Tải bản đầy đủ (.pdf) (137 trang)

Hỏi đáp lịch sử các học thuyết kinh tế

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (4.84 MB, 137 trang )

PGS.TS. BÙI NGỌC QUYNH
TS. ĐỖ VĂN NHIỆM (Đồng chủ biên)

LICH SU

CAC HOC THUYET
KINH TE
ĐJ

NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT


HỎI - ĐÁP

LICH SỬ

CAC HOC THUYET

KINH TE


Biên mục trên xuất bản phẩm
của Thư viện Quốc gia Việt Nam
Bùi Ngọc Quynh

Hỏi - Dap lịch sử các học thuyết kinh tế / Ch.b.: Bùi Ngọc
Quynh, Đỗ Văn Nhiệm. - H. : Chính trị Quốc gia, 2017. - 136tr. ;
2lcm

1. Học thuyết kinh tế 2. Lịch sử 3. Sách hỏi đáp
330.15 - dc23



CTTF0255p-CIP

¬
Mã số:

33.04
CTQG-2017


PGS.TS. BUI NGOC QUYNH

TS. DO VAN NHIEM (Đồng chủ biên)

HOI - DAP
-

CH SU

CAC HOC THUYET
KINH TE

NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SU THAT

Hà Nội - 2017


Đồng chủ biên
- PGS.TS. BÙI NGỌC QUYNH
- -TS. ĐỒ VĂN NHIỆM

Tham gia biên soạn

- TS. CHU VAN TUYEN
- TS. VU VAN LONG

- ThS. NGUYEN MANH HO


LOI NHA XUAT BAN
Lịch sử các học thuyết kinh tế là môn

khoa học độc lập,

cung cấp một cách hệ thống quá trình hình thành, phát triển,
mâu thuẫn và thay thế lẫn nhau của các quan điểm kinh tế từ cổ
đại tới hiện đại. Đây cũng là môn học tiển để, làm cơ sở để hiểu
được đẩy đủ và hoàn chỉnh mơn kinh tế chính trị học; đồng

thời cũng trang bị lý luận cơ bản để hiểu lý giải các hiện tượng
kinh tế, các đường lối, chính sách kinh tế hiện nay, phục vụ cho
nghiên cứu các khoa học kinh tế và hoạt động thực tiễn.

Để phục vụ cho nhu cầu giảng dạy, học tập, củng cố kiên thức
của môn học Lịch sử các học thuyết kinh tế, Nhà xuất bản Chính
trị quốc gia Sự thật xuất bản cuốn sách Hỏi - đáp Lịch sử các học
thuyết kinh tế của PGS.TS. Bùi Ngọc Quynh, TS. Đỗ Văn Nhiệm

(Đồng chủ biên) - Học viện Chính trị biên soạn.
Cuốn sách gồm 59 câu hỏi và trả lời để cập đến: một số lý
thuyết kinh tế của chủ nghĩa trọng thương, trường phái trọng

nông, kinh tế chính trị học tư sản cổ điển Anh với các nhà kinh

tế tiéu biéu

nhu:

Frangois

Smith, David

Ricardo,

Quesnay,

Sismondi,

William

Petty,

Adam

Robert Owen...; phan

tich sự

kế thừa và phát triển của Các Mác về các lý thuyết kinh tế của
kinh tế chính trị học tư sản cổ điển Anh và một số lý luận, quan



điểm cua V.I. Lênin về chủ nghĩa tư bản độc quyển, sự ra đời

của chủ nghĩa tư bản trong nông nghiệp, công nghiệp ở Nga,
ruộng đất, xây dựng chủ nghĩa xã hội, NEP,...; những nội dung
cơ bản trong lý thuyết của trường phái tân cổ điển, trường phái
thành Viene, trường phái Keynes và hậu Keynes, trường phái
chính hiện đại và lý thuyết của một số nhà kinh tế tiêu biểu `
nhu:

Alfred

Marshall,

J.M.

Keynes,

Leon

Walras,

Milton

Friedman, Paul A.Samuelson.

Day là tài liệu tham khảo hữu ích cho giảng viên va hoc
viên các trường cao đẳng, đại học, sau đại học và bạn đọc quan

tâm tới vấn để này. Mặc đù đã có nhiều cố gắng nhưng chắc
chắn cuốn sách vẫn khơng tránh khỏi những thiếu sót, Nhà

xuất bản và nhóm tác giả rất mong nhận được ý kiến đóng góp
của bạn đọc để hồn thiện nội dung cuốn sách trong lần xuất
bản sau.
Xin trần trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc.

Tháng 1 năm 2017

NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT


Câu hỏi 1: Nội dung cơ bản của chủ nghĩa trong
thương Tây Âu?
Trả lời:

Chủ nghĩa trọng thương ra đời và tổn tại từ giữa thế
kỷ XV đến giữa thế kỷ XVII và chiếm vị trí quan trọng
trong đời sống kinh tế ở các nước Tây Âu giai đoạn này.
Chủ nghĩa trọng thương là hình thái đầu tiên của hệ tư
tưởng kinh tế tư sản trong giai đoạn tích lũy nguyên thủy
tư bản chủ nghĩa nhằm chống lại tư tưởng kinh tế phong

kiến và bảo vệ lợi ích của giai cấp tư sản thương nghiệp.
Tư tưởng cơ bản của chủ nghĩa trọng thương được thể
hiện trên những nội dung cơ bản sau:
- Đánh giá cao vai trò của tiển tệ, coi tiển tệ (vàng,
bạc) là tiêu chuẩn

cơ bản của của cải, là tài sản thực sự

của một quốc gia. Theo chủ nghĩa trọng thương, một xã

hội giàu có là phải có được nhiều tiển; sự giàu có tích lũy
dưới hình thái tiển tệ là sự giàu có mn đời vĩnh viễn;

cịn hàng hóa chỉ là phương tiện để tăng thêm khối
lượng tiến tệ.

- Để tích lũy tiển tệ phải phát triển thương nghiệp,
trước hết là ngoại thương, chỉ có ngoại thương mới là
nguổn gốc đích thực của sự giàu có, là phương tiện để tạo
7


ra nhiéu tién. Cac hoat déng khac khéng lam tang thém cua
cải. Chủ nghĩa trọng thương Tây Âu quan niệm: Nội

thương là hệ thống ống dẫn, ngoại thương là máy bơm,
muốn tăng của cải phải có ngoại thương nhập dẫn của cải

qua nội thương.

- Lợi nhuận là do lĩnh vực lưu thông, mua - bán, trao

đổi không ngang giá, sinh ra. Không một người nào thu

được lợi nhuận mà không làm thiệt hại kẻ khác. Dân tộc

này làm giàu bằng cách hy sinh lợi ích của dân tộc khác.

Trao đổi phải có bên thua, bên được.


- Chủ nghĩa trọng thương cho rằng, việc tích lũy tiển

tệ chỉ thực hiện được nhờ sự giúp đỡ của nhà nước. Nhà

nước phải tích cực can thiệp vào đời sống kinh tế, trước

hết phải tích cực điểu tiết lưu thơng tiển tệ nhằm mục
đích thu hút tiển tệ càng nhiều càng tốt.

Câu hỏi 2: So sánh hai giai đoạn phát triển và đánh giá

thành tựu, hạn chế của chủ nghĩa trọng thương ở Anh?
Trả lời:

1. Chủ nghĩa trọng thương ở Anh trải qua hai giai
đoạn phát triển: giai đoạn đầu từ giữa thế kỷ XV đến giữa
thé ky XVI; giai đoạn sau từ nửa cuối thế kỷ XVI đến giữa
thế kỷ XVII. Nội dung lý luận của hai giai đoạn này có sự

giống 0à khác nhau:

Giống nhau:
Đều cơi tiển là nội dung căn bản của của cải, là tài sản

thực sự của quốc gia; coi hàng hóa là phương tiện làm

tăng thêm khối lượng tiến tệ.
8

`



Cả hai giai doan nay déu coi trọng thương mại, đặc

biệt là ngoại thương; đều có chung các quan điểm kinh
tế... như đã trình bày trong câu 1.
Khác nhau:

Giai đoạn đầu: Tư tưởng trung tâm của trọng thương
là “Bảng cân đổi tiển tệ”. “Cân đối tiền tệ“ chính là ngăn

chặn khơng cho tiển ra nước ngồi, khuyến khích mang
tiển từ nước ngoài về, cấm xuất khẩu tiển, vàng, bạc và
tăng cường tích trữ tiển. Họ cho rằng, ngoại thương sẽ
đem về nhiều tiển, với chính sách: tăng cường xuất khẩu,
hạn chế nhập khẩu hàng từ nước ngoài, thương nhân
nước ngoài sau bán hàng không được mang tiển về nước
mà chỉ được mang hàng về. Khẩu hiệu họ nêu ra là: tiêu

tiển ở nước ngồi ít, thu tiển từ nước ngồi về càng nhiễu
càng tốt.
Giai đoạn sau: Nội dung trọng tâm là "Bảng cân đối
thương mại”, đây là giai đoạn thật sự của chủ nghĩa trọng
thương. Họ coi trọng cân đối thương mại, khơng cấm đem

tiển ra nước ngồi, khơng buộc thương nhân nước ngồi

phải dùng hết số tiển có được do bn bán để mua hàng
hóa mang về nước họ, nhưng hoạt động thương mại phải


hướng tới sự cân đổi giữa xuất và nhập.
Giai đoạn này đòi hỏi phát triển nội thương không
hạn chế, mở rộng xuất khẩu, tán thành nhập khẩu hàng
hóa nước ngồi với quy mơ lớn; cho tự do lưu thông tiển
tệ, không cấm xuất khẩu vàng và bạc, lên án việc tích trữ

tiển; khuyến khích phát triển công nghiệp chế tạo, nhất là
9


những ngành xuất khẩu với khẩu hiệu: “bán nhiều, mua
1t, từ đó bản thân vàng tự nó sẽ chạy vào trong nước, mà
khơng can ap dung biện pháp hành chính nào cả.

2. Những thành tựu uà hạn chế của chủ nghĩa trọng

thương

- Thành tựu:

+ Là học thuyết kinh tế đầu tiên trong lịch sử, tiên bộ

hon han so với các tư tưởng kinh tế phong kiến và các
thuyết lý tôn giáo còn đang thịnh hành ở nhiều nước thời

bấy giờ. Chủ nghĩa trọng thương đã đoạn tuyệt với thời
Trung cổ trong việc nhận thức các nhiệm vụ của tư tưởng
kinh tế và các phương pháp để giải quyết tư tưởng đó, nó

đã từ bỏ việc tìm kiếm sự cơng bằng xã hội, những lời


giáo huấn luân lý.

+ Hệ thống các quan điểm kinh tế của họ tạo ra những

tién dé ly luận kinh tế quan trong cho kinh tế học sau này.
Lần đầu tiên đã nghiên cứu về mặt lý luận những vấn để
của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, những vấn

để của chủ nghĩa tư bản. Lẩn đầu tiên đưa ra quan điểm

về sự giàu có là giá trị, là tiển.
+ Học thuyết trọng thương đã
đích hoạt động của nền kinh tế hàng
cho rằng, nhiệm vụ kinh tế của mỗi
đạt được mục đích đó họ cho rằng
động thương nghiệp.
+ Chủ nghĩa trọng thương cũng

nêu quan điểm: mục
hoá là lợi nhuận. Họ
nước là làm giàu. Để
phải thông qua hoạt
đã thấy được vai trò

của nhà nước trong phát triển kinh tế. Họ
10

cho rằng, các



chính sách bảo hộ của nhà nước có tác dụng rút ngắn sự
quá độ từ phương thức sản xuất phong kiến lên phương
thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Tư tưởng nhà nước can

thiệp vào kinh tế về sau này được kinh tế học hiện đại kế
thừa và phát triển.
- Hạn chế

+ Chủ nghĩa trọng thương cịn mang tính phiến diện,
mới chỉ nghiên cứu quan hệ kinh tế trong lĩnh vực lưu
thơng, tuyệt đối hố vai trị của lưu thơng mà không quan
tâm đến sản xuất, phân phối và tiêu dùng.
+ Những luận điểm của chủ nghĩa trọng thương mới
đừng ở sự phân tích những hiện tượng bể ngồi của q
trình lưu thơng và mới đưa ra những lời khun về chính
sách kinh tế, rất ít tính lý luận. Họ chưa thốt khỏi giới

hạn của lĩnh vực lưu thơng, chưa thấy được sự phát triển

của chủ nghĩa tư bản trong công nghiệp.
+ Họ chưa biết đến các quy luật kinh tê. Theo họ,
người này được thì người kia mãt, dân tộc này làm giàu
thì đân tộc khác phải hy sinh. Trọng thương còn qua coi
trọng tiển tệ (vàng, bạc), chưa hiểu hết nguồn gốc, bản

chất, chức năng của tiển tệ và quy luật lưu thông tiển tệ.

Câu hỏi 3: Lý thuyết sản phẩm thuần tuý của trường
phái trọng nông?

Trả lời:
Lý thuyết sản phẩm thuần tuý là lý luận trọng tâm
của trường phái trọng nông. Những người theo trường
11


phái trọng nông cho rằng, sản phẩm thuần tuý là số chênh
lệch giữa tổng sản phẩm và chỉ phí sản xuất, là số đơi ra
ngồi chỉ phí sản xuất được tạo ra trong nông nghiệp.
Những người theo trường phái trọng nông cho rằng:
Sản phẩm thuần túy chỉ được tạo ra trong nơng nghiệp, vì
theo họ, có hai ngun tắc hình thành giá trị hang hoa’
tương ứng với hai lĩnh vực công nghiệp và nông nghiệp.
Trong lĩnh 0ực công nghiệp, giá trị hàng hố bằng tổng chỉ
phí sản xuất, gổm chỉ phí về tiển cơng, ngun, vật liệu,
tién lương của nhà tư bản cơng nghiệp và chi phí bổ sung
của tư bản thương nghiệp. Trong lĩnh uực nông nrshiệp, giá
trị hàng hố ngồi các khoản chi phí nói trên cịn có sản
phẩm thuần tuý.
Theo lý luận của trường phái trọng nông, trong công
nghiệp, chỉ đơn thuần kết hợp những chất cũ để tạo ra
sản phẩm mới, nên không tạo ra sản phẩm thuẩn túy.
Cịn trong nơng nghiệp, do có sự tác động của tự nhiên

nên có sự tăng thêm về chất, tạo ra chất mới, tạo ra sản
phẩm thuần túy. Ví dụ: gieo một hạt lúa xuống đồng, nó

sẽ lên cây, trưởng thành, rồi trổ bông và cho hàng chục
hạt mới. Như vậy, chỉ có nơng nghiệp mới tạo ra sản
phẩm thuần túy.


Từ nguyên tắc hình thành giá trị trên đây, trường phái

trọng nông đưa
động không sinh
sản phẩm thuần
không tạo ra sản
12

ra quan niệm lao động sản xuất và lao
lời. Lao động sản xuất là lao động tạo ra
tuý; lao động khơng sinh lời là lao động
phẩm thuần t. Từ đó họ cho rằng, chỉ


có lao động nơng nghiệp mới là lao động sản xuất, cịn lao
động cơng nghiệp khơng phải là lao động sản xuất.
Từ lý luận trên, trường phái trọng nông để nghị phải
tập trung nguồn lực cho phát triển nông nghiệp, nhà
nước phải khuyến khích những người giàu có đồn vốn
về nông thôn, của cải về nông thôn càng nhiều, quốc gia
càng giàu có.

Câu hỏi 4: Biểu kinh tế của Erancois Quesnay?
Trả lời:
F. Quesnay đưa ra các giả định sau: chỉ nghiên cứu tái
sản xuất giản đơn, lấy tư bản hàng hố làm điểm xuất
phát; khơng tính đến biến động về giá cả (giá cả bằng giá
trụ, khơng tính đến ngoại thương.


Tái sản xuất là quá trình thực hiện tổng sản phẩm xã
hội cả về hiện vật và giá trị. Tiển trở về điểm xuât phát

ban đầu khi hết một chu kỳ tái sản xuất. Trao đổi tổng sản
phẩm xã hội là sự trao đổi giữa ba giai cấp: giai cấp sở
hữu, giai cấp sản xuất, giai cấp không sản xuất.
Giả sử, giá trị tổng sản phẩm xã hội gổm 7 tỷ sản
phẩm, trong đó gồm 5 tỷ sản phẩm nơng nghiệp, 2 tỷ sản
phẩm của giai cấp không sản xuất:
Trong 5 tỷ sản phẩm nơng nghiệp có: 1 tỷ bù đắp tư

bản ứng trước đầu tiên; 2 tỷ để bù đắp khoản ứng ra hàng

năm (tư bản lưu động); 2 tỷ sản phẩm thuần tuý nộp cho
giai cấp sở hữu.
13


Trong 2 tỷ sản phẩm cơng nghiệp có: 1 tỷ để bù đắp

hao phí nguyên, vật liệu; 1 tỷ để bù đắp tư liệu tiêu dùng.

Để lưu thông 7 tỷ sản phẩm trên, giai cấp sản xuất có 2

tỷ tiền mặt với tư cách là tiển tô để trả cho giai cấp sở hữu.
Quá trình tái sản xuất diễn ra như sau:

F. Quesnay phân tích q trình vận động của tổng sản
phẩm xã hội trong tái sản xuất giản đơn được thể hiện
thông qua trao đổi sản phẩm giữa các giai cấp thông qua 5

hành vi sau:
Hanh vi 1: Giai cap sở hữu dùng 1 tỷ tiền tô để mua
nông phẩm của giai cấp sản xuất để làm tư liệu tiêu dùng.
Như vậy, 1 tỷ sản phẩm nông nghiệp ra khỏi lưu thông đi
vào tiêu dùng của giai cấp sở hữu.
Hành ơi 2: Giai cấp sở hữu dùng 1 tỷ tiển tơ cịn lại để
mua 1 tỷ hàng cơng nghiệp của giai cấp không sản xuất.
Như vậy, 1 tỷ trong 2 tỷ sản phẩm công nghiệp đi vào tiêu
dùng của giai cấp sở hữu.
Hanh vi 3: Sau khi nhận được 1 tỷ của giai cấp sở hữu,
giai cấp không sản xuất đem tiển đó mua nơng phẩm của
giai cấp sản xuất làm lương thực. Như vậy, giai cấp sản
xuất đã thực hiện được 2/5 sản phẩm của mình.

Hành 0i 4: Giai cấp sản xuất dùng 1 tỷ tiển vừa thu
được để mua hàng của giai cấp không sản xuất làm tư liệu
sản xuất. Như vậy, giai cấp không sản xuất đã thực hiện

xong sản phẩm.

Hành ơi 5: Giai cấp không sản xuất đem 1 tỷ tiển mặt

vừa nhận được mua hàng nông nghiệp của giai cấp sản
14


xuất làm nguyên liệu. Như vậy, giai cấp sản xuất đã bán 3
tỷ sản phẩm, còn lại 2 tỷ sản phẩm để bù đắp chi phí hàng
năm và số tiển mặt là 2 tỷ.


Kết quả là giai cấp sản xuất đã bán được 3 tỷ nơng
phẩm, 2 tỷ cịn lại dùng để bù đắp chi phí hàng năm (tư
bản lưu động) và thu về được 2 tỷ tiển mặt để trả cho giai
cấp sở hữu với tư cách tiển tô. Và như vậy, quá trình tải
sản xuất của năm sau đã đẩy đủ các yếu tố để lại diễn ra
một cách trôi chảy.
Nhận xét rút ra từ nghiên cứu biểu kinh tế:
- Thành tựu: đã đưa ra những giả định khoa học; đã
phân tích sự vận động của tổng sản phẩm xã hội cả về hai
mặt: giá trị và hiện vật, sự vận động của sản phẩm kết

hợp với sự vận động của tiển; tuân thủ theo một quy luật
đúng: tiển bỏ vào lưu thông rổi quay trở lại điểm xuất
phát của nó.
- Hạn chế: chưa thấy được cơ sở tái sản xuất mở rộng
trong nông nghiệp; đặc biệt chưa thấy được cả tái sản xuất
giản đơn trong công nghiệp; đánh giá sai vai trị của cơng
nghiệp; đánh giá sai vai trò của giai cấp sở hữu, cho các
chủ ruộng đất là trung tâm của các quá trình thực hiện
sản phẩm xã hội.

Câu hỏi 5: Lý thuyết thương mại quốc tế của trường
phái kinh tế chính trị tư sản cổ điển Anh?
Trả lời:

1. Lý thuyết lợi thế tuyệt đối của A. Smith
15


Theo A. Smith, sức mạnh


làm cho nến kinh tế tăng

trưởng là do sự tự do trao đổi giữa các quốc gia, do đó

mỗi quốc gia cần chun mơn hóa vào những ngành sản
xuất có lợi thế tuyệt đối. Một hàng hố được coi là có lợi

thế tuyệt đối khi chi phí sản xuất tính theo giờ cơng lao
động quy chuẩn để sản xuất ra một đơn vị hàng hố đó
phải thấp hơn nước khác. A. Smith cho rằng, các quốc gia
sẽ có lợi khi tiên hành chun mơn hóa sản xuất và trao
đổi sản phẩm cho nhau. Khi tiến hành phân cơng lao
động giữa các quốc gia thì các quốc gia phải dựa trên
lợi thể tuyệt đối của mình. Nghĩa là, một quốc gia sẽ
tiến hành tập trung sản xuất và xuất khẩu những mặt
hàng mà khi sản xuất chúng có hao phí cá biệt của quốc
gia mình thấp hơn hao phí trung bình thế giới và sẽ
nhập khẩu những mặt hàng mà khi sản xuất chúng có
hao phí cá biệt của quốc gia mình cao hơn hao phí trung
bình thế giới. Như vậy điểu then chốt trong lập luận vé
lợi thế tuyệt đối là sự so sánh chỉ phí sản xuất của từng

mặt hàng giữa các quốc gia. Theo A. Smith, lợi thế tuyệt
đối được quyết định bởi các điều kiện tự nhiên về địa lý,

khí hậu và kỹ năng tay nghề chỉ nước đó mới có.
Lý luận này có nhược điểm là nêu quốc gia nào

khơng có lợi thế tuyệt đối thì khơng thể tham gia vào


q trình trao đổi trên thế giới.
2. Lý thuyết lợi thế so sánh của D. Ricardo
D. Ricardo là người kế thừa và phát triển lý luận của
A. Smith, trong đó có lý thuyết về lợi thế so sánh:


D. Ricardo cho rang, nếu một quốc gia có hiệu quả

thấp hơn so với các quốc gia khác trong việc sản xuất tất
cà các loại sản phẩm, thì quốc gia đó vân có thể tham gia
vào thương mại quốc tế để tạo ra lợi ích.
Khi tham gia vào thương mại quốc tế, nhờ chun
mơn hố sản xuất mà xuất khẩu được các loại hàng hoá

mà việc sản xuất chúng it bất lợi nhất (đó là những hàng
hố có lợi thể tương đối), nhập khẩu các loại hàng hoá mà

việc sản xuất chúng bất lợi lớn nhất (đó là hàng hố
khơng có lợi thế tương đối).
Để chứng minh cho luận điểm của mình, D. Ricardo
lấy ví dụ về sự trao đổi khăn mặt và rượu vang giữa hai
nước Anh và Bổ Đào Nha. Theo D. Ricardo cả hai nước có

thể tìm lợi thế so sánh qua sự phân công lao động, chun
mơn hóa sản xuất ngay cả khi hiệu quả kinh tếở hai mặt
hàng của họ đểu thấp hơn trước.
Trước khi có sự phân cơng lao động lẫn nhau, tình
hình sản xuất hai mặt hàng khăn mặt và rượu vang của


Anh và Bổ Đào Nha như sau:
Anh sản xuất 200 đơn vị khăn mặt với hao phí thời
gian lao động là 200 đơn vị và 200 đơn vị rượu vang với

hao phí thời gian lao động là 240 đơn vị. Bổ Đào Nha sản
xuất 200 đơn vị khăn mặt với hao phí thời gian lao động
là 180 đơn vị và 200 đơn vị rượu vang với hao phí thời
gian lao động là 160 đơn vị. Hao phí thời gian lao động
trung bình của thế giới khi sản xuất 200 đơn vị khăn mặt
và 200 đơn vị rượu vang là 190. Như vậy, Bổ Đào Nha là
17


nước có lợi thế tuyệt đơi khi sản xuất cả hai mặt hàng này
về phương diện hao phí thời gian lao động xã hội cần

thiết (khăn mặt: 180/190; rượu vang: 160/190). Trong khi
đó, nước Anh bị bất lợi thế (khăn mặt: 200/190; rượu vang:

240/190).

Về lợi thế so sánh, khi lựa chọn mặt hàng để chun
mơn hóa sản xuất thì Bổ Đào Nha có lợi thế hơn khi sản
xuất rượu vang (160/190 < 180/190), cịn đối với Anh thì có
lợi thế hơn khi sản xuất khăn mặt (200/190 < 240/190).

Như vậy, nếu Bổ Đào Nha tập trung sản xuất rượu vang,
còn Anh tập trung sản xuất khăn mặt và trao đổi cho
nhau thì cả hai sẽ tiết kiệm được hao phí thời gian lao
động của mình.

Sau khi có phân cơng lao động giữa hai nước, tình
hình sản xuất hai mặt hàng

như sau:

khăn

mặt và rượu

vang

Anh sẽ tập trung sản xuất 400 đơn vị khăn mặt với

tổng chỉ phí lao động là 400 đơn vị thời gian. Bổ Đào Nha
sẽ sản xuất 400 đơn vị rượu vang với tổng hao phí là 320
đơn vị thời gian. Như vậy, Anh sẽ được lợi thế so sánh
khi tiết kiệm được 40 đơn vị thời gian hao phí lao động,
Bồ Đào Nha thì có lợi thế so sánh khi tiết kiệm được 20

đơn vị thời gian lao động, do cả hai nước tiến hành phân

công lao động và chun mơn hóa sản xuất, tập trung vào

những mặt hàng nào nước mình có lợi thế khi so sánh với
mức hao phí thời gian lao động trưng, bình ở trình độ
quốc tế theo từng loại hàng hóa.
18


Lý thuyết lợi thế so sánh của D. Ricardo đã mở ra một

hướng mới trong thương mại quốc tế; cho phép các quốc
gia dù khơng có lợi thế tuyệt đơi, cũng có thể tham gia
vào thương mại thế giới nếu biết lựa chọn mặt hàng mà
mình có lợi thế so sánh.

,

Câu hỏi 6: Những nội dung co ban về lý thuyết giá
trị - lao động của kinh tế chính trị tư sản cổ điển Anh?
Trả lời:
Kinh tế chính trị tư sản cổ điển Anh ra đời vào cuối thế
kỷ XVI, tổn tại và phát triển cho đên giữa thế kỷ XIX với
các tác giả chủ yếu như: W. Petty,

A. Smith, D. Ricardo.

Lần đầu tiên các nhà kinh tế này xây đựng hệ thống phạm
trù, quy luật của kinh tế thị trường; trong đó có học
thuyết giá trị - lao động gồm các nội dung:
Một là, đã phân biệt hai thuộc tính của hàng hố là giá

trị trao đối và giá trị sử dụng. A. Smith là người đầu tiên

phát hiện ra hai thuộc tính này và khẳng định giá trị sử
dụng không

quyết định giá trị trao đổi. Tuy nhiên,

A. Smith chưa thấy được môi quan hệ giữa giá trị sử dụng
với giá trị trao đổi. Từ đó, A. Smith cho rằng, ích lợi của


vật khơng quan hệ gì đến giá trị trao đổi. D. Ricardo đã
khắc phục hạn chế này và khẳng định, giá trị sử dụng rất

cần thiết cho giá trị trao đổi, nhưng không phải là thước

đo của giá trị trao đổi.
Hai là, đã chủ ra nguồn gốc của giá trị hàng hoá là lao
động. Phát hiện này được bắt nguồn từ quan niệm về giá
19


cả tự nhiên của W. Petty. Theo W.Retty, giá cả tự nhiên do

hao phí lao động quyết định.
Dén A. Smith, quan niệm về giá trị được xác định rõ

ràng hơn. A. Smith khẳng định, giá trị trao đổi của hàng
hoá

do lao động

tạo ra; lao động là thước đo duy nhất,

cuối cùng của giá trị trao đổi.
D. Ricardo đứng vững trên quan điểm này của A. Smith
và nhãn mạnh, giá trị là do lao động hao phí để sản xuất

hàng hố quyết định, lao động là thước đo thực tế của
moi gia tri. D. Ricardo da gat bỏ sai lầm của A. Smith về


quan niệm giá trị và cho rằng, giá trị do lao động quyết
định không chỉ đúng trong kinh tế hàng hóa giản đơn, mà
cịn đứng cả trong kinh tế hàng hóa phát triển.
Ba là, đã quan tâm nghiên cứu lượng giá trị và các

nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị hàng hoá.

A. Smith khẳng định, lượng giá trị hàng hố do lao
động hao phí trung bình cần thiết quyết định; lao động
giản đơn và lao động phức tạp có ảnh hưởng khác nhau
đến lượng giá trị hàng hóa. Trong cùng một thời gian, lao
động phức tạp tạo ra lượng giá trị nhiều hơn so với lao
động giản đơn.

D. Ricardo phát triển quan điểm này và cho rằng

lượng giá trị hàng hố khơng chỉ do lao động trực tiếp
(lao động sống) mà cịn do lao động trước đó tạo ra như
(máy móc, nhà xưởng, cơng trình sản xuất,...). Năng suất
lào động có ảnh hưởng đến lượng giá trị hàng hóa. Khi
năng suất lao động trong một phân xưởng tăng lên thì
20


khối lượng sản phẩm làm ra tăng lên, nhưng giá trị của
mỗi đơn vị hàng hóa giảm xuống.
Bốn là, về hình thức của giá trị hàng hố.
W. Petty xác định giá cả tự nhiên của hàng hoá bằng
cách so sánh lượng lao động hao phí để sản xuất ra hàng

hố với lượng lao động để tạo ra bạc hay vàng, tức là cịn

lẫn lộn giữa giá trị hàng hóa với giá cả của nó.
A. Smith da phan biệt giá cả với giá trị. Theo A. Smith
giá trị trao đổi của một hàng hoá thể hiện trong tương
quan trao đối giữa lượng của hàng hóa này với lượng của
hàng hóa khác, trong nến kinh tế hàng hóa phát triển thì
nó được biểu hiện ở tiển. A. Smith phân biệt được giá cả
tự nhiên với giá cả thực tế.

D. Ricardo phân biệt giá cả tự nhiên với giá cả thị
trường. D. Ricardo cho rằng giá cả thị trường xoay quanh
giá cả tự nhiên; giá cả không phải do cung - cầu quyết
định, cung - cầu chỉ ảnh hưởng đến giá cả. D. Ricardo còn
phân biệt được giá trị với giá trị trao đổi khi gọi giá trị

trao đổi là giá trị tương đối.

Câu hỏi 7: Những thành tựu và hạn chế trong lý luận
giá trị - lao động của William Petty?

Trả lời:
W. Petty là nhà kinh tế học người Anh. W. Petty đã có

những đánh giá, nhận xét đúng đắn về vai trò của lao
động trong việc tạo ra giá trị, tức là nguồn gốc thực sự của

21



của cải. Có thể khẳng định ơng là người đầu tiên đưa ra
nguyên lý về giá trị - lao động. Lý luận giá trị - lao động
của W. Petty có những thành tựu và hạn chế sau:
- Thành tựu:

+ Ông là người đầu tiên đưa ra nguyên lý về giá trị lao động. W. Petty đã đặt vấn để giá trị và cho rằng,
những tỷ lệ trao đổi là do chỉ phí lao động để sản xuất ra
hàng hóa quyết định, chúng phụ thuộc vào năng suất lao
động. Như vậy, ông có những đánh giá, nhận xét đúng
đắn về vai trò của lao động trong việc tạo ra giả trị, tức là
nguồn gốc thực sự của của cải.
+ Khi nghiên cứu về giá trị ông đã đưa ra ba phạm
trù về giá cả hàng hoá trong tác phẩm Bàn vé th khóa
0à lệ phí; đó là: giá cả tự nhiên, giá cả nhân tạo, giá cả
chính trị.

Giá cả tự nhiên là do lao động của người sản xuất tạo

ra, đó chính là giá trị của hàng hố theo cách hiểu sau này
của C. Mắc. Giá cả nhân tạo là giá trị thị trường của hang
hố, nó thay đổi phụ thuộc vào giá cả tự nhiên và quan hệ

cung - cầu hàng hố trên thị trường. Giá cả chính trị là
một loại đặc biệt của giá cả tự nhiên. Nó cũng là chi phí
lao động để sản xuất ra hàng hố, nhưng trong điểu kiện
chính trị khơng thuận lợi như: chiến tranh hay sự mất ổn
định về chính trị, kinh tế, xã hội tác động xấu đến quá

' trình sản xuất.
+ Ông có ý định giải quyết mối quan hệ giữa lao động

22


giản đơn, lao động phức tạp và chỉ ra ảnh hưởng của
năng suất lao động tới giá trị hàng hóa. Theo ông, sự khác
nhau của các loại lao động ở đây khơng có quan hệ gì, chỉ

tuỳ thuộc vào thời gian lao động. Lượng giá cả tự nhiên,
hay lượng giá trị hàng hóa tỷ lệ nghịch với năng suất lao
động khai thác vàng và bạc.
+ Đề xuất cách xác định giá cả ruộng đất. Theo W. Petty,
giá cả ruộng đất phải được quy định một cách đặc biệt, vì
người ta khơng sản xuất được đất đai và những chỉ phí lao

động không thể quyết định giá cả ruộng đất. W. Petty gắn

giá cả ruộng đất với mức sinh lợi của ruộng đất đó, nó
ngang với một lượng địa tơ hàng năm.
- Hạn chế

+ Lý luận giá trị lao động của W. Petty còn chịu ảnh
hưởng nhiều của chủ nghĩa trọng thương. W. Petty chỉ
thừa nhận lao động khai thác bạc là nguổn gốc giá trị, cịn
giá trị của hàng hóa khác chỉ được xác định nhờ quá trình

trao đổi với bạc. W. Petty cịn cho rằng, lao động thương
nghiệp có năng suất cao hơn nông nghiệp và thương

nghiệp là kinh tế có lợi nhất.
+ W. Petty chua phân biệt được các phạm trù giá trị,

giá trị trao đổi với giá cả. W. Petty đã lẫn lộn lao động với

tư cách là nguồn gốc của giá trị với lao động là nguồn gốc

của giá trị sử dụng, tức là lẫn lộn giữa lao động cụ thể với

lao động trừu tượng. Từ đó W. Petty có ý định đo giá trị
bằng hai đơn vị: lao động và đất đai.
23


Câu hỏi 8: Tính khoa học và tầm thường trong luận
điểm

“Đất đai là mẹ, lao động là cha của của cải” của

W. Petty?
Trả lời:

Học thuyết của W. Petty thể hiện tư tưởng của chử
nghĩa trọng thương và thế giới quan của kinh tế chính trị

tư sản cổ điển. Trong nghiên cứu về giá trị hàng hóa,
W. Petty nêu ra luận điểm

“Đất đai là rmẹ, lao động là cha

của cua cai”.
Tinh khoa hoc:


Xét về nguổn gốc tạo ra của cải, luận điểm này cho
thấy có hai nhân tố tạo ra của cải, đó là đất đai và lao

động; trong đó, đất đai có vai trị trực tiếp sinh ra của cải,

cịn lao động chỉ là điểu kiện không thể thiếu được để sản

xuất ra của cải.

Luận điểm đó là đúng nếu hiểu của cải
phẩm vật chất, là những giá trị sử dụng. Vì
xuất ra của cải vật chất là quá trình kết hợp
với lao động, quá trình con người tác động

là những sản
quá trình sản
giữa tự nhiên
vào tự nhiên,

cải biên các vật tự nhiên thành các sản phẩm

vật chất

phục vụ cho nhu cầu của con người. Thiếu một trong hai
nhân tố này, khơng thể sản xuất ra của cải.
Tính tâm thường:
Đứng trên phương diện xem xét về nguồn gốc của giá
trị thì luận điểm này là sai vì giá trị hàng hóa là lao động
của người sản xuất hàng hóa kết tỉnh trong hàng hóa, nó
24



×