BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THỊ THẢO NGUYÊN
QUYỀN TÀI SẢN
THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM
KHÓA LUẬN CHUYÊN NGÀNH LUẬT DÂN SỰ
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - NĂM 2023
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THỊ THẢO NGUYÊN
QUYỀN TÀI SẢN
THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: ThS. ĐẶNG LÊ PHƯƠNG UYÊN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - NĂM 2023
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ........................................................................................................ 1
1. Lý do chọn đề tài .................................................................................................. 1
2. Tình hình nghiên cứu ............................................................................................ 1
3. Mục tiêu nghiên cứu ............................................................................................. 2
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ........................................................................ 3
5. Phương pháp nghiên cứu ...................................................................................... 3
6. Bố cục của đề tài ................................................................................................... 4
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUYỀN TÀI SẢN ........................ 5
1.1. Khái quát về quyền tài sản ................................................................................. 5
1.1.1. Khái quát về tài sản .................................................................................... 5
1.1.2. Khái niệm quyền tài sản ............................................................................. 8
1.2. Đặc điểm của quyền tài sản ............................................................................. 10
1.3. Phân loại quyền tài sản .................................................................................... 14
1.4. Quá trình phát triển quy định về quyền tài sản trong pháp luật dân sự Việt Nam
................................................................................................................................... 20
1.4.1. Giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 .................................. 20
1.4.2. Giai đoạn từ sau khi Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công đến
trước ngày 01/7/1996 ................................................................................................ 23
1.4.3. Giai đoạn từ ngày 01/7/1996 đến trước ngày 01/01/2017 ....................... 26
1.4.4. Giai đoạn từ ngày 01/01/2017 đến nay .................................................... 29
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 ........................................................................................ 32
CHƯƠNG 2 THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN TÀI SẢN VÀ
MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN ................................................................. 33
2.1. Chuyển giao quyền tài sản ............................................................................... 33
2.2.1. Chuyển giao quyền tài sản không gắn với nhân thân .............................. 33
2.2.2. Chuyển giao quyền tài sản gắn với nhân thân ......................................... 40
2.2. Cơng nhận “tài sản mã hóa” là quyền tài sản .................................................. 46
2.2.1. Thực tiễn áp dụng pháp luật về tính chất pháp lý của tài sản mã hóa..... 46
2.2.2. Kiến nghị hồn thiện pháp luật về cơng nhận tài sản mã hóa là quyền tài
sản ............................................................................................................................. 49
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 ........................................................................................ 54
KẾT LUẬN .............................................................................................................. 55
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Tài sản là một chế định quan trọng trong pháp luật dân sự Việt Nam. Khi nghiên
cứu về chế định tài sản nói chung, việc tìm hiểu về các định dạng của tài sản được
xem như cơ sở để nghiên cứu một cách sâu sắc hơn chế định này. Quyền tài sản là
một định dạng của tài sản. Với sự tiến bộ trong tư duy nhận thức của con người cũng
như sự phát triển nhanh chóng của khoa học kỹ thuật, quyền tài sản xuất hiện ngày
càng phổ biến trong các giao dịch dân sự.
Thơng qua tìm hiểu, tác giả nhận thấy hiện chưa có nhiều cơng trình nghiên cứu
quyền tài sản ở mức độ khái quát hóa mà đang dừng lại ở việc nghiên cứu một loại
quyền tài sản cụ thể hoặc nghiên cứu quyền tài sản trong một giao dịch hay vấn đề cụ
thể. Trong khi đó, với tư cách là một định dạng của tài sản, quyền tài sản cần được
nghiên cứu một cách sâu sắc hơn và ở mức độ khái quát hơn nhằm tìm ra bản chất
của loại tài sản đặc biệt này. Bên cạnh đó, vì được đặc trưng bởi tính vơ hình do đó
quy chế pháp lý đối với quyền tài sản sẽ có sự khác biệt với những loại tài sản cịn
lại.
Vì những lẽ trên, thấy rằng việc nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn về
quyền tài sản nhằm đảm bảo khả năng vận dụng các quy định của pháp luật dân sự
vào thực tế là vô cùng cần thiết đồng thời đem lại giá trị khoa học cũng như thực tiễn.
Do đó, tác giả quyết định lựa chọn đề tài “Quyền tài sản trong quy định của pháp
luật dân sự Việt Nam” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp.
2. Tình hình nghiên cứu
Các vấn đề liên quan đến quyền tài sản nhìn chung khơng phải là vấn đề q
mới trong nghiên cứu khoa học pháp lý. Tuy nhiên các cơng trình nghiên cứu cho đến
hiện tại chủ yếu tập trung phân tích một hoặc một số vấn đề cụ thể có liên quan đến
quyền tài sản (như vấn đề chia di sản là quyền tài sản hoặc các biện pháp bảo đảm
bằng quyền tài sản) hoặc phân tích một loại quyền tài sản cụ thể (như quyền sử dụng
đất, quyền đòi nợ, quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ). Ngồi ra,
quyền tài sản cịn được nghiên cứu với tư cách là một nội dung trong các cơng trình
nghiên cứu về các vấn đề khác của pháp luật dân sự như tài sản hay các quyền dân
sự. Trong quá trình nghiên cứu tài liệu, tác giả tìm kiếm và tiếp cận được một số cơng
trình có liên quan đến đề tài. Bao gồm:
2
1.
Nguyễn Ngọc Điện (1999), Nghiên cứu về tài sản trong Luật Dân sự
Việt Nam, Nxb. Trẻ TP. HCM: cuốn sách nghiên cứu về tài sản nói chung, trong đó
bao gồm phần trình bày về quyền tài sản. Phần này phân tích một số vấn đề cơ bản
về quyền tài sản bao gồm khái niệm, phân loại và trình bày một số quyền tài sản cụ
thể (quyền sử dụng đất, quyền sở hữu trí tuệ).
2.
Phùng Trung Tập và Kiều Thị Thùy Linh (2021), Tài sản và vật quyền,
Nxb. Công an nhân dân: cuốn sách nghiên cứu về tài sản và vật quyền nói chung,
trong đó có nghiên cứu về quyền tài sản. Quyền tài sản trong cuốn sách này được
trình bày sơ lược trong phần phân loại tài sản.
3.
Trần Hữu Hiếu (2022), Chia di sản là quyền tài sản theo pháp luật dân
sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh: tác giả khơng
trình bày các vấn đề lý luận về quyền tài sản mà đi chi tiết vào vấn đề chia di sản thừa
kế là 02 loại quyền cụ thể (quyền mua nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước và quyền được
hưởng tiền bồi thường, hỗ trợ và quyền được hưởng suất tái định cư khi Nhà nước
thu hồi đất).
4.
Nguyễn Ngọc Điện, “Cần xây dựng lại khái niệm “Quyền tài sản” trong
luật dân sự”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 5(285), tháng 3/2015: bài viết phân
tích sự khác biệt giữa khái niệm “quyền tài sản” trong pháp luật nước ngoài và pháp
luật Việt Nam đồng thời chỉ ra những hệ quả tiêu cực phát sinh bởi khái niệm “quyền
tài sản” theo pháp luật Việt Nam, từ đó đưa ra đề xuất xây dựng lại khái niệm “quyền
tài sản”.
5.
Nguyễn Hoàng Long (2018), “Quyền tài sản theo quy định của Bộ luật
Dân sự năm 2015”, Tạp chí Tịa án nhân dân điện tử, đăng ngày 24/7/2018: bài viết
tiếp cận quyền tài sản thông qua khái niệm và phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau.
3. Mục tiêu nghiên cứu
Làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về quyền tài sản bao gồm khái niệm, đặc
điểm, phân loại và quá trình phát triển các quy định về quyền tài sản trong pháp luật
dân sự Việt Nam, qua đó làm rõ bản chất của quyền tài sản.
Phân tích những khó khăn và bất cập trong thực tiễn áp dụng pháp luật liên quan
đến quyền tài sản, bao gồm các vấn đề về chuyển giao quyền tài sản và việc cơng
nhận tài sản mã hóa là quyền tài sản. Từ đây đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện
pháp luật sao cho phù hợp với bản chất của quyền tài sản đã được làm rõ ở trên.
3
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận bao gồm quyền tài sản dưới góc độ lý luận
và góc độ pháp lý mà cụ thể là các quy định về quyền tài sản trong Bộ luật Dân sự
năm 2015, năm 2005 và năm 1995 và trong các văn bản quy phạm pháp luật khác có
liên quan.
Phạm vi nghiên cứu của khóa luận: khóa luận nghiên cứu các quy định của pháp
luật dân sự Việt Nam về quyền tài sản. Trong phạm vi này, các bộ Dân luật của ba kỳ
Bắc, Trung, Nam giai đoạn trước khi Cách mạng Tháng Tám thành công, các pháp
lệnh, sắc lệnh về dân sự trong khoảng thời gian từ sau khi Cách mạng Tháng Tám
thành công đến trước khi Bộ luật Dân sự năm 1995 có hiệu lực và các Bộ luật Dân
sự năm 1995, 2005 và 2015 được sử dụng nhằm nghiên cứu sự khác biệt về quy định
liên quan đến quyền tài sản qua các thời kỳ. Ngoài ra, Bộ luật Dân sự năm 2015 được
nghiên cứu chủ yếu nhằm làm rõ quy định về quyền tài sản và thực tiễn áp dụng pháp
luật về đối tượng này ở thời điểm hiện tại.
5. Phương pháp nghiên cứu
Dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa
duy vật lịch sử triết học Mác - Lênin, khóa luận tốt nghiệp sử dụng kết hợp linh hoạt
nhiều phương pháp nghiên cứu nhằm làm sáng tỏ các vấn đề lý luận cũng như thực
tiễn về quyền tài sản. Cụ thể:
- Phương pháp phân tích và phương pháp tổng hợp được sử dụng xuyên suốt
trong tồn bộ khóa luận như hai phương pháp nghiên cứu chủ đạo. Tác giả sử dụng
phương pháp phân tích để phân tích các nội dung của quy định pháp luật Việt Nam
về quyền tài sản, đồng thời tác giả còn sử dụng phương pháp này trong việc phân tích
thực tiễn áp dụng pháp luật và những bất cập trong quy định của pháp luật liên quan
đến quyền tài sản. Phương pháp tổng hợp được sử dụng để kết luận những quan điểm,
luận điểm liên quan đến các vấn đề được phân tích, đồng thời làm cơ sở cho việc đưa
ra quan điểm cá nhân và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật;
- Phương pháp lịch sử được sử dụng ở mục 1.4 nhằm trình bày và làm rõ các
quy định liên quan đến quyền tài sản trong các giai đoạn lịch sử;
- Phương pháp so sánh được sử dụng ở Chương 2 (mục 2.1, 2.2) để so sánh đối
chiếu một số quy định pháp luật liên quan nhằm làm rõ thêm về vấn đề chuyển giao
quyền tài sản.
4
6. Bố cục của đề tài
Ngoài các phần mục lục, phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo,
thì khóa luận bao gồm bố cục 02 Chương, cụ thể như sau:
Chương 1: Những vấn đề chung về quyền tài sản
Chương 2: Thực tiễn áp dụng pháp luật về quyền tài sản và một số kiến nghị
hoàn thiện
5
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUYỀN TÀI SẢN
Trong quá trình sinh tồn và phát triển, con người - thơng qua lao động - tạo ra
ngày càng nhiều của cải vật chất, được gọi chung là tài sản. Cùng với sự vận động và
phát triển của xã hội, tài sản ngày càng đa dạng về hình thức tồn tại, bao gồm cả tài
sản hữu hình và tài sản vơ hình. Quyền tài sản, với tư cách là một dạng tài sản vơ
hình, ngày càng trở nên phổ biến trong giao lưu dân sự. Do đó, việc nghiên cứu khái
quát các vấn đề liên quan đến quyền tài sản sẽ đặt nền tảng để nghiên cứu sâu hơn
những vấn đề cụ thể có liên quan.
1.1. Khái quát về quyền tài sản
1.1.1. Khái quát về tài sản
Các quan niệm về tài sản tương đối đa dạng và chưa có sự thống nhất phụ thuộc
vào quan điểm của mỗi học giả, mỗi quốc gia, theo từng góc độ tiếp cận và mục đích
nghiên cứu. Dưới góc độ kinh tế - xã hội, tài sản là tất cả các nền tảng vật chất có giá
trị kinh tế, giá trị sử dụng, phục vụ cho mục đích sinh tồn và phát triển của con người.
Quan điểm này nhìn nhận tài sản dưới góc độ giá trị kinh tế và mục đích sản sinh ra
tài sản. Theo đó, tài sản buộc phải có giá trị kinh tế và giá trị sử dụng, biểu hiện thông
qua việc con người sử dụng tài sản như những công cụ giúp cho cuộc sống thuận tiện
và hiệu quả hơn. Bất kỳ một loại tài sản nào cũng đều có giá trị kinh tế hay giá trị vật
chất, và chúng đều phục vụ những nhu cầu nhất định của con người.
Dưới góc độ triết học, tài sản “là một bộ phận của thế giới vật chất, đó có thể
là những lợi ích vật chất tồn tại trong thế giới thực do con người tìm thấy trong tự
nhiên hoặc các sản phẩm xã hội được con người chế tạo, có giá trị kinh tế, phục vụ
cho các nhu cầu của con người mà con người có thể làm chủ, chi phối được”1. Định
nghĩa này nghiên cứu tài sản dưới góc độ là một bộ phận của thế giới vật chất, đồng
thời nhấn mạnh sự hình thành của tài sản gắn liền với hoạt động của con người, do
con người khai thác hoặc tạo ra. Tài sản phải là sản phẩm của con người. Bên cạnh
những tài sản do con người sáng tạo, là sản phẩm của thành tựu khoa học kỹ thuật thì
những tài sản có sẵn từ thiên nhiên như khống sản, đất đai, rừng, thủy hải sản…
1
Trường Đại học Luật TP. HCM (2023), Giáo trình Pháp luật về tài sản, quyền sở hữu và thừa kế, Lê
Minh Hùng chủ biên, Nxb. Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam, tài bản lần thứ nhất, tr. 12.
6
cũng được xem là sản phẩm của con người bởi chúng chỉ có thể trở thành tài sản (tức
có giá trị kinh tế và giá trị sử dụng) sau khi được con người khai thác2.
Dưới góc độ kinh tế - pháp lý, tài sản “là đối tượng của quyền sở hữu, gồm các
tài nguyên đã được con người khai phát, các sản phẩm do con người làm ra hoặc các
lợi ích khác có giá trị kinh tế và giá trị sử dụng mà con người có thể hưởng thụ để
thỏa mãn các nhu cầu vật chất, tinh thần của mình”3. Định nghĩa này dường như tổng
hợp lại hai định nghĩa đã phân tích ở trên khi khẳng định tài sản phải có giá trị kinh
tế, giá trị sử dụng, phục vụ cho nhu cầu của con người đồng thời do con người khai
thác, tạo ra.
Mặc dù có thể được định nghĩa khác nhau dựa vào từng góc độ nhưng nhìn
chung, những định nghĩa này đều chỉ ra được những đặc điểm cơ bản của tài sản, bao
gồm:
Thứ nhất, tài sản là một bộ phận của thế giới vật chất hoặc gắn với thế giới vật
4
chất . Khi nhắc đến tài sản là bộ phận của thế giới vật chất là nhắc đến các loại tài
sản mang tính hữu hình. Tính hữu hình được đề cập đến ở đây khơng chỉ được nhìn
nhận ở khía cạnh trạng thái vật chất của tài sản, tức khơng chỉ dừng lại ở khả năng
nhìn thấy hay cầm nắm được, mà cần được hiểu một cách rộng hơn là các đối tượng
vật chất hiện hữu trong đời sống mà con người có thể đo lường được. Chẳng hạn,
trạng thái vật chất của điện là vô hình, nhưng con người hồn tồn có thể đo lường
được cường độ của nó, do đó điện là một dạng tài sản hữu hình (cụ thể là vật). Bên
cạnh đó, tài sản là những sự vật gắn với thế giới vật chất chính là những tài sản vơ
hình. Gọi là tài sản vơ hình bởi nó khơng thể được nhìn thấy hay cảm nhận, nhưng có
thể nhận thức được bởi con người và đem lại một lợi ích vật chất nhất định cho con
người.
Thứ hai, tài sản phải có giá trị kinh tế5. Đây là đặc trưng và cũng là tiền đề ban
đầu để con người bắt đầu có nhận thức về tài sản. Giá trị kinh tế của tài sản là khả
năng khai thác lợi ích vật chất của nó. Giá trị của tài sản vừa mang thuộc tính kinh tế,
vừa mang thuộc tính xã hội. Thuộc tính kinh tế được thể hiện ở chỗ giá trị kinh tế của
tài sản là khả năng quy đổi giá trị tài sản đó sang một giá trị vật chất xác định. Nói
8.
2
Phùng Trung Tập và Kiều Thị Thùy Linh (2021), Tài sản và vật quyền, Nxb. Công an nhân dân, tr. 63.
3
4
Trường Đại học Luật TP. HCM, tlđd 1, tr. 12.
Phùng Trung Tập và Kiều Thị Thùy Linh, tlđd 2, tr. 8.
5
Xem: Trường Đại học Luật TP. HCM, tlđd 1, tr. 19; Phùng Trung Tập và Kiều Thị Thùy Linh, tlđd 2, tr.
7
cách khác, giá trị kinh tế của một tài sản là khả năng mà tài sản đó có thể trao đổi
được bao nhiêu đơn vị vật chất so với một tài sản cụ thể khác. Thuộc tính xã hội của
giá trị tài sản thể hiện ở việc chủ thể duy nhất có khả năng đánh giá giá trị của tài sản
là con người, mà con người mang bản chất xã hội, tức tồn tại trong xã hội và bị chi
phối bởi xã hội. Từ đó, việc đánh giá một tài sản có giá trị như thế nào cũng sẽ phụ
thuộc vào bối cảnh, đặc điểm và thị hiếu chung của xã hội.
Thứ ba, tài sản ln có giá trị sử dụng6. Tức là, bất kỳ một tài sản nào cũng đều
có cơng dụng nhất định và nhằm phục vụ nhu cầu của con người. Việc khai thác công
dụng của tài sản là nhằm thỏa mãn những nhu cầu khác nhau của con người, do đó
nó cũng mang thuộc tính xã hội. Xã hội không ngừng vận động nên nhu cầu của con
người ở mỗi thời điểm cũng không giống nhau, và chính điều này tác động trực tiếp
đến giá trị sử dụng của tài sản.
Thứ tư, tài sản phải là những gì con người có thể chiếm giữ, kiểm sốt hoặc xác
lập quyền làm chủ được7. Dù ở trạng thái vật chất nào, hữu hình hay vơ hình thì để
xác định một đối tượng cụ thể là tài sản, chúng phải có khả năng được con người
chiếm giữ và kiểm sốt. Con người bằng khả năng của mình phải tác động để có thể
quản lý, khai thác thậm chí định đoạt số phận pháp lý hoặc thực tế của tài sản 8. Khả
năng kiểm soát của con người đối với tài sản là khả năng con người có thể quyết định
được thời điểm, cách thức… khai thác giá trị kinh tế và giá trị sử dụng của tài sản
đồng thời giới hạn được phạm vi quyền của chủ thể khác trên tài sản đó. Việc xác
định quyền của một chủ thể trên tài sản cũng như hạn chế quyền của những chủ thể
khác đối với chính tài sản đó được thực hiện thông qua xác lập quyền sở hữu đối với
tài sản. Do đó, nếu khơng thể chủ động đưa ra những quyết định nhằm “đối xử” với
một sự vật đồng thời khơng có khả năng xác lập quyền sở hữu đối với nó thì đây
khơng thể trở thành tài sản.
Quy định về tài sản trong pháp luật của các quốc gia cũng không giống nhau.
Pháp luật Việt Nam tiếp cận khái niệm tài sản theo hướng liệt kê những đối tượng
được xem là tài sản, bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản 9. Việc định
nghĩa theo hướng này xuất phát từ nguyên nhân rất khó để định nghĩa chính xác và
6
Xem: Trường Đại học Luật TP. HCM, tlđd 1, tr. 20; Phùng Trung Tập và Kiều Thị Thùy Linh, tlđd 2, tr.
7
8
Trường Đại học Luật TP. HCM, tlđd 1, tr. 22.
Phùng Trung Tập và Kiều Thị Thùy Linh, tlđd 2, tr. 70.
9
Theo khoản 1 Điều 105 Bộ luật Dân sự năm 2015.
63.
8
toàn diện cho khái niệm tài sản khi đây là một khái niệm rộng đồng thời luôn vận
động và thay đổi theo sự biến đổi của xã hội. Tức là, vì xã hội vận động và phát triển
khơng ngừng nên sẽ nảy sinh ra những loại tài sản mới và do đó bất kỳ một định nghĩa
chung về tài sản nào được đưa ra sẽ ln trở nên khơng cịn phù hợp. Phương pháp
liệt kê các bộ phận của tài sản giúp cho việc xác định một tài sản trở nên khá dễ dàng
và có phần rõ ràng. Song phương pháp này cũng bộc lộ một điểm yếu khá lớn là
không thể bao quát và dự liệu được những dạng hình tài sản phi truyền thống xuất
hiện, dẫn đến việc khó cơng nhận chúng là tài sản, gây tranh cãi và khó khăn trong
giao lưu dân sự.
Từ khái niệm tài sản theo quy định của pháp luật dân sự, có thể nhận thấy tài
sản có thể tồn tại dưới bốn hình thức, hay nói cách khác, tài sản bao gồm bốn định
dạng: vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản. Trong đó, vật, tiền, giấy tờ có giá là
những tài sản tồn tại dưới dạng vật chất hữu hình, quyền tài sản là tài sản vơ hình.
1.1.2. Khái niệm quyền tài sản
Theo pháp luật của các quốc gia theo truyền thống pháp luật châu Âu lục địa,
quyền tài sản là một bộ phận của quan hệ dân sự và được phân biệt với quyền nhân
thân. Nói cách khác, quyền tài sản không phải một định dạng của tài sản mà được đặt
trong tương quan với quyền nhân thân trong hệ thống các quyền chủ thể. Nhìn chung,
có thể coi “quyền” là khả năng xử sự của chủ thể và được pháp luật thừa nhận và bảo
vệ. Pháp luật nước ngoài chia quyền thành 02 loại là quyền gắn liền với nhân thân
gọi là quyền nhân thân và quyền gắn liền với tài sản gọi là quyền tài sản. Theo cách
tiếp cận này, quyền sở hữu cũng là một bộ phận của quyền tài sản 10. Với cách nhìn
này, có thể hình dung thuật ngữ “quyền tài sản” trong pháp luật của các quốc gia
thuộc truyền thống pháp luật châu Âu lục địa là đồng nhất với khái niệm “quan hệ tài
sản” trong pháp luật dân sự Việt Nam khi cùng là một bộ phận trong quan hệ dân sự
và phân biệt, độc lập với quan hệ nhân thân hay quyền nhân thân.
Trong phạm vi nghiên cứu của công trình, khái niệm “quyền tài sản” được tiếp
cận dưới góc độ là một định dạng của tài sản theo pháp luật dân sự Việt Nam.
Nhận thức về tài sản vô hình đã hình thành từ khá sớm khi con người hình dung
được về một loại “tài sản” đặc biệt mà khơng thể cầm nắm hay cảm nhận được, nhưng
vẫn có thể đem lại những lợi ích vật chất nhất định cho con người. Từ đây, khái niệm
10
Nguyễn Ngọc Điện, “Cần xây dựng lại khái niệm “Quyền tài sản” trong luật dân sự”,
[ truy cập ngày 23/4/2023.
9
vật vơ hình được hình thành11. Trải qua q trình phát triển, nhận thức của con người
về xã hội ngày càng tiến bộ và khoa học pháp lý do đó cũng có những bước tiến nhất
định. Lúc này, hình dung về tài sản vơ hình được rõ ràng hơn và các nhà làm luật
chính thức sử dụng thuật ngữ quyền tài sản để gọi loại tài sản đặc biệt này.
Quyền tài sản có thể hiểu là khả năng xử sự của chủ thể xác định đối với một
đối tượng cụ thể mà từ đây, một lợi ích vật chất được sinh ra, được pháp luật thừa
nhận và bảo vệ. Tức là quyền tài sản chỉ ra ai là chủ thể có quyền nhận được lợi ích
vật chất có được từ quyền tài sản, và những chủ thể còn lại sẽ bị hạn chế hoặc thậm
chí loại trừ những quyền này đối với cùng đối tượng đó.
Pháp luật dân sự Việt Nam nhìn nhận quyền tài sản là một bộ phận của tài sản
bên cạnh vật, tiền và giấy tờ có giá. Quyền tài sản hoàn toàn độc lập với 03 loại tài
sản cịn lại, có đặc điểm và định nghĩa riêng biệt cũng như quy chế pháp lý đối với
quyền tài sản cũng sẽ có sự khác biệt.
Về định nghĩa, Điều 115 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định quyền tài sản là
quyền trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu
trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác. Quy phạm này là sự kết hợp
giữa một quy phạm định nghĩa và quy phạm liệt kê. Quy định này khẳng định quyền
tài sản là bất kỳ quyền nào trị giá được bằng tiền, tức là mang nội dung kinh tế và có
giá trị kinh tế. Đây cũng là đặc trưng tiêu biểu nhất của tài sản nói chung: có giá trị
kinh tế. Bộ luật Dân sự năm 2015 cũng liệt kê một số quyền tài sản tiêu biểu bao gồm
quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền
tài sản khác.
Quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ: cần lưu ý rằng, quyền sở
hữu trí tuệ khơng đương nhiên là quyền tài sản hay khơng phải bất kỳ loại quyền sở
hữu trí tuệ nào cũng là quyền tài sản. Quyền sở hữu trí tuệ được định nghĩa là “quyền
của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ, bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan
đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng” 12.
Trong đó, quyền tác giả bao gồm 02 nhóm quyền là quyền nhân thân và quyền tài
sản. Những quyền sở hữu trí tuệ cịn lại, bao gồm quyền sở hữu cơng nghiệp và quyền
đối với giống cây trồng đều là quyền tài sản. Như vậy, chỉ những quyền tài sản thuộc
11
Trường Đại học Cần Thơ (2009), Giá trình Luật La Mã, Nguyễn Ngọc Điện chủ biên, Nxb. Chính trị
Quốc gia, tr. 11.
12
Khoản 1 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 được sửa đổi, bổ sung năm 2009, năm 2019 và năm 2022.
10
phạm vi quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng
thì mới là quyền tài sản theo pháp luật dân sự Việt Nam, bộ phận quyền nhân thân
trong quyền tác giả không được xem là một loại quyền tài sản, do đó cũng khơng phải
là một loại tài sản. Trong phạm vi cơng trình nghiên cứu này, thuật ngữ quyền sở hữu
trí tuệ được sử dụng như một cách gọi ngắn gọn cho quyền tài sản đối với đối tượng
quyền sở hữu trí tuệ. Nói cách khác, trong cơng trình này, thuật ngữ quyền sở hữu trí
tuệ được dùng để chỉ một loại quyền tài sản.
Quyền sử dụng đất: theo quy chế pháp lý về đất đai tại Việt Nam, đất đai thuộc
sở hữu toàn dân và do Nhà nước đại diện quản lý13. Với tư cách là đại diện chủ sở
hữu đất đai, Nhà nước tiến hành một số hình thức như cho thuê đất, giao đất…cho
các chủ thể khác trong xã hội (cá nhân, tổ chức) nhằm khai thác tối đa giá trị mà đất
đai mang lại. Các hình thức này đi kèm với những quyền năng nhất định nhằm đảm
bảo quyền của các chủ thể, gọi chung là quyền sử dụng đất.
Quyền tài sản khác: trong quá trình giao lưu dân sự, sẽ có rất nhiều loại quyền
dân sự nói chung được phát sinh, và trong số những quyền đó cũng có khơng ít những
quyền mang nội dung kinh tế và trị giá được bằng tiền, tức là mang bản chất quyền
tài sản. Do đó, pháp luật khơng thể dự liệu hết được tất cả các quyền tài sản để liệt kê
một cách đầy đủ và toàn diện mà cần phải có một quy phạm liệt kê mang tính “mở”,
tức là không giới hạn các quyền tài sản. Một số loại quyền tài sản khác có thể liệt kê
như: quyền địi nợ, quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại, quyền yêu cầu cấp dưỡng…
Mặc dù được thể hiện dưới nhiều dạng quyền khác nhau nhưng quyền tài sản
nhìn chung được hiểu là xử sự hợp pháp, là quyền năng dân sự chủ quan của chủ thể
mang quyền đồng thời luôn được pháp luật ghi nhận và bảo vệ. Nói tóm lại, quyền
tài sản là một dạng tài sản được đặc trưng bởi tính vơ hình, là một loại quyền dân sự
trị giá được bằng tiền và được hình thành bằng con đường pháp lý, nhằm phục vụ
một nhu cầu nhất định của con người và được con người kiểm soát, quản lý.
1.2. Đặc điểm của quyền tài sản
Với tư cách là một loại tài sản, quyền tài sản đương nhiên có những đặc điểm
của tài sản nói chung như đã trình bày và phân tích ở phần 1.1.1. Cụ thể:
Thứ nhất, quyền tài sản là một bộ phận gắn liền với thế giới vật chất. Dù khơng
tồn tại dưới một hình thái vật chất cụ thể nhưng quyền tài sản luôn gắn với thế giới
vật chất, cụ thể hơn là gắn liền với đời sống con người. Quyền nói chung, ln bao
13
Điều 53 Hiến pháp năm 2013.
11
gồm chủ thể và đối tượng tác động và đương nhiên quyền tài sản cũng không ngoại
lệ. Chủ thể của quyền tài sản có thể là cá nhân hoặc tổ chức, đối tượng tác động của
quyền tài sản có thể là vật (quyền đối vật), người (quyền đối nhân) hoặc đối tượng
phi vật chất (quyền vơ hình tuyệt đối). Chúng ta không thể tách rời quyền tài sản với
con người hay các đối tượng tác động của nó. Do vậy, quyền tài sản luôn gắn liền với
thế giới vật chất, gắn với đời sống con người.
Thứ hai, quyền tài sản phải có giá trị kinh tế. Đặc điểm này cũng chính là cách
định nghĩa quyền tài sản theo pháp luật Việt Nam, tức quyền tài sản phải trị giá được
bằng tiền. Học thuyết chi phối để xác định loại quyền nào được ghi nhận là quyền tài
sản và là một loại tài sản chính là học thuyết tính định giá được bằng tiền14. Giá trị
của quyền tài sản đôi khi được xác định là một con số cụ thể, ghi rõ trong giấy tờ
hoặc trong bản án, quyết định của Tòa án như quyền đòi nợ, quyền đòi tiền bảo hiểm,
quyền yêu cầu cấp dưỡng… Cũng có trường hợp giá trị của tài sản được xác định dựa
trên giá thị trường, có sự chênh lệch hay khác nhau ở từng thời điểm, ví dụ như quyền
sử dụng đất, quyền tài sản phát sinh từ quyền sở hữu công nghiệp…
Thứ ba, quyền tài sản phải có giá trị sử dụng. Quyền tài sản được hình thành
trong quá trình sinh tồn và phát triển của con người, khi con người nhận thức được
rằng có một loại tài sản dù khơng có một hình thái vật chất cụ thể nhưng có khả năng
sinh ra một lợi ích vật chất nhất định, và lợi ích này phục vụ cho nhu cầu của con
người. Do vậy, quyền tài sản phải có giá trị sử dụng, tức được sinh ra nhằm phục vụ
cho nhu cầu nhất định của con người.
Thứ tư, quyền tài sản phải được con người chiếm giữ, kiểm soát hoặc xác lập
quyền làm chủ được. Vì là một loại tài sản được đặc thù bởi tính vơ hình nên việc
chiếm giữ và kiểm sốt quyền tài sản cũng có sự khác biệt với việc chiếm giữ và kiểm
soát các loại tài sản hữu hình cịn lại (vật, tiền, giấy tờ có giá). Chiếm giữ ở đây có
thể hiểu là việc hạn chế khả năng những chủ thể khác “tiếp cận”, tác động đến tài sản.
Việc kiểm sốt tài sản chính là khả năng có thể chi phối được tài sản, tức có thể quyết
định một số vấn đề như địa điểm cất giữ tài sản (đối với động sản), phương pháp bảo
quản, bảo vệ tài sản.
Đối với tài sản hữu hình nói chung, con người hồn tồn có thể chiếm giữ hay
kiểm sốt chúng một cách trực tiếp và việc xác định khả năng chiếm giữ, chiếm hữu
cũng có phần dễ dàng hơn bởi chúng có trạng thái vật chất cụ thể. Kể cả những vật
14
Phùng Trung Tập và Kiều Thị Thùy Linh, tlđd 2, tr. 24.
12
mà con người không thể cầm nắm được (như điện) thì con người vẫn có thể làm chủ,
kiểm sốt bằng các cơng cụ máy móc thiết bị. Trái lại, việc kiểm soát và chiếm giữ
các quyền tài sản tỏ ra khơng thực sự dễ dàng vì chúng chỉ tồn tại trong nhận thức
của con người. Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền
định đoạt tài sản15, trong khi đó, quyền tài sản là một loại tài sản vơ hình, vậy quyền
chiếm hữu trong trường hợp này được xác định như thế nào cũng là một vấn đề cần
được bàn tới. Có quan điểm cho rằng, tài sản vơ hình khơng thể chiếm hữu được vì
con người khơng có khả năng kiểm sốt vật chất được chúng. Việc xác định chúng
thuộc về một chủ thể nào đó dựa vào sự tơn trọng của tất cả các chủ thể khác trong
xã hội16.
Tuy nhiên, lập luận trên dường như chưa thực sự thuyết phục. Quyền sở hữu theo quan điểm lập pháp Việt Nam - bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và
quyền định đoạt. Quyền tài sản là một loại tài sản, tức là đối tượng của quyền sở hữu,
do đó nội dung quyền sở hữu đối với quyền tài sản cũng có đầy đủ 03 loại quyền năng
này. Quyền chiếm hữu của chủ sở hữu tài sản được hiểu là việc “chủ sở hữu được
thực hiện mọi hành vi theo ý chí của mình để nắm giữ, chi phối tài sản của mình
nhưng khơng được trái pháp luật, đạo đức xã hội”17. Rõ ràng trong quy định trên
không hề đề cập đến việc chi phối này phải là chi phối vật chất. Đối với quyền tài
sản, người ta vẫn có thể kiểm sốt và chi phối bằng những cách khác nhau. Chẳng
hạn, tác giả có thể quyết định việc có đăng ký quyền tác giả hay khơng và đăng ký
vào thời điểm nào, đây chính là biểu hiện của việc kiểm soát, chi phối quyền tài sản.
Do đó, khơng phải là quyền sở hữu đối với quyền tài sản không bao gồm quyền chiếm
hữu, mà là tầm quan trọng của các bộ phận quyền sở hữu là khác nhau giữa tài sản
hữu hình và quyền tài sản. Cụ thể, do tài sản hữu hình có biểu hiện vật chất cụ thể
nên việc chiếm hữu chúng đóng vai trị quan trọng vì nó ảnh hưởng rất lớn đến các
chủ thể (việc chủ thể này chiếm hữu sẽ hạn chế nhiều quyền của các chủ thể khác) và
trong nhiều trường hợp, việc chiếm hữu thực tế còn là căn cứ xác lập quyền sở hữu18.
Trong khi đó, đối với quyền tài sản - một tài sản vô hình - người ta tập trung vào
quyền sử dụng nhiều hơn, tức khả năng các chủ thể khai thác công dụng và hưởng
15
Điều 158 Bộ luật Dân sự năm 2015.
16
Nguyễn Ngọc Điện (1999), Nghiên cứu về tài sản trong Luật Dân sự Việt Nam, Nxb. Trẻ TP. HCM,
tr.75.
17
Điều 186 Bộ luật Dân sự năm 2015.
18
Khoản 6, 7 Điều 221 Bộ luật Dân sự năm 2015.
13
hoa lợi, lợi tức từ các quyền tài sản đó thay vì việc chủ thể chiếm hữu các quyền đó
như thế nào. Quyền chiếm hữu đối với quyền tài sản dường như rất khó để tách rời
với quyền sử dụng. Suy cho cùng, quyền tài sản được con người nhận thức và cơng
nhận là tài sản nhờ vào tính trị giá được bằng tiền của chúng, tức khả năng khai thác
công dụng và nhận lại giá trị kinh tế, mà không phải là khả năng chiếm hữu được.
Đôi khi, người ta có xu hướng đồng nhất việc chiếm giữ, chiếm hữu, kiểm soát
quyền tài sản với chiếm giữ, chiếm hữu, kiểm sốt các chứng cứ hữu hình, tức những
giấy tờ ghi nhận các tài sản này. Về bản chất, việc làm này là chưa thực sự chính xác
bởi những giấy tờ này chỉ là chứng cứ chứng minh sự tồn tại của tài sản và ghi nhận
quyền mà chủ thể đã xác lập, những giấy tờ này không phải quyền tài sản. Nhìn
chung, việc xác định sự chiếm hữu của chủ thể đối với quyền tài sản là rất khó khăn.
Ngoài những đặc điểm trên, trong tương quan mối quan hệ với các loại tài sản
khác trong pháp luật dân sự, quyền tài sản, với tư cách là một loại tài sản độc lập,
cũng mang những đặc điểm riêng biệt không trùng lặp với bất kỳ loại tài sản nào
khác.
Một là, quyền tài sản mang tính vơ hình. Đây chính là đặc điểm mang tính đặc
trưng nhất để phân biệt quyền tài sản với 03 loại tài sản còn lại. Quyền tài sản không
tồn tại ở bất kỳ một trạng thái vật chất cụ thể nào mà chỉ tồn tại trong nhận thức của
con người. Con người không thể đo lường kích thước hay cường độ của quyền tài sản
bằng bất cứ một cơng cụ hay máy móc nào. Chính vì thuộc tính vơ hình của quyền
tài sản mà để có thể nhận dạng được loại tài sản này, buộc phải thơng qua các chứng
cứ hữu hình. Chứng cứ hữu hình này có thể là một văn bản mơ tả về tài sản vơ hình
đó, hoặc xác nhận từ phía cơ quan nhà nước về việc tồn tại của tài sản vơ hình dưới
hình thức văn bản… Chẳng hạn, để được công nhận và bảo vệ quyền đối với kết quả
hoạt động sáng tạo của mình, chủ sở hữu của các đối tượng sở hữu công nghiệp phải
đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để được cấp văn bằng bảo hộ. Đối với
quyền sử dụng đất, biểu hiện của quyền này là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Một số quyền khác như quyền địi nợ thì được ghi nhận trong hợp đồng cụ thể hoặc
giấy nhận nợ19. Việc “vật chất hóa” các quyền tài sản bằng cách thể hiện thông qua
giấy tờ như trên chỉ nhằm mục đích giúp cho việc nhận dạng quyền tài sản được dễ
dàng hơn, những loại giấy tờ đó khơng phải là hình thái vật chất của quyền tài sản mà
19
Trường Đại học Luật Hà Nội (2022), Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam, Phạm Văn Tuyết và Trần Thị
Huệ chủ biên, Nxb. Tư pháp, tr. 187.
14
chỉ đóng vai trị là minh chứng thể hiện sự xác lập quyền của chủ thể đối với đối
tượng là quyền tài sản đó, tức là bản thân những giấy tờ đó khơng phải quyền tài sản,
và quyền tài sản là một loại tài sản vơ hình.
Hai là, quyền tài sản là một loại quyền dân sự20. Bên cạnh việc là một tài sản
trong pháp luật dân sự, quyền tài sản trước tiên phải được nhìn nhận là một quyền
dân sự. Với tính chất này, quyền tài sản có thể là đặc quyền luật định hoặc quyền chủ
thể. Vì là một quyền dân sự nên thời điểm xác lập, kết thúc quyền được quy định cụ
thể trong pháp luật hoặc được xác định dựa trên thỏa thuận của các bên. Chẳng hạn,
quyền đòi nợ phát sinh kể từ thời điểm kết thúc thời hạn thực hiện nghĩa vụ trả nợ
của hợp đồng vay tài sản mà bên có nghĩa vụ khơng thực hiện việc trả nợ, quyền sở
hữu trí tuệ có thời điểm bắt đầu và thời điểm chấm dứt được ghi rõ trên các văn bằng
bảo hộ, trong một số trường hợp quyền tài sản phát sinh từ các giao dịch chuyển
nhượng, thời điểm bắt đầu quyền tài sản thường cũng chính là thời điểm mà các giao
dịch này có hiệu lực.
Ba là, quyền tài sản chỉ tồn tại khi có sự bảo đảm của pháp luật. Đặc điểm này
như một hệ quả của đặc điểm quyền tài sản mang tính vơ hình và là một loại quyền
dân sự. Là tài sản vơ hình, quyền tài sản khơng tồn tại khách quan mà tồn tại trong
nhận thức của con người. Khác với tài sản hữu hình, vì con người có thể dễ dàng nhận
biết được sự tồn tại của chúng nên có trường hợp pháp luật khơng có quy định hay
thậm chí pháp luật chưa xuất hiện, người ta vẫn có thể chiếm hữu và khai thác chúng
bằng các hành vi thực tế của mình. Ngược lại, quyền tài sản không tồn tại khách quan
mà tồn tại trong nhận thức của con người, chỉ khi con người đạt đến một trình độ
nhận thức nhất định, nhận ra và khẳng định giá trị kinh tế của quyền tài sản thì khi
đó, trong đời sống sống thực tiễn, quyền tài sản mới hình thành. Với tư cách là một
quyền dân sự, quyền tài sản chỉ thực sự là một định dạng của tài sản khi được pháp
luật cơng nhận và vì là quyền dân sự nên sự xác lập, thực hiện, chấm dứt hay bảo hộ
đối với loại tài sản này cũng cần phải có những quy định cụ thể của pháp luật.
1.3. Phân loại quyền tài sản
Việc phân loại quyền tài sản có ý nghĩa quan trọng về cả mặt lý luận và pháp
lý. Hoạt động phân loại quyền tài sản khơng những giúp có hình dung rõ ràng hơn về
nội hàm khái niệm quyền tài sản, chia nhỏ các nhóm quyền tài sản phục vụ mục đích
nghiên cứu mà còn là cơ sở để quy định chế độ pháp lý (bao gồm cách thức chuyển
20
Trường Đại học Luật TP. HCM, tlđd 1, tr. 39.
15
giao, cách thức quản lý, căn cứ giải quyết tranh chấp…) tương ứng với mỗi dạng
quyền tài sản khác nhau. Tùy vào từng căn cứ và tiêu chí phân loại mà quyền tài sản
được chia thành các nhóm riêng biệt. Mỗi học giả sẽ có những tiêu chí phân loại khác
nhau dựa trên quan điểm cá nhân nhưng nhìn chung, người ta thường phân loại quyền
tài sản theo các tiêu chí như sau:
Dựa vào cách thức thực hiện quyền chủ thể, người ta chia quyền tài sản thành
hai nhóm là quyền tài sản mang tính đối vật và quyền tài sản mang tính đối nhân21.
Thứ nhất, quyền tài sản mang tính đối vật: quyền đối vật nói chung là “quyền
của một chủ thể bằng hành vi của mình tác động lên tài sản theo ý chí của mình mà
khơng phụ thuộc vào người khác để nhằm thỏa mãn lợi ích của mình”22. Như vậy,
quyền đối vật là quyền mà chủ thể quyền thực hiện trên các vật cụ thể và xác định.
Việc thực hiện này nhằm mang lại một giá trị nhất định (không nhất thiết phải là giá
trị kinh tế hay lợi ích vật chất) cho chủ thể và khơng cần phụ thuộc hay có sự tham
gia, hợp tác của các chủ thể khác. Tổng thể quyền tài sản bao gồm quyền tài sản mang
tính đối vật, nhưng khơng phải quyền đối vật nào cũng là quyền tài sản. Có những
quyền đối vật, tức quyền mà chủ thể thực hiện trực tiếp trên vật không thông qua bất
kỳ ai nhưng khơng phải quyền tài sản, ví dụ như quyền sở hữu, quyền thừa kế 23. Nói
rõ hơn, quan hệ giữa quyền tài sản và quyền đối vật là quan hệ giao nhau, và phần
giao giữa hai quyền này chính là quyền tài sản mang tính đối vật. Để trở thành một
quyền tài sản mang tính đối vật thì giá trị mang lại cho chủ thể khi thực hiện quyền
lên vật phải là giá trị mang tính kinh tế. Tức là, quyền tài sản mang tính đối vật là
quyền mà chủ thể thực hiện trên các vật xác định mà không cần sự tham gia của bất
kỳ chủ thể nào khác, và việc thực hiện này nhằm mang lại một lợi ích vật chất nhất
định. Một số quyền tài sản mang tính đối vật điển hình có thể kể đến như: quyền sử
dụng đất, quyền được hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản, quyền của thành viên góp vốn
hay cổ đơng đối với phần vốn góp trong doanh nghiệp…
21
Xem: Trường Đại học Luật TP. HCM, tlđd 1, tr. 42; Nguyễn Hoàng Long, “Quyền tài sản theo quy định
của Bộ luật Dân sự 2015”, [ truy cập ngày 23/4/2023.
22
Nguyễn Minh Oanh (Chủ biên, 2018), Vật quyền trong pháp luật dân sự Việt Nam hiện đại, Nxb. Công
an nhân dân, tr. 14.
23
Xem: Trường Đại học Luật TP. HCM, tlđd 1, tr. 43: “... trên cơ sở lý luận về Nhà nước và pháp luật mà
chúng ta đang chấp nhận, thì quyền sở hữu hay quyền thừa kế là các quan hệ pháp luật dân sự, cấu thành từ
các yếu tố: chủ thể, khách thể, nội dung. Trong đó, tài sản vừa là khách thể đồng thời cũng chính là đối tượng
của quyền sở hữu, quyền thừa kế. Nếu nhìn nhận “quyền tài sản” như là một dạng “tài sản”, thì “quyền tài
sản” chính là khách thể và cũng là đối tượng của quyền sở hữu, quyền thừa kế, nên quyền sở hữu (quan hệ sở
hữu), quyền thừa kế (quan hệ thừa kế) khơng thể chính là quyền tài sản”.
16
Thứ hai, quyền tài sản mang tính đối nhân: quyền đối nhân nói chung là “khả
năng xử sự được luật cho phép của chủ thể có quyền nhằm yêu cầu chủ thể xác định
phải thực hiện hoặc không thực hiện những hành vi nhất định để thỏa mãn lợi ích
của chủ thể có quyền”24. Một cách dễ hiểu, quyền đối nhân là khả năng xử sự của
chủ thể quyền được pháp luật cho phép và bảo hộ, nhằm yêu cầu một chủ thể xác
định khác phải thực hiện hoặc không thực hiện một hoặc một số hành vi nhất định để
thỏa mãn lợi ích của mình. Quyền đối nhân khác với quyền đối vật ở chỗ, đối tượng
của việc thực hiện quyền của chủ thể quyền không phải trên vật mà là trên một chủ
thể xác định và muốn lợi ích được thỏa mãn thì buộc phải có sự tham gia và hợp tác
của chủ thể đó. Tương tự như quyền đối vật, không phải quyền đối nhân nào cũng là
quyền tài sản. Những quyền đối nhân dù đem lại lợi ích hoặc thỏa mãn nhu cầu của
chủ thể quyền nhưng lợi ích này khơng mang tính kinh tế thì khơng phải là quyền tài
sản, ví dụ như quyền u cầu người sử dụng hình ảnh của cá nhân khi chưa được
người đó đồng ý phải gỡ bỏ hình ảnh... Chỉ những quyền đối nhân nào khi được thực
hiện đem lại lợi ích vật chất cho chủ thể quyền thì đó mới là quyền tài sản mang tính
đối nhân. Có thể liệt kê một số quyền tài sản mang tính đối nhân phổ biến trong giao
lưu dân sự như: quyền đòi nợ, quyền yêu cầu cấp dưỡng, quyền yêu cầu bồi thường
thiệt hại, quyền yêu cầu bên vi phạm nộp tiền phạt vi phạm hợp đồng…
Như vậy, trong tương quan giữa quyền tài sản mang tính đối vật và quyền tài
sản mang tính đối nhân, tiêu chí dùng để phân biệt là cách thức thực hiện quyền của
chủ thể, biểu hiện thông qua hai đặc điểm nổi bật là đối tượng tác động và chủ thể
thực hiện. Đối với quyền tài sản mang tính đối vật, chính chủ thể quyền sẽ là người
thực hiện quyền và thực hiện lên một vật xác định. Trong khi đó, quyền tài sản mang
tính đối nhân được đặc trưng bởi chủ thể trực tiếp thực hiện công việc hay hành vi
trực tiếp sinh ra lợi ích vật chất cho chủ thể quyền là người được yêu cầu mà không
phải là chủ thể quyền, tức là nếu người này không thực hiện công việc được u cầu
thì chủ thể quyền sẽ khơng thể có được lợi ích mà họ mong muốn.
Ngồi ra, có một loại quyền mà không thể được xếp vào các quyền đối vật hay
quyền đối nhân, đó là quyền sở hữu trí tuệ25.Quyền sở hữu trí tuệ thường được đặt
độc lập và coi như một loại quyền đặc thù và riêng biệt, không được thực hiện trên
vật cũng không được thực hiện trên người mà đối tượng của loại quyền này là phi vật
24
Trường Đại học Luật TP. HCM, tlđd 1, tr. 44.
25
Nguyễn Mạnh Bách (2004), Luật Dân sự Việt Nam lược khảo, Nxb. Chính trị quốc gia, tr. 91.
17
chất. Quyền đối vật và quyền đối nhân được thực hiện trên vật xác định hoặc trên
người, duy nhất quyền sở hữu trí tuệ là được xác lập trên một đối tượng phi vật chất
(các sản phẩm trí tuệ), do đó, dù các quyền nói chung đều có tính chất vơ hình (trừ
quyền sở hữu vật hữu hình được đồng nhất với chính vật đó) nhưng người ta vẫn quy
ước rằng những quyền vơ hình tuyệt đối là những quyền không gắn với một tài sản
hay một người nào26. Như vậy, quyền sở hữu trí tuệ là là quyền tài sản vơ hình tuyệt
đối.
Dựa vào tính chất quyền tài sản là một quyền dân sự, quyền tài sản có thể bao
gồm quyền tài tài sản là quyền chủ thể và quyền tài sản là đặc quyền luật định.
Thứ nhất, quyền tài sản là quyền chủ thể: quyền chủ thể là “cách xử sự mà pháp
luật cho phép chủ thể được tiến hành khi tham gia các quan hệ pháp luật, đó là khả
năng của chủ thể xử sự theo cách thức nhất định mà pháp luật cho phép”27. Khi tham
gia các quan hệ dân sự, pháp luật sẽ cho phép một chủ thể xác định được xử sự hay
thực hiện những hành vi, công việc nhất định và chủ thể được phép lựa chọn thực
hiện hoặc không thực hiện những cơng việc này. Chủ thể có thể thực hiện những xử
sự mà pháp luật cho phép, yêu cầu những chủ thể khác chấm dứt những hành vi xâm
phạm đến quyền chủ thể của mình hoặc có thể u cầu Nhà nước can thiệp để bảo vệ
quyền chủ thể của mình. Quyền chủ thể trở thành quyền tài sản khi những xử sự của
chủ thể xác lập lên tài sản hoặc lên người phải sinh ra một lợi ích kinh tế nhất định.
Những xử sự này có thể là sử dụng, khai thác lợi ích vật chất từ quyền tài sản, yêu
cầu chủ thể khác thực hiện một công việc đem lại lợi ích vật chất cho mình… Quyền
tài sản là quyền chủ thể được xác lập trên tài sản bao gồm quyền sử dụng nhà thuê,
quyền được hưởng hoa lợi, lợi tức… Quyền tài sản là quyền chủ thể được xác lập trên
người có thể kể đến quyền địi nợ, quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại…
Thứ hai, quyền tài sản là đặc quyền luật định: đặc quyền luật định là “những
đặc quyền được hiến pháp và pháp luật quy định chung cho mọi chủ thể, khơng xác
định người có quyền, khơng có đối tượng trên tài sản cụ thể và cũng không xác lập
trên người… Cũng coi là đặc quyền luật định nếu quyền đó tuy xác lập trên tài sản
nhưng khơng cần có sự đối ứng về nghĩa vụ với chủ thể khác”28. Có thể hình dung
một cách dễ hiểu đặc quyền luật định là những quyền được quy định trong hiến pháp
26
27
Nguyễn Ngọc Điện, tlđd 16, tr. 31.
Nguyễn Hữu Quỳnh (Chủ biên, 1999), Từ điển luật học, Nxb. Từ điển bách khoa, tr. 398.
28
Trường Đại học Luật TP. HCM, tlđd 1, tr. 39.
18
và pháp luật mà muốn được thực hiện quyền này thì phải thỏa mãn được những điều
kiện nhất định cũng được quy định trong pháp luật. Quyền tài sản là đặc quyền luật
định chỉ bao gồm những đặc quyền luật định có giá trị kinh tế, tức trị giá được bằng
tiền. Những quyền như quyền tự do ngôn luận, quyền biểu tình, quyền có quốc tịch
của cá nhân… đều là những đặc quyền luật định bởi chúng được quy định trong các
văn bản pháp luật29, tuy nhiên vì chúng khơng đem lại giá trị kinh tế nên không phải
là quyền tài sản. Những quyền tài sản là đặc quyền luật định có thể kể đến bao gồm:
quyền sử dụng đất30, quyền sở hữu trí tuệ31, quyền kinh doanh xuất khẩu, nhập
khẩu32...
Có thể thấy, vì quyền tài sản là một quyền dân sự, nên cũng sẽ bao gồm quyền
chủ thể và đặc quyền luật định. Đặc điểm dễ phân biệt nhất của hai loại quyền này
chính là quyền chủ thể khơng cần được quy định trong các văn bản pháp luật mà
những xử sự của chủ thể được thực hiện dựa trên nguyên tắc “được làm những điều
pháp luật không cấm”, tức là tính “cho phép” ở đây được hiểu là pháp luật không cấm
hay hạn chế chủ thể thực hiện một hành vi nhất định nào đó thì chủ thể hồn tồn có
thể được làm những cơng việc đó, khơng cần phải liệt kê cụ thể chi tiết những quyền
mà chủ thể được thực hiện trong các văn bản quy phạm pháp luật. Ngược lại, cơ sở
phát sinh đặc quyền luật định là phải được pháp luật quy định, nghĩa là để xác định
một quyền bất kỳ có phải đặc quyền luật định hay không, cần phải xác định quyền đó
có được quy định cụ thể tại văn bản quy phạm pháp luật nào hay không.
Dựa vào khả năng trở thành đối tượng của các giao dịch dân sự, có thể chia
quyền tài sản thành quyền tài sản có thể chuyển giao và quyền tài sản không thể
chuyển giao33. Tài sản nói chung và quyền tài sản nói riêng có thể chuyển giao trong
các giao lưu dân sự được hay khơng phụ thuộc vào hai điểm chính là có gắn với yếu
tố nhân thân hay khơng và có thuộc loại tài sản bị cấm lưu thông hay không.
29
Quyền tự do ngơn luận và quyền biểu tình được quy định tại Điều 25 Hiến pháp năm 2013.
Quyền có quốc tịch của cá nhân được quy định tại khoản 1 Điều 31 Bộ luật Dân sự năm 2015.
30
Quyền sử dụng đất được quy định tại khoản 2 Điều 54 Hiến pháp năm 2013 và nhiều văn bản quy phạm
pháp luật khác.
31
Quyền sở hữu trí tuệ được quy định tại khoản 2 Điều 62 Hiến pháp năm 2013 và nhiều văn bản quy
phạm pháp luật khác.
32
Quyền kinh doanh xuất khẩu, quyền kinh doanh nhập khẩu được quy định tại Điều 3 Nghị định số
187/2013/NĐ-CP ngày 20/11/2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Thương mại về hoạt động
mua bán hàng hóa quốc tế và các hoạt động đại lý mua, bán, gia cơng và q cảnh hàng hóa với nước ngoài
được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 77/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ.
33
Trường Đại học Luật Hà Nội, tlđd 19, tr. 180.
19
Quyền tài sản có thể chuyển giao là những quyền tài sản không gắn với yếu tố
nhân thân và không thuộc trường hợp là tài sản cấm lưu thông. Việc chuyển giao một
số quyền tài sản là đặc quyền luật định được quy định khá cụ thể và chi tiết trong các
văn bản pháp luật (như quyền sử dụng đất, quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở
hữu trí tuệ). Bên cạnh đó, có những quyền tài sản khác mà pháp luật chưa có quy định
cụ thể gây ra một số khó khăn trong q trình chuyển giao trên thực tế. Trong các
giao dịch chuyển giao quyền sở hữu tài sản nói chung, việc xác định thời điểm chuyển
giao là vơ cùng quan trọng bởi đó là căn cứ xác định thời điểm xác lập quyền sở
hữu34, cũng là căn cứ để xác định thời điểm chịu rủi ro đối với tài sản 35. Theo khoản
1 Điều 161 Bộ luật Dân sự năm 2015, thời điểm tài sản được chuyển giao “là thời
điểm bên có quyền hoặc người đại diện hợp pháp của họ chiếm hữu tài sản”. Bên
cạnh đó cịn có những giao dịch chuyển giao quyền tài sản mà không bao gồm chuyển
giao quyền sở hữu (chẳng hạn như bên cầm cố giao tài sản cho bên nhận cầm cố). Ở
những giao dịch này, việc giao tài sản cũng đồng nhất với việc chuyển giao quyền
chiếm hữu. Như đã phân tích ở trên, việc xác định chủ thể chiếm hữu quyền tài sản
trên thực tế khá khó khăn và cũng rất khó để tách bạch quyền chiếm hữu với quyền
sử dụng. Do tính chất vơ hình, việc chuyển giao gần như chỉ được thực hiện ở khía
cạnh pháp lý, do đó việc xác định thời điểm chuyển giao và cách thức giao quyền tài
sản gặp phải nhiều khó khăn.
Quyền tài sản khơng thể chuyển giao gồm những quyền tài sản gắn với nhân
thân hoặc những quyền được pháp luật quy định là không được chuyển giao trong
các giao dịch dân sự. Một số quyền tài sản được pháp luật quy định khơng được phép
chuyển giao có thể kể đến như quyền yêu cầu cấp dưỡng, quyền yêu cầu bồi thường
thiệt hại do xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín 36. Việc
pháp luật không cho phép chuyển giao quyền yêu cầu cấp dưỡng là hồn tồn hợp lý
vì bản chất đây là nghĩa vụ được ràng buộc bởi quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết
thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng và mục đích của pháp luật khi quy định loại quyền
này là nhằm đảm bảo nhu cầu thiết yếu của người có quyền 37. Đối với các quyền tài
34
35
36
Điều 161 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Khoản 1 Điều 441 Bộ luật dân sự năm 2015.
Điểm a khoản 1 Điều 365 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Xem: Trường Đại học Luật TP. HCM (2022), Giáo trình Luật Hơn nhân và Gia đình Việt Nam, Nguyễn
Văn Tiến chủ biên, Nxb. Hồng Đức, tài bản lần thứ nhất, tr. 371: “Trong một gia đình khơng phải mọi thành
viên đều có sức khỏe, khả năng lao động tạo thu nhập, có tài sản riêng… ngang nhau. Ví dụ như trẻ em thì
khơng thể và khơng phải tự mình đảm bảo những điều kiện vật chất thiết yếu cho cuộc sống của bản thân. Đáp
37
20
sản gắn với yếu tố nhân thân khác, điển hình là quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại do
tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm, vấn đề đặt ra là mặc
dù pháp luật quy định rõ không được phép chuyển giao, tuy nhiên thực tiễn xét xử
vẫn cho phép thừa kế những quyền này. Xét sự việc sau: ông H bị bà T xúc phạm
trong thời gian dài, ảnh hưởng đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của mình nên ơng đã
u cầu Tịa án giải quyết buộc bà T bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy
tín bị xâm phạm. Trong q trình giải quyết vụ án, ơng H qua đời nên Tịa án đưa vợ
và các con của ơng tham gia tố tụng với tư cách người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố
tụng (nhưng các con ông đã từ chối tham gia tố tụng). Trong phần Quyết định, Tòa
án chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện và số tiền mà bà T phải bồi thường sẽ được
giao cho vợ của ơng H38. Thấy rằng, Tịa án đã cho phép thừa kế quyền yêu cầu bồi
thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm, mà thừa kế là một hình
thức chuyển giao trong giao lưu dân sự, tức trong trường hợp này, quyền tài sản gắn
với nhân thân đã được chuyển giao. Như vậy, rõ ràng đang có sự thiếu thống nhất
trong quy định của pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật.
1.4. Quá trình phát triển quy định về quyền tài sản trong pháp luật dân sự Việt
Nam
1.4.1. Giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám năm 1945
Từ thời phong kiến, nước ta đã có những văn bản pháp luật điều chỉnh các quan
hệ xã hội phát sinh trong lòng xã hội, bao gồm các quan hệ dân sự. Cho đến nay, có
02 văn bản điển hình cịn được lưu giữ lại là Quốc triều hình luật (cịn gọi là Lê triều
hình luật hay Bộ luật Hồng Đức) được áp dụng dưới thời Lê Sơ (đạt đỉnh cao thời
vua Lê Thánh Tơng) và Hồng Việt luật lệ (hay Luật Gia Long) được áp dụng dưới
triều Nguyễn. Ở thời kỳ phong kiến, pháp luật về dân sự và hình sự chưa được tách
rời một cách riêng biệt mà có sự giao thoa với nhau do pháp luật vẫn nặng về tính
trừng phạt. Các quan hệ về dân sự, bao gồm mua bán, vay mượn, cho thuê, thừa kế…
được quy định sơ lược trong các bộ luật này. Ở thời điểm này, giao lưu dân sự chưa
quá phát triển, chỉ dừng lại ở trao đổi, mua bán các loại tài sản là vật có thật hay vật
ứng những nhu cầu vật chất của các em được đảm bảo từ phía cha mẹ của các em. Ngồi ra, những người đã
thành niên khác trong gia đình khi gặp hoàn cảnh đặc biệt như mất năng lực hành vi dân sự, bị tàn tật, khơng
có khả năng lao động, khơng có tài sản để tự ni mình, tức là họ rơi vào tình trạng khơng thể tự đảm bảo
được cuộc sống của mình thì sự giúp đỡ, cưu mang từ phía gia đình với những đối tượng này là vơ cùng cần
thiết. Chính vì thế, chế định cấp dưỡng được quy định trong Luật Hơn nhân và Gia đình”.
38
Bản án số 63/2019/DS-ST ngày 26/06/2019 của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau về
tranh chấp bồi thường danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm.
21
hữu hình, do đó nội hàm của khái niệm tài sản cũng được nhìn nhận tương đối hẹp,
chủ yếu là ruộng đất, trâu bị và thóc lúa. Điều này là hợp lý và dễ hiểu bởi trong một
nền kinh tế khá khép kín và trọng nơng, chỉ có điền thổ mới được coi là các yếu tố tư
bản chính yếu, các động sản khác chỉ là những vật có ít giá trị39. Do đó, pháp luật thời
phong kiến chưa ghi nhận quyền tài sản là một loại tài sản.
Ở giai đoạn Pháp thuộc (từ năm 1884 đến năm 1945), thực dân Pháp chia Việt
Nam thành 03 kỳ là Bắc kỳ, Trung kỳ và Nam kỳ để cai trị và ở mỗi kỳ sẽ áp dụng
một quy chế pháp lý riêng về dân sự. Cụ thể, các tỉnh thuộc Bắc kỳ áp dụng Bộ Dân
luật Bắc kỳ, các tỉnh Trung kỳ áp dụng Bộ Dân luật Trung kỳ và các tỉnh Nam kỳ áp
dụng Bộ luật Dân sự Nam kỳ giản yếu.
Bộ luật Dân sự Nam kỳ giản yếu:
Ở thời kỳ này, Nam kỳ là thuộc địa của Pháp (khác với Bắc kỳ và Trung kỳ là
lãnh thổ thuộc sự bảo hộ của Pháp mà khơng phải thuộc địa), do đó quyền lập pháp
trong phạm vi Nam kỳ thuộc về người Pháp40. Ngày 26/3/1884, Bộ Dân luật giản yếu
được ban hành và áp dụng trong phạm vi các tỉnh Nam kỳ. Nội dung của Bộ Dân luật
này chỉ quy định các vấn đề về cá nhân, các vấn đề về tài sản không được quy định.
Chỉ đến khi sắc luật 21/7/1925 được ban hành vào năm 1927, các quy định về tài sản
mới xuất hiện trong hệ thống pháp luật. Tuy nhiên, sắc lệnh này chỉ quy định về chế
độ pháp lý đối với ruộng đất mà không phải là tài sản nói chung, do đó nhìn chung
thì thời kỳ này tại Nam kỳ vẫn chưa có quy định nào về tài sản và quyền sở hữu đối
với tài sản không phải là ruộng đất, do đó cũng khơng có những quy định về quyền
tài sản.
Bộ Dân luật Bắc kỳ và Bộ Dân luật Trung kỳ:
Bộ Dân luật Bắc kỳ có tên đầy đủ là Bộ Dân luật thi hành tại các Nam án Bắc
kỳ. Bộ Dân luật này được ban hành ngày 30/3/1931 và có hiệu lực thi hành tại Bắc
Kỳ từ ngày 01/7/1931, nội dung được xây dựng chủ yếu dựa trên Bộ luật Dân sự Pháp
năm 1804 (hay Bộ luật Napoleon). Bộ Dân luật Bắc kỳ có 1455 điều, được chia thành
một thiên sơ bộ và 04 quyển tương ứng với với 04 chế định hay nội dung chủ yếu của
pháp luật dân sự. Trong đó, vấn đề về tài sản và quyền sở hữu được quy định tại
quyển thứ 2. Bộ Dân luật Trung kỳ có tên chính xác là Hồng Việt Trung kỳ hộ luật,
được biên soạn chủ yếu dựa trên khuôn mẫu của Bộ Dân luật Bắc kỳ, có một vài điểm
39
Vũ Văn Mẫu (1959), Hồng Đức thiện chính thư, Nxb. Sài Gịn, tr. 15.
40
Vũ Văn Mẫu (1957), Dân luật khái luận, Nxb. Bộ Quốc gia Giáo dục, tr. 281.