Tải bản đầy đủ (.doc) (43 trang)

TÀI LIỆU THAM KHẢO hỏi đáp LỊCH sử TRIẾT học

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (198.13 KB, 43 trang )

HỎI ĐÁP LỊCH SỬ TRIẾT HỌC
Câu 1: Đối tượng nghiên cứu của lịch sử triết học là gì ? ý nghĩa của việc nghiên cứu
lịch sử triết học ?
Trả lời:

Đối tượng nghiên cứu của lịch sử triết học
Lịch sử triết học nghiên cứu quá trình hình thành, phát sinh và phát triển của
các học thuyết, tư tưởng triết học qua mỗi bước phát triển xã hội thông qua cuộc
đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm, giữa phương pháp biện
chứng và phương pháp siêu hình.
Đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm là lôgíc nội tại
xuyên suốt lịch sử triết học từ cổ đại đến đương đại. Nhưng đây là đấu tranh thống
nhất của các mặt đối lập trong sự phát triển của lịch sử tư tưởng triết học. Do vậy
nghiên cứu lịch sử phát triển của triết học không chỉ giản đơn là đem đối lập một
học thuyết này với học thuyết khác, giữa Phương Đông và Phương Tây mà cần
thấy phương diện giao nhau, tiếp cận lẫn nhau và trong những điều kiện nhất định
có thể chuyển hoá cho nhau.
Khoa học lịch sử triết học cũng nghiên cứu lịch sử phát sinh, hình thành và
phát triển của hai phương pháp nhận thức đối lập nhau là phương pháp biện chứng
và phương pháp siêu hình, nó gắn liền hữu cơ với cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa
duy vật và chủ nghĩa duy tâm.
Nhiệm vụ của khoa học lịch sử triết học là nêu ra những qui luật phát triển của
tư tưởng triết học và lôgíc nội tại của quá trình phát sinh, phát triển các hệ thống triết
học thông qua sự khái quát từ các sự kiện trong triết học và từ nội dung những hệ
thống triết học trong quá trình diễn biến của chúng. Khoa học lịch sử triết học vạch
ra bản chất của các học thuyết triết học trong sợi dây liên hệ giữa quá khứ và hiện tại
chỉ ra những giá trị lịch sử và hạn chế của mỗi học thuyết, xác định nguồn gốc xã
hội và nguồn gốc nhận thức của chúng.
Lịch sử triết học về bản chất là lịch sử phát sinh, phát triển của thế giới quan
duy vật khoa học trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm. Do đó lịch sử triết
học phải làm sáng tỏ vai trò chân chính của chủ nghĩa duy vật trong lịch sử. Nó




chống lại mọi quan điểm biện hộ cho những tư tưởng triết học phản tiến bộ trong
quá khứ và hiện tại
Ý nghĩa của việc nghiên cứu lịch sử triết học.
Nghiên cứu lịch sử triết học giúp cho con người hiểu biết và khái quát tư
tưởng triết học của nhân loại nắm được những kinh nghiệm của sự nhận thức khoa
học sự hình thành và phát triển của những phương pháp nhận thức khoa học, góp
phần xây dựng phương pháp tư duy đúng đắn. Do đó giúp người học thâu tóm trí
tuệ của mỗi thời đại lịch sử được kết tinh trong lịch sử triết học nhằm làm giầu trí
tuệ cho mỗi người.
Nghiên cứu lịch sử triết học giúp chúng ta nhận rõ tính chất đúng đắn tiến bộ
của thế giới quan duy vật khoa học và tính chất hạn chế sai lầm của thế giới quan
duy tâm.
Nghiên cứu lịch sử triết học giúp ta thấy rõ sự xuất hiện triết học Mác-xít là
tất yếu lịch sử phù hợp với lôgíc khách quan của sự phát triển nhân loại và sự mở
rộng, sự phát triển của triết học Mác-xít trong điều kiện mới của thời đại ngày nay
cũng là một tất yếu lịch sử.

Câu 2: Vấn đề cơ bản của triết học ?
Trả lời:
Theo Ăng ghen, vấn đề cơ bản lớn của mọi triết học, đặc biệt là của triết học
hiện đại, là vấn đề quan hệ giữa tư duy và tồn tại. Như thế, mối quan hệ giữa tư
duy với tồn tại hay là giữa ý thức với vật chất trở thành vấn đề cơ bản của mọi
trường phái triết học. Việc giải quyết vấn đề cơ bản của triết học sẽ định hướng
giải quyết một hệ thống các vấn đề khác của triết học.
Vấn đề cơ bản của triết học gồm hai mặt:
Mặt thứ nhất trả lời cho câu hỏi: Giữa vật chất và ý thức cái nào có trước, cái
nào có sau, cái nào quyết định cái nào ? Nói cách khác, giữa vật chất và ý thức cái
nào là tính thứ nhất, cái nào là tính thứ hai. Có hai cách trả lời khác nhau dẫn đến

hình thành hai khuynh hướng triết học đối lập nhau:
Những quan điểm cho rằng, vật chất là tính thứ nhất, ý thức là tính thứ hai
gọi là triết học duy vật, học thuyết của họ hợp thành chủ nghĩa duy vật. Trong lịch
2


sử tư tưởng triết học có ba hình thức cơ bản của chủ nghĩa duy vật: Chủ nghĩa duy
vật thô sơ, mộc mạc thời cổ đại; Chủ nghĩa duy vật siêu hình thế kỷ XVII – XVIII;
Chủ nghĩa duy vật biện chứng.
Những quan điểm cho rằng, ý thức là tính thứ nhất, vật chất là tính thứ hai
gọi là triết học duy tâm học thuyết của họ hợp thành chủ nghĩa duy tâm. Chủ nghĩa
duy tâm được thể hiện qua hai trào lưu chính: chủ nghĩa duy tâm khách quan (Platon, Hê-ghen…) và chủ nghĩa duy tâm chủ quan (Béccli, Hi um…).
Mặt thứ hai trả lời câu hỏi: Con người có khả năng nhận thức được thế giới
hay không ?
Các nhà triết học duy vật cho rằng, con người có khả năng nhận thức thế
giới. Song do mặt thứ nhất quy định nên sự nhận thức đó là sự phản ánh của thế
giới vật chất vào óc con người.
Một số nhà triết học duy tâm cũng thừa nhận con người có khả năng nhận
thức thế giới nhưng sự nhận thức đó là sự tự nhận thức của tinh thần, tư duy.
Một số nhà triết học duy tâm khác như Hium, Can tơ lại phủ nhận khả năng
nhận thức thế giới của con người. Đây là những người theo “bất khả tri” (thuyết
không thể biết). Khuynh hướng này không thừa nhận vai trò nhận thức khoa học
trong đời sống xã hội.
Đối với các hệ thống triết học, vấn đề cơ bản của triết học không chỉ được
thể hiện trong các quan niệm có tính chất bản thể luận, mà còn được thể hiện trong
các quan niệm chính trị-xã hội, đạo đức và tôn giáo, tất nhiên có thể là nhất quán
hoặc không là nhất quán.
Cuộc đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm xuyên suốt lịch
sử phát triển của tư tưởng triết học và thể hiện tính đảng phái trong các trào lưu
triết học khác nhau.


Câu 3: Sự khác nhau giữa phương pháp biện chứng và phương pháp siêu hình ?
Trả lời:

Trong suốt quá trình phát triển của lịch sử triết học nhân loại, các trường
phái triết học khi đi tìm hiểu bản chất của thế giới đều phải trả lời câu hỏi về trạng
thái tồn tại của các sự vật, hiện tượng. Khi trả lời câu hỏi đó trong lịch sử triết học
3


có hai cách tiếp cận hoàn toàn đối lập nhau đó là phương pháp biện chứng và
phương pháp siêu hình.
Phương pháp biện chứng cho rằng, mọi sự vật, hiện tượng của thế giới cũng
như hình ảnh tinh thần của chúng có quan hệ qua lại với nhau không ngừng vận
động và phát triển. Trong đó vận động được hiểu là "tự thân vận động" còn phát
triển là tự phát triển, đó là sự chuyển hoá từ trạng thái này sang trạng thái khác cao
hơn, một sự vật này thành một sự vật khác mới cao hơn về chất. Nguồn gốc động
lực của mọi sự vật vận động và phát triển là do đấu tranh của các mặt đối lập tồn
tại bên trong sự vật. Đó là những mặt, những khuynh hướng trái ngược loại bỏ
nhau nhưng lại quan hệ ràng buộc trong cùng một sự vật.
Phương pháp siêu hình cho rằng mọi sự vật và hiện tượng của thế giới tồn tại
cô lập, tách rời nhau. Chúng luôn luôn ở trạng thái tĩnh, đứng yên không vận động
cũng như không chuyển hoá và phát triển. Nếu có thừa nhận sự phát triển thì
phương pháp siêu hình coi đó là tăng hay giảm đơn thuần về lượng chỉ là lặp lại
đơn thuần của cái cũ chứ không có sự ra đời của cái mới. Vì vậy, trên thực tế quan
điểm siêu hình không thừa nhận mâu thuẫn là nguồn gốc động lực của sự phát
triển, không thừa nhận sự tất thắng của cái mới.
Trong nghiên cứu khoa học tự nhiên, phương pháp siêu hình là điều kiện cần
thiết cho nghiên cứu khoa học nhưng khi vận dụng đối với triết học thì đây là
phương pháp sai lầm phản khoa học, kìm hãm nhận thức của con người. Chỉ có

phương pháp biện chứng mới cho phép tìm hiểu đúng đắn bản chất của các sự vật,
hiện tượng trong thế giới, vì thế phương pháp biện chứng trở thành phương pháp
cách mạng khoa học để con người nhận thức và hoạt động thực tiễn.

Câu 4: Những đặc điểm chung có tính quy luật của sự hình thành và phát triển của
lịch sử triết học ?
Trả lời:

Điều kiện kinh tế xã hội, sự phát triển của thực tiễn và khoa học tự nhiên,
khoa học xã hội, xét đến cùng giữ vai trò quyết định tới nội dung của học thuyết
triết học, trong chừng mực nhất định quyết định cả hình thức thể hiện của các học
thuyết triết học đó. Song hệ tư tưởng triết học có tính độc lập tương đối, có lôgíc
nội tại và tác động trở lại với những điều kiện vật chất làm nền tảng cho nó.

4


Đấu tranh giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm là một hình thức đặc
biệt của sự giao lưu triết học trong toàn bộ lịch sử của nó. Các hệ thống triết học
không chỉ có sự giao lưu trong phạm vi triết học mà còn có sự giao lưu với tư
tưởng chính trị pháp quyền, đạo đức, tôn giáo, nghệ thuật.
Triết học của thời đại sau đều có sự kế thừa và phát triển những tinh hoa của
các tư tưởng triết học trước đó cho phù hợp với điều kiện xã hội lịch sử cụ thể.
Lịch sử tư tưởng triết học không đơn thuần là tổng số những hệ thống triết
học được hình thành trong nhiều nước đơn lẻ, trái lại nó có sự thống nhất và liên hệ
lẫn nhau của những điều kiện dân tộc và quốc tế trong sự phát triển của nó.
Từ những đặc điểm chung của sự hình thành và phát triển của lịch sử tư tưởng
triết học có thể rút ra những yêu cầu về mặt phương pháp luận của việc nghiên cứu
lịch sử triết học:
Nghiên cứu lịch sử triết học phải đặt nó trong mối quan hệ phụ thuộc của nó

với đời sống vật chất của xã hội, trước hết phụ thuộc vào cơ sở kinh tế. Đồng thời
phải vạch ra sự tác động trở lại của nó đối với điều kiện kinh tế xã hội làm nền tảng
cho nó.
Nghiên cứu lịch sử triết học phải dựng lại một cách trung thực, khách quan
lịch sử phát triển tiến bộ của các tư tưởng triết học, chống thái độ gò ép và áp đặt
cho lịch sử cái mà nó không có, nhằm phục vụ cho một mục đích nào đó.
Triết học khái quát lý luận sự phát triển của nhận thức, nó liên hệ mật thiết với
sự phát triển của khoa học tự nhiên, khoa học xã hội. Cho nên nghiên cứu lịch sử
triết học không những phải đặt nó trong mối quan hệ với thực tiễn lịch sử mà còn
xác định mối quan hệ mật thiết với các khoa học, với tư tưởng chính trị, pháp quyền,
nghệ thuật, tôn giáo...

Câu 5: Những nguyên tắc phương pháp luận chủ yếu để nghiên cứu lịch sử triết
học ?
Trả lời:

Lịch sử triết học nghiên cứu sự phát sinh, phát triển và sự kế tiếp nhau của
các trường phái, học thuyết, phương pháp triết học trong lịch sử. Việc nghiên cứu
lịch sử triết học không thể bỏ qua những điều kiện tiền đề về kinh tế, chính trị-xã
hội, đạo đức, tôn giáo nghệ thuật. Mục tiêu của lịch sử triết học là vạch ra những
5


quy luật phát triển của nó. Nội dung ấy quy định nguyên tắc phương pháp luận
nghiên cứu lịch sử triết học.
Nguyên tắc tính đảng và tính khoa học.
Nghiên cứu lịch sử triết học buộc phải xem xét, đánh giá để rút ra được kết
luận về trào lưu triết học đang nghiên cứu là duy vật hay duy tâm, nhất nguyên hay
nhị nguyên; những vấn đề mà nó giải quyết đúng hay không, chúng có ý nghĩa gì
đối với dòng lịch sử văn minh của nhân loại…

Triết học Mác-Lê nin ra đời đánh dấu bước chuyển cách mạng trong lịch sử
triết học. Nó đòi hỏi việc nghiên cứu lịch sử triết học phải đứng vững trên lập
trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, đồng thời phải căn cứ
vào những thành tựu của các khoa học cụ thể, lợi ích của nhân loại tiến bộ trước
hết là lợi ích của giai cấp công nhân. Những nội dung ấy phù hợp với nhau đó là
thể hiện sự thống nhất của tính đảng và tính khoa học trong việc nghiên cứu lịch sử
triết học.
Nguyên tắc thống nhất giữa lôgíc và lịch sử.
Đây là nguyên tắc phương pháp luận chuyên biệt của lịch sử triết học và lịch
sử triết học chính là khoa học về sự phát triển tư tưởng triết học của nhân loại qua
các giai đoạn lịch sử kế tiếp nhau.
Nguyên tắc lôgíc và lịch sử yêu cầu phải nghiên cứu các trường phái, học
thuyết và phương pháp triết học trong sự tác động qua lại cố kết chặt chẽ với
nhau, nhằm phát hiện những mối liên hệ tất yếu bên trong, bảo đảm tính hoàn
chỉnh, tính hệ thống cho các vấn đề nghiên cứu. Nó khắc phục được tình trạng
nghiên cứu siêu hình.
Yêu cầu chính của nguyên tắc này là nghiên cứu lịch sử triết học trong sự
vận động phát triển không ngừng của nó. Đó là sự phát triển theo quy luật, có kế
thừa những giá trị triết học tiến bộ qua các giai đoạn lịch sử .
Nguyên tắc phụ thuộc lẫn nhau giữa triết học với các lĩnh vực khác của đời
sống xã hội.
Các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội như kinh tế, chính trị-xã hội,
khoa học, nghệ thuật… là cơ sở cung cấp những tư liệu cho triết học. Triết học giữ
vai trò thế giới quan và phương pháp luận cho sự phát triển của các lĩnh vực ấy. Do
vậy, lịch sử triết học phải được nghiên cứu trong mối quan hệ phụ thuộc đó ở mỗi
6


giai đoạn lịch sử. Những biến đổi và sự phát triển các quan hệ kinh tế, những thành
tựu mới của khoa học kỹ thuật có liên quan trực tiếp đến sự biến đổi và phát triển

của các tư tưởng triết học.
Nghiên cứu lịch sử triết học còn phải tuân theo nguyên tắc phân kỳ lịch sử
và sự phân kỳ ấy dựa trên cơ sở khoa học nhất định. Nghĩa là, khi phân chia các
thời kỳ lịch sử triết học cũng như các trung tâm triết học cần phải có những căn cứ
khoa học cụ thể. Nhìn chung sự phân kỳ lịch sử triết học dựa vào lịch sử phát triển
của các hình thái kinh tế-xã hội, và cũng có thể dựa vào tính chất vạch thời đại của
một học thuyết triết học nhất định. Như vậy tính chất đúng đắn của các căn cứ tuỳ
thuộc vào đối tượng và mục tiêu nghiên cứu.

Câu 6: Những đặc điểm chủ yếu của triết học Phương Đông cổ-trung đại ?
Trả lời:

Triết học Phương Đông nhấn mạnh sự thống nhất trong mối quan hệ giữa
người với vũ trụ. Những tộc người cổ đại Phương Đông Dra-vi-a, A-ri-a ở Ấn Độ
và Trung Á; Hạ Vũ, Ân Thương, Chu Hán ở Trung Quốc, Lạc Việt ở Việt Nam...
sớm định cư canh tác nông nghiệp. Nguồn giống nông nghiệp quanh năm xanh
tươi hoa trái đã hoà quyện con người vào trời đất bao la. Giữa con người và vũ trụ
dường như không có gì cách biệt. Các cơ sở ban đầu hiển nhiên ấy dần dần được
khái quát thành tư tưởng "Thiên nhân hợp nhất", con người là một tiểu vũ trụ.
Những tư tưởng triết học Phương Đông ít khi tồn tại dưới dạng triết học
thuần tuý mà thường được trình bày xen kẽ ẩn dấu đằng sau những vấn đề chính
trị-xã hội, đạo đức, tôn giáo, nghệ thuật... Vì vậy, ở Phương Đông ít khi có những
triết gia và tác phẩm độc lập. Ở Phương Tây ngay từ đầu triết học đã là một khoa
học độc lập. Hơn nữa, triết học còn là khoa học của mọi khoa học, nghĩa là nó bao
gồm nhiều khoa học khác. Như vậy nếu như triết học Phương Đông ẩn giấu sau
những khoa học khác thì Phương Tây các khoa học khác là ẩn dấu đằng sau triết
học và thời kỳ bình minh của nó.
Trong lịch sử triết học Phương Đông ít thấy những bước phát triển nhảy vọt
về chất và có tính vạch thời đại. Nho giáo, Đạo giáo, Âm dương gia... được hình
thành từ thời cổ đại (khoảng từ thế kỷ IV đến thế kỷ V trước công nguyên). Nhưng

đến cuối thế kỷ XIX vẫn giữ nguyên tên gọi và hình thức biểu hiện. Nội dung của
chúng có bước phát triển, nhưng chỉ là sự phát triển cục bộ, đi sâu vào từng chi tiết,
7


từng tư tưởng trên cơ sở cũ có cải tiến về phương diện nào đó mà thôi. Biểu hiện ở
chỗ, những nhà tư tưởng ở các giai đoạn lịch sử sau thường cho mình là học trò, là
kế tục sự nghiệp của những người sáng lập ra học thuyết ở giai đoạn trước. Những
tư tưởng mới mà họ đưa ra chỉ là sự giải thích sâu hơn hoặc là nhằm bảo vệ những ý
tưởng của vị tiền bối. Vì vậy, các giai đoạn sau ít thấy những trường phái, học thuyết
mới xuất hiện tình hình đó biểu hiện tính bảo thủ, trì trệ của triết học Phương Đông.
Chính sự tồn tại quá lâu dài của chế độ phong kiến Phương Đông cùng với tính bảo
thủ trì trệ của nó đã quyết định đặc điểm này.
Trong các trào lưu học thuyết của triết học Phương Đông thường đan xen
các yếu tố duy vật với duy tâm, biện chứng và siêu hình, cuộc đấu tranh giữa
chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm diễn ra không gay gắt, quyết liệt như ở
triết học Phương Tây. Nho giáo cơ bản là duy tâm nhưng vẫn có những luận
điểm duy vật, nhất là thời kỳ đầu. Lão tử, Mặc tử, Âm dương gia... Bên cạnh
những luận điểm duy vật lại có nhiều luận điểm duy tâm. Phật giáo tuy là tôn
giáo nhưng lại chứa đựng nhiều yếu tố duy vật và biện chứng... Vì vậy, sự phân
chia trận tuyến giữa một bên là chủ nghĩa duy vật với bên kia là chủ nghĩa duy
tâm trong triết học Phương Đông không được rõ nét như triết học Phương Tây.
Đặc điểm này thể hiện tính thiếu triệt để, thiếu nhất quán của triết học Phương
Đông về mặt thế giới quan.
Hệ thống thuật ngữ của triết học Phương Đông khác triết học Phương Tây.
Trong lĩnh vực bản thể luận trong khi triết học Phương Tây sử dụng các thuật ngữ
"giới tự nhiên", "bản thể", "vật chất", "ý thức"... thì triết học Phương Đông sử dụng
những thuật ngữ như: "thái cực", "đạo", "sắc", "hình", "vạn pháp"... để phản ánh
tính chất của thế giới. Triết học Phương Tây sử dụng những thuật ngữ như "biện
chứng", "siêu hình", "thuộc tính"... thì triết học Phương Đông lại sử dụng những

thuật ngữ: "động", "tĩnh", "biến dịch", "vô thường”, “vô ngã". Khi triết học
Phương Tây sử dụng thuật ngữ "quy luật" thì triết học Phương Đông lại sử dụng
các thuật ngữ "đạo", "lý". Khi triết học Phương Tây sử dụng thuật ngữ "liên hệ" thì
triết học Phương Đông sử dụng thuật ngữ "luân thường".
Tóm lại, triết học Phương Đông cũng như triết học Phương Tây đều nhằm
giải quyết vấn đề cơ bản của triết học. Nhưng do những điều kiện hoàn cảnh lịch
sử xã hội, nhận thức khác nhau mà nó đã chi phối tính đặc thù của triết học Phương
Đông, Phương Tây cổ đại.
8


âu 7: Triết lý bản thể trong triết học Phật giáo ấn Độ như thế nào ?

Trả lời:
Phật giáo là một trường phái triết học tôn giáo điển hình của nền tư tưởng
Ấn Độ và có ảnh hưởng sâu rộng, lâu dài trên phạm vi toàn thế giới. Phật giáo do
Thích Ca Mầu Ni sáng lập vào khoảng thế kỷ VI Tr.CN.
Học thuyết Phật giáo đề cập tới nhiều nội dung khác nhau, một trong những
nội dung triết học mà Phật giáo đề cập tới đó là vấn đề bản thể luận.
Bản thể luận của Phật giáo nhìn chung là một thế giới quan chứa đựng nhiều
yếu tố duy vật, vô thần, đồng thời có những tư tưởng biện chứng sâu sắc.
Tính duy vật, vô thần của Phật giáo được thể hiện ở quan niệm về tính tự
thân sinh thành, biến đổi của vạn vật không do sự chi phối của một lực lượng thần
linh, thượng đế tối cao, hay một Brahman nào. Thế giới này, kể cả con người được
cấu thành bởi sự liên hợp của hai yếu tố “Sắc” và “Danh”. Sắc là yếu tố vật chất, là
cái có thể cảm giác được, gồm: đất, nước, lửa, không khí. Danh là yếu tố tinh thần,
là cái tâm lý, không có hình chất mà chỉ là tên gọi. Cái “Danh”, “Sắc” đó hợp lại
với nhau tạo thành “ngũ uẩn”. Ngũ uẩn tác động qua lại với nhau dưới sự chi phối
của một quy luật tất định, phổ biến là luật nhân quả tạo nên vạn vật vô thường.
Tư tưởng biện chứng của Phật giáo được thể hiện ở quan điểm “vô thường”,

“vô ngã”, “sắc sắc– không không” và “luật nhân quả” “nhân duyên”.
Vô thường: là sự biến đổi không ngừng của vạn vật. Trong thế giới này,
không có gì là bất di, bất dịch, tồn tại vĩnh viễn. Mà, mọi sự vật hiện tượng, kể cả
sự sống con người luôn là dòng chảy liên tục, không ngừng, không có điểm đầu và
không có điểm cuối, cái này mất đi để cái khác ra đời, tất cả luôn nằm trong chu
trình vận động bất tận: sinh – trụ – dị- diệt.
Bởi sự vô thường của vạn vật trong vũ trụ, tất cả chỉ là sự hội tụ trong một
thời gian nhất định của “sắc, danh” (của ngũ uẩn). Do đó, sự tồn tại của vạn vật,
con người trong vũ trụ chỉ là hư ảo, không có sự tồn tại vĩnh viễn của cái tôi (vô
ngã). Sự tồn tại của con người, vạn vật vừa thật vừa không thật, có mà không,
không mà có và Phật giáo gọi là “sắc sắc – không không”.

9


Theo triết học Phật giáo, mọi sự vật hiện tượng trong vũ trụ, từ cái nhỏ nhất
tới cái lớn nhất đều chịu sự chi phối của luật nhân duyên (nhân quả). “Duyên” là
điều kiện là cái khiến cho “nhân” biến thành “quả”. Quả ấy lại do cái duyên mà
thành nhân khác, và nhân này nhờ có duyên mà thành quả mới. Nhân duyên mà
hợp thì nhân nào quả nấy. Nhân duyên mà không hợp thì kết quả có thể là như thế
này, có thể là như thế kia. Chuỗi các mối liên hệ nhân duyên – nhân quả ấy được
Phật giáo gọi là “trùng trùng duyên khởi”, nhờ đó mà vạn vật cứ liên tục sinh sinh
– hoá hoá nối tiếp nhau vô cùng, vô tận.
Như vậy nghiên cứu triết học bản thể luận của Phật giáo ta thấy trong đó
chứa đựng những tư tưởng duy vật, vô thần và biện chứng sơ khai nhưng sâu sắc
khi giải thích về sự tồn tại, vận động, biến đổi của vạn vật trong vũ trụ.

Câu 8: Triết lý nhân sinh trong triết học Phật giáo ấn Độ cổ đại như thế nào ?

Trả lời:

Trên cơ sở những quan điểm về bản thể luận, tiếp thu tư tưởng luân hồi
nghiệp báo của Upinasad, Phật giáo đã đưa ra quan điểm nhân sinh quan của
mình, đây là phần trọng tâm của triết học Phật giáo Ấn Độ cổ đại.
Về sự sinh tử của con người, Phật giáo cho rằng: sự sinh tử của con người là
do nhân duyên kết hợp cái danh với cái sắc tạo thành thể xác và tinh thần của con
người. Nhân duyên chi phối kết hợp sự phong phú của ngũ uẩn tạo thành sự đa
dạng của mỗi đời người. Duy hợp ngũ uẩn thì thành ta, duyên tan ngũ uẩn thì
không còn ta, nhưng không mất đi mà trở về với ngũ uẩn. Ngũ uẩn đó lại nhờ nhân
duyên mà tạo thành một thể xác tinh thần khác cứ thế mà con người, vạn vật biến
hoá, thoáng có, thoáng không, không có cái tôi tồn tại vĩnh viễn.
Sự sinh tử biến hoá của con người được Phật giáo giải thích trong thuyết
“luân hồi nghiệp báo”: con người sau khi chết đi có thể đầu thai trở lại một trong sáu
kiếp khác là: nhân, tiên, súc sinh, địa ngục, Atula và quỷ. Quá trình luân hồi như
bánh xe quay tròn không dứt. Quá trình luân hồi đó là do nghiệp (nguyên nhân của
mình chi phối theo luật nhân duyên-quả báo. “Ở hiền gặp lành, gieo gió gặt bão”.
Mục đích cuối cùng và cũng là tư tưởng chủ đạo có tính xuyên suốt toàn bộ
học thuyết nhân sinh Phật giáo là tư tưởng “giải thoát” chúng sinh ra khỏi kiếp
10


sống trầm luân đau khổ. Điều đó được thể hiện ở lời Phật dạy: “Này các đệ tử ta
nói cho mà biết, nước ngoài biển khơi chỉ có một vị mặn, đạo của ta dạy cũng chỉ
có một vị là giải thoát”. Để đạt được sự giải thoát, Phật giáo nêu ra bốn chân lý
tuyệt diệu, thiêng liêng mà mọi người đều phải thực hiện đó là “Tứ diệu đế”; gồm:
khổ đế; tập đế; diệt đế; đạo đế.
Khổ đế: là học thuyết nói về sự khổ, Phật giáo cho rằng đời người là bể khổ,
có tám cái khổ (Bát khổ) chủ yếu: sinh khổ, lão khổ, bệnh khổ, tử khổ, ái biệt ly khổ,
oán tăng hội khổ, sở cầu bất đắc khổ và ngũ thụ uẩn khổ. Vậy là, đời người là bể
khổ, con người ở đâu, làm gì cũng khổ ngay cả khi sung sướng nhất cũng có cái khổ.
Nhân đế hay là tập đế: là học thuyết đề cập tới nguyên nhân sinh ra nỗi khổ,

Phật giáo cho rằng có nhiều nguyên nhân gây nên nỗi khổ của con người, trong đó
có ba nguyên nhân sâu xa, trực tiếp gây nên nỗi khổ của con người là: tham, sân,
si. Con người đã không nhận thức được cái vô ngã của vạn vật, con người đã lầm
lẫn tưởng có cái ta, mọi cái của ta, do ta, nên con người đã khát ái, tham dục, hành
động để chiếm đoạt nhằm thoả mãn những ham muốn dục vọng đó. Chính “tham,
sân, si” đã gây nên những nỗi khổ, nghiêp báo đẩy con người vào bể khổ trầm
luân. Những nguyên nhân ấy kết hợp với “duyên” hình thành “thập nhị nhân
duyên” (12 nguyên nhân cái khổ): duyên vô minh, duyên hành, duyên thức, duyên
danh sắc, duyên lục nhập, duyên xúc, duyên thụ, duyên ái, duyên thủ, duyên hữu,
duyên sinh và duyên lão tử.
Diệt đế: Phật giáo khẳng định “cái khổ có thể tiêu diệt được, vòng luân hồi
có thể chấm dứt được”. Chúng sinh có thể thoát khỏi vòng luân hồi nghiệp báo khi
diệt được nguyên nhân sinh ra sự khổ tức là phải diệt nghiệp.
Đạo đế: là con đường, phương pháp diệt khổ, giải thoát con người khỏi vòng
luân hồi. Diệt khổ suy cho cùng là diệt vô minh để giác ngộ giáo lý nhà Phật. Có
tám con đường (Bát chính đạo) chủ yếu để diệt khổ là: chính kiến, chính tư duy,
chính ngữ, chính nghiệp, chính mệnh, chính tinh tiến, chính niệm, chính định.
Ngoài tám con đường chính đó ra, Phật giáo còn đề ra sáu phép tu và năm điều răn
để con người thực hiện.
Thực hành tu luyện tốt đạo để con người có thể giác ngộ chân lý nhà Phật,
thoát khỏi bể khổ trầm luân tới được cõi Niết bàn, đó là một nơi hoàn toàn yên
tĩnh, sáng suốt, chấm dứt sinh tử luân hồi.

11


Như vậy, Phật giáo là một trào lưu triết học tôn giáo lớn của Ấn Độ cổ đại.
Mặt tích cực của nhân sinh quan Phật giáo là: đây là tôn giáo duy nhất lên tiếng
chống lại thần quyền, chống lại chế độ đẳng cấp khắc nghiệt, tố cáo bất công, đòi
tự do tư tưởng và bình đẳng xã hội, nó thể hiện khát vọng tự do của con người,

muốn giải thoát con người khỏi những bi kịch cuộc sống. Phật giáo nêu cao tinh
thần thiện tâm, bình đẳng, bác ái cho mọi người. Chính vì vậy, tư tưởng của Phật
giáo đã có ảnh hưởng lâu dài, sâu rộng ở nhiều quốc gia trên thế giới.
Hạn chế lớn nhất của Phật giáo là ở sự lý giải con đường giải phóng con
người có tính chất duy tâm và ảo tưởng. Bởi vì, con đường giải phóng con người
của nhà Phật, thực chất là con đường tu đạo, hoàn thiện đạo đức cá nhân bằng cách
diệt dục, khắc kỷ. Đó là con đường giải phóng con người về mặt tinh thần chứ
không có ý nghĩa trong cuộc sống hiện thực. Nguyên nhân dẫn tới sự duy tâm của
Phật giáo là do Phật giáo đã không nhìn thấy nguyên nhân kinh tế, nguyên nhân
đối kháng giai cấp mà chỉ nhìn thấy những nguyên nhân về mặt tinh thần gây ra
nỗi khổ của con người. Phật giáo đã phủ nhận cuộc sống thực tế của con người phủ
nhận vai trò của con người trong đời sống xã hội hiện thực, do đó mà ảnh hưởng
của Phật giáo con người đã xa rời, bỏ trốn hiện thực, không dám đấu tranh để
giành hạnh phúc cho mình trong cuộc sống hiện thực.

Câu 9: Những tư tưởng cơ bản của Nho giáo trong triết học Trung Quốc cổ đại ?

Trả lời:
Người sáng lập ra học thuyết Nho giáo là Khổng Tử (551-479 Tr.CN), tên là
Khâu, tự Trọng Ni, người Ấp Châu nước Lỗ.
Về bản thể luận: Nho giáo không bàn nhiều về bản thể luận, nhưng lại thể
hiện sự dao động giữa lập trường duy vật với duy tâm, vô thần với hữu thần, đặc
biệt là trong quan niệm về Trời và quỷ thần.
Khổng Tử tin là có trời, quỷ thần. Xuất phát từ vũ trụ quan của Dịch, Khổng
Tử tin vào sự biến hoá không ngừng của vạn vật, đó là sự vận hành có trật tự, hoà
điệu và chịu sự chi phối của cái mà Khổng Tử gọi là “thiên mệnh”. Thiên mệnh là
cái lý rất huyền bí, sâu kín mà con người không thể cưỡng lại, không thể thay đổi
được. Do đó, trong quan niệm về Trời của Khổng Tử rất mâu thuẫn; một mặt, ông
coi Trời là một lực lượng siêu tự nhiên có ý chí, là chúa tể của vũ trụ, chi phối mọi
12



sự vận động của vũ trụ, kể cả số phận con người. Mặt khác, Khổng Tử lại quan
niệm trời như là quy luật của tự nhiên chi phối sự vận động của vũ trụ: “Trời có nói
gì đâu mà bốn mùa vẫn hiện hành, vạn vật vẫn sinh hoá”. Đối với quỷ thần, Khổng
Tử cũng có những quan điểm thiếu nhất quán, khi thì ông cho rằng; quỷ thần là do
khí thiêng của trời đất tạo thành nên cần phải kính trọng và xa lánh, khi thì ông lại
khẳng định: quỷ thần không có tác dụng chi phối đời sống con người, nên ông phê
phán sự mê tín, sùng bái quỷ thần.
Như vậy, Khổng Tử thừa nhận sự tồn tại của lực lượng siêu tự nhiên, quan
niệm thiên mệnh của ông được Mạnh Tử hệ thống hoá thành khía cạnh duy tâm
trong tư tưởng triết học của Nho giáo.
Về chính trị-xã hội: Nội dung cốt lõi của Nho giáo là bàn về chính trị-xã hội
nhằm thiết lập trật tự kỷ cương xã hội theo lập trường của giai cấp phong kiến. Xã
hội lý tưởng mà Nho giáo muốn xây dựng là một “xã hội đại đồng”, một xã hội có
tôn ty, trật tự trên dưới, một xã hội không cần có nền kinh tế phát triển mà chỉ cần
công bằng xã hội. Nội dung chính trị-xã hội của Nho giáo là do thực tiễn xã hội
Trung Quốc thời Xuân thu-Chiến quốc quy định.
Phương pháp tiếp cận và giải quyết những vấn đề chính trị-xã hội của Nho
giáo mang tính duy tâm. Nho gia đã không thấy được vai trò của cơ sở kinh tế
trong đời sống xã hội, mà Nho gia đã coi những quan hệ chính trị-đạo đức là nền
tảng của một xã hội, trong đó quan trọng nhất là quan hệ “tam cương”: Vua-tôi,
cha-con, vợ-chồng. Đồng thời, trong quan niệm về tam cương đã phản ánh tư
tưởng quân quyền, phụ quyền gia trưởng của Nho gia khi họ xếp vua ở vị trí cao
nhất và xếp ở hàng làm chủ là vua-cha-chồng.
Thuyết Chính danh. Xuất hiện trong bối cảnh lịch sử xã hội đang quá độ
sang xã hội phong kiến đầy chiến tranh, loạn lạc, đạo đức suy đồi. Khổng Tử và
Nho gia cho rằng, để giải quyết đúng đắn các mối quan hệ xã hội, để khôi phục lại
trật tự kỷ cương xã hội thì cần phải có chính danh. Theo Khổng Tử và Nho giáo
thì; trong xã hội mỗi người đều có một chỗ đứng, địa vị nhất định (danh vị) phù

hợp với danh sẽ có quyền lợi (phận) tương ứng. Để xã hội có thái bình thịnh trị, có
trật tự kỷ cương thì mỗi người cần nói và làm tròn bổn phận theo đúng danh phận
của mình. Ngược lại, nếu không có danh chính thì xã hội sẽ đại loạn: (danh không
chính, ngôn bất thuận, việc bất thành, chế độ không xây dựng được); rằng: “thượng
bất chính, hạ tắc loạn”. Mặt khác, danh phải gắn liền với Lễ-Nhân, tức là danh phải
13


được cụ thể hoá thành những quy tắc, chuẩn mực đạo đức ứng sử giữa người-người
trong xã hội.
Từ quan điểm về chính danh, Nho giáo đã đưa ra phương pháp cai trị đất
nước bằng “Nhân trị”. Khổng Tử cho rằng; trong xã hội, nếu người quân tử, người
lãnh đạo xã hội mà chính danh, biết tu thân sửa mình theo lễ, nói năng hành động
đúng chức năng bổn phận của mình thì không cần ra lệnh dân vẫn theo. Khổng Tử
nói: “Đức của người quân tử là ngọn gió, đức của dân là ngọn cỏ. Gió thổi tất cỏ sẽ
rạp theo”. Vì vậy, trong bản giá trị đạo đức, Nho giáo rất coi trọng chữ “Nhân”.
Chữ “Nhân” trong Nho giáo có nhiều nghĩa: nhân là yêu người; là điều gì
mình không muốn thì đừng làm cho người khác; mình muốn lập thân thì cũng giúp
người khác lập thân; mình muốn thành đạt thì cũng giúp người khác thành đạt;
nhân là sửa mình theo lễ. Nhân mang tính giai cấp, chỉ ở tầng lớp trên, tầng lớp
thống trị mới có “đức nhân”, và đức nhân của nhà vua khác đức nhân của bề tôi.
Ngoài ra, nhân còn biểu hiện qua những chuẩn mực đạo đức khác: lễ, nghĩa, trí,
tín, trung, hiếu… điều này đã cho thấy tầm tư duy về triết học-xã hội của Nho gia
đã đạt mức có tính hệ thống.
Như vậy, do không thấy được chính những cơ sở kinh tế quyết định chính
trị-đạo đức, nên việc kêu gọi chính danh, coi chính danh là phương tiện cứu cánh
để thiết lập trật tự kỷ cương xã hội, coi trọng phương pháp quản lý xã hội bằng
nhân trị của Nho gia là không tưởng và duy tâm.
Lực lượng xã hội để thiết lập trật tự kỷ cương xã hội của Nho giáo là “người
quân tử”, là những người thuộc tầng lớp trên của xã hội, là giai cấp thống trị xã

hội. Con đường để thực hiện lý tưởng xây dựng “xã hội đại đồng” là bằng giáo
dục.
Về giáo dục: mục đích tối cao của giáo dục theo Nho giáo là không phải để
mở mang tri thức, giải thích vũ trụ, mà nhằm mục đích là cải tạo bản tính, đức
nhân loại trở về gần nhau, về với tính thiện. Sách Trung dung viết: “giáo dục là tu
sửa cái đạo làm người”, làm sáng tỏ Đức. Theo Khổng Tử; học để giúp đời chứ
không phải làm quan sang; học để có nhân cách; học để tìm tòi đạo lý; tức là, học
để “thành ý, chính tâm, tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”. Như vậy, tư tưởng
giáo dục của Khổng Tử là nhằm đào tạo cho xã hội những người quân tử có đức,
có nhân để thực hiện chính danh, thiết lập được trật tự kỷ cương cho xã hội, quản
lý xã hội được thái bình thịnh trị.
14


Về bản tính con người: trong Nho giáo không có sự thống nhất quan điểm.
Khổng-Mạnh cho rằng bản tính con người là thiện. Ngược lại, Tuân Tử cho rằng
bản chất con người là ác. Do đó, phương pháp quản lý xã hội của Nho giáo đưa ra
không có sự thống nhất.
Ngoài những nội dung trên Nho giáo còn bàn tới những vấn đề về chính trị,
quân sự, ngoại giao.
Như vậy, học thuyết chính trị-xã hội của Nho giáo mang tính bảo thủ, cải
lương, duy tâm và không tưởng. Do hạn chế về lập trường giai cấp nên Nho giáo
đã không giám đấu tranh để cải tạo xã hội, mà những nhà sáng lập muốn thông qua
giai cấp thống trị (người quân tử) để cải cách xã hội, nên mơ ước về một “xã hội
đại đồng” trong xã hội có giai cấp đối kháng là ảo tưởng và không thể thực hiện
được.
Đứng trên lập trường của giai cấp phong kiến, phản ánh nhu cầu xã hội trong
thời kỳ quá độ sang xã hội phong kiến. Vì vậy tư tưởng chính trị-xã hội của Nho
giáo rất phù hợp với nhu cầu tổ chức xã hội của nhà nước phong kiến tập quyền
nên nó đã được nhiều quốc gia Phương Đông đón nhận và sử dụng như là hệ tư

tưởng của giai cấp mình để xây dựng và quản lý nhà nước phong kiến, tuy nhiên ở
mỗi quốc gia sự tiếp thu và vận dụng Nho giáo có khác nhau phụ thuộc vào những
điều kiện hoàn cảnh cụ thể của các quốc gia đó.
Mục đích và phương pháp giáo dục của Nho giáo thiên về đức dục, giáo
huấn, ít quan tâm về trí dục, do đó đã khiến người học thường học giáo điều, máy
móc và thoát ly ra khỏi hoạt động thực tiễn.

Câu 10: Những tư tưởng cơ bản của Pháp gia trong triết học Trung Quốc cổ đại như
thế nào ?

Trả lời:
Tư tưởng Pháp gia là sản phẩm của xã hội Trung Quốc thời kỳ Chiến quốc,
nó phản ánh nguyện vọng, ý chí của giai cấp địa chủ phong kiến thống trị trong
giai đoạn hình thành phương thức sản xuất phong kiến. Trước những yêu cầu cần
phải củng cố chế độ tập quyền quân chủ trung ương, những tư tưởng của Pháp gia
đã góp phần không nhỏ vào sự nghiệp thống nhất Trung Quốc của Tần Thuỷ
Hoàng.
15


Đại diện tiêu biểu của phái Pháp gia là Hàn Phi Tử (280-233 TCN). Ông là
một nhà duy vật lớn thời Chiến Quốc, ông đã có nhiều công lao trong việc xây
dựng và hoàn thiện học thuyết Pháp gia.
Về triết học: tư tưởng của Hàn Phi Tử có tư tưởng duy vật khi ông thừa nhận
tính khách quan, uy lực của những lực lượng tự nhiên mà ông gọi là “Lý”. Đó là
cái chi phối, quyết định mọi sự vận động của tự nhiên, xã hội. Hàn Phi Tử thừa
nhận sự vận động biến đổi của xã hội, do đó ông khẳng định không thể có một
khuôn mẫu chung cho mọi xã hội. Động lực phát triển của xã hội là do sự thay đổi
của dân số, của cải xã hội. Trong quan niệm về bản chất con người, Hàn Phi Tử
cho rằng; bản chất con người là ác, ích kỷ, vụ lợi.

Trên cơ sở những luận điểm triết học cơ bản ấy, Hàn Phi Tử đã đưa ra học
thuyết pháp trị, đó là những tư tưởng thuộc phạm trù triết học – chính trị với nội
dung cơ bản của Pháp gia gồm ba yếu tố: Pháp, Thuật, Thế.
Pháp: là khuôn mẫu của thiên hạ, là những quy định, luật lệ, thể chế, chế độ
chính trị… đó là tiêu chuẩn để dựa vào đó người ta có thể định công, luận tội, đúng
sai. Pháp phải được rõ ràng, minh bạch, khách quan, tức là phải dựa vào lý. “Pháp
luật không a dua quyền quý”, “pháp bất vị thân”.
Thuật: là phương pháp điều hành, thủ thuật mưu lược trong việc điều khiển
chính trị xã hội. Thuật còn là thủ đoạn dùng người, kẻ làm vua phải “biết người
thạo việc, dùng người hết trí tuệ, dùng người hết năng lực”.
Thế: là quyền uy của kẻ làm vua. Pháp gia chủ trương quyền thế vạn năng,
địa vị nhà vua phải là độc tôn, nhà vua phải nắm quyền khen thưởng, giết hại, có
như vậy, thuật mới được thực thi, pháp mới được tôn trọng.
Như vậy, địa vị tư tưởng của Pháp gia không phải ở giá trị lý luận mà ở giá
trị thực dụng. Trong cuộc đấu tranh chính trị giành quyền lực, tư tưởng Pháp gia
được giai cấp phong kiến Trung Quốc sử dụng như là một thủ đoạn chính trị để
giành và củng cố chính quyền nhà nước trong thời Chiến quốc. Tư tưởng của Pháp
gia đã được Tần Thuỷ Hoàng sử dụng như là vũ khí lý luận quan trọng để giúp nhà
Tần thống nhất Trung Quốc.

Câu 11: Những tư tưởng cơ bản của Đạo gia trong triết học Trung Quốc cổ đại là
gì ?

Trả lời:
16


Tư tưởng của Đạo gia là sự phản ánh thái độ thờ ơ, bi quan, lẩn tránh của
một bộ phận quý tộc nhỏ trong thời Chiến quốc đã không kịp chuyển sang giai cấp
địa chủ, bị hai thế lực xã hội chèn ép là giai cấp địa chủ và quý tộc mới.

Đại diện tiêu biểu của Đạo gia là Lão Tử và Trang Tử, bởi vậy Đạo gia còn
được gọi là đạo Lão-Trang.
Về triết học: tư tưởng triết học của Đạo gia được thể hiện sâu sắc trong học
thuyết về “Đạo”, một học thuyết đã thể hiện một trình độ tư duy khái quát rất cao
về vấn đề bản nguyên thế giới:
“Đạo” là bản nguyên của vạn vật, tất cả từ Đạo sinh ra và trở về với cội
nguồn là Đạo.
“Đạo” là cái vô hình, sâu kín, huyền diệu, tồn tại tuyệt đối, có trước trời đất,
từ đạo mà vạn vật hữu hình được sinh ra.
“Đạo” là con đường, quy luật chung, nguyên lý vận hành của vạn vật trong
vũ trụ. Quy luật chung ấy có trước vạn vật và nằm trong chính sự vật, gọi là
“Đức”. Nguồn gốc của quy luật ấy, theo Lão Tử là do sự thống nhất của hai mặt
đối lập, chúng vừa sung khắc, vừa liên hệ dựa vào nhau. Ông nói: “Trong vạn vật,
không vật nào là không cõng âm bồng dương”. “Hoạ trung hữu phúc, phúc trung
hữu hoạ”. Sự vận động của vũ trụ, vạn vật đều bị chi phối bởi hai quy luật chung là
luật bình quân và luật phản phúc.
Luật bình quân là sự giữ cho vạn vật luôn được thăng bằng, trật tự, không có
gì là thái quá, bất cập. “Cái gì khuyết ắt được tròn đầy, cái gì cong sẽ được thẳng”.
Luật phản phúc cho là sự phát triển đến cực điểm sẽ trở thành cái đối lập với
chính nó, là sự tuần hoàn theo chu kỳ trở về với đạo tự nhiên như việc tuần hoàn
bốn mùa: xuân, hạ, thu, đông.
Như vậy, trong học thuyết về “Đạo” của Đạo gia đã chứa đựng những tư
tưởng biện chứng rất sâu sắc về sự vận động biến đổi của thế giới.
Về chính trị-xã hội: Lão Tử đưa ra học thuyết “vô vi”, đó là sự vận dụng và
mở rộng học thuyết “ Đạo” và trong đời sống xã hội.
Vô vi trong học thuyết Lão Tử: là sống, hành động theo lẽ tự nhiên, thuần
phác, không can thiệp làm trái bản tính tự nhiên. Đây là tư tưởng tiêu cực, bảo thủ
vì Lão Tử chủ trương gạt bỏ quan điểm nhập thế của Nho gia mà theo đuổi một thế
giới vô vi, vô dục, vô sự.
Phương pháp an bang tế thế trị nước của học thuyết “vô vi” là đừng can

thiệp vào việc đời, việc người khác. “Người không đụng đến ta, ta không đụng đến
người”, và nếu phải làm thì hãy “làm cái không làm” (vi vô vi) một cách khéo léo.
17


Cách đối nhân xử thế theo “vô vi” là sử dụng phép nhu thuật “lấy nhu thắng
cương”, không cạnh tranh và bạo động tránh xa vòng danh lợi, lấy ân báo oán để
giữ hòa khí, bảo toàn sinh mạng.
Như vậy, Lão Tử chủ trương thoát tục, lẩn tránh hiện thực, hướng đến
cuộc sống ẩn dật, không có ham muốn, tư hữu đó là tư tưởng bảo thủ, tiêu cực
của Đạo gia.
Sau khi Lão Tử mất, Trang Tử (269-286 Tr.CN) tiếp tục kế thừa và phát
triển. Nhưng Trang Tử đã gạt bỏ yếu tố duy vật của Lão Tử và đẩy những yếu tố
duy tâm trong thuyết “vô vi” tới cực đoan, lẩn tránh cuộc sống hiện thực để tiến
vào vương quốc tiêu dao, ẩn náu trong thế giới tinh thần không gợi một chút bụi
trần. Thái độ quan điểm của Trang Tử đã phản ánh tâm lý sợ sệt trước hiện thực tàn
khốc của những cuộc chiến tranh thời Chiến quốc mà tầng lớp của ông đã hoàn
toàn bất lực.

Câu 12: Sự ảnh hưởng của Phật giáo và Nho giáo đối với nước ta thể hiện trên
những vấn đề gì ?

Trả lời:
Phật giáo vào nước ta từ những năm đầu công nguyên, Phật giáo đã phát
triển phù hợp với truyền thống Việt Nam. Từ đó hình thành nhiều phái giáo ở Việt
Nam: phái Tiniđa, Lưu chi, phái Thảo đường, phái Trúc lâm (Yên Tử). ảnh hưởng
của nó khá toàn diện, Phật giáo trở thành quốc giáo thời Đinh, Lê, Trần, góp phần
bảo vệ chế độ phong kiến tập quyền vững mạnh, giữ vững độc lập dân tộc. Phật
giáo có công đào tạo tầng lớp trí thức cho dân tộc trong đó nhiều vị tăng thống
thiền sư, quốc sư có đức độ và tài năng giúp nước, an dân như: Chân Lưu, Pháp

Nhuận, Viên Thiếu, Không Lộ… bản chất từ-bi hỉ-xả ngày càng thấm sâu vào đời
sống tinh thần dân tộc, hướng nhân dân và tầng lớp vua quan vào con đường thiện
nghiệp và tu dưỡng đạo đức vì dân vì nước.
Vào thời kỳ thịnh trị, Phật giáo là nền tảng tư tưởng trong nhiều lĩnh vực
như: kinh tế, chính trị, văn học, giáo dục, khoa học, kiến trúc, hội hoạ… nhiều tác
phẩm văn học có giá trị, nhiều công trình kiến trúc độc đáo đậm đà bản sắc dân
tộc, có tầm cỡ quốc tế của Việt Nam phần lớn được xây dựng vào thời kỳ này. Từ
cuối thế kỷ thứ VIII đến nay phật giáo không còn là quốc giáo nữa nhưng những tư
tưởng tích cực của nó vẫn còn là nguồn sống tinh thần của nhân dân ta.
18


Nho giáo vào nước ta những năm cuối trước công nguyên. Từ cuối thế kỷ thứ
VIII trở đi, Nho giáo dần dần lấn áp Phật giáo và trở thành quốc giáo. Nó được phát
triển trong sự ảnh hưởng của truyền thống Việt Nam và Phật giáo. ảnh hưởng của
Nho giáo có cả mặt tích cực và mặt tiêu cực. Nho giáo cũng góp phần xây dựng các
triều đại phong kiến vững mạnh, bảo vệ nền độc lập của dân tộc. Công lao của Nho
giáo là đào tạo tầng lớp nho sĩ của Việt Nam trong đó có nhiều nhân vật kiệt xuất
như Nguyễn Trãi, Lê Quý Đôn, Nguyễn Du, Ngô Thì Nhậm… Nho giáo ảnh hưởng
tới nhân dân, hướng nhân dân vào con đường ham tu dưỡng đạo đức theo: nhânnghĩa-lễ-trí-tín, ham học để phò vua giúp nước. Ảnh hưởng chính của Nho giáo
chính là thiết lập được kỷ cương và trật tự xã hội. Đó là mặt tích cực, còn mặt tiêu
cực của Nho giáo là ở chỗ nó góp phần không nhỏ vào việc duy trì quá lâu chế độ
phong kiến, kìm hãm quan hệ kinh tế tư bản ở nước ta phát triển. Dưới ảnh hưởng
của Nho giáo truyền thống tập thể bị biến thành chủ nghĩa gia trưởng chuyên chế
độc đoán. Nho giáo không thúc đẩy các ngành khoa học tự nhiên phát triển…
Những mặt tiêu cực của nó phản ánh tiêu cực bảo thủ và lạc hậu của nho giáo nước
ta.

Câu 13: Những nội dung cơ bản trong triết học Đêmôcrít như thế nào ?


Trả lời
Đêmôcrít (460-370 Tr.CN).
Triết học của của Đêmôcrit chiếm vị trí nổi bật trong triết học duy vật Hy
Lạp cổ đại là người phát triển khuynh hướng nguyên tử luận của Lơxíp. Là một
trong những nhà duy vật lớn nhất thời cổ đại, Đêmôcrít cho rằng, tất cả mọi vật
đều hình thành từ nguyên tử, đó là phần tử vật chất bé nhỏ, cơ sở của mọi vật và
không phân chia được nữa. Học thuyết nguyên tử của Đêmôcrít là một thành quả
vĩ đại của tư tưởng duy vật trong thế giới cổ đại. Những tư tưởng vũ trụ học của
Đêmôcrít xây dựng trong lý luận nguyên tử về cấu tạo vật chất đã thấm nhuần tinh
thần biện chứng có ý nghĩa sâu sắc đối với sự phát triển lịch sử triết học.
Thừa nhận vũ trụ là vô tận và vĩnh cửu, Đêmôcrít cho rằng có vô số thế giới
vĩnh viễn phát sinh, phát triển và tiêu diệt. Đêmôcrít phỏng đoán rằng, vận động
không tách rời vật chất; đó là phỏng đoán thiên tài. Theo ông vận động của nguyên
tử là vĩnh viễn, không có điểm kết thúc.
19


Lần đầu tiên trong lịch sử triết học Hy Lạp cổ đại, Đêmôcrít nêu ra khái niệm
không gian. Theo ông, không gian là khoảng “chân không rộng lớn”, trong đó những
nguyên tử vận động vĩnh viễn. Không gian là những khoảng trống giữa các vật thể,
nhờ đó các vật thể có thể tụ lại hoặc giãn ra. Xuất phát từ học thuyết nguyên tử,
Đêmôcrít cho rằng không gian là gián đoạn và có thể phân chia vô cùng tận.
Đặc điểm nổi bật của chủ nghĩa duy vật Đêmôcrít là quyết định luận (thừa
nhận sự ràng buộc theo luật nhân quả và quy luật của các hiện tượng tự nhiên)
nhằm chống lại mục đích luận (là quan điểm duy tâm cho rằng cái thống trị trong
tự nhiên không phải là tính nhân quả mà tính có mục đích). Sự thừa nhận tính nhân
quả, tính tất yếu và quy luật trong giới tự nhiên là một trong những thành quả có
giá trị nhất của triết học duy vật Hy Lạp cổ đại.
Đêmôcrít có nhiều công lao trong việc xây dựng lý luận về nhận thức. Ông
đặt ra và giải quyết một cách duy vật vấn đề đối tượng của nhận thức, vai trò của

cảm giác với tính cách là điểm bắt đầu của nhận thức và vai trò của tư duy trong
việc nhận thức tự nhiên.
Nét đặc sắc khác trong triết học duy vật của Đêmôcrít là chủ nghĩa vô thần.
Đêmôcrít cho rằng, sở dĩ con người tin vào thần thánh là vì con người đã bất lực
trước những hiện tượng khủng khiếp của tự nhiên. Theo ông, thần thánh chỉ là sự
nhân cách hoá hiện tượng tự nhiên hay là những thuộc tính của con người. Thí dụ,
mặt trời mà tôn giáo Hy Lạp đã thần thánh hoá thì ông cho đó chỉ là một khối lửa.
Về chính trị xã hội, ĐêmôCrít thể hiện lập trường của tầng lớp chủ nô đấu
tranh bảo vệ nền dân chủ A-Ten. Theo ông nền tảng của chế độ nô lệ là nhà nước.
Nhà nước đóng vai trò duy trì trật tự và điều hành hoạt động của xã hội, cho nên
cần phải trừng phạt nghiêm khắc những kẻ nào vi phạm pháp luật hay các chuẩn
mực đạo đức. Ông còn cho thà nghèo còn hơn giầu có nhưng mất dân chủ và tự do.
Đối với nô lệ thì ông cho rằng cần phải biết tuân theo người chủ.
Như vậy, công lao có ý nghĩa lịch sử của Đêmôcrít là ông đã bền bỉ đấu
tranh cho quan niệm duy vật về tự nhiên. Nó đã có ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát
triển tiếp theo của triết học duy vật.

Câu 14: Những nội dung cơ bản trong triết học của Platôn như thế nào ?

20


Trả lời:
Platôn (427 – 347 Tr.CN)
Quan niệm về thế giới, Platôn cho rằng ngoài thế giới vật chất xung quanh ta
còn có thế giới khác, đó là “thế giới ý niệm”. Chỉ có ý niệm là tồn tại thực, vĩnh
viễn, bất biến và chỉ được nhận thức duy nhất bằng lý tính. Ý niệm là những cái có
trước và là bản chất của sự vật. Mọi sự vật đều là sự mô phỏng của ý niệm; vật thể
cảm tính chỉ là bản sao, là cái bóng của ý niệm, luôn hướng tới ý niệm như là bản
chất chung và là nền tảng tồn tại của mình. Trong khi coi ý niệm là tồn tại nói

chung, tồn tại thực sự, Platôn vẫn khẳng định vật chất là cái không tồn tại, không
phải do thế giới ý niệm sản sinh ra. Chính ý niệm và vật chất là hai cơ sở tạo nên
mọi sự vật trong thế giới chúng ta. Nếu ý niệm là bản chất chung của mọi sự vật,
đem lại sinh khí cho chúng, đồng thời là cơ sở thống nhất của toàn bộ vũ trụ, thì
vật chất là căn nguyên tạo ra hình thù, chất liệu cụ thể của mỗi sự vật, làm cho
chúng đa dạng, cá biệt, nhất thời và biến đổi không ngừng. Như thế trong quan
niệm về thế giới Platôn là người xây dựng hệ thống hoàn chỉnh đầu tiên của chủ
nghĩa duy tâm khách quan coi mọi sự vật chỉ là hiện thân của ý niệm.
Về nhận thức luận, xuất phát từ luận điểm trong linh hồn con người đã chứa
đựng dưới dạng tiềm tàng mọi tri thức, mọi điều mà con người có thế biết, Platôn
đưa ra luận điểm cơ bản cho rằng nhận thức là sự “hồi tưởng” lại những gì mà linh
hồn bất tử đã quan sát được trong thế giới ý niệm nhưng rồi lại quên đi. Thuyết
“hồi tưởng” thần bí đó được xây dựng trên cơ sở thừa nhận tính bất tử, tính độc
lập của linh hồn với thể xác.
Về chính trị xã hội, các quan điểm của Platôn có nhiều mâu thuẫn: một mặt
ông đòi xoá bỏ sở hữu tư nhân, thiết lập sở hữu cộng đồng, mặt khác ông thấy cần
duy trì sự khác nhau giữa đẳng cấp và sự bất bình trong xã hội. Ông đưa ra mô
hình “nhà nước lý tưởng và công lý” nhưng đồng thời lại bảo vệ lợi ích của tầng
lớp quý tộc chủ nô, chống lại nền dân chủ A- Ten.
Các học trò sau này của Platôn phát triển học thuyết ý niệm của ông về mặt
nội dung cơ bản thì không có gì mới. Triết học duy tâm khách quan của Platôn
được nhiều nhà triết học thời trung cổ và cả thời cận đại lặp lại dưới nhiều hình
thức cải biến. Hiện nay, một số trào lưu triết học phản động đang mưu toan phục
hồi những quan điểm triết học dưới khẩu hiệu “quay về với Platôn”.

21


Câu 15: Những nội dung cơ bản trong triết học của Arixtốt như thế nào ?


Trả lời:
Arixtốt (384 – 322 Tr.CN) là đại biểu cho trí tuệ bách khoa của Hy Lạp cổ
đại. C.Mác gọi Arixtốt là nhà tư tưởng vĩ đại nhất của thời cổ đại; Ph. Ăng ghen coi
Arixtốt là khối óc bách khoa nhất trong số những nhà triết học Hy Lạp cổ đại.
Arixtốt đã nghiên cứu triết học, lôgíc học, khoa học tự nhiên, sử học, chính trị học,
mỹ học,…
Sự phê phán của Arixtốt đối với Platôn là một đóng góp quan trọng trong
lịch sử triết học. Arixtốt đã đề ra một loạt luận điểm quan trọng phản bác lại chủ
nghĩa duy tâm của Platôn. Ông thừa nhận sự tồn tại khách quan của thế giới vật
chất; giới tự nhiên là toàn bộ những sự vật có một bản thể vật chất mãi mãi vận
động và biến đổi. Do đó, muốn giải thích thế giới vận động, biến đổi thì không cần
đến những ý niệm của Platôn.
Khi phê phán Platôn, Arixtốt đã chống lại những nguyên lý cơ bản của chủ
nghĩa duy tâm nói chung, nhưng học thuyết đó của ông cũng chưa vượt qua được
những tư tưởng thần học và mục đích luận. Do đó mâu thuẫn với tất cả những tiến
bộ trong “khoa học bách khoa” của ông, gần gũi với “đường lối Platôn” và bộc lộ
rõ chủ nghĩa duy tâm. Nhận định về sự do dự của Arixtốt giữa chủ nghĩa duy vật
và chủ nghĩa duy tâm và giải thích tính chất duy tâm trong học thuyết của Arixtốt,
V.I. Lênin viết: “ Đương nhiên, đó là chủ nghĩa duy tâm, nhưng một chủ nghĩa duy
tâm khách quan hơn, xa xôi hơn và chung hơn so với chủ nghĩa duy tâm của
Platôn, và do đó, trong triết học tự nhiên, nó thông thường là bằng chủ nghĩa duy
vật”. Ở Arixtốt, chủ nghĩa duy tâm không phải là một hệ thống như Platôn mà chỉ
là một số quan niệm duy tâm tự mâu thuẫn với xu hướng duy vật trong triết học về
tự nhiên của ông.
Nhận thức luận của Arixtốt có vai trò to lớn trong lịch sử triết học Hy Lạp
cổ đại. Bác bỏ thế giới “ý niệm” của Platôn, Arixtốt thừa nhận thế giới vật chất
là đối tượng thực tế của nhận thức, là nguồn gốc của cảm giác. Cảm giác luận và
kinh nghiệm luận trong lý luận về nhận thức của Arixtốt đối lập với thuyết “Hồi
tưởng” duy tâm của Platôn. Nếu Platôn coi nguồn gốc duy nhất của hiểu biết là
do linh hồn bất tử nhớ lại thế giới “ý niệm”, thì Arixtốt cho rằng ai không cảm


22


giác là không nhận thức và không hiểu biết gì hết. Ở điểm này, Arixtốt là nhà
cảm giác luận duy vật.
Arixtốt đã nghiên cứu một cách sâu sắc những vấn đề của phép biện chứng
và lôgíc học. Phép biện chứng của ông thể hiện rõ trong cách giải thích cái chung
và cái riêng. Nếu như Platôn coi “ý niệm” với tính cách là cái chung hoàn toàn tách
rời khỏi sự vật với tính cách là cái riêng, thì Arixtốt lại đặt cái chung trong sự
thống nhất với cái riêng.
Arixtốt là người đặt nền móng cho lôgíc học-khoa học về những quy luật và
những hình thức của tư duy. Lần đầu tiên ông đưa tư duy trở thành đối tượng
nghiên cứu của một môn khoa học-lôgíc. Lôgíc học hình thức của Arixtốt đã nêu ra
những phương pháp cơ bản của việc xây dựng các khái niệm, phán đoán, suy lý
tam đoạn thức và chứng minh. Ông cũng là người đầu tiên nêu các quy luật cơ bản
của lôgíc học hình thức: Quy luật đồng nhất, quy luật phi mâu thuẫn lôgíc và quy
luật gạt bỏ cái thứ ba.
Như vậy, lịch sử triết học Hy Lạp cổ đại là lịch sử hình thành và phát triển
thế giới quan duy vật và thế giới quan duy tâm. Nét nổi bật của chủ nghĩa duy vật
Hy Lạp cổ đại là tính chất mộc mạc, thô sơ. Nó khẳng định thế giới vật chất tồn tại
khách quan không phải do thần thánh hoặc một lực lượng siêu nhiên nào tạo nên.
Thế giới vật chất xuất hiện từ vật chất, từ những nguyên thể vật chất đầu tiên như:
Nước, lửa, không khí, nguyên tử,… Song,do trình độ còn thấp của khoa học nên
các nhà triết học duy vật đương thời chỉ có thể quan sát trực tiếp các hiện tượng tự
nhiên và phỏng đoán để rút ra những kết luận triết học. Tuy vậy, quan niêm duy vật
thô sơ này đã có tác dụng rất lớn trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm,
chống tôn giáo, chống thần học cổ đại.
Nhiều nhà triết học Hy Lạp cổ đại đã nhận thức được và phát hiện nhiều yếu
tố của phép biện chứng như mối quan hệ giữa các sự vật và hiện tượng, sự vận

động vĩnh viễn của vật chất, tính thống nhất của những mặt đối lập của sự vật,…
Những yếu tố biện chứng đó chính là những phỏng đoán thiên tài, chưa được
chứng minh một cách khoa học và cũng chưa được nghiên cứu một cách tự giác.
Mác và Ăng ghen gọi đó là phép biện chứng ngây thơ, chất phác, đó là hình thức
đầu tiên, hình thức cổ đại của phép biện chứng.
Chủ nghĩa duy tâm trong triết học cổ đại đã có nhiều trào lưu khác nhau:
Chủ nghĩa duy tâm chủ quan (trường phái Pitago), chủ nghĩa duy tâm khách quan
23


(trường phái Platôn), chủ nghĩa hoài nghi (trường phái Acađêmi)-chủ nghĩa bất khả
tri cổ đại của Pirông. Chúng thường gắn với tín ngưỡng, tôn giáo và do đó thường
được giai cấp thống trị sử dụng như một công cụ tinh thần của mình.

Câu 16: Cuộc đấu tranh giữa duy danh và duy thực trong triết học phương Tây thời
trung cổ như thế nào ?
Trả lời:

Triết học Phương Tây thời trung cổ chủ yếu là triết học kinh viện và thần
học. Triết học tách rời cuộc sống chủ yếu là thần học quanh quẩn trong kinh viện
và giáo lý. Nó được chia làm hai trường phái là duy danh luận và duy thực luận.
Hai trường phái này đấu tranh với nhau quanh khái niệm cái chung (cái chung tồn
tại và cái chung không tồn tại). Chỉ trên nội dung cơ bản đó mà cuộc đấu tranh đã
kéo dài đến vài thập kỷ ở khắp các thành phố và nhà thờ trung cổ ở Châu Âu lúc
bấy giờ. Thực chất của cuộc đấu tranh đó là:
Về bản thể luận
Duy thực đại biểu là Tô-mát Đa-canh. Phái duy thực đưa ra Thuyết “ánh
sáng”, “thượng đế” và được gọi là triết học kinh viện. Họ cho rằng thế giới tự
nhiên do thượng đế sinh ra, vật chất thế giới là hư vô không xác định là cái thụ
động (còn cái vận động và cái xác định là hình thức của nó), hình thức của mọi

hình thức là thượng đế. Nó nằm ngoài sự vật nên khi nó xâm nhập vào sự vật và
vận động, đến khi thực tế mất đi thì phần hồn trở về với thượng đế, đó chính là
khái niệm cái chung “khái niệm của khái niệm là thượng đế”. Tóm lại xét về bản
nguyên của thế giới theo phái duy thực là thượng đế sinh ra sự vật hiện tượng.
Duy danh (đại biểu là Uy-li-am-ốc-cam), với quan niệm vật tự nó, không có
tinh thần nào cả. Ông cho rằng khái niệm chung vẫn nằm trong sự vật hiện tượng
cụ thể, không có cái chung cũng không có cái riêng, cái chung có cái phổ biến
nhưng không nằm ngoài cái riêng cụ thể, thừa nhận có sự vật hiện tượng mà không
phụ thuộc vào tinh thần nào cả.
Nhận thức luận
24


Duy thực: về khái niệm cái chung là khái niệm tồn tại trong lý tính của thần
thánh, trước khi sự vật có, khi thâm nhập vào cái chung các vật thể làm cho nó có
linh hồn. Tô-mát Đa-canh cho rằng con người cũng vậy, nên không có chúa thì con
người sẽ chết. Mà ngược lại chính kinh thánh là phần hồn khi con người hiểu kinh
thánh là con người của chúa.
Duy danh: nhận thức là bắt đầu từ kinh nghiệm, muốn nhận thức được phải
đi từ cái riêng đến cái chung “kinh nghiệm chung và khái niệm chung” chỉ tồn tại
bên sự vật hiện tượng mà thôi, không phải nằm ngoài sự vật hiện tượng. Uy-li-amốc-cam chưa thấy quan hệ giữa cái chung và cái riêng từ đó ông đi đến kết luận có
khái niệm chung của một nhóm nào còn cái chung nhất vẫn là tồn tại ở chúa. Do
đó ông chỉ có một phần duy vật, còn lại vẫn là duy tâm.
Chính trị-xã hội
Duy thực cho rằng mọi sự vật hiện tượng trên thế giới được sắp đặt theo nấc
thang tôn ti trật tự là có trước, từ vật thể đến thiên thần, đến thần thánh và đến đức
chúa trời quyết định.
Duy danh đã chứng minh chính quyền là không phụ thuộc vào tôn giáo cho
rằng tôn giáo chỉ chăm sóc phần hồn, còn nhà nước chăm lo phần nhục thể. Uy-liam-ốc-cam đã tách nhà nước và tôn giáo ra làm hai, ý đồ của ông là tách tôn giáo
ra khỏi chính quyền, ông cho rằng thần học chỉ nghiên cứu linh hồn của chúa còn

triết học phải nghiên cứu cái gì đó, đó chính là nghiên cứu vũ trụ và tự nhiên.

Câu 17: Đặc điểm triết học và những nhà triết học tiêu biểu thời kỳ Phục Hưng ?

Trả lời:
Thời Phục hưng là thời kỳ chuyển biến lớn văn hoá châu Âu vào nửa sau thế
kỷ XV đến đầu thế kỷ XVII, thuật ngữ “Phục hưng” được dùng để chỉ sự thoát
khỏi những ràng buộc kìm hãm của thời kỳ trung cổ, khôi phục lại sự phát triển rực
rỡ của nền văn minh thời cổ đại. Thời Phục hưng chính là giai đoạn quá độ từ chế
độ phong kiến sang chế độ tư bản chủ nghĩa.

ở giai đoạn này xã hội có nhiều mặt

phát triển nhanh chóng so với thời trung cổ. Những phát kiến về địa lý như tìm ra
châu Mỹ, việc mở đường biển sang ấn độ và phát triển giao lưu kinh tế, văn hoá đã
góp phần đẩy mạnh quá trình tích luỹ tư bản đầu tiên. Nhiều sáng chế kỹ thuật mới
25


×