ nói với Tràng: "Tràng ạ. Khi nào có tiền ta mua lấy đơi gà.
Tao tính rằng cái chỗ đầu bếp kia làm cái chuồng gà thì tiện quá. Này ngoảnh đi ngoảnh
lại chả mấy mà có ngay đàn gà con mà xem..."
-> Kì diệu thay khi niềm tin mãnh liệt vào tương lai lại được khơi lên và tồn tại ở người
mẹ đã gần đất xa trời. Người mẹ ấy đã sống vì con, kì vọng cho lớp cháu con, tìm tthaays
ý nghĩa của cuộc đời mình trong sự chăm lo, vun vén cho các con. Chính bà cụ Tứ đã
gieo vào lịng vợ chồng Tràng niềm tin, sự sống chẳng bao giờ chán nản
- Tuy vậy, trong bữa ăn càng lúc càng trở nên nghèo nàn khiến cho "câu chuyện trong
bữa ăn đang đà vui bỗng ngừng lại. Niêu cháo lõng bõng, mỗi người được có lưng lưng
hai bát đã hết nhẵn". Thế nhưng, bà lão lại "lật đật chạy xuống bếp, lễ mễ bưng ra một cái
nồi khói bốc lên nghi ngút" và bà lão khen "chè khoán đây, ngon đáo để cơ". Dường như
bà lão cố xua đi cái khơng khí ảm đạm, cố gắng quên đi tình cảnh khốn khổ bằng thái độ
tươi tỉnh. Bên trong cái vẻ tươi tỉnh ấy là tấm lòng người mẹ đang thổn thức lo âu. Bà lão
"đãi" nàng dâu mới món ăn đặc biệt gọi là "cháo khoán", nấu bằng cám, khen "ngon đáo
để" và so sánh "xóm ta khối nhà cịn chả có cám mà ăn đấy". Qua đó, bà động viên các
con, để các con bà có thêm sức mạnh tinh thần để vượt qua "tao đoạn" ngặt nghèo, khó
khăn này. Chi tiết này làm cho chúng ta cũng phải cảm động rơi lệ bởi tình thương, tấm
chân tình đáng quý của bà. Kết lại đoạn văn là giọt nước mắt của người mẹ nhưng bà lão
"ngoảnh vội ra ngồi. Bà lão khơng dám để con dâu nhìn thấy bà khóc".
=> Cái tài của Kim Lân là cứ nhẹ nhàng mà luồn lách ngịi bút động đến nơi sâu thẳm
của tâm hồn. Ơng đã diễn tả thật sâu sắc và tinh tế tâm lí của bà cụ Tứ, một người mẹ
nghèo khổ mà hiểu biết, yêu thương con hết lòng và yêu thương cả những mảnh đời oái
oăm, tội nghiệp bằng một tấm lòng nhân ái sâu xa. Bà đã cố gắng xua đi cái ám ảnh đen
tối đáng sợ của thực tại và nhen núm niềm tin, niềm vui cho các con. Trong cái thân hình
khẳng khiu, tàn tạ vì đói khát ấy vẫn nung nấu một ý chí sống mãnh liệt.
Trong văn học Việt Nam, ngồi tình phụ tử như của Lão Hạc trong tác phẩm cùng tên của
nhà văn Nam Cao thì tình mẫu tử trong đoạn trích "Trong lịng mẹ" của nhà văn Nguyên



Hồng thật đáng chân trọng. Người mẹ vì phải thốt khỏi cổ tục nghiệt ngã mà tha hương
cầu thực nhưng vẫn yêu thương, hi sinh vì con mình. Hay người đàn bà hàng chài không
tên trong tác phẩm "Chiếc thuyền ngoài xa" của Nguyễn Minh Châu là người mẹ phải
chịu sự hành hạ, đánh đập dã man của người chồng nhưng lại giàu tình thương, lịng bao
dung, vị tha, giàu đức hi sinh, ln sống vì con, hi sinh cho hạnh phúc của con. Và bà cụ
Tứ cũng là một người mẹ nhân hậu, giàu đức hi sinh, hết lòng yêu thương con.
D. Nghệ thuật, nội dung
- NT: Qua truyện ngắn "Vợ nhặt", nhà văn Kim Lân đã dựng lên hình ảnh chân thực và
cảm động về một người mẹ nghèo khổ hết lịng vì con. Ngịi bút tinh tế, sắc sảo của tác
giả đi sâu phân tích diễn biến tâm lí phức tạp của bà cụ Tứ và thể hiện qua từng lời nói,
ánh mắt, trong suy nghĩ, hành động và sự lo xa cho tương lai các con. Phải là người có
vốn sống phong phú, thấu hiểu và thông cảm, yêu mến và chân trọng những người nghèo
khổ thì Kim Lân mới có thể diễn tả một cách chân thực và tài tình đến vậy.
- ND: Bà cụ Tứ là nhân vật tuy chỉ xuất hiện ít trong tác phẩm nhưng lại để lại ấn tượng
sâu sắc trong lòng mỗi chúng ta. Qua từng diễn biến tâm trạng của bà, ta thấy được tấm
lòng của người mẹ già trong đói khát vẫn u thương con, ln truyền cho con một niềm
lạc quan sống, niềm tin yêu vào cuộc sống. Và ta cịn bắt gặp hình ảnh người phụ nữ thơn
q nghèo nhưng giàu lịng nhân ái sẵn sàng chia sẻ “nguồn sống” ít ỏi của mình với
người khác trong giai đoạn đói khổ nhất của cuộc đời.
4. Nhân vật người vợ nhặt
A. Nạn nhân thê thảm của nạn đói
- Dưới ngịi bút của KL, thị ko có tên tuổi, quê quán, quá khứ. Từ đấu đến cuối chỉ gọi là
cô, ả, thị, nàng dâu mới, người đàn bà. Đây là một dụng ý để làm nổi bật thân phận bèo
bọt, tội nghiệp, đáng thương qua đó găm vào lịng người đọc ấn tượng độc đáo. Và có lẽ
thân phận ấy khơng chỉ của riêng thị mà cịn của rất người những con người khác trong
nạn đói. Thị chỉ như một mảnh đời trôi dạt, vô danh và hèn mọn.
- Cái đói đã làm cơ thay đổi q nhiều về cả nhân hình và nhân tính. Về nhân hình, lần
trước gặp Tràng, thị còn hồn nhiên “liếc mắt, cười tít”, đon đả với anh nhưng đến lần thứ
hai thì chính Tràng cũng ngạc nhiên về sự thay đổi của thị “hôm nay thị rách quá, quần
áo tả tơi như tổ đỉa, thị gầy sọp hẳn đi, trên cái khuôn mặt lưỡi cày xám xịt chỉ còn thấy

hai con mắt”.
-> dù miêu tả ít ỏi nhưng cho ta cảm nhận chân thực về người vợ nhặt đầy thảm hại. Có
thể nói, nạn đói đã khiến thị trở nên nhếch nhác, tội nghiệp và đáng thương.
- Nạn đói đã huỷ hoại nhân cách của người vợ nhặt. Vì đói mà thị quên đi cả sự ý tứ của
một người phụ nữ mà trở nên suồng sã đến bất ngờ “sầm sập chạy đến”, “sưng sỉa”,


“cong cớn” mà trách mắng Tràng “Điêu! Người thế mà điêu”. Thị đã bng ra những lời
nói có phần trơ trẽn sống sượng gợi ý Tràng để được ăn. Khi Tràng đồng ý thì “hai con
mắt trũng xốy của thị tức thì sáng lên” và “ngồi sà xuống…cắm đầu ăn một chập bốn
bánh bánh đúc liền chẳng chuyện trị gì. Ăn xong thị cầm dọc đôi đũa quệt ngang miệng,
thở”.
-> Cái đói đã khiến cho thị quên đi việc phải giữ ý tứ, lòng tự trọng của người con gái,
quên cả những lễ nghĩa tối thiểu. Đã có lúc để tồn tại, thị đặt miếng ăn cao hơn cả nhân
cách của mình
-> Đói khát đã huỷ hoại nhân phẩm của thị 1 cách xót xa, người đàn bà tội nghiệp ấy đã
phải vứt bỏ sĩ diện, bấu víu vào 1 câu hò để kiếm miếng ăn rồi phải gạt phăng miếng trầu
lễ nghĩa để chọn 4 bát bánh đúc, mong lấp đầy được cái dạ dàu trống rỗng. Hơn nữa, cái
đói truy đuổi đã khiến cho thị phải vất bỏ cả lễ giáo và sự thận trọng để theo không một
người đàn ơng xa lạ mong tìm được chốn nương thân.
-> Ở người vợ nhặt, ta thấy thấm thía giá trị của con người đã bị hạ thấp 1 cách thê thảm.
Đây cũng chính là số phận điển hình cho những người nơng dân trong nạn đói bị cái ăn
dày vò, bất chấp cả phẩm giá. Bức chân dung của một người phụ nữ khơng được nhìn qua
con mắt của một người đang yêu – Tràng, không hề được đẽo gọt mà nó hiện lên một
cách thật trần trụi.
B. Những phẩm chất tốt đẹp
*Khát vọng sống mãnh liệt
- Thị bất chấp tất cả để được ăn cũng có nghĩa là cơ mong muốn được tồn tại, có ý thức
bám lấy sự sống
- Khi quyết định theo chàng, thực chất thị đang khao khát được sống, cận kề cái chết

người đàn bà ấy đã khơng bng xi, phó mặc mà vẫn cố vượt lên thực tại thảm hại để
xây dựng máy ấm gia đình
*Người phụ nữ nết na, đúng mực, nữ tính, biết lo toan
- Khi về nhà chồng, trước cái nhìn săm soi và lời lẽ chọc ghẹo của người dân xóm ngụ cư
thì thị có vẻ rón rén, e thẹn. Cô đi sau Tràng “chừng ba bốn bước”, “cắp cái thúng con,
đầu hơi cúi xuống, cái nón rách tàn nghiêng nghiêng che khuất đi nửa mặt” với một vẻ
“rón rén, e thẹn”.
-> Khơng cịn là người đàn bà sỗ sàng như ban nãy để được đòi ăn, mà giờ cái vẻ rón rén
ấy chính là biểu hiện của lịng tự trọng, ý thức về phẩm giá của mình. Thị ý thức được
rằng mình là người vợ theo khơng, khơng có chút tơn nghiêm nào và đây cũng là con
đường duy nhất. Tràng trở thành điểm tựa, cái phao duy nhất mà thị có thể bám víu vào
trong lúc này.


- Cơ rất lo lắng, ngập ngừng và có chút thất vọng khi về đến nhà Tràng. Nhìn xung quanh
nhà Tràng thì có thể đốn được gia cảnh của Tràng cũng không khá khẩm hơn thị là bao
nhiêu. Bởi “cái nhà vắng teo, đứng rúm ró trên mảnh vườn mọc lổn nhổn những búi có
dại”, vào trong nhà thì thấy “mấy chiếc quần áo rách như tổ đỉa, hai cái ang nước vẫn để
khô cong dưới gốc ổi, đống rác mùn tung bành ngay giữa lối đi”. Trước tình cảnh ấy, Thị
“đảo mắt nhìn xung quanh, cái ngực gầy lép nhơ lên, nén một tiếng thở dài”.
-> Thị đã kìm nén tiếng thở dài ngao ngán, thất vọng cũng có nghĩa là thị đồng cảm với
cảnh ngộ của Tràng, chấp nhận những khó khăn trước mắt và ý thức được trách nhiệm
của mình sẽ cùng gây dựng mái ấm hạnh phúc gia đình từ đây
- Dáng ngồi “mớm xuống mép giường”, có cái gì đó lo lắng, bất an, chơng chênh đến tội
nghiệp, hoang mang cho những ngày tháng tương lai sau này.
-> Thị dường như khơng cịn là 1 cơ gái cong cơn, chỏng lỏn ngồi kho thóc lác trước mà
là 1 người vợ nết na, ý tứ, biết khuôn phép, đặc biệt là rất nhạy cảm. Trước niềm khao
khát tổ ấm gia đình, thị đã trở về với bản chất tốt đẹp của mình
- Bên cạnh đó, Thị cịn rất bất an. Bởi cơ khơng biết liệu mẹ Tràng có chấp nhận một
người xa lạ như cơ về làm dâu, có chấp nhận cưu mang thêm một miệng ăn trong căn nhà

vốn đã khốn đốn nhiều này. Vì thế, khi mẹ Tràng về, thị đã là người chủ động cất lời
chào. Trước mặt mẹ chồng, thị càng rụt rè khép nép hơn, dù thị chủ động gọi bà là “u”
nhưng chỉ dám “đứng nguyên một chỗ không nhúc nhích”. Dáng vẻ “cúi mặt xuống, tay
vân vê tà áo đã rách bợt” ấy cũng khiến bà mẹ già xót xa, ái ngại. Chính cái dáng vẻ ấy
của thị, đã khiến bà cụ Tứ động lòng thương. Với con mắt của một người từng trải, bà cụ
hiểu tất cả mọi chuyện đang diễn ra. Bà nhìn thị khơng bằng ánh mắt dị xét như mẹ
chồng thơng thường, cũng khơng nhìn thị với ánh mắt khinh rẻ mà bà cảm thông hết mực
cho số phận của thị.
- Khi chính thức trở thành vợ của Tràng, thị đã có những thay đổi bất ngờ hay có lẽ đó
mới chính là con người thật của thị trước khi bị cái đói làm mờ mắt. Cô thức dậy sớm
cùng mẹ chồng quét dọn nhà cửa, thay đổi cách xưng hô với Tràng “sao nhà biết” và
“nom thị hôm nay khác lắm, rõ ràng là người đàn bà hiền hậu đúng mực, khơng cịn vẻ gì
chao chát, chỏng lỏn như mấy lần Tràng gặp ở ngồi tỉnh.” -> Hình ảnh của thị cũng là
hình ảnh của biết bao người phụ nữ VN biết chăm lo, vun vén cho gia đình, đảm đang,
tháo vát, hiền hậu
- Phân tích nhân vật Thị, ta thấy trong hồn cảnh này thì Thị đã bắt đầu biết vun xén cho
cái gia đình nhỏ của mình. Đặc biệt, thị tỏ ra rất bình thản trước bữa ăn ngày đói. Khi
nhận chén cám – “chè khoáng” từ tay mẹ chồng, ban đầu “hai con mắt thị tối lại” nhưng
rồi “điềm nhiên và vào miệng” Cử chỉ này không chỉ cho thấy thị là 1 người biết cư xử, ý
tứ mà cịn có tấm lịng trân trọng, nghĩa tình. Nó đã làm vơi dịu đi nỗi cay cực, chua xót,


tủi khổ của bà mẹ chồng nhân hậu. Đồng thời cũng cho thấy thị chấp nhận mọi khó khăn
sắp tới để cùng người thân xây dựng tổ ấm gia đình.
- Điều quan trọng hơn, thị còn đem đến tin tức về cách mạng. Thị là người đầu tiên kể
cho cả nhà nghe câu chuyện trên mạn Thái Nguyên, Bắc Giang người dân khơng chịu
đóng thuế nữa mà đi phá kho thóc của Nhật chia cho người đói. Câu chuyện ấy khiến
Tràng thấy ân hận và tiếc rẻ khi mình khơng tham gia vào đồn người đi phá kho thóc mà
Tràng từng gặp. Thị đã mang lại nguồn sáng là người báo tin cách mạng. Và điều ấy đã
dự cảm trước sự thay đổi trong tương lai.

-> Không phải ngẫu nhiên, trong ba nhân vật nhà văn Kim Lân lại chọn thị chứ khơng
phải hai nhân vật cịn lại nói về khởi nghĩa, đã phá kho thóc Nhật. Có lẽ bởi một người
dám đánh đổi tất cả, và kể cả trở thành vợ nhặt để được sống, thì khát vọng sống, hạnh
phúc ở họ là không thể đi hủy diệt. Dù khơng nói rõ về tương lai, nhưng ở một con người
đã ham sống, ở một tinh thần khỏe khoắn như người vợ nhặt, Kim Lân cũng cho thấy tinh
thần hăng hái, chắc chắn là Thị sẽ theo cách mạng.
C. Nội dung, nghệ thuật
- NT: Điểm nhấn nghệ thuật ở người vợ nhặt chính là nghệ thuật khắc họa nhân vật của
nhà văn Kim Lân. Tác giả đã đặt nhân vật trong tình huống “lạ”, “éo le”; diễn biến tâm lí
được khắc họa qua các sự kiện với sự quan sát tỉ mỉ, tinh tế qua hệ thống ngôn ngữ giản
dị, mộc mạc.
- ND: Qua hình tượng người vợ nhặt, nhà văn đã mạnh mẽ lên án tội ác dã man của thực
dân Pháp và phát xít Nhật đã gây ra nạn đói khủng khiếp; đồng thời bày tỏ thái độ đồng
cảm xót thương với số phận của người lao động nghèo khổ; thái độ trân trọng tấm lòng
nhân hậu, niềm khao khát hạnh phúc bình dị những người lao động nghèo; trong lao khổ
họ vẫn thương yêu đùm bọc, và cùng nhau vun đắp hạnh phúc để vượt qua những thử
thách khắc nghiệt.
III. Nội dung, nghệ thuật
1. ND
- Phản ánh tình cảnh thê thảm của người dân trong nạn đói năm 1945, đồng thời phát hiện
và khẳng định bản chất tốt đẹp và sức sống kì diệu của con nguời trên bờ vực của cái đói,
cái chết người ta vẫn yêu thương, đùn bọc lẫn nhau, vẫn hướng về sự sống và khát khao
hạnh phúc gia đình (giá trị nghệ thuật nhân đạo)
2. NT
- Xây dựng tình huống truyện độc đáo
- Miêu tả tâm lý nhân vật tài tình


- Cách kể chuyện tự nhiên, thoải mái, hấp dẫn
- Ngôn ngữ giản dị, gần gữi với lời ăn tiếng nói của người dân




×