Mở Đầu
Các loài keo thuộc họ Đậu (Fabaceae), họ phụ Trinh nữ (Mimosoideae),
thuộc ba chi phụ Acacia, Aculeiferum và Phyllodinae (Maslin and Mc Donald,
1996). Trên thế giới có khoảng 1250 loài, phân bố tự nhiên tại một số vùng
nh châu á, châu Phi, châu Mỹ và châu đại Dơng tuy nhiên chúng đặc biệt phát
triển tốt ở Châu phi và Ôxtrâylia. Riêng tại Ôxtrâylia có khoảng 850 loài keo
trong đó có hàng trăm loài có lá giả (Phyllode) [8].
Theo tài liệu phân loại thực vật của Lecomte (1908, dẫn từ Ngun
Hoµng NghÜa, 1993 ) ViƯt Nam cã vµi loµi keo Acacia bản địa nh dây móc
mèo trâu (A. donnaiensis Gagnep), Me ăn lá (A. intsia Willd ). Song các loài
này đều là các loài cây nhỏ, cây bụi, dạng leo và không đợc đa vào các chơng
trình trồng rừng.
Trong thời gian gần đây, các loài keo đợc a trồng tại các nớc Châu á
trong đó có Việt Nam, đặc biệt là các loài keo tai tợng (A. mangium ), keo lá
tràm (A. auriculiformis) trong các chơng trình phủ xanh đất trống đồi trọc,
trồng rừng cung cấp nguyên liệu giấy trong nớc, xuất khẩu và bảo vệ môi trờng, Theo số liệu thống kê năm 1999 thì tổng diện tích trồng rừng keo tại Việt
Nam là 225.073 ha, trong đó rừng trồng thuần loài là 164.288 ha, rừng trồng
hỗn giao là 63.785 ha [14]. Đây là những loài cây phù hợp với các vùng sinh
thái có độ cao <1000m so với mặt nớc biển. Trong diện tích đất trống đồi núi
trọc ë níc ta cã mét phÇn lín thc vïng nói cao ở các tỉnh phía Bắc nh Cao
Bằng, Hà Giang, Lào Cai, Sơn La, Lai Châu thuộc dÃy Hoàng Liên Sơn, một
phần ở các tỉnh thuộc vùng Tây Nguyên nh Kon Tum, Lâm Đồng cùng một
phần diện tích ở phía tây tỉnh Nghệ An. Trên những diện tích này ngoài những
loài cây nông nghiệp có điều kiện sinh thái phù hợp, có thể gây trồng một số
loài cây lâm nghiệp : Pơmu, Thông ba lá, Thông đuôi ngựa Vì vậy việc Vì vậy việc
chọn một số loài cây lá rộng mọc nhanh có giá trị kinh tế, có đặc điểm sinh
thái phù hợp và có khả năng cải tạo đất, làm băng xanh cản lửa cho các loài
cây lá kim hoặc trồng riêng lẻ làm phong phú thêm tập đoàn cây lâm nghiệp,
góp phần cải thiện đời sống của nh©n d©n miỊn nói [4]
Keo vïng cao thc chi phơ Phyllodinae với hơn 900 loài (Maslin và
McDonald, 1996 ). Đây là loài cây mọc nhanh , sinh trởng tốt , thân thẳng,
cành nhánh nhỏ , thích hợp với vùng sinh thái núi cao, là loài cây nguyên liệu
có giá trị kinh tế cao, chu kỳ kinh doanh ngắn phù hợp với vùng sinh thái vùng
cao đang đợc qui hoạch trồng rừng nguyên liệu nh vùng Tây nguyên. Ví dụ nh
loài A.mearnsii, đây là loài cây nguyên liệu có giá trị kinh tÕ cao [4]. Theo kÕt
1
quả phân tích của Viện hàn lâm Khoa học Mỹ (1980), thì hàm lợng Tannin
trong vỏ cây A.mearnsii đến 40%, còn khi trồng tại Trung Quốc, thì hàm lợng
tannin lên ®Õn 43% ( Fang Yulin et al, 1994, Li Jiyuan et al, 1994 ), gỗ
A.mearnsii có hàm lợng bột giấy 52% (Clark et al, 1994) tơng đơng hàm lợng
bột giấy của các loài keo tai tợng, keo lá tràm trồng ở nớc ta ( phân tích tại
Nhật, Takashi, 1996 ). Nghiên cứu tại Indonesia cho thấy gỗ sấy khô của loài
A.mearnsii có thể đạt nhiệt trị 4650Kcal/kg, nên Viện hàn lâm khoa học Mỹ đÃ
giới thiệu loài cây này cây trồng làm củi cho vùng cao của các nớc nhiệt đới
( Viện hàn lâm khoa học Mỹ, 1980, dẫn từ Lê Đình Khả, 2000 ). Tại Sri lanka,
loài cây này đợc trồng để che bóng cho chè.
Hoặc nh loài A.melanoxylon, đây là loài cây gỗ lớn, chiều cao có thể đạt
40m, đờng kính ngang ngực đạt 1.5 m, là loài cây rất có giá trị trong ngành
công nghiệp mỹ nghệ.
Ngoài ra đây là loài cây họ đậu, nên nó còn có tác dụng cải tạo đất,
trồng làm cây che bóng cho chè, cà phê, hoặc trồng làm băng xanh cản lửa cho
các loài cây lá kim [4].
Các loài keo vùng cao lần đầu tiên đợc đa vào trồng thử nghiệm ở nớc ta
vào năm 1994 tại một số vùng sinh thái núi cao nh Tam đảo, Ba vì, đà lạt.
Riêng keo vùng cao đợc đa vào trồng khảo nghiệm tại Đà lạt Lâm Đồng
do Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng Viện Khoa Học Lâm Nghiệp Việt
Nam hợp tác với tổ chức CSIRO và Trung Tâm nghiên cứu thực nghiệm lâm
sinh Lâm Đồng tiến hành vào năm 1996. Đến năm 2000, đà có kết quả và đà đợc hội ®ång c«ng nhËn gièng – Bé NN & PTNT c«ng nhận năm 2000. Tuy
nhiên, cần nhận thấy rằng giai đoạn 4 năm tuổi còn quá sớm để nhận định cho
một giống cây rừng.
Với mong muốn góp phần bổ sung thêm các luận cứ về mặt lý luận đồng
thời xác định đợc các loài, xuất xứ có giá trị kinh tế, thích hợp với vùng sinh
thái núi cao chúng tôi tiến hành thực hiên đề tài :
Khảo nghiệm loài và xuất xứ Keo vùng cao tại Đà lạt Lâm Đồng “..
2
Chơng 1
Tổng quan vấn đề nghiên cứu
1.1-Tầm quan trọng của giống cây rừng :
Giống là một trong những khâu quan trọng nhất của trồng rừng thâm
canh. Không có giống đợc cải thiện theo mục tiêu kinh tế thì không thể đa
năng suất rừng lên cao đợc. Cải thịên giống cây rừng chỉ có hiệu quả khi nó kết
hợp đợc tất cả sự khéo léo về lâm sinh và chọn giốngcủa nhà lâm nghiệp để sản
xuất ra đợc những sản phẩm cây rừng một cách nhanh nhất và rẻ nhất, là một
cuộc .hôn nhân giữa chọn giống cây rừng và các biện pháp lâm sinh
( S.Zobel và S.Talbert, 1984 ). Không thể thu đợc năng suất rừng tối đa khi
không sử dụng những cây có chất lợng di truyền tốt nhất, ngợc lại bất luận
một giống cây rừng xuất sắc nh thế nào về mặt di truyền vẫn không đạt đợc sản
phẩm tối đa nếu không áp dụng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh trong một thời
gian dài. Vì thế , khi nói đến cải thiện giống cây rừng một mặt phải nghĩ đến
việc áp dụng các nguyên lý di truyền học và chọn giống để nâng cao năng suất
và chất lợng cây rừng mục tiêu kinh tế là chính, mặt khác không bao giờ đợc
quên các biện pháp kỹ thuật lâm sinh thích hợp với đặc điểm sinh thái của các
loài cây rừng [10].
Khảo nghiệm loài là bớc đầu tiên trong chơng trình trồng rừng, đồng
thời cũng là chơng trình chọn giống. Khảo nghiệm loài thực chất là chọn loài
cây có các đặc tính phù hợp với mục đích kinh tế và thích hợp với điều kiện
khí hậu - đất đai của mỗi vùng [10].
3
Thông qua khảo nghiệm loài thì mới xác định đợc loài tốt nhất, thích
hợp nhất, phù hợp với mục đích kinh doanh và phù hợp với điều kiện lập địa
nơi trồng rừng. Tuy nhiên, chọn đợc loài phù hợp với yêu cầu đặt ra vẫn cha đủ
vì trong loài có nhiều xuất xứ khác nhau vì thế cần phải chọn đợc xuất xứ tốt
nhất, có khả năng thích ứng cao nhất, phù hợp với các mục tiêu đà đặt ra.
Khảo nghiƯm Xt xø lµ bíc thø hai tiÕp theo cđa khảo nghiệm loài, là
sự tập hợp nguồn hạt từ các vùng sinh thái khác nhau của một loài nào đó đà đợc xác định, xây dựng khảo nghiệm để so sánh nhằm tìm ra một hay một số
xuất xứ tốt nhất, có tỷ lệ sống cao, có năng suất cao theo các mục tiêu kinh tế
và có khả năng phòng chống sâu bệnh cũng nh các điều kiện bất lợi khác [10].
Đối với các loài cây nhập nội thì khảo nghiệm là một bớc không thể thiếu đợc
trong công tác chän gièng. Kh¶o nghiƯm xt xø cã ý nghÜa qut định, là cơ
sở lý luận cho chọn lọc cây trội, gây tạo giống mới. Khảo nghiệm xuất xứ
nhằm chọn ra đợc những xuất xứ tốt nhất, đáp ứng đuợc các yêu cầu của nhà
chọn giống. TheoWillan ( 1988 ) thì việc chọn xuất xứ trong các loài có biến dị
lớn có thể cho tăng thu 15 30%. Từ các xuất xứ tốt nhất tiến hành chọn lọc
cây trội, thu quả, hạt từ các cây trội chọn đợc trong các xuất xứ tốt nhất tiến
hành khảo nghiệm giống sau đó xây dựng vờn giống tiép theo tạo vật liệu
giống bằng hạt, bằng hom hoặc nuôi cấy mô, Vì vậy việcvà cuối cùng là trồng rừng mới
( rừng cao sản). Hoặc sau khi khảo nghiệm xuất xứ tiến hành tạo rừng giống
rồi tiến hành tạo vật liệu giống, cuối cùng là trång rõng míi. Cịng cã thĨ tõ
rõng gièng chun ho¸ tiến hành các bớc tơng tự nh trên.
Trong một số trờng hợp có thể kết hợp khảo nghiệm loài và khảo
nghiệm xuất xứ khi nắm đợc một số thông tin cần thiết về đối tợng nghiên cứu.
Đây là phơng thức rút ngắn đợc thời gian đi từ nghiên cứu đến sản xuất và đang
đợc áp dụng tại nhiều nớc trên thế giới.
Nói tóm lại , khảo nghiệm loài và xuất xứ có ý nghĩa quyết định đến sự
thành bại trong sản xuất lâm nghiệp. Thông qua khảo nghiệm loài và xuất xứ
chúng ta mới chọn đợc một cách chắc chắn xuất xứ thích hợp nhất để sử dụng
cho một chơng trồng rừng trên một số vùng sinh thái khác nhau, đặc biệt là đối
với loài cây nhập nội. Cây rừng sinh trởng và phát triển trÃi qua hàng trăm
năm, mỗi loài có các khu phân bố khác nhau. Dới tác động của chọn lọc tự
nhiên và chọn lọc nhân tạo đà mở rộng phạm vi thích ứng của loài trên nhiều
vùng sinh thái khác nhau trong phạm vi phân bố của loài, do chọn lọc tự nhiên
mà hình thành các biến dị di truyền hết sức phong phú về cả hình thái, tập tính
sinh trởng và cả khả năng chịu đựng. Loài có phạm vi phân bố càng rộng trên
4
nhiều vùng sinh thái khác nhau thì càng có nhiều biến dị di truyền, do đó càng
có nhiều khả năng để lựa chọn những biến dị phù hợp với mục tiêu chọn giống
ở từng khu vực. Khảo nghiệm loài và xuất xứ chính là sự lợi dụng các biến dị
di truyền sẳn có trong tự nhiên một cách có cơ sở khoa học, thông qua việc
thực nghiệm gây trồng trên những lập địa mới. Đây là phơng pháp chọn giống
nhanh nhất và hiệu quả nhất [10]. Có thể tóm lợc chơng trình cải thiện giống
cây rừng theo sơ đồ sau :
Theo Anderson ( 1996 ) : “. Mét xuÊt xø đáng tin cậy sẽ sản xuất ra một
giống cây rừng với 90% khả năng chắc chắn hơn là một xuất xứ xuất sắc song
chỉ có 50% khả năng.( dẫn từ Lê Đình Khả, 1998 ).
Sơ đồ chung của cải thiện giống cây rừng
(Lê Đình Khả & Dơng Mộng Hùng 1998)
5
Khảo nghiệm
loàI ( chọn loài)
Chọn lọc cây
trội
Khảo nghiệm xuất xứ
( chọn xuất xứ)
Rừng giống
Vờn giống
chọn cây trội
Chuyển hoá rừng
giống
nhân giống bằng
công nghệ hom, mô
Khảo nghiệm
giống
Vật liệu giống
( Hạt, hom Vì vậy việc)
Rừng trồng mới
( Rừng cao sản)
1.2- Khảo Nghiệm Loài / Xuất xứ Keo vùng cao trên thế
giới :
Nh đà nói , keo vùng cao là loài cây có giá trị kinh tế, đặc biệt là các loài
A.mearnsii, A.melanoxylon vì thế năm 1843 loài cây A.maernsii đà đợc nhập
vào ấn độ trồng làm củi, năm 1884 đà đợc nhập vào nam phi để sản xuất
tannin (Lê Đình Khả dẫn từ Boland et al, 1984). Hiện nay loài cây này đà ®ỵc
trång ë vïng nói cao nhiƯt ®íi cđa nhiỊu níc trên thế giới nh ấn Độ, Trung
6
Qc, Sri-lanka, Indonesia, Brazil vµ mét sè níc Trung Mü, các nớc Trung Phi
và Nam Phi.
Riêng ở Brazil đến năm 1993 đà có 200.000 ha A.maernsii đợc gây
trồng để làm củi và nguyên liệu phục vụ cho ngành công nghiệp giấy ( Lê Đình
Khả, 2000, dẫn từ Higa và Resende, 1994) [4].
Tại Nam phi có khoảng 160.000 ha rừng trồng A.mearnnsii (Boucher,
1980 ), 30.000ha rừng trồng A.mearnsii đợc trồng tại các nớc Đông phi nh :
Zimbabwe, Kenya, Tanzania, Vì vậy việcđể sản xuất tannin, (Wiersum, 1991 )
đà có một vài nghiên cứu về loài A.mearnsii tại Zimbabwe. Theo I.E.
Luyt, L.J. Mullin và D.P. Gwaz dẫn từ Sherry, 1971 thì đà có một vài khảo
nghiệm đợc thiết lập tại Cecil Rhodess Estates tại Nyanga cao nguyên
Eastern và tại Matopos gần Bulawayo vào năm 1902. Các giả này đà đề xuất
mật độ trồng đối với loài A.mearnsii tại Zimbabwe ( 2469 cây/ ha ),và quy
trình chăm sóc: sau khi trồng cần phải chăm sóc cho đến 12- 18 tháng sau khi
trồng và đến khi chiều cao trung bình của lâm phần đạt 4m thì tiến hành tỉa th a, mật độ để lại từ 1500 1700cây/ ha để bảo vệ và khai thác ...[25]
Một nghiên cứu khác về tiềm năng trồng rừng kinh tế đối với hai loài
A.melanoxylon và A.dealbata đà đợc nhóm tác giả W.A.Neilsen, P.D.Kube và
H.J. Elliott thực hiện tại Tasmania vào năm 1992 [19]
Tại Trung quốc , A.mearnsii đợc trồng nh là loài cây sản xuất tannin víi
diƯn tÝch lµ 10.433 ha ( Ho vµ Fang, 1987 ) ngoài ra ,loài cây này còn đợc
trồng để che bóng cho chè ở Sri-lanka [4].
Loài A.melanoxylon cũng đợc a chuộng tại nhiều nớc trên thế giới nh
tại ấn độ, Nam phi, Niu di lân và một vài quốc gia ở Nam mỹ (Gleason, 1986,
Nicholas và Gifford, 1995 ). Các loài cây này đợc trồng tại các quốc gia có
nhiều ®åi nói (®é cao so víi mỈt níc biĨn tõ 1400 2000 m) (Midglay và
Vivekanand, 1987 ) hoặc những quốc gia có độ cao so với mặt nớc biển
> 1200m (Streets, 1962). Tuy nhiªn vÉn cha cã mét nghiªn cứu nào đợc tiến
hành trong suốt thời gian này. Gần đây, có một số nghiên cứu đà đợc thực hiện
tại một số nớc ở Châu á nh Trung quốc, Việt nam và ở úc thông qua dự án
ACIAR FST 9227 về phát triển bền vững keo úc .
Năm 1994, một khảo nghiệm loài, xuất xứ đợc thiết lập tại miền Nam
Trung quèc ( Temperate Australian Acacia Species Trials in Southern China ).
VËt liƯu nghiªn cøu ( phơ lơc 2 ) là 64 xuất xứ thuộc 28 loài keo đà đợc thiết
lập tại 02 vùng lập địa thuộc tỉnh Quảng Đông vµ 01 vïng thuéc tØnh Shixing
– Trung Quèc. Vïng nµy có phân bố địa lý : 2314 - 2550 độ vÜ b¾c,
7
11324- 11501độ kinh đông, độ cao so mặt nớc biển : 200 350 m, nhiệt
độ trung bình năm từ 189 - 218 , lợng ma trung bình năm 1569 1694mm ,
đất đai : đất đỏ vàng phát triển trên đá Granit, có pH : 3,8 4,4. Đây là vùng
đất acid, với 80% diện tích đất rừng trong tỉng sè 105.000 km 2 vïng nói t¹i
miỊn Nam Trung quốc.
Khảo nghiệm này nhằm huớng đến sự đồng nhất trong việc chọn loài
cây trồng phù hợp vùng sinh thái á nhiệt đới của miền Nam Trung quốc, có
khả năng cải thiện đất đai. Khu vức nghiên cứu là nơi có khá nhiều diện tích
đất nghèo dinh dỡng. Đồng thời đáp ứng đợc mục tiêu sản xuất kinh doanh. Bớc đầu kết quả đạt đợc sau 30 tháng trồng khảo nghiệm đà xác định đợc một số
xuất xứ thuộc 8 loài cã triÓn väng : A.filicifolia, A.glaucocarpa, A.implexa,
A.leucocladl, A.mearnsii, A.melanoxylon, A.parramattensis và A.parvipinnula.
Thông qua các chỉ tiêu đánh giá: tỷ lệ sống, tỷ lệ nảy mầm, sinh trởng về
chiều cao , đờng kính và thể tích [17] .
+ Tỷ lệ nảy mầm : Phần lớn các loài và xuất xứ có tỷ lệ nảy mầm cao
nh: A.melanoxylon, A.implexa, A.elata ( >80% ). Cao nhÊt lµ xuÊt xø
A.melanoxylon 17263 ( 95%), thÊp nhất là 7 lô hạt A.nano dealbata 17195,
A.dealbata 16384, A.fulva 15843, A.obliquinervíă75: 18070, A.dangarensis
18608 và A.glaucocarpa 15473 với tỷ lệ nảy mầm đạt đợc từ 11 33%.[17]
+Tỷ lệ sống của các loài / xuất xứ sau 30 tháng tại các vùng lập địa : Tại
các vùng lập địa có sự khác nhau về tỷ lệ sống , nh tại vïng Longdong loµi
A.melanoxylon cã tû lƯ sèng lµ 97,5%, nhng tại vùng Shixing chỉ đạt 25%. Tuy
nhiên tính chung cho cả ba vùng thì các loài sau có tỷ lệ sống cao , đó là :
A.glaucocarpa,A.implexa, A.mearnsii, A.irrorata và A.melanoxylon (từ 46
69% ) . Thấp nhất là các loài / xuÊt xø : A.dealbata ( víi 4 xuÊt xø : 16384;
16269 ; 18024 vµ 16271 ), A.obliquinervia ( víi 2 xuÊt xø 16273 ; 16875 ) tõ
18 – 25%.
+ Các chỉ tiêu sinh trởng về đờng kính , chiều cao và thể tích tính chung
cho cả ba lập địa thì các loài và xuất xứ có sinh trởng tốt nhÊt lµ :
A.melanoxylon(16358), A.parramattensis ( 17711 ), A.leucocada (18621 ) và
A.mearnsii ( 17928 ) với các chỉ số sinh trởng : D = 4.3cm – 5.0cm ;H = 3.5m
– 4.7m ; V= 2.9 4.3 dm3. Kém nhất là các loµi /xuÊt xø A.elata ( 18243 );
A.dealbata ( 18024; 16269 ) và A.binervata ( 17260 ) với các chỉ số sinh trëng
t¬ng øng : H = 1.9 – 2.3m ; D = 1.1 – 1.13 cm; V = 0.01 – 0.12 dm3.
Kết quả trên cho thấy rằng sinh trởng của các loài/ xuất xứ trên các lập
địa khác nhau có khác nhau , tuy nhiên nhìn chung các loài / xuÊt xø sau cho
8
thấy có khả năng thích ứng và sinh trởng , phát triển tốt trên vùng núi cao là :
A.melanoxylon, A.mearnsii, A.parramattensis và A.glaucocarpa. Đặc biệt là
xuất xứ 16358 vùng Bli Bli S.E Qld thuộc loài A.melanoxylon với các chỉ số
tỷ lệ sống đạt 98%, chiều cao đạt 6.3m, đờng kính ngang ngực (8.7cm). Đây là
những loài/ xuất xứ có thể mang lại một tiềm năng lớn trong công tác trồng
rừng tại các vùng núi cao , đất nghèo dinh dỡng và là loài cây có thể mang lại
nguồn thu nhập cho trồng rừng vì đây là loài cây có chu kỳ kinh doanh ngắn,
mức đầu t thấp và là loài cây có thể phát triển một cách bền vững tại các vùng
núi cao, đất xấu[17].
+ Năm 1994 , một khảo nghiệm về sinh trởng và dạng thân của 25 loài
keo vùng cao đợc tiến hành tại hai vùng Kowen và Uriarra gần Canberra
Australia [21]. Khảo nghiệm đợc thiết lập trên 2 vùng có sự đồng nhất ( tơng
đối ) về điều kiện lập địa ( đất đai : ®Êt potzon ®á, pH : 4.6 – 5.0 ; ®é cao so
víi mỈt níc biĨn 517 m ) . Khu vực nghiên cứu có vị trí địa lý : : 3518 3520độ vĩ nam và 14856 - 14915độ kinh đông. Đây là vùng có điều kiện
khí hậu khá khắc nghiệt , nhiệt độ thấp nhất trong năm là -10c , nhiệt độ cao
nhất trong năm là 43c và có nhiều sơng giá. Vật liệu nghiên cứu là 64 xuất xứ
thuộc 25 loài keo vùng cao và một loài bạch đàn ( phụ lục3 ). Nghiên cứu này
nhằm đánh giá khả năng sinh trởng của các loài / xuất xứ cũng nh dạng thân,
số thân và độ lớn của cành, thộng qua các chỉ tiêu đờng kính ( D ) , chiỊu
cao ( H ), thĨ tÝch th©n c©y ( V ) và dạng thân, số thân trên một cây nhằm đáp
ứng đợc các mục đích về gỗ củi , gỗ giấy , sợi tơ, than củi, của vùng
Canberra. Kết quả đánh giá sinh trởng tại thời điểm 32 tháng sau khi trồng.
Các chỉ tiêu đánh giá là tỷ lệ sống và các chỉ tiêu sinh trởng về chiều cao, đờng
kính và thể tích thân cây, dạng thân, số thân, độ lớn của cành... 32 tháng sau
khi trồng tỷ lệ sống đạt đợc tơng đối cao ( 72% tại Kowen và 89% tại
Uriarra ). Các chỉ tiêu về sinh trởng có sự sai khác giữa các loài / xuất xứ , các
loài /xuất xứ có triển vọng nhất ( tính chung cho cả 2 địa điểm nghiên cứu ) đó
là : A. decurrens, A.mearnsii, đây là các loài đáp ứng các mục đích đặt ra và
nhân tố sơng giá có anh hởng nghiêm trọng đến tỷ lệ sống và khả năng sinh trởng của các xúât xứ của các loài : A.binervata, A.cangaiensis, A.elata,
A.falciformis, A.implexa, A.melanoxylon.
Kết quả sau 32 tháng cho thÊy mét sè loµi/xt xø cã sinh trëng chiỊu
cao tèt nhÊt ë c¶ hai khu kh¶o nghiƯm : A.dealbata, A.decurrens, Afilicifolia,
Airrorata ssp. Velutinella, A.parvapinula và A.trachyphloia. Kết quả tại từng
khu vực nghiên cứu có sự khác nhau về các chØ tiªu sinh trëng nh :
9
- Về chiều cao trung bình tại Kowen là 3.5 m, tuy nhiên có sự khác biệt
của từng xuất xứ giữa các lặp : có xuất xứ tại lặp này sinh có sinh trởng chiều
cao là tốt nhất nhng tại lặp khác thì có chiều cao lại là kém nhất. Tại Uriarra là
4.1m , tuy nhiên đây là đánh giá thấp nhất, tại khu vực này sinh trởng của cây
bị ảnh hởng bởi sự phá hại của chim ( khoảng 18% ) ( S.D. Searle, D.T.
Jamieson vµ N.K. Cooper, 2000 ) .
- Sinh trởng đờng kính : tại Kowen xuất xứ có sinh trởng cao nhất là các
xuất xứ của các loài A.decurrens (8.3 8.5cm), A.mearnsii (8.0 8.9 cm).
Tại Uriarra, xuất xứ có sinh trởng cao nhất là các xuất xứ của các loài
A.decurrens và A.mearnsii ( 9.4 – 10.0 cm ).
- VỊ thĨ tÝch th©n c©y : tại Kowen, các xuất xứ tốt nhất là : A.decurrens
15847 ( V = 9.9 dm3 ), 14726 ( 8.4 dm3 ), tiếp là các xuất xứ của loài
A.mearnsii từ Tarpeena South Australia (SA) (17928; 8.2 dm 3 ), Kyneton
victoria ( 18979 ; 7.9dm3 ) và Bodalla NSW (16621; 7.6dm3). Tại Uriarra, các
xuất xứ có sinh trởng về đờng kính tốt nhÊt : A.decurrens (15847) : 12.3 dm3 ;
A.mearnsii tõ Bungendove NSW (18975) : 11.5 dm3, A.mearnsii tõ terpeena
south Australia (17928) : 11.4dm3. Nh vậy, cả hai lập địa đều cho thÊy hai loµi
A.decurrens vµ A.mearnsii cã sinh trëng lµ tèt nhất, có thể đáp ứng đợc các
mục đích đà đặt ra.
- Đánh giá về hình dạng thân và số thân trên cây , kết quả cho thấy tại
Kowen từ 1.4 4.0 thân, còn tại Uriarra từ 1.7 4.0 thân. Điều này cho thấy
rằng các loài / xuất xứ tại hai lập địa có dạng thân và số thân là tơng tự nhau ,
trong đó loài A.melanoxylon có số thân là thấp nhất ( 1.6 thân ), tiếp đó là các
loài A.dealbata 16484 ( 1.7 ). Loài có số thân nhiều nhất là A.irrorata 15840
( 3.5 thân ). Đánh giá về độ nhỏ của cành thì các xuất xứ của các loài
A.blayana, A.decurrens 14726, A.falcifomis 16253, A.implexa 18611.
Cùng với khảo nghiệm này, S.D. Searle còn đánh giá khả năng chịu đựng
sơng giá của 25 loài keo vùng cao [22]. Nh đà giới thiệu ở phần trớc, tại khu
vực thiết lập khảo nghiệm có khí hậu rất khắc nghiệt. Canberra có khí hậu lục
địa, có sự khác biệt rất lớn giữa mùa hè và mùa đông. Vào mùa hè có nhiệt độ
rất nóng (lúc cao nhất 43c), vào mùa đông nhiệt độ rất lạnh ( có lúc xuống 6c ) và có nhiều sơng giá vào ban đêm, số ngày có sơng giá 100 ngày/năm.
Canberra là vùng có nhu cầu về chất đốt rất cao, khoảng 80.000 tấn gỗ
củi/năm. Sơng giá làm hạn chế đến khả năng sinh trởng của cây trong vùng, vì
thế nghiên cứu này nhằm xác định đợc các loài cây có khả năng sinh trởng và
phát triển tốt trong vùng có khí hậu khắc nghiệt này . Vật liệu khảo nghiệm là
10
25 loài keo và một loài bạch đàn ( phụ lục 3 ) sau 32 tháng tuổi kết quả bớc
đầu cho thấy có một số loài /xuất xứ có khả năng chịu đựng sơng giá và phù
hợp cho trồng rừng nguyên liệu gỗ củi : A.dealbata, A.decurens, A.filicifolia,
A.leucoclada, A.Paramattensis, A.A.mearnsii, A.nano dealbata và
A.trachyphloia và kém nhất là loài A.elata. Tác giả đà dùng phơng pháp cho
điểm để đánh giá theo các mức (7 mức). Kết quả phân tích cho thấy giữa hai
vùng lập địa có sự khác nhau về mức độ ảnh hởng của sơng giá đến sinh trởng
của các loài. Tại lập địa Kowen, số lợng cây bị ảnh hởng nhiều hơn tại lập địa
Uriarra . Tuy nhiên, tính chung cho cả hai lập địa thì kết quả nh trình bày ở
trên, kết quả này tơng tự nh kết quả đánh giá của Yang et al (1994), theo tác
giả này, họ đà có một nghiên cứu về khả năng sinh trởng và chịu đựng sơng giá
tại Quảng Đông Trung Quốc và đà xác định đợc một số loài có khả năng
chịu đựng sơng giá là : A.dealbata, A.paramttensis, A.trachyphloia vµ
A.deanei vµ kÐm nhÊt lµ loµi A.elata.
Cịng trong thêi gian này, một nghiên cứu về mối quan hệ giữa sự tạo vi
khuẩn nốt rể với các loài keo vùng cao do tác giả J.Brockwell Viện nghiên
cứu cây rừng CSIRO thực hiện [15]. Tác giả đà nghiên cứu mối quan hệ
cộng sinh giữa loài keo và vi khuẩn nốt rể. Bằng chứng cho thấy rằng các loài
keo cố định đạm trong đất và cung cấp đạm cho các loài cây đợc trồng xen với
chúng. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng các loài keo có ảnh hởng đến quá
trình cố định đạm trong đất .
Nh vậy có thể nhận thấy rằng keo vùng cao là loài cây phù hợp với các
vùng sinh thái núi cao, đất đai nghèo dinh dỡng, cũng nh điều kiện khí hậu
khắc nghiệt, là loài cây đa tác dụng vừa cung cấp gỗ củi, gỗ nguyên liệu và cải
tạo đất.
Vào năm 1996, một một đánh giá về phát triển bền vững các loài keo
vùng cao một cách bền vững tại Trung Quốc, Australia và Việt Nam thông qua
dự án ACIAR FST 9227 của nhóm tác giả G.A. Lubulwa, S.D. Searle và S.L.
McMniman [26] . Kết quả đánh giá cho thấy các loài có nhiều tiềm năng phát
triển một cách bền vững : tại Trung Qc : A.mearnsii, A.cincinnata,
A.dealbata, A. filicifolia, A.glaucocarpa, A.implexa, A.melanoxylon,…T¹i ViƯt
Nam : A.mearnsii, A. melanoxylon. T¹i Australia : A.dealbata, A.mearnsii,
A. melanoxylon, A.decurrens.
Qua các kết quả bớc đầu cho thấy các loài A.mearnsii, A.melanoxylon,
A.dealbata là trội hơn cả và có khả năng phát triển bền vững tại các vùng sinh
thái núi cao. Theo các tác giả G.A. Lubulwa, S.D. Searler va S.L. McMeniman
11
thì hai loài A.mearnsii và A.melanoxylon là có triển vọng nhất trong tất cả các
loài keo vùng cao đợc nghiên cứu trong dự án ACIAR FST 9227. Đây là hai
loài có chu kỳ kinh doanh và mục đích kinh doanh hoàn toàn trái ngợc nhau.
A.mearnsii có chu kỳ kinh doanh ngắn từ 6 8 năm, là lòai cây gỗ nhỏ với
mục đích kinh doanh chủ yếu là gỗ củi, gỗ nguyên liệu giấy, sản xuất tannin,
còn A.melanoxylon có chu kỳ kinh doanh dài hơn từ 40 50 năm, đây là loài
gỗ lớn cao đến 40m, đuờng kính có thể đạt 1.5m (S. Searle ) cung cấp gỗ có
chất lợng cao, làm đồ mỹ nghệ. Cả hai loài này đều có khả năng cải tạo đất.
Cũng theo các tác giả trên , khi nghiên cứu về năng suất của từng loài thì thấy
rằng đây là những loài có giá trị kinh tế cao, nh A.mearnsii lợng tannin (tấn/ha)
đạt 21 tấn / ha ; bột giấy (tấn/ ha) đạt 15 25 tấn, gỗ củi (tấn / ha) . Đối với
A.melanoxylon năng suất gỗ chất lợng cao đạt 15- 25 tấn. Hàm lợng đạm cung
cấp cho đất 8.4 kg/ha/năm (đối với A.mearnsii) và 5.7kg/ha/năm (đối với
A.melanoxylon).
Theo Clark et al.(1994) thì A.mearnsii và A.melanoxylon là hai loài phù
hợp cho sản xuất bột giấy, kết quả phân tích cho thấy : 608kg/m 3 (®èi víi
A.mearnsii), 502kg/m3 (®èi víi A.melanoxylon). Theo Turnbull (1986) thì
A.mearnsii còn thích hợp dùng làm củi. Ước tính hiện tại có khoảng 50% diện
tích rừng trồng A.mearnsii tại Việt Nam và 25% diện tích rừng trồng
A.mearnsii tại Australia dùng để cung cấp gỗ củi.
Ngoài ra còn có các nghiên cứu về đặc điểm di truyền về sinh trởng và
các tính chất gỗ của loài A. melanoxylon (Acacia melanoxylon a brief
review of genetic in growth and wood characteristics) cña S. Searle. Nghiên
cứu mô tả sự biến đổi các đặc tính di truyền trong gỗ và các sản phẩm ngoài
gỗ . Các đặc điểm của gỗ bao gồm % lõi gỗ (heartwood), màu sắc lõi gỗ , tỷ
trọng gỗ và các đặc tính đặc biệt khác. Các đặc điểm sinh trởng và phát triển:
chiều cao, đờng kính, dạng thân, khả năng chịu đợng sơng giá, khô hạn,kết
quả cho thấy rằng phần lớn các đặc tính gỗ của loài A.melanoxylon đều chịu sự
tác động của gen và môi trờng. Harrison (1975) ®· nãi r»ng t¹i Ch·u Phi
A.melanoxylon cã thĨ mäc bÊt cứ chổ nào nhng chỉ cho gỗ có chất lợng ở
những điều kiện nhất định.
Tóm lại , qua các nghiên cứu cho thấy rằng các loài A.mearnsii và
A.melanoxylon tỏ ra có nhiều triển vọng hơn cả và đà đợc trồng tại nhiều nớc
trên thế giới tại các vùng có độ cao so víi mỈt níc biĨn 200 - 350m, nhiƯt độ
trung bình năm 21.8C, nhiệt độ tối cao tuyệt đối 38.1C, nhiệt độ tối thấp tuyệt
đối - 7.5C, lợng ma trung bình năm 1694mm, đất đỏ vàng phát triển trên ®¸
12
Granít (tại Trung Quốc) và từ 585 - 618m, nhiệt ®é tèi cao tuyÖt ®èi 43C, nhiÖt
®é tèi thÊp tuyÖt đối -10C, lợng ma trung bình năm 1039mm, đất pốt zôn đỏ
(tại Canberra Australia).
1.3- Khảo nghiệm loàI / xuất xứ keo tại Việt Nam :
Vào đầu những năm 1960, gần 20 loài keo Acacia đà đợc đa vào Việt
Nam để gây trồng, song chỉ có loài keo lá tràm
(A.auriculiformic) là chứng tỏ khả năng thích nghi cao và sinh trởng tốt nên trở
thành loài cây trồng rừng quan trọng, nhất là ở các tỉnh phía nam [9].
Trong những năm gần đây, có nhiều loài keo đợc đa vào trồng thử
nghiệm tại nớc ta, keo tai tợng đà đợc a chuộng ®Ỉc biƯt. ViƯt Nam hiƯn ®ang
híng tíi viƯc sư dơng gỗ các loài keo Acacia làm nguyên liệu giấy và diện tích
trồng rừng keo ngày càng tăng lên. Từ những năm 1982, nhiều loài keo
Acacia đà đợc vào nớc ta phục vụ cho các khảo nghiệm loài, xuất xứ.
Từ năm 1990, một đề mục khảo nghiệm xuất xứ một số loài keo vùng
thấp do Ts. Nguyễn Hoàng Nghĩa chủ trì . VËt liƯu thùc vËt lµ 73 xt xø thc
5 loài keo Acacia và lô hạt đà có mặt từ năm 1982 cho tới năm 1992. Các khảo
nghiệm đợc thiết lập tại 8 điểm thuộc 6 tỉnh trong cả nớc , năm loài keo đợc
khảo nghiệm : keo tai tợng ( A.mangium ) với 34 xúât xứ, keo lá tràm
(A.auriculiformis) víi 19 xt xø , keo l¸ liỊm (A.crassicarpa) 11 xuất xứ, keo
đa thân ( A.aulacocarpa) 6 xuất xứ và keo bụi ( A.cincinnata) 3 xuất xứ. Các
khảo nghiệm đợc thiết lập Hà Tây, Bắc Thái , Vĩnh Phúc, Sơn La, Đông Hà,
Đồng Nai, Long An [9].
Kết quả khảo nghiệm loài cho thấy tại Đa Chông Hà tây loài keo tai
tợng là tốt nhất cả về các chỉ tiêu sinh trởng và cả các chỉ tiêu khác nh dạng
thân, số thân trên cây ( các chỉ tiêu sinh trởng tại thời điểm 8 tuổi : H =
15.42m, D = 18.95cm, số thân trên cây 1.1, tỷ lệ cây có một thân 92.3%). Kết
quả khảo nghiệm loài tại Hoá Thợng-Bắc Thái ,1984 cũng cho thấy keo tai tợng là loài sinh trëng tèt nhÊt ( H = 11.6m; D = 17.6cm ; sè th©n/c©y = 1.2 ; tû
lƯ c©y cã thân 80% ).
Tại Đại Lải Vĩnh Phúc,1986 cho thấy loài keo lá tràm là tốt nhất, với
các chỉ số sinh trởng sau 5 năm tuổi : H = 5.93m ; D = 6.11cm ; sè th©n/c©y :
1.2; tû lƯ cây có một thân : 83.7%, tiếp đó là keo tai tỵng ( H = 4.97m ;
D = 5.92cm ; sè th©n / c©y : 1.2 ; tû lƯ c©y cã mét th©n 80.9%).
13
Các kết quả về khảo nghiệm xuất xứ đợc thiết lập tại các tỉnh trên cả nớc
từ năm 1982-1992 cho thấy : Đối với keo tai tợng , các xuất xứ có triển vọng ở
giai đoạn đầu khảo nghiệm là các xuất xứ : Cardwell, Kennedy, Hawkins creek
và Kuranda. Trong các khảo nghiệm đồng bộ giai đoạn sau các xuất xø cã triÓn
väng nhÊt : Pongaki E.M tõ Papua New Guinea và Iron Range từ Australia.
Còn đối với keo lá tràm , các xuất xứ có triển vọng nhất : Coen river và
Kings Plaines . Ngoài ra các xuất xứ có nguồn gốc từ Queensland và Pa pua
New guinê.
Đối với keo l¸ liỊm ( A.crassicarpa),xt xø cã triĨn väng nhÊt là xuất
đến từ Mata Prov, Gubam, Derideri, và Pongaki E.M.
Còn ®èi víi A.aulacocarpa, xt xø cã triĨn väng nhÊt lµ Keru to Mata.
Các xuất xứ của A.cincinnata đều có sinh tởng kém.
Các kết quả khảo nghiệm tại các lập địa ở các tỉnh phía Nam cũng cho
kết quả tơng tự nh các kết quả khảo nghiệm tại các tỉnh phía Bắc, tuy nhiên
khi so sánh khả năng sinh trởng giữa hai vùng thì thấy ràng tiềm năng sinh trởng của các loài ở các tỉnh phía Nam khá hơn so với các tỉnh phía Bắc. Đối với
keo tai tợng, tăng trởng bình quân về chiều cao đạt 2m/năm, tăng trởng về đờng kính đạt 2 2.5cm/năm ở phía Bắc, trong khi đó ,ở phía Nam tăng trởng
bình quân về chiều cao đạt 4m/năm và tăng trởng đờng kính đạt 5cm/năm. Còn
đối với keo lá tràm thì có mức tăng trởng 2.4 2.8 m/năm về chiều cao, 2.5
2.8cm/năm.
Năm 1993 một khảo nghiệm loài và xuất xứ keo vùng khô trên vùng cát
ven biển miền trung Việt Nam đợc thực hiện tại Tuy Phong Bình Thuận và
Gia Ninh Quảng Ninh Quảng Bình do nhóm tác giả Phí Quang Điện- Lê
Đình Khả - Chris Harwood và cộng sự tiến hành [5]. Khảo nghiệm đợc thiết
lập tại vùng cát ven biển Miền Nam trung bộ nơi có khí hậu khô hạn nhất Việt
nam, có lợng ma trung bình năm 800 mm/năm. Vật liệu thực vật bao gồm 14
xuất xứ thuộc 11 loài keo chịu hạn cùng keo lá tràm, keo tai tợng và muồng
đen ( Cassia siamea ) làm đối chứng. Khảo nghiệm nhằm mục đích chọn đợc
những loài cây, những xuất xứ sinh trởng tốt phù hợp với các vùng đất cát ven
biển. Kết quả khảo nghiệm sau 3 năm tuổi tại Tuy Phong Bình Thuận cho
thấy các loài, xuất xứ có khả năng thích nghi với vùng đất cát ven biển miền
Nam trung bộ đó là các loài / xuất xứ A.difficilis (16177 ; 18417 ;19935 ) , mét
xt xø cđa loµi A.tumida 19932 vµ mét xt xø cđa loµi A. torulosa 19936 cã
tû lƯ sống trên 80% ( 80.5 84.2% ). Về các chỉ số sinh trởng cho thấy các
loài A.difficilis có sinh trëng chiỊu cao tèt nhÊt ( 5.16m vỵt 8% so víi sè b×nh
14
quân chung ), sinh trởng về đờng kính cho thấy loài A.difficilis là cao nhất
( 6.3cm , vợt 13% so với số bình quân chung 5.4cm ) tiếp đến là xuất xứ 1930
của loài A.torulosa ( 5.8cm ).Còn về các chỉ tiêu khác cũng cho thấy các loài
A.difficilis là tốt nhất.
Kết quả khảo nghiệm tại Quảng Bình cho thấy các xuất xứ của loài
A.difficilis là tốt nhất.
Tóm lại , tại cả hai khu khảo nghiệm cho thấy ba loài A.difficilis,
A.tumida, A.torulosa thích nghi và sinh trởng tốt tại Tuy Phong Bình Thuận
và Quảng Ninh Quảng Bình, đây là các vùng có điều kiện khí hậu rất khắc
nghiệt, khô hạn, nhiệt độ trung bình năm cao, lợng ma trung bình hàng năm tại
Bình thuận là 800mm/năm. Đất đai chủ yếu là cát nội đồng ven biển.
Qua các khảo nghiệm trên cho thấy rằng mặc dù keo tai tợng và keo lá
tràm có khả năng thích nghi với nhiều vùng sinh thái nhng đối với các vùng
sinh thái có điều kiện khắc nghiệt thì các loài keo chịu hạn có khả năng thích
nghi cao hơn, sinh trởng tốt hơn. Ngoài các khảo nghiệm loài và xuất xứ các
loài keo còn có các khảo nghiệm khác nh chọn lọc và khảo nghiệm dòng vô
tính keo lai tại Ba vì - Lê Đình Khả và cộng sự,1996 [6].
Năm 1994, Trung Tâm nghiên cứu giống cây rừng đà hợp tác với khoa
lâm nghiệp của CSIRO , Trung Tâm nghiên cứu thực nghiệm lâm sinh Lâm
Đồng và một số cơ quan khác xây dựng các khảo nghiệm loài và xuất xứ cho
67 lô hạt thuộc 24 loài keo vùng cao tại Đà Lạt, Mộc Châu, Tam Đảo, song các
khảo nghiệm này đà không thành công vì các lô hạt đa vào gồm nhiều xuất xứ
không phù hợp với đặc điểm sinh thái nơi tiến hành khảo nghiệm [4] ( Lê
Đình Khả , 2000 ).
Năm 1996, khảo nhiệm loài và xuất xứ keo vùng cao đợc lựa chọn và
thiết lập tại hai lập địa có kiểu khí hậu á nhiệt đới chính ở Việt Nam, một tại
Vờn quốc gia Ba Vì và một tại Đà Lạt - Lâm Đồng. ở phía Bắc khảo nghiệm
đợc thiết lập tại Vờn quốc gia Ba Vì vật liệu thực vật bao gồm 42 xuất xứ thuộc
23 loài trong đó có 2 xuất xứ đối chứng địa phơng là A.auriculiformis và
A.mearnsii (phụ lục 1). Kết quả đánh giá 6 tháng sau khi trång cho thÊy tû lƯ
sèng (tÝnh trung b×nh cho tất cả các xuất xứ) là 81.4% và chiều cao đợc từ
(0.53m 2.08m) một số xuất xứ tốt nhất đạt từ 1.78m - 2.08m, đó là các xuất xứ
thuộc loài A.mearnsii (lô hạt 17933 và 17928), xuất xứ 18622 của loài
A.irrorata. Tuy nhiên, mời 16 tháng sau khi trồng tû lƯ sèng cđa 11 loµi trong
tỉng sè 23 loµi giảm xuống dới 30% và kém nhất là các loài A.obiquinervia
(chÕt hÕt), A.chysotricha vµ A.nanodealbata (3.1%), A.falciformis (12,5%),
15
A.elata và A.fulva (15.6%) và A.dangarensis (18.7%). Các loài có tû lƯ sèng
cao sau 16 th¸ng ti bao gåm A.mearnsii (72.5%), A.auriculiformis (75%) và
A.binervata (62%) (Lê Đình Khả và cộng sù ,1997).
ë phÝa Nam, mét kh¶o nghiƯm xt xø mét số loài keo vùng cao đà đợc
thiết lập tại Măng Lin Đà Lạt Lâm Đồng. Vật liệu nghiên cøu bao gåm
42 xuÊt xø thuéc 14 loµi keo vïng cao ( bảng 1 )[5] . Trong 14 loài này có 4
loài lá trởng thành là lá giả ( Phyllode ) , đó là các loài A.cincinnata,
A.binervata, A.implexa, và A.melanoxylon. 10 loài còn lại thuộc nhóm lá kép
lông chim 2 lần (Tame,1992), đối chứng là loài địa phơng A.mearnsii đợc nhập
vào Đà Lạt trớc đây không rõ nguồn gốc.
Kết quả đợc đánh giá sau 6 tháng và 48 tháng sau khi trồng. Tại giai
đoạn 6 tháng sau khi trồng , tất cả các loài đều có tỷ lệ sống tơng đối cao, các
loài có tỷ lệ sống cao nhất : A.irrorata, A.glaucocarpa, A.implexa, A.mearnsii,
A.parramattensis vµ A.binervata tõ 84 – 87.5%. Loài có tỷ lệ sống thấp nhất
là A.chrysotricha (61.2%).
Đến giai đoạn 48 tháng sau khi trồng, tỷ lệ sống của các loài có sự thay
đổi, tuy nhiên một số loài vẫn giữ đợc tỷ lệ sống cao nh A.mearnsii(67.9%),
A.binervata ( 68.7% ), tiếp đó là A.irrorata( 66.5% ). Một số loài có tỷ lệ sống
giảm đi rõ rệt nh A.cincinnata ( 13.2% ). Các chỉ tiêu về sinh trởng đợc ®¸nh
gi¸ ë 48 th¸ng ti cho thÊy r»ng 4 xt xø cđa loµi A.mearnsii cã sinh trëng
tèt nhÊt (Htb = 9.9 – 11.2m ; D1.3tb = 8.5 – 9.9 cm ; Vcây = 41
55.2dm3 ) trong đó xuất xứ Bodalla NSW cã sinh trëng tèt nhÊt (Vc©y =
55.2dm3 ). Các xuất xứ này có sinh trởng tốt hơn hẳn xuất tại Đà Lạt ( H = 7.0
m ; D = 7.1 cm ; Vc©y = 19.0 dm 3 ) . Một số xuất xứ có triển vọng khác là
Mt.me ( Qld ) vµ Bodalla ( Qld ) cđa loµI A.irrorata (Vcây = 26.9dm3 và
31.3dm3 ). Nhóm có sinh trởng kém nhất là là các xuất xứ của loài
A.cincinnata ( Vc©y = 0.4 – 1.7dm3 ), A.decurrens ( 6.3 – 6.5dm3 ). Ngoài
các chỉ tiêu về sinh trởng , các tác giả còn nghiên cứu về các chỉ tiêu khác liên
quan đến chất lợng thân cây : độ thẳng thân, số thân/ cây, khả năng chống chịu
sâu bệnh, sức sống, Kết quả các xuất xứ thuộc loài A.mearnsii là tốt nhất.
Ngoài ra còn có một số loài khác có nhiều triển vọng : A.irrorata,
A.melanoxylon, Từ kết quả nghiên cứu đợc đánh giá 48 tháng sau khi trồng
của các loài keo vùng cao đà mở ra triển vọng phát triển đáp ứng đợc các nhu
cầu về phòng hộ, kinh tế cho các vùng núi cao nh các tỉnh Cao bằng, Hà
giang, Lào cai, Lai châu, Sơn la, Lâm đồng, Kon tum vµ mét vïng cao ë phÝa
16
tây tỉnh Nghệ an ( Lê Đình Khả và cộng sự, 2000 ) vì đây là những loài cây có
giá trị kinh tế, có chu kỳ kinh doanh ngắn.
Chơng 2
Mục Tiêu - Nội dung - Vật liệu và phơng pháp nghiên
cứu
2.1-Mục Tiêu nghiên cứu :
-Xác định đợc một số xuất xứ có sinh trởng và phát triển tốt phù hợp với
các vùng sinh thái núi cao ở Đà Lạt Lâm Đồng, đồng thời đáp ứng đợc nhu
cầu trồng rừng sản xuất và làm cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo.
-Xác định đợc một số loài cây đáp ứng đợc các nhu cầu trồng rừng tại
các vùng sinh thái núi cao : Cây nguyên liệu, cây che bóng cho các loài cây
công nghiệp, làm băng xanh cản lửa.
2.2-Nội dung nghiên cứu :
2.2.1- Tỷ lệ sống của đối tợng nghiên cứu :
2.2.2- Nghiên cứu các đặc điểm sinh trởng của các loài, xuất xứ : D1.3, Dt,
Hvn, Hdc, Vc.
2.2.3- Một số chỉ tiêu về hình thái :
+ Độ thẳng thân (Dtt) :
+ Số thân/gốc ( tính từ độ cao cách mặt đất 0.5m )
2.2.4- Một số chỉ tiêu khác :
- Tình hình sâu bệnh :
- Sức sống của cây:
2.3- Vật liệu nghiên cứu :
Vật liệu nghiên cứu là 42 xuất xứ thuộc 14 loài keo vùng cao (Bảng 1).
Trong 14 loài này có 4 loài lá trởng thành là lá giả (Phyllode) . đó là các loài :
A.binnervata, A.cincinnata, A.implexa và A.melanoxylon. 10 loài còn lại thuộc
nhóm lá kép lông chim hai lần ( Lê Đình Khả, 2000 dẫn từ Tame, 1992 ). Đối
chứng là loài Keo đen ( A.mearnsii ) đợc nhập vào Đà Lạt trớc đây, không rõ
xuất xứ gốc. Trong các loài đợc khảo nghiệm , ngoài một số xuất xứ thuộc các
loài A.cincinnata, A.glaucocarpa và A.melanoxylon có phân bố ở 16 - 27 độ
17
vÜ Nam thuéc bang Queensland ( Qld ) cã thÓ chịu ở các vùng có nhiệt độ cao.
Các xuất xứ còn lại đều có phân bố ở 32 - 41 ®é vÜ Nam thuéc c¸c bang New
South Wales (NSW), Victoria (Vic ), Tasmania ( Ta ) vµ South Australia
( SA). Tại những vùng này mùa đông thờng có nhiệt độ tối thấp trung bình 2 7 C , có nơi thËm chÝ - 6˚ ( Hall et al, 1981 ) , vì vậy các loài keo đợc khảo
nghiệm chỉ thích hợp với vùng núi cao ở nớc ta.
Bảng 1 : Vị trí địa lý các xuất xứ keo vùng cao đợc khảo nghiệm tại Đà
lạt Lâm Đồng
Loài
Xuất xứ
Độ Vĩ Nam
Kinh độ
Độ cao
Đông
so nặt
biển(m)
Độ Phút Độ Phút
Kiama
NSW 34
40
150
43
240
A.binervata
A.chysotricha
Newry S.F
NSW 30
32
152
55
50
Mossman
QLD 16
35
145
25
410
A.cincinnata
A.cincinnata
Finch Hatton Qld
21
04
148
37
160
Tuan S.F
Qld
25
44
152
44
3
A.cincinnata
A.cincinnata
N Qld, Seed Orchard Fiji
18
00
178
00
.
32 Mile Rd
Vic 37
25
148
37
350
A.dealbata
A.dealbata
Errinundra
Vic 37
11
148
52
960
Bemboka
Nsw 36
37
149
26
1035
A.dealbata
A.dealbata
Kandos
Nsw 32
56
149
54
600
Goulburn
Nsw 34
38
150
09
660
A.decurens
A.decurens
Picton
Nsw 34
17
150
35
380
Gloucester
Nsw 32
05
151
38
1000
A.elata
A.elata
Mt. Wilson
Nsw 33
30
150
21
650
Blackheath
Nsw
33
37
150
18
700
A.elata
A.fulva
Howes Valle Nsw 32
52
150
51
300
Mt. Yengo
Nsw 32
59
150
51
600
A.fulva
A.glaucocarpa
Gayndah
Qld 25
32
151
29
390
Cadagar
Qld 26
07
150
55
350
A.glaucocarpa
A.glaucocarpa
Baralaba
Qld 23
30
140
49
200
Sofala
Nsw 33
11
149
41
850
A.implexa
A.implexa
Moonan Flat Nsw 31
56
151
11
350
Glenmaggie
Vic
37
53
146
45
120
A.implexa
A.irrorata
Bodalla
Nsw 36
08
150
02
20
Mt. Mee
Qld
27
07
152
45
250
A.irrorata
A.irrorata
Gloucester
Nsw 31
59
151
47
650
Berrima
Nsw 34
30
150
20
750
A.mearnsii
A.mearnsii
Nowra
Nsw 34
59
150
36
10
Nowa Nowa
Vic
37
45
148
12
31
A.mearnsii
A.mearnsii
Bodalla
Nsw 36
11
149
58
15
Bungendore
Nsw
35
11
149
32
760
A.mearnsii
A.mearnsii
Blackhill
Vic
37
12
144
29
520
Dalat
11
57
108
26
1500
A.mearnsii
A.melanoxylon
Mt. Mee
Qld
27
06
152
44
500
Ravenshoe
Qld
17
35
145
32
100
A.melanoxylon
A.melanoxylon
Mt.Linsay S.f Nsw 28
21
152
39
600
18
A.melanoxylon
A.melanoxylon
A.melanoxylon
A.paramattensis
A.paramattensis
A.sylvestris
Crawford R
Vic
Otways
Vic
Kannunah
Tas
Tarago
Nsw
Bungendore Nsw
Narooma
Nsw
37
38
41
35
35
36
56
41
08
10
19
11
141
143
144
149
149
150
30
33
59
35
25
01
.
300
100
740
730
130
Một số đặc điểm của các loài keo vùng cao khảo nghiệm tại Đà Lạt :
+ A.binervata : Cây bụi cao hoặc nhiều bụi cao 6 10 m , là loài cây có
lá giả cong , mỏng, màu xanh đậm, kích thớc lá 7 -8 ( 19 ) cm * 15 20 mm,
hoa tròn màu vàng nhạt hoặc màu kem , ra hoa vào tháng 9 tháng 11. Cây
có đời sống dài, sinh trởng nhanh thích hợp cho trồng làm băng chắn gió hoặc
làm cây che bóng, giữ ẩm cho các vùng đất có khả năng thoát nớc tốt tại các
vùng á nhiệt đới, vùng ẩm. Cây hạt [23].
+ A.cincinnata : Cây gỗ lớn , cao 25m , có lá giả màu xanh sáng, kích
thớc l¸ 10 – 16 cm * 15 – 30 mm, lá có mùi thơm nhẹ, hoa màu kem đến
vàng nhạt, ra hoa vào tháng 5 tháng 6. Là loài cây mọc nhanh thích hợp
vùng nhiệt đới và á nhiệt ®íi [23].
+ A. dealbata : C©y cao 10 -30 m, lá có mùi thơm, hoa màu vàng sáng ,
ra hoa vào tháng 7 tháng 9. Là loài cây mọc nhanh, thích hợp để che bóng
trong vờn , công viên, thích hợp với nhiều loại đất, bao gồm cả đất Glay ( đất
sét ), chịu đợc sơng giá [23].
+ A.decurens : Cây cao 14 m , lá màu xanh đậm, có mùi thơm, hoa tròn ,
màu vàng sáng , ra hoa từ tháng 7 tháng 9. Có phân bố rộng, thích hợp với
nhiều loại đất và thích hợp với nhiều kiểu khí hậu khác nhau, có khả năng chịu
đợc sơng giá và khô hạn [23].
+ A.elata : Cây cao khoảng 26 m, lá màu bạc sáng và xanh đậm, hoa
tròn màu vàng nhạt, mùa ra hoa vào tháng 11 tháng 1 năm sau. Là loài cây
mọc nhanh, có đời sống dài thích hợp để trồng làm cây che bóng, chắn gió, cây
xanh đờng phố, khả năng chịu sơng giá kém [23].
+ A.implexa : Cây nhỏ, cao khoảng 12 15 m, có lá giả , kích thớc lá
11 – 16 cm * 6 – 16 mm, hoa mµu vàng kem, ra hoa từ tháng 12 tháng 3
năm sau. Là loài cây mọc nhanh, là loài cây thích hợp cho các vùng có khả
năng thoát nớc tốt tại mét vïng réng lín cã cïng mét kiĨu khÝ hËu, chịu đợc
sứơng giá [23].
+ A.irrorata : Cây nhỏ cao khoảng 5 10 m, thỉnh thoảng có cây cao
đến 20 m, lá màu xanh đậm, co mùi thơm, hoa màu vàng đậm, ra hoa vào
19
tháng 11- tháng 3 năm sau, là loài cây mọc nhanh, không chịu đợc trên đất
ngập úng, có khả năng chịu đợc lửa rừng [23].
+ Amearnsii : Cây cao 7 10 m, thỉnh thoảng cây cao đến 20 m, lá kép
lông chim, màu xanh đậm, hoa có mùi thơm, màu vàng, ra hoa vào tháng 9
tháng 12. Là loài cây mọc nhanh, thích hợp với các vùng lạnh, lợng ma cao, sơng giá Vì vậy việc[23]
+ A.melanoxylon : có tán lá dày, cây cao 8 30 m , có khi đến 40 m, lá
giả sắc, hoa màu vàng nhạt. Là loài cây gỗ lớn có đời sống dài thích hợp với
vùng có khí hậu lạnh, lợng ma lín.[23]
+ A.parramattensis : C©y cao 2 – 10 m, hoa màu vàng nhạt, có mùi
thơm, ra hoa vào tháng 12 tháng 2 năm sau. Là loài cây mọc nhanh, thích
hợp với các vùng có khí hậu lạnh và ấm [23].
+ A.sylvestris : C©y cao 8 – 20 m, hoa màu vàng sáng, mùa ra hoa vào
tháng 7 tháng 9. Là loài cây mọc nhanh, thích hợp với vùng có khí hậu lạnh,
có điều kiện thoát nớc tốt, chịu đợc sơng giá [23]
2.4 PHƯƠNG Pháp nghiên cứu PHƯƠNG Pháp nghiên cứu :
2.4.1- Phơng pháp bố trí thí nghiệm :
-Điạ điểm khu vực nghiên cứu :
Khu khảo nghiệm đợc tiến hành tại Trạm Thực Nghiệm Lâm Nghiệp Cam Ly,
thuộc phờng 5 , Thành phố Đà lạt. Có toạ độ địa lý là 11.94 vĩ độ bắc, 108.39
độ kinh đông, cách trung tâm Thành phố Đà lạt khoảng 10km về hớng tây, ở
độ cao khoảng 1555m so với mặt nớc biển. Lập địa gây trồng ở sờn Đông
Nam, đất đỏ vàng phát triển trên đá mẹ Macgma acid có pH = 4.5 5.0, thực
bì là cỏ quyết và mét sè c©y bơi thÊp. Tríc khi trång hiƯn trêng thí nghiệm đợc
phát dọn toàn bộ thực bì, đốt, cuốc toµn diƯn, hè trång cã kÝch thíc 40 * 40 *
40, bón lót phân vi sinh với 0,5kg/hố.
+ Khảo nghiệm đợc thiết kế ngẫu nhiên với 4 lần lặp lại, các xuất xứ đợc
bố trí theo hàng, mỗi hàng 20 cây, 42 hàng trên một lần lặp, cự ly : hàng cách
hàng 2m, cây cách cây 1,5m ( 2 m * 1,5 m).
+ Cây con để trồng đợc cấy trong bầu PE có kích thớc 9 cm * 12 cm,
thành phần ruột bầu gồm : 84% đất vờn ơm, 15% phân chuồng hoai và 1%
phân super lân. Cây con đợc chăm sóc tại vờn ơm khoảng 6 tháng sau đó mới
đem đi trồng, chiều cao trung bình của cây con khi đem trồng khoảng 20
25 cm. Khảo nghiệm đợc gây trồng vào tháng 5 năm 1996.
20