Tải bản đầy đủ (.pdf) (125 trang)

Kiểm soát của quyền tư pháp đối với quyền hành pháp ở việt nam hiện nay

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (1.82 MB, 125 trang )

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP.HCM
KHOA LUẬT HÀNH CHÍNH
-----------***------------

NGUYỄN ĐẶNG MINH TRANG
MSSV: 1953801014252

KIỂM SOÁT CỦA QUYỀN TƯ PHÁP ĐỐI VỚI
QUYỀN HÀNH PHÁP Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Khoá luận tốt nghiệp cử nhân luật
Niên khoá: 2019 – 2023

Người hướng dẫn: Thạc sĩ Nguyễn Văn Trí

TP.HCM – Năm 2023


TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP.HCM
KHOA LUẬT HÀNH CHÍNH
-----------***------------

NGUYỄN ĐẶNG MINH TRANG
MSSV: 1953801014252

KIỂM SOÁT CỦA QUYỀN TƯ PHÁP ĐỐI VỚI
QUYỀN HÀNH PHÁP Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Khoá luận tốt nghiệp cử nhân luật
Niên khoá: 2019 – 2023


Người hướng dẫn: Thạc sĩ Nguyễn Văn Trí

TP.HCM – Năm 2023


LỜI CẢM ƠN
Để hồn thành khóa luận này, em xin gửi lời cảm ơn đến các Quý Thầy cô Khoa
Hành chính – Nhà nước, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh đã tạo cơ hội cho
được học tập, rèn luyện và tích lũy kiến thức, kỹ năng để thực hiện khóa luận.
Đặc biệt, em chân thành cảm ơn thầy – ThS. Nguyễn Văn Trí, người đã hướng dẫn
cho em trong suốt thời gian viết khoá luận. Thầy rất tận tình dù có bận rộn với cơng tác
giảng dạy nhưng không ngần ngại chỉ dẫn em, định hướng đi cho em, để em hoàn thành tốt
nhiệm vụ. Một lần nữa em chân thành cảm ơn thầy và chúc thầy thật nhiều sức khoẻ, luôn
thành công trong cuộc sống.
Tuy nhiên vì kiến thức chun mơn cịn hạn chế và bản thân còn thiếu nhiều kinh
nghiệm thực tiễn nên nội dung của khố luận khơng tránh khỏi những thiếu sót, em rất
mong nhận sự góp ý, chỉ bảo thêm của Quý Thầy cô.
Cuối cùng, em xin cảm ơn những người thân, bạn bè đã ln bên cạnh, động viên
em hồn thành khóa luận này.
Trân trọng.
TP. HCM, ngày 22 tháng 6 năm 2023


LỜI CAM ĐOAN
Tơi xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật với đề tài “Kiểm soát của
quyền tư pháp đối với quyền hành pháp ở Việt Nam hiện này” là cơng trình nghiên cứu
do chính tơi thực hiện dưới sự hướng dẫn của Th.S Nguyễn Văn Trí. Khoa lùn có sử dụng,
trích dẫn ý kiến, quan điểm khoa học của một số tác giả. Các thông tin này đều được ghi
nguồn chính xác. Thơng tin được sử dụng trong khố luận là hồn tồn khách quan, trung
thực.

Ký tên

Nguyễn Đặng Minh Trang


DANH MỤC TỪ NGỮ VIẾT TẮT
STT

Từ ngữ viết tắt

Mô tả

1

UBND

Ủy ban nhân dân

2

QĐHC

Quyết định hành chính

3

HVHC

Hành vi hành chính


4

TTHC

Tố tụng hành chính

5

CQHC

Cơ quan hành chính

6

TAND

Tịa án nhân dân

7

THAHC

Thi hành án hành chính

8

QLNN

Quyền lực nhà nước


9

Anh

Vương Quốc Anh

10

Pháp

Cộng hồ Pháp

11

Đức

Cộng hồ liên bang Đức

12

Mỹ, Hoa Kỳ

Hợp chủng quốc Hoa Kỳ

13

Trung Quốc

Cộng hoà nhân dân Trung Hoa



MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU .............................................................................................................. 8
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT CỦA QUYỀN TƯ
PHÁP ĐỐI VỚI QUYỀN HÀNH PHÁP ..................................................................... 15
1.1. Khái niệm, đặc điểm kiểm soát của quyền tư pháp đối với quyền hành
pháp 15
1.1.1. Khái niệm kiểm soát của quyền tư pháp đối với quyền hành pháp ............... 15
1.1.2. Đặc điểm kiểm soát của quyền tư pháp đối với quyền hành pháp................. 21
1.2. Mục đích, ý nghĩa kiểm sốt của quyền tư pháp đối với quyền hành pháp .. 23
1.2.1. Mục đích kiểm sốt của quyền tư pháp đối với quyền hành pháp ................. 23
1.2.2. Ý nghĩa kiểm soát của quyền tư pháp đối với quyền hành pháp .................... 24
1.3. Chủ thể thực hiện, nội dung kiểm soát của quyền tư pháp đối với quyền
hành pháp ................................................................................................................... 27
1.3.1. Chủ thể thực hiện hoạt động kiểm soát của quyền tư pháp đối với quyền
hành pháp ................................................................................................................. 27
1.3.2. Nội dung kiểm soát của quyền tư pháp đối với quyền hành pháp ................. 38
1.4. Những yếu tố bảo đảm hiệu quả trong hoạt động kiểm soát của quyền tư
pháp đối với quyền hành pháp ................................................................................. 49
1.4.1. Bảo đảm sự độc lập của thẩm phán trong hoạt động xét xử ......................... 49
1.4.2. Bảo đảm thi hành các phán quyết của cơ quan tài phán ............................... 52
Kết luận Chương 1 ..................................................................................................... 56
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ KIẾN NGHỊ GÓP PHẦN NÂNG CAO HIỆU
QUẢ KIỂM SOÁT CỦA QUYỀN TƯ PHÁP ĐỐI VỚI QUYỀN HÀNH PHÁP Ở
VIỆT NAM ..................................................................................................................... 57
2.1. Thực trạng kiểm soát của quyền tư pháp đối với quyền hành pháp ở Việt
Nam hiện nay .............................................................................................................. 57
2.1.1. Chủ thể thực hiện kiểm soát của quyền tư pháp đối với quyền hành pháp ở
Việt Nam ................................................................................................................... 58
2.1.2. Nội dung kiểm soát của quyền tư pháp đối với quyền hành pháp ở Việt

Nam .......................................................................................................................... 63


2.1.3. Thành tựu và một số vấn đề đặt ra về kiểm soát của quyền tư pháp đối với
quyền hành pháp ...................................................................................................... 76
2.2. Kiến nghị góp phần nâng cao hiệu quả kiểm soát của quyền tư pháp đối với
quyền hành pháp Việt Nam ...................................................................................... 88
2.2.1. Quan điểm chủ đạo về kiểm soát của quyền tư pháp đối với quyền hành pháp
trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam ......................................... 88
2.2.2. Một số kiến nghị góp phần nâng cao hiệu quả kiểm soát của quyền tư pháp
đối với quyền hành pháp .......................................................................................... 90
Kết luận Chương 2 ................................................................................................... 102
KẾT LUẬN CHUNG .................................................................................................. 103
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong cơ cấu quyền lực nhà nước, hành pháp là nhánh quyền lực ảnh hưởng trực
tiếp đến gần như mọi hoạt động của xã hội, là khâu có tính chất quyết định đến tồn bộ
q trình tác động của pháp luật vào đời sống con người. Theo Hamiton, “hành pháp
khơng những có quyền phân phối các vinh dự mà lại có quyền sử dụng vũ lực”1. Chính
vì vậy, trong việc kiểm sốt QLNN, kiểm sốt quyền lực hành pháp ln có vai trị trọng
tâm. Những trục trặc, sự cố trong việc thực hiện quyền lực nhà nước đa phần là ở việc
thực hiện quyền hành pháp. Hơn nữa, hệ thống hành chính từ trung ương đến cơ sở là
một hệ thống đồ sộ, có chức năng, nhiệm vụ đa dạng và đối tượng tác động hết sức phong
phú, vận động không ngừng. Với phạm vi hoạt động rộng lớn, khó tránh khỏi thiếu sót,
sai phạm liên quan đến tính hợp pháp, hiệu quả hoạt động của hệ thống hành chính. Vậy
nên, cần “cơ chế kiểm soát quyền hành pháp là hệ thống các phương thức, khả năng, quy

tắc được ghi nhận để thông qua đó biết được quyền lực hành pháp đang làm gì, làm như
thế nào và khống chế, điều chỉnh được nó”2.
Ở nước ta, cả nhánh lập pháp và tư pháp đều tham gia vào việc kiểm soát quyền
hành pháp. Nếu như nhánh lập pháp (Quốc hội) kiểm sốt cả tính hợp pháp, hợp lý trong
hoạt động của các CQHC (hành pháp) thì tư pháp (TAND) chỉ kiểm tra tính hợp hiến,
hợp pháp trong các QĐHC, HVHC cá biệt của nhánh hành pháp.3 Nhưng kiểm soát của
quyền tư pháp đối với quyền hành pháp chưa thực sự phổ biến ở nước ta (đặc biệt là các
nước xã hội chủ nghĩa – nơi mà sự thống nhất của quyền lực nhà nước là nguyên tắc tối
cao, nhà nước phi nhà nước, không có sự bóc lột, là nhà nước của dân, do dân và vì dân
nên các quyết định của nhà nước đều dựa trên cơ sở vì nhân dân). Từ đó, việc Toà án
xem xét các hành vi của cơ quan hành pháp được quan niệm là để sửa chữa những sai sót
của cơ quan hành pháp mà khơng phải là kiểm soát hoạt động của cơ quan hành pháp.
Tuy nhiên, ngày này các quốc gia đã nhận thức được những nguy cơ và hạn chế của việc
uỷ thác quá nhiều quyền lực cho nhánh hành pháp. Vì vậy, nhiều nước đã tiếp nhận hình
thức kiểm sốt của quyền tư pháp đối với quyền tư pháp (đây là một bộ phận độc lập với
quyền lập pháp, quyền hành pháp, có trách nhiệm phán xét sự đúng sai của hai nhánh

1

Hamiton, Tay and Madison (1954), The federalist papers, On the constitution copyright.
Vũ Thư (2006), “Về kiểm soát quyền lực hành pháp trong hệ thống quyền lực nhà nước ở Việt Nam hiện nay”,
Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 12/2006, tr.3.
3
Trịnh Xuân Thắng (2017), “Tài phán hành chính – cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước của tư pháp đối với hành
pháp”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 4(332) tháng 2, tr.8.
2


quyền lực nhà nước còn lại) như một cơ quan bảo đảm hiệu quả trong việc kiểm soát
quyền hành pháp, góp phần bảo vệ cơng lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân.

Xuất phát từ nhu cầu trên, tác giả đã chọn đề tài “Kiểm soát của quyền tư pháp
đối với quyền hành pháp ở Việt Nam hiện nay” để làm khoá luận với mong muốn đưa
ra những cơ sở lý luận vững chắc, phân tích chọn lọc từ kinh nghiệm quốc tế trong lĩnh
vực này nhằm thiết lập cơ chế kiểm soát của quyền tư pháp đối với quyền hành pháp.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Khi nghiên cứu về kiểm sốt quyền lực nhà nước nói chung, kiểm sốt quyền
hành pháp nói riêng thì tác giả có tìm đọc một số cơng trình sau:
Thứ nhất, các sách chuyên khảo: Cuốn “Deference to the Administration in
Judicial Review – Comparative Perspective” (Tôn trọng sự quản lý trong giám sát tư
pháp – Góc nhìn so sánh), do tác giả Guobin Zhu biên tập, Springer Publishing xuất bản
năm 2019; Sách chuyên khảo “Human Rights and Judicial Review in Australia and
Canada: The Newest Despotism?” (Đánh giá về Nhân quyền và Giám sát Tư pháp ở Úc
và Canada: Chế độ chuyên quyền mới nhất?) viết bởi tác giả Janina Boughey, Hart
Publishing xuất bản năm 2017. Cuốn sách: Kiểm soát quyền lực nhà nước của tác giả
Nguyễn Đăng Dung (tái bản có bổ sung 2022) đã trình bày cơ sở lí luận của sự kiểm sốt
QLNN và phân tích nội dung, hình thức và một số cơng cụ kiểm sốt QLNN; Kiểm sốt
quyền lực trong hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay của tác giả Nguyễn Thị Tuyết
Mai (chủ biên) năm 2021, trình bày cơ sở lý luận về kiểm sốt quyền lực trong hệ thống
chính trị và phân tích thực trạng kiểm soát quyền lực ở Việt Nam và những vấn đề đặt ra
trong thực tiễn, đưa ra phương hướng, giải pháp tăng cường kiểm sốt quyền lực trong
hệ thống chính trị; Các cơ chế pháp lý kiểm soát quyền lực nhà nước trên thế giới và ở
Việt Nam của tác giả Đặng Minh Tuấn (chủ biên) năm 2019, tập hợp các bài viết nghiên
cứu những vấn đề lí luận và thực tiễn về cơ chế pháp lí kiểm sốt QLNN gồm: khái niệm
cơ bản; các cơ chế thực hiện kiểm soát quyền lực, các cơ chế kiểm soát QLNN trên thế
giới và việc áp dụng ở Việt Nam; Cơ sở pháp lý kiểm soát quyền lực nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của tác giả Nguyễn Minh Đoan (chủ biên) năm 2018,
phân tích những vấn đề lí luận và thực tiễn về cơ chế kiểm soát QLNN từ đó đề xuất quan
điểm, giải pháp nhằm hồn thiện cơ chế kiểm soát QLNN trong điều kiện xây dựng Nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay.
Thứ hai, các bài viết trên tạp chí khoa học như: Kiểm soát thực hiện quyền hành

pháp của một số nước trên thế giới và một số khuyến nghị cho Việt Nam của tác giả Vũ


Đặng Phúc đăng trên tạp chí Nghề luật số 11 (2020); Các phương thức kiểm soát quyền
hành pháp của nhà nước ta trong giai đoạn hiện nay của tác giả Nguyễn Thị Bích Hường
đăng trên tạp chí Thanh tra số 02 (2020); Bàn thêm về thực hiện kiểm soát quyền lực hành
pháp ở Việt Nam của tác giả Bùi Huy Tùng đăng trên Quản lý nhà nước số 280 (2019);
Cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước trong nhà nước pháp quyền của tác giả Nguyễn
Hoàng Anh đăng trên tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 03+04 (2018); Kiểm sốt quyền lực
hành pháp ở một số nước trên thế giới – Giá trị tham khảo cho Việt Nam của tác giả Bùi
Huy Tùng đăng trên tạp chí Quản lý nhà nước số 261 (2017).
Thứ ba, là các khoá luận, luận văn, luận án: Khoá luận Kiểm soát quyền hành
pháp trong nhà nước pháp quyền của tác giả Phan Võ Hoàng Tân - Đại học Luật TP.HCM
(2016); Khoá luận Kiểm soát quyền hành pháp trong nhà nước pháp quyền của tác giả
Nguyễn Thị Thuỳ Dương - Đại học Luật TP.HCM (2019); Luận án Tiến sĩ Kiểm soát
việc hiện quyền hành pháp của Chính phủ ở Việt Nam hiện nay - Đại học Luật Hà Nội
(2022)…Qua đó, tác giá có thể kế thừa các nghiên cứu cơ sở lý luận về vấn đề kiểm sốt
QLNN trong nhà nước pháp quyền nói chung và kiểm sốt quyền hành pháp nói riêng
làm tiền đề cho các bước phân tích cho khố luận của mình.
Đối với q trình nghiên cứu về kiểm sốt của quyền tư pháp đối với quyền hành
pháp, tác giả nhận thấy hiện nay những cơng trình đề cập trực tiếp hay đi sâu phân tích
là chưa nhiều. Tuy nhiên, vẫn có một số cơng trình đem lại giá trị tham khảo cho đề tài
như:
Thứ nhất, các sách chuyên khảo có thể kể đến: Thể chế tư pháp trong nhà nước
pháp quyền của tác giả Nguyễn Đăng Dung (2004); Tài phán Hiến pháp, một số vấn đề
lý luận cơ bản, kinh nghiệm quốc tế và khả năng áp dụng cho Việt Nam của tác giả
Nguyễn Như Phát (chủ biên) năm 2011
Thứ hai, là các bài viết trên tạp chí khoa học: Kiểm sốt thực hiện quyền hành
pháp của tồ án Hoa Kỳ và một số kiến nghị cho Việt Nam của tác giả Phan Thị Lan
Hương đăng trên tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 17 (2019); Tài phán hành chính – Cơ

chế kiểm soát quyền lực nhà nước của tư pháp đối với hành pháp của tác giả Trịnh Xuân
Thắng đăng trên tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 4 (2017); Chuỗi bài tạp chí của tác giả
Lê Thị Thu Thảo: Khái niệm và sự cần thiết kiểm soát của tư pháp đối với quyền hành
pháp đăng trên tạp chí Khoa học pháp lý số 6 (2018); Phương thức giám sát tư pháp đối
với quyền hành pháp đăng trên tạp chí TAND số 24 (2019); Giám sát tư pháp đối với
quyền hành pháp ở Pháp và một số kinh nghiệm cho Việt Nam đăng trên tạp chí Nhà nước


và pháp luật số 4 (2019); Giám sát tư pháp đối với quyền hành pháp ở Đức và một số gợi
mở cho Việt Nam đăng trên tạp chí Luật học số 11 (2019). Thứ ba là luận văn Thạc sĩ
Kiểm sốt của Tồ án đối với quyền hành pháp của tác giả Lê Thị Thu Thảo (2018).
Qua những tài liệu thu thập được tác giải có thể kế thừa về những phương thức
kiểm soát cụ thể của tư pháp (Cơ quan tư pháp – Tồ án) dùng để kiểm sốt quyền hành
pháp về mặt lý luận, kinh nghiệm nước ngoài làm cơ sở cho khố luận của mình.
Nhìn chung, các nghiên cứu trên đã làm rõ được tính tất yếu khách quan, bản
chất và đặc điểm kiểm soát quyền lực nhà nước. Các tác giả đã góp phần làm sáng tỏ khái
niệm, nội dung, mục đích, phương hướng kiểm sốt quyền lực nhà nước. Thơng qua thực
trạng thì các tác giả đã đánh giá khái quát hoạt động kiểm soát QLNN nói chung và kiểm
sốt của quyền tư pháp đối với quyền hành pháp nói riêng. Tuy nhiên, các cơng trình này
chỉ nghiên cứu về kiểm sốt quyền lực nhà nước, giám sát của tư pháp đối với hành pháp
ở Việt Nam hoặc lựa chọn từng quốc gia cụ thể chứ chưa nghiên cứu về kiểm soát của
quyền tư pháp đối với quyền hành pháp diễn ra ở nhiều quốc gia (có sự đối chiếu so sánh).
Vậy nên tác giả sẽ so sánh kinh nghiệm của nhiều quốc gia để xây dựng cơ sở lý luận
trong việc đánh giá hoạt động kiểm soát tư pháp ở Việt Nam hiện nay có gì khác biệt, tồn
tại những điểm hạn chế gì và phương hướng cải thiện ra sao. Đó là nội dung của đề tài
hướng đến để phát triển và khai thác.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Mục đích nghiên cứu đề tài:
Mục đích của khố luận là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận khoa học và thực
tiễn về hoạt động kiểm soát của quyền tư pháp đối với quyền hành pháp ở Việt Nam hiện

nay. Trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp phù hợp với các điều kiện chủ quan, khách
quan nhằm bảo đảm hiệu quả của hoạt động kiểm soát ở Việt Nam hiện nay.
Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài:
Để thực hiện được mục đích trên, khố luận có những nhiệm vụ sau:
Một là, hệ thống và đánh giá tổng quan các quan điểm lý luận cơ bản về kiểm
soát của quyền tư pháp đối với quyền hành pháp. Nghiên cứu mơ hình, cơ chế kiểm sốt
này ở một số quốc gia trên thế giới, từ đó đề xuất các kiến nghị để vận dụng phù hợp với
tình hình thực tiễn ở Việt Nam.
Hai là, nghiên cứu kiểm soát của quyền tư pháp đối với quyền hành pháp ở Việt
Nam qua các quy định của Hiến pháp, pháp luật hiện hành, nghị quyết của Đảng. Đồng


thời phân tích, đánh giá thực trạng thơng qua những kết quả đạt được, những hạn chế tồn
tại và chỉ ra nguyên nhân của những hạn chế đó.
Ba là, đề xuất những giải pháp nhằm bảo đảm hoạt động kiểm sốt của quyền tư
pháp đối với quyền hành pháp có hiệu quả.
4. Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu của khoá luận là các vấn đề lý luận và thực tiễn trong hoạt
động kiểm soát của quyền tư pháp đối với quyền hành pháp, cụ thể là:
- Các học thuyết, tư tưởng, quan điểm khoa học về quyền lực nhà nước, quyền
tư pháp, quyền hành pháp, kiểm sốt quyền lực nhà nước nói chung, kiểm sốt của quyền
tư pháp đối với quyền hành pháp nói riêng.
- Các quy định của Hiến pháp, pháp luật Việt Nam, quan điểm chỉ đạo của Đảng
về kiểm soát của quyền tư pháp đối với quyền hành pháp.
- Các vấn đề về bản chất, các đặc điểm, mục đích, nội dung, chủ thể, hình thức,
mơ hình, kinh nghiệm của nước ngồi trong hoạt động quyền tư pháp kiểm soát quyền
hành pháp và khái quát hơn là hoạt động kiểm soát quyền hành pháp của Chính phủ ở
các quốc gia này.
- Thực tiễn của hoạt động kiểm soát của quyền tư pháp (TAND) đối với quyền
hành pháp của cơ quan nhà nước Việt Nam (Chính phủ) hiện nay.

5. Phương pháp nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu của đề tài
Phương pháp nghiên cứu: Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở tổng hợp nhiều
phương pháp khác nhau, trong đó:
Phương pháp luận: tác giả sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật
lịch sử của Chủ nghĩa Mác – Lênin để thực hiện đề tài.
Phương pháp cụ thể:
Chương 1 của khoá luận sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp để chỉ ra
những vấn đề lý luận, thực tiễn đã được các nhà khoa học trong và ngồi nước nghiên
cứu có nội dung liên quan đến khoá luận. Phương pháp này cũng được sử dụng để luận
giải khái niệm, đặc điểm, nội dung, chủ thể, hình thức vấn đề kiểm sốt của quyền tư
pháp đối với quyền hành pháp; nghiên cứu đánh giá hoạt động kiểm soát ở một số quốc
gia trên thế giới và gợi mở kinh nghiệm cho Việt Nam.
Chương 2 của khố luận sử dụng phương pháp mơ tả và phân tích quy phạm,
thơng tin, tài liệu có sẵn kết hợp với với phương pháp thống kê – so sánh những kết quả


đạt được, hạn chế gặp phải và nguyên nhân của những hạn chế đó trong thực tiễn hoạt
động của tồ án (cơ quan tư pháp) trong hoạt động kiểm soát hành pháp.
Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi nội dung: Thông qua đề tài này, tác giả nghiên cứu hoạt động kiểm sốt
của tư pháp đối với hành pháp, phân tích những kết quả đạt được đặc biệt là những hạn
chế đang cịn tồn tại từ đó làm cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp bảo đảm hiệu quả khi
kiểm sốt của tồ án đối với việc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ ở Việt Nam
hiện nay. Đồng thời có sự phân tích với mơ hình giải quyết khiếu kiện hành chính của
một số quốc gia (Vương Quốc Anh, Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, Canada, Úc, Cộng hoà liên
bang Đức, Cộng hoà Pháp, Nhật Bản, Trung Quốc) để thơng qua đó gợi ý cho Việt Nam
một số giá trị nhằm hồn thiện các cơ chế kiểm sốt của quyền tư pháp đối với quyền
hành pháp, làm cho thủ tục này đạt hiệu quả cao. Với mong muốn ngăn ngừa nguy cơ
lạm quyền, chuyên quyền của Chính phủ, thành viên Chính phủ từ trung ương đến địa
phương, bảo đảm quyền con người, quyền và lợi ích xã hội.

Phạm vi thời gian: Đề tài tập trung nghiên cứu theo pháp luật hiện hành, Hiến
pháp 2013 và có đối chiếu với những văn bản quy phạm pháp luật trước đây đến năm
2023.
6. Ý nghĩa khoa học và ứng dụng của đề tài
Kết quả nghiên cứu của đề tài hướng đến việc làm phong phú, hoàn chỉnh thêm
sự hiểu biết về các khái niệm, đặc điểm, nội dung, hình thức về hoạt động kiểm soát của
quyền tư pháp đối với quyền hành pháp. Rút ra những bài học kinh nghiệm từ các mơ
hình tham khảo có thể vận dụng ở Việt Nam khi phân tích đánh giá về hoạt động kiểm
sốt này ở một số quốc gia trên thế giới. Khoá luận cũng chỉ ra những hạn chế còn tồn tại
của cơ quan nhà nước (cơ quan tư pháp – Toà án nhân dân) khi thực hiện hoạt động kiểm
sốt từ đó góp phần khắc phục bằng việc đề xuất các giải pháp mang tính khoa học và
phù hợp với điều kiện hiện nay ở Việt Nam. Đề tài là nguồn tài liệu tham khảo tin cậy và
cần thiết phục vụ hoạt động nghiên cứu khoa học; phục vụ những người quan tâm về khía
cạnh Luật Hiến pháp, tổ chức bộ máy nhà nước và đặc biệt là về kiểm soát QLNN.
7. Bố cục của khoá luận
Bên cạnh phần mở đầu, mục lục, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham
khảo, nội dung của đề tài được cấu trúc thành hai chương bao gồm:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về kiểm soát của quyền tư pháp đối với quyền
hành pháp.


Chương 2: Thực trạng và kiến nghị góp phần nâng cao hiệu quả kiểm soát của
quyền tư pháp đối với quyền hành pháp ở Việt Nam.


CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT CỦA QUYỀN
TƯ PHÁP ĐỐI VỚI QUYỀN HÀNH PHÁP
1.1. Khái niệm, đặc điểm kiểm soát của quyền tư pháp đối với quyền hành
pháp
1.1.1.Khái niệm kiểm soát của quyền tư pháp đối với quyền hành pháp

Để hiểu rõ như thế nào là kiểm soát của quyền tư pháp đối với quyền hành pháp
thì trước tiên tác giả muốn làm rõ một số khái niệm sau:
 Khái niệm quyền lực nhà nước
Theo từ điển tiếng Việt thì “quyền lực” được hiểu là: “Quyền định đoạt mọi cơng
việc về mặt chính trị và sức mạnh để bảo đảm việc thực hiện ấy”.4 Vậy nên, khi một chủ
thể nắm được quyền lực trong tay là có được khả năng tác động, chi phối người khác, có
thể hành động để bảo vệ và thực hiện được lợi ích của mình trong mối quan hệ với lợi
ích của những người khác.
Trong hoạt động của nhà nước, tồn tại một thứ gọi là “quyền lực nhà nước”. Theo
Montesquieu: thứ quyền lực này phát sinh, tồn tại và được quốc dân trao cho nhà nước
để thay mặt nhân dân quản lý xã hội, vì thế cần thiết phải trang bị cho nhà nước một thứ
quyền lực công cộng để thực hiện chức năng của mình.5 Quyền lực nhà nước thực tế
thuộc về những người “được giao quyền” trong bộ máy dưới hình thức được lựa chọn,
tuyển dụng, bổ nhiệm.6 Hiện nay, khơng ai khác ngồi các Cơ quan nhà nước đang nắm
QLNN dưới dạng quyền hành pháp, cụ thể là Chính phủ; các Bộ, Thủ tướng, Tổng thống;
Cơ quan, tổ chức được giao thực hiện quản lý hành chính nhà nước.
Tóm lại, quyền lực nhà nước là quyền lực chung của cộng đồng, được tổ chức
thành nhà nước nằm trong tay một giai cấp, lực lượng nhất định trong xã hội. Quyền lực
nhà nước mang tính pháp lý và được bảo đảm thực hiện bằng hệ thống các công cụ bạo
lực của nhà nước.7 Chính bởi QLNN được trao vào tay một cá nhân hay một nhóm người
nên có thể xảy ra tình trạng tha hóa quyền lực dẫn đến xâm phạm quyền lợi hợp pháp của
các chủ thể trong xã hội. Vì vậy, tất yếu cần có một cơ chế kiểm sốt quyền lực để chống
Viện ngơn ngữ học (2006), Từ điển tiếng Việt, Nxb. Đà Nẵng, tr.815.
Vũ Văn Phúc (2019), Quyền lực và kiểm soát quyền lực ở nước ta, Tạp chí Tuyên Giáo điện tử - Ban Tuyên giáo
Trung ương, truy cập ngày
5/4/2023.
6
Nguyễn Ngọc Đào (2018), “Quan điểm của một số tác giả thuyết phân quyền về vấn đề kiểm soát quyền lực nhà
nước - giá trị tham khảo đối với Việt Nam”, Tạp chí Quản lý nhà nước – Bộ Nội vụ, số 11, tr.50-54.
7

Võ Thái Bình (2021), Bàn về quyền lực nhà nước trong khoa học pháp lý hiện nay,
truy cập ngày 15/5/2023.
4
5


lại sự lạm quyền, bảo vệ quyền lợi của các chủ thể, làm cho pháp luật được chấp hành
nghiêm chỉnh bởi các cơ quan, tổ chức, cá nhân nắm giữ quyền lực.
 Khái niệm quyền hành pháp
Ở góc độ ngơn ngữ, “quyền hành pháp” (executive power) được định nghĩa theo
Black’s law dictionary là “quyền làm cho pháp luật được thực hiện hoặc cưỡng chế thực
hiện một cách đúng đắn”.8 Ngoài ra, trong Bách khoa toàn thư về quyền lực
(Encyclopedia of Power) có định nghĩa rằng: “Quyền hành pháp là thẩm quyền thực thi
các đạo luật và bảo đảm các đạo luật này được thi hành như ý định đặt ra các đạo luật
ấy”.9 Xét dưới góc độ pháp lý, Hiến pháp của nhiều nước trên thế giới (Điều 20 Hiến
pháp nước Cộng hoà Pháp10; các quy định trong mục 2 Điều 2 Hiến pháp Hợp chủng
quốc Hoa Kỳ11; Điều 97 Hiến pháp Cộng hoà Italia12) đều quy định về quyền hành pháp
là quyền hoạch định và điều hành chính sách quốc gia, đồng thời trao cho Chính phủ
thẩm quyền thực hiện một số hoạt động như lãnh đạo quốc gia, ấn định, phác thảo chương
trình hành động nhằm thực hiện mục tiêu chính trị.13
Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu luật học đã có cách tiếp cận khác nhau khi giải
thích về quyền hành pháp. Theo GS. Đào Trọng Tuyên thì “Quyền hành pháp là quyền
thực thi pháp luật và tổ chức đời sống theo pháp luật, bao gồm quyền lập quy và quyền
hành chính”.14 Trong đó quyền lập quy (Regulatory power) là quyền ban hành các văn
bản pháp quy (văn bản dưới luật) như Nghị định, Quyết định, Thông tư, Chỉ thị,… nhằm
hướng dẫn các văn bản luật và các hoạt động của nhà nước. Cịn quyền hành chính
(Administration power) là quyền tổ chức và điều hành mọi hoạt động kinh tế xã hội.

“Executive power – The power to see the law a duly executed and enforced” [122, page 591], Black’s law
dictionary, Bryan A. Garner

9
“The executive power is the authority to enforce laws and to ensure that they are implemented as intended” [120,
page 228], Encyclopedia of Power, Edited by Keith Dowding (editor).
10
“Chính phủ xây dựng và thực hiện chính sách quốc gia. Chính phủ nắm giữ, điều hành hệ thống hành chính
và các lực lûợng vũ trang. Chính phủ chịu trách nhiệm trûớc Nghị viện trong những điều kiện và theo các
thủ tục quy định tại các Điều 49 và 50.” Điều 20 Hiến pháp nước Cộng hoà Pháp, Tuyển tập Hiến pháp một số nước
trên thế giới (Văn phịng Quốc hội – Trung tâm thơng tin, thư viện và nghiên cứu khoa học) (2009), Tập 1, Nxb.
Thống kê Hà Nội, tr.155.
11
Tuyển tập Hiến pháp một số nước trên thế giới (Văn phịng Quốc hội – Trung tâm thơng tin, thư viện và nghiên
cứu khoa học) (2009), Tập 1, Nxb. Thống kê Hà Nội, tr.23.
12
“Các cô quan hành chính công đûợc tổ chức theo quy định của luật để đảm bảo hiệu quả và tính vô
tû của hoạt động hành chính”, Tuyển tập Hiến pháp một số nước trên thế giới (Văn phịng Quốc hội – Trung
tâm thơng tin, thư viện và nghiên cứu khoa học) (2009), Tập 2, Nxb. Thống kê Hà Nội, tr.124.
13
Nguyễn Thị Hoài Phương (2022), Kiểm sốt việc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ ở Việt Nam hiện nay,
Luận án Tiến sĩ Luật học, Đại học Luật Hà Nội, tr.40.
14
Đào Trọng Tuyến (chủ biên) (1997), Hành chính học đại cương, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr.88.
8


Qua việc xem xem một số quan điểm về quyền hành pháp trên của các nhà nghiên
cứu có thể thấy, dù khác nhau về cách tiếp cận, ngôn ngữ thể hiện nhưng đã có sự tương
đồng về quyền hành pháp là quyền thi hành pháp luật một cách chủ động bao gồm các
hoạt động hoạch định, thực thi chính sách. Trên cơ sở kế thừa các quan điểm của các nhà
khoa học có thể hiểu: Quyền hành pháp là một bộ phần của QLNN, trong đó cơ quan nhà
nước có thẩm quyền thi hành pháp luật một cách chủ động. Quyền này được thể hiện

thơng qua quyền hoạch định chính sách và quyền điều hành chính sách quốc gia, qua đó
hiện thực hóa QLNN theo pháp luật trong đời sống xã hội.
 Khái niệm quyền tư pháp
Từ thời Hy Lạp, La Mã cổ đại thì các nhà tư tưởng chính trị - pháp lý cho rằng ở
đâu có pháp luật thì ở đó phải có các thiết chế nhằm đảm bảo pháp luật được thực thi
nghiêm chỉnh. Các thiết chế này là hệ thống cơ quan tư pháp. Thuật ngữ “quyền tư pháp”
lần đầu tiên xuất hiện trong tác phẩm Tinh thần pháp luật của Montesquieu, theo đó quyền
tư pháp là quyền “trừng trị tội phạm, phân xử tranh chấp giữa các cá nhân”.15 Nối tiếp tư
tưởng đó, trong tác phẩm Bàn về khế ước xã hội, Rousseau đã viết: “Cơ quan này đặt mỗi
bộ phận vào đúng vị trí của nó, làm mối dây liên lạc và yếu tố trung gian giữa Chính phủ
với nhân dân, hoặc giữa Chính phủ với cơ quan quyền lực tối cao, hoặc giữa cả ba vế ấy
khi cần. Cơ quan này tôi gọi là cơ quan tư pháp”.16
Với góc độ pháp lý, Hiến pháp Hoa Kỳ 1787 chịu ảnh hưởng của các luật gia
thời kì Khai sáng nên các nhà lập hiến đã quy định như sau: “Quyền lực tư pháp Hoa Kỳ
sẽ được trao cho Toà án tối cao và những toà án cấp dưới mà Quốc hội có thể thiết lập
trong một số trường hợp”.17 Và hầu hết Hiến pháp của các nước tư bản như Nhật, Pháp,
Đức, Thụy Điển... sau này khi quy định về quyền tư pháp đều coi đó là hoạt động của các
tồ án. Cịn theo định nghĩa của từ điển Black’s Law Dictionary thì, quyền tư pháp
(judicial power) là “thẩm quyền được trao cho tòa án và các thẩm phán xem xét, quyết
định các vụ việc và đưa ra phán quyết có giá trị bắt buộc thi hành đối với các vụ việc ấy;
quyền giải thích và áp dụng pháp luật khi có tranh cãi phát sinh từ việc một điều gì đó có
phù hợp hay không phù hợp với pháp luật điều chỉnh việc ấy”.18

Montesquieu (1748), Bàn về tinh thần pháp luật (bản dịch tiếng Việt của Hồng Thanh Đạm), Nxb. Lý luận chính
trị, Hà Nội, 2006, tr.105-106.
16
Jean-Jacques Rousseau (1762), Bàn về khế ước xã hội (bản dịch của Hoàng Thanh Đạm), Nxb. Lý luận chính trị,
Hà Nội, 2004, tr.218.
17
Điều III, khoản 1 Hiến pháp Hoa Kỳ 1787.

18
Bryan A. Garner (ed.): Black’s Law Dictionary, 9th ed. (St. Paul, MN: 2009), page 924.
15


Trên phương diện lý luận cũng như trong thực tiễn tổ chức hệ thống bộ máy ở
nhiều quốc gia, người ta thường xem tư pháp là “cửa ải cuối cùng” của sự kiểm soát
quyền lực nhà nước19 và đồng nhất tư pháp với hoạt động xét xử của tòa án, là việc nhân
danh công lý giải quyết tranh chấp, giải quyết xung đột xã hội.20 Đặc biệt nhiều đất nước
đặt thêm hoạt động giải thích pháp luật cho quyền tư pháp để phục vụ việc giải quyết
tranh chấp. Một số quốc gia cịn có thiết lập cơ chế bảo hiến theo mơ hình Tịa án tối cao
hoặc thành lập Tịa án Hiến pháp, quyền tư pháp bao hàm cả quyền tuyên vi hiến đối với
đạo luật, hành vi của các nhánh QLNN. Các nước theo hệ thống luật án lệ (common law),
quyền tư pháp còn bao gồm cả quyền tạo ra án lệ.21
Ở Việt Nam hiện nay, quyền tư pháp đã được làm rõ về mặt thẩm quyền, theo
quy định tại khoản 1 Điều 102 Hiến pháp 2013 thì “Tịa án nhân dân thực hiện quyền tư
pháp”. Cần có sự phân biệt cơ quan tư pháp với quyền tư pháp. Xuất phát từ những đặc
thù của thể chế chính trị - pháp lý, Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 2-6-2005 về “Chiến
lược cải cách tư pháp đến năm 2020” xác định cơ quan tư pháp khơng chỉ là Tịa án, cịn
có các cơ quan khác tuy không thực hiện quyền tư pháp, nằm ngoài hệ thống tư pháp
nhưng vẫn được coi là cơ quan tư pháp (ví dụ: Bộ Tư pháp (thuộc Chính phủ), Ủy ban
Tư pháp của Quốc hội, ngay cả Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Cơ quan thi hành án22
cũng được liệt vào danh sách cơ quan tư pháp).23 Tuy sự tham gia của các cơ quan này
trong việc thực thi quyền tư pháp là cần thiết để tiến hành tồn bộ các hoạt động từ tìm
kiếm, xác minh, đánh giá chứng cứ đến xét xử. Nhưng khi thực hiện nhiệm vụ bảo vệ

Nguyễn Đăng Dung (2017), Kiểm sốt quyền lực nhà nước, Nxb. Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội, tr.503.
Nguyễn Văn Cương (2013), Quyền tư pháp trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa - Những vấn đề đặt ra
trong tình hình mới, truy cập ngày
03/6/2023.

21
Lê Ngọc Hưng (2022), Vai trò của quyền hành pháp đối với kiểm soát quyền tư pháp,
truy
cập ngày 22/3/2023.
22
Thi hành án xét về bản chất không phải là hoạt động tư pháp thuần túy mà mang tính chất hành chính - tư pháp.
Thi hành án là giai đoạn sau của xét xử, khơng có chức năng xác định sự thật của vụ án mà chỉ thực thi phán quyết
của tòa án (Phạm Hồng Thái (2012), “Kiểm soát giữa các Cơ quan nhà nước trong thực hiện các quyền lập pháp,
hành pháp và tư pháp”, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Luật học số 28 (2012), tr.135‐ 141).
23
Thuật ngữ các cơ quan tư pháp ở nước ta hiện nay chưa được hiểu và sử dụng một cách thống nhất trong các văn
bản của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Cần phân biệt thuật ngữ cơ quan tư pháp với thuật ngữ các cơ quan của
“ngành tư pháp” thuộc hệ thống hành pháp (gồm Bộ Tư pháp, các sở, phòng, ban tư pháp). Mặc dù các cơ quan này
đều có cụm từ “tư pháp” gắn sau tên cơ quan, nhưng thực chất, các cơ quan này không trực tiếp thực hiện các hoạt
động tư pháp. Theo chức năng, nhiệm vụ được giao, các cơ quan này là cơ quan quản lý nhà nước đối với một số tổ
chức và hoạt động tư pháp (thi hành án dân sự, luật sư, cơng chứng, giám định tư pháp...); ngồi ra, trong lĩnh vực
xây dựng pháp luật, Bộ Tư pháp được giao chủ trì xây dựng một số văn bản luật liên quan trực tiếp đến hoạt động
tư pháp (như Bộ luật hình sự, Bộ luật dân sự, Bộ luật thi hành án, Luật luật sư...), là thành viên tham gia và thẩm
định tất cả các văn bản pháp luật làm cơ sở pháp lý cho tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp.
19

20


pháp luật, các cơ quan này chỉ tham gia ở các mức độ nhất định, còn Tòa án với chức
năng xét xử của mình vẫn ln là chủ thể đóng vai trò trung tâm trong hệ thống cơ quan
thực thi quyền tư pháp.
Qua việc xem xem một số quan điểm về quyền hành pháp trên, theo tác giả nên
hiểu quyền tư pháp giới hạn ở tòa án với chức năng xét xử, nhân danh Nhà nước đưa ra
phán quyết đối với các hành vi, quyết định vi phạm pháp luật; áp dụng pháp luật24 để xác

định rõ quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm, hậu quả pháp lý của các bên tham gia tranh chấp.
Thông qua việc thực hiện quyền tư pháp, pháp luật được áp dụng, tôn trọng và chấp hành
bởi các tổ chức, cá nhân trong xã hội.
 Khái niệm kiểm soát quyền lực nhà nước
Trên thế giới từ nhiều thế kỷ trước, lý thuyết về kiểm soát QLNN đã được khởi
xướng bởi các học giả phương Tây như Aristoteles, John Locke, Montesquieu, Rousseau,
John Stuart Mill. Theo Montesquieu, QLNN bao gồm quyền lập pháp, quyền hành pháp,
quyền tư pháp, khi bàn về mối quan hệ của ba loại quyền lực, ông cho rằng nó phải diễn
ra theo cơ chế “quyền lực ngăn cản quyền lực”25. Kiểm soát QLNN phải dựa trên nguyên
tắc phân chia quyền lực (mà trọng tâm là áp dụng cơ chế kiềm chế - đối trọng giữa các
bộ phận quyền lực để kiểm soát QLNN), nguyên tắc xây dựng nhà nước pháp quyền,
thiết lập nền kinh tế thị trường, bảo đảm dân chủ, quyền công dân và quyền con người.26
Ở Việt Nam, cùng với việc Đảng và nhà nước chủ trương xây dựng nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa (khẳng định chính thức tại Hiến pháp 2013 với nguyên tắc
“Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân cơng, phối hợp, kiểm sốt quyền lực nhà
nước trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp”). Trên cơ sở kế thừa
các khái niệm về kiểm soát QLNN được các nhà nghiên cứu sử dụng thì theo tác giá kiểm
sốt QLNN nên được hiểu là toàn bộ những hoạt động xem xét, theo dõi, đánh giá, những
biện pháp mà thơng qua đó có thể ngăn ngừa, loại bỏ những nguy cơ, những việc làm sai
trái của nhà nước, cơ quan, nhân viên nhà nước trong việc tổ chức và thực hiện QLNN
bảo đảm cho QLNN được tổ chức và thực hiện đúng mục đích mong muốn và đạt được
hiệu quả cao.


Khái niệm kiểm soát của quyền tư pháp đối với quyền hành pháp

Tống Đức Thảo (2019), “Kiểm soát quyền tư pháp trong nhà nước pháp quyền”, Tạp chí Lý luận chính trị, số 5,
tr.46.
25
Montesquieu (1996), Tinh thần pháp luật, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, tr.106.

26
Nguyễn Minh Đoan và Vũ Thu Hạnh (2014), “Quan niệm về kiểm soát và cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước”,
Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 9.
24


Sự kiểm soát của quyền tư pháp đối với các nhánh quyền lực khác từ lâu đã được
đặt ra khi nhà nước tư sản lựa chọn mơ hình thể chế cho mình. Thuật ngữ “Judicial
review" theo từ điển Black’s Law được hiểu là quyền của các Tòa án để xem xét lại các
quyết định của một bộ phận khác của chính quyền hoặc quyết định của Tồ án cấp dưới.
Khái niệm này đề cập đến Phiên toà Phúc thẩm xét lại quyết định của Toà Sơ thẩm hoặc
Toà Phúc thẩm trung ương (khi xét với khía cạnh của các Cơ quan nhà nước hoặc quyết
định của Tòa án cấp dưới).27 Cịn theo từ điển Bách khoa tồn thư thì thuật ngữ “Judicial
review” này được hiểu là quyền của một toà án để “vơ hiệu hố” các luật được thơng qua
bởi cơ quan lập pháp và các quyết định của cơ quan hành pháp.
Kiểm soát của tư pháp đối với luật hiến pháp còn được gọi là tài phán hiến pháp
(constitutional review28). Theo góc độ này, kiểm sốt hiến pháp là quyền kiểm tra các
đạo luật và hành động của Chính phủ về sự phù hợp với hiến pháp. Từ nguồn gốc của
Mỹ (được thực hiện bởi Toà án tối cao qua vụ án Marbury kiện Madison), thể chế này đã
lan rộng khắp toàn cầu để trở thành một phần của cấu trúc tiêu chuẩn của nền dân chủ.
Bên cạnh đó, dưới góc độ luật hành chính thì hoạt động kiểm soát của quyền tư pháp đối
với quyền hành pháp là thủ tục Toà án thách thức các hành động hành chính. Luật pháp
được uỷ quyền cũng có thể bị thách thức. Nó cho phép các cá nhân, doanh nghiệp hoặc
nhóm thách thức trước tồ về tính hợp pháp của các quyết định do Bộ trưởng, Chính phủ
và các cơ quan cơng quyền khác đưa ra.29
Ở Việt Nam khơng có tác giả nào đưa ra khái niệm về vấn đề này, hoặc trong các
văn bản quy phạm pháp luật cũng không có chú giải về cụm từ này. Vậy nên, tác giả dựa
trên những khái niệm nền tảng đã phân tích để đưa ra khái niệm “kiểm soát quyền tư pháp
đối với quyền hành pháp”: là việc Tòa án với chức năng cơ bản và quan trọng nhất là
xét xử nhằm xem xét lại tính hợp hiến, hợp pháp và thậm chí là tính hợp lý của các quyết

định, văn bản, hành vi của cơ quan hành pháp. Đây là cơ chế được thiết kế để kiểm tra
xem quyết định của nhánh hành pháp có vi phạm giới hạn do luật định hay không (bao
gồm Hiến pháp, Luật, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan cấp trên), nhằm bảo vệ
quyền con người, quyền công dân một cách hiệu quả nhất.
27

"Judicial review: Power of courts to review decisions of another department or level of government. Form of
appeal from an administrative body to the courts for review of either the findings of fact, or of law, or of both May
also refer to appellate court review of decisions of trial court or of an intermediate appellate court.", (Black, H. C
(1990), Black x Law Dictionary, 6th. Edition, St. Paul, MN: West Publishing Co, 1979, page 849).
28
/>truy cập ngày 20/5/2023.
29
Home, A.,& Berman, G. (2006), Judicial Review: A short guide to claims in the Administrative Court, House of
Commons Library, page 8.


1.1.2.Đặc điểm kiểm soát của quyền tư pháp đối với quyền hành pháp
Ở mỗi hệ thống pháp luật khác nhau thì phạm vi kiểm sốt của cơ quan tài phán
(cơ quan tư pháp) đối với quyền hành pháp có những đặc điểm khác nhau nhưng tựu
chung lại thì cơ quan tài phán thường kiểm sốt tính hợp hiến và tính hợp pháp, hợp lý
trong phán quyết của cơ quan hành pháp:
Thứ nhất, kiểm sốt tính hợp hiến của quyền tư pháp đối với quyền hành pháp
thông qua chức năng tài phán hiến pháp.
Tài phán hiến pháp là phương thức bảo vệ hiến pháp, đây là hoạt động của một
cơ quan được hiến định làm nhiệm vụ ban hành những bản án, quyết định buộc mọi cơ
quan, tổ chức nhà nước hay chính trị, xã hội phải tn thủ và có chức năng cưỡng chế thi
hành. Các quốc gia khác nhau sử dụng các căn cứ khác nhau để thực hiện kiểm sốt tư
pháp (kiểm sốt tính hợp hiến).30
Về chủ thể thực hiện quyền tài phán hiến pháp thường được giao cho nhánh tư

pháp, nhưng ở mỗi quốc gia có điểm khác biệt. Đa phần các quốc gia theo hệ thống dân
luật (Civil law) thường lựa chọn Toà án chuyên trách để thực hiện nhiệm vụ tài phán hiến
pháp với mô hình tài phán tập trung (Tồ án Hiến pháp hoặc Hội đồng bảo hiến). Còn
những quốc gia theo hệ thống thơng luật (Common law) thường lựa chọn Tồ án thường
để giao nhiệm vụ tài phán hiến pháp với mơ hình tài phán phi tập trung.
Về nội dung kiểm soát quyền tư pháp của cơ quan tài phán hiến pháp chính là
hoạt động xem xét tính hợp hiến đối với những cơng cụ hành pháp mang tính quy phạm,
văn bản dưới luật, văn bản quy phạm pháp luật do Cơ quan hành pháp ban hành. Ngồi
ra, ở một số nước cịn cho phép Cơ quan tài phán xem xét tính hợp hiến đối với các dự
luật do Chính phủ, Tổng thống đệ trình lên Quốc Hội, Nghị viện.
Về hậu quả pháp lý đối với văn bản của Cơ quan hành pháp bị Cơ quan tài phán
hiến pháp tuyên vi hiến thì nó khơng đương nhiên mất hiệu lực vì chỉ có cơ quan ban
hành ra quyết định đó hoặc Quốc hội/ Nghị viện mới có quyền huỷ bỏ quyết định hành
pháp. Nhưng thường Toà án sẽ từ chối áp dụng các quyết định hành pháp đã bị tuyên vi
hiến trong quá trình áp dụng pháp luật. Chính bằng cơ chế này làm cho quyết định hành
pháp bị “mất hiệu lực” và buộc nhánh hành pháp phải huỷ bỏ quyết định đó hoặc thay
thế bằng một quyết định hợp hiến khác.

Lê Thị Thu Thảo chủ nhiệm đề tài (2021), “Giám sát tư pháp đối với văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan
hành pháp – kinh nghiệm một số nước cho Việt Nam”, Báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu khoa học và công nghệ
cấp trường, Đại học Luật TP.HCM, tr.24-25.
30


Thứ hai, kiểm sốt tính hợp pháp, hợp lý của quyền tư pháp đối với quyền hành
pháp thông qua chức năng tài phán hành chính.
Kiểm sốt tính hợp pháp, hợp lý của quyền tư pháp chính là hoạt động xét xử của
Tồ án trong tranh chấp hành chính để xác định rằng CQHC có ban hành một quyết định
hay thực hiện hành vi hợp pháp hay không. 31 Hoạt động kiểm sốt này có một số đặc
điểm sau đây:

Về chủ thể thực hiện quyền tài phán hành chính: Đối với các quốc gia theo truyền
thống Châu Âu lục địa (Civil law) đã thiết lập một hệ thống Toà án hành chính có trách
nhiệm giải quyết tranh chấp giữa các cơng dân và chính quyền. Ở các quốc gia theo hệ
thống thơng luật (Common law), thì Tồ án thơng thường vẫn tiến hành giám sát tư pháp
(ví dụ như tại Anh hoạt động giám sát tư pháp được giao cho ban chuyên trách của Toà
Nữ hoàng thuộc Toà án tối cao).32 Một số nước theo mơ hình trung gian như Trung Quốc,
Việt Nam thì khơng thành lập hệ thống Tồ án hành chính độc lập nhưng lại thiết lập Tồ
hành chính thuộc hệ thống TAND để giải quyết các vụ tranh chấp hành chính.
Về nội dung kiểm sốt của cơ quan tài phán hành chính: (1) Đối tượng thuộc
phạm vi kiểm soát: hầu hết các hệ thống pháp luật hiện đại đều cho phép Toà án xem xét
các QĐHC (Quyết định của cơ quan nhà nước, cá nhân có thẩm quyền trong cơ quan nhà
nước). Thêm nữa Tồ án cũng có quyền xem xét lại các Văn bản dưới luật - secondary
legislation (ví dụ như Cơng văn, chỉ thị, Thơng tư, Quyết định,… nói chung là Văn bản
áp dụng quy phạm pháp luật). Tuy nhiên ở Việt Nam chỉ thừa nhận việc Tồ án có quyền
xem xét các quyết định cá biệt của người có thẩm quyền, cơ quan nhà nước mà khơng có
thẩm quyền xem xét tính hợp pháp đối với văn bản quy phạm pháp luật của Cơ quan hành
pháp; (2) Căn cứ phát sinh hoạt động kiểm soát: Thì mỗi quốc gia lại có những căn cứ
khác nhau, Ví dụ tại Anh, Tồ án thường chỉ can thiệp khi một cơ quan công quyền đã
sử dụng quyền lực cho mục đích mà pháp luật khơng cho phép (ultra vires) hoặc trong
trường hợp căn cứ sử dụng quyền lực khơng hợp lý (unreasonable irrational). Cịn tại Mỹ
trên cơ sở của Điều 706 Luật Thủ tục hành chính năm 1946 (APA) việc xem xét QĐHC
mở rộng ra các quyết định được coi là độc đoán, ngẫu nhiên, lạm dụng quyền lực, trái với
Hiến pháp, sử dụng quyền lực, đặc quyền, miễn trừ, vượt quá thẩm quyền,…. 33Tuy có sự

Lê Thị Thu Thảo chủ nhiệm đề tài (2021), tlđd 30, tr.26-28.
Tigist Assefa (2010), Judicial Review of Administrative Actional A Comparative Analysis, Doctoral dissertation,
Addis Ababa University Addis Ababa Ethiopia, page 35.
33
Lê Thị Thu Thảo (2019), “Phương thức giám sát tư pháp đối với quyền hành pháp”, Tạp chí Tồ án nhân dân, số
24 (kỳ II tháng 12), tr.34.

31
32


khác nhau về căn cứ nhưng theo Thẩm phán Dip Lock (Anh) cho rằng, cơ sở để giám sát
tư pháp trong thế giới hiện đại có thể được phân loại là không hợp (illegality), không hợp
lý (irrationality) và sự không phù hợp về thủ tục (procedural impropriety).34
Về hậu quả pháp lý của QĐHC, văn bản pháp luật của CQHC bị Tồ án xem xét
trong tranh chấp hành chính thì hầu hết các nước đều quy định cho Tồ án có thẩm quyền
tuyên huỷ bỏ (một phần hoặc toàn bộ) quyết định trái pháp luật đó. Tồ án có thể kiến
nghị CQHC đã ban hành ra quyết định bị huỷ đó đó ban hành quyết định mới thay thế.
Tuy nhiên, vẫn có quốc gia cho phép tồ án tham gia tư vấn, trình bày quan điểm trong
quyết định, văn bản mới sẽ được ban hành của CQHC. Một số nước thì cho phép cơ quan
tài phán hành chính (khác với tồ án thường) trực tiếp sửa đổi hoặc ban hành quyết định
mới thay thế quyết định cũ bị huỷ bỏ.
Tổng kết, với thẩm quyền tài phán hiến pháp và tài phán hành chính thì cơ quan
tài phán (Tồ án) đã được trang bị những cơng cụ nhất định để kiểm sốt cơ quan hành
pháp (Chính phủ) khi có dấu hiệu vi hiến, trái luật và không hợp lý. Tuỳ thuộc vào thể
chế chính trị, nguyên tắc vận hành quyền lực, truyền thống pháp lý sẽ có quy định cụ thể
để quyền tư pháp kiểm soát quyền hành pháp khác nhau.
1.2. Mục đích, ý nghĩa kiểm sốt của quyền tư pháp đối với quyền hành
pháp
1.2.1.Mục đích kiểm sốt của quyền tư pháp đối với quyền hành pháp
Thứ nhất, bảo đảm quyền hành pháp được thực hiện đúng và hiệu quả.
Chính phủ với bản chất vốn có nắm giữ những ưu thế trong việc thực hiện quyền
hành pháp thường có xu hướng độc đoán, mất dân chủ, quan liêu khi giải quyết các công
việc cụ thể. Để hạn chế xu hướng này Hiến pháp và pháp luật đã định ra cho Chính phủ,
các thành viên của Chính phủ những nhiệm vụ, quyền hạn nhằm giới hạn phạm vi hoạt
động, thẩm quyền của mình. Nhà nước pháp quyền địi hỏi Chính phủ trong q trình
thực hiện quyền hành pháp phải hoạt động theo đúng các quy định của Hiến pháp và pháp

luật, nếu vượt quá giới hạn luật định đều sẽ dẫn đến việc xuất hiện nguy cơ lạm quyền,
chuyên quyền, các quyền tự do cơ bản của công dân, quyền con người bị đe dọa. Vì vậy,
nếu việc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ được kiểm sốt hợp lý sẽ đảm bảo
quyền hành pháp được sử dụng đúng mục đích và hoạt động hiệu quả.

34

Horne. A. Berman (2006), Judicial Review A short guide to claims in the Administrative Court, House of
commons library, page 13.


Thứ hai, kịp thời xử lý các hành vi lạm quyền từ các chủ thể thực hiện quyền
hành pháp.
Với tính chất là cơ quan thực hiện quyền hành pháp phạm vi hoạt động bao trùm
toàn bộ các lĩnh vực từ kinh tế, văn hóa xã hội cho đến lĩnh vực đối ngoại và an ninh quốc
phòng nên việc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ ln trực tiếp đụng chạm với
mọi ngóc ngách của đời sống xã hội, các lợi ích của mọi cơng dân. Sức mạnh của QLNN
và hiệu lực, hiệu quả của quản lý nhà nước trên thực tế được thể hiện trực tiếp và trước
hết thông qua việc thực hiện quyền hành pháp mà đứng đầu là Chính phủ. Chính vì nắm
trong tay thứ quyền lực vô cùng quan trọng này, với những ưu thế về năng lực, nhân lực,
tiềm lực cũng như phạm vi hoạt động và tác động rộng lớn (như thu thuế, quản lý ngân
sách nhà nước, thực thi chính sách cơng và thực thi pháp luật…) nên trong quá trình thực
hiện quyền hành pháp Chính phủ dễ để xảy ra tình trạng chuyên quyền, độc đoán, lạm
quyền, lộng quyền, mất dân chủ, vi phạm pháp luật, đặc biệt là tình trạng tham nhũng của
các cá nhân được trao quyền. Điều này vừa làm giảm hiệu lực, hiệu quả hoạt động của
Chính phủ, vừa ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước và nghiêm trọng
hơn là làm giảm niềm tin của nhân dân đối với sự điều hành, quản lý nhà nước của Chính
phủ. Vì vậy kiểm sốt việc thực hiện quyền hành pháp của Chính phủ nếu được thực hiện
một cách thường xuyên quyết liệt từ phía các cơ quan nhà nước (Toà án) và xã hội với
sự đa dạng về hình thức kiểm sốt như thanh tra, kiểm tra, giám sát, phản biện xã hội sẽ

góp phần phát hiện, đấu tranh, xoá bỏ kịp thời những biểu hiện vi phạm pháp luật, tội
phạm tham nhũng, lạm quyền, lộng quyền, chuyên quyền ở các cơ quan hành pháp cũng
như các cơ quan nhà nước.
1.2.2.Ý nghĩa kiểm soát của quyền tư pháp đối với quyền hành pháp
Thứ nhất, đối với việc tổ chức và thực thi quyền lực nhà nước.
Để kiểm sốt quyền hành pháp sẽ có nhiều cơ chế khác nhau có thể là kiểm sốt
trong (tức là: (1) kiểm soát trong nội bộ nhánh hành pháp theo chiều dọc từ trung ương
tới địa phương, giữa Cơ quan nhà nước cấp trên với cấp dưới nếu phát hiện ra vi phạm
của Cơ quan hành pháp cấp dưới; (2) kiểm soát của quyền lập pháp (Quốc hội); (3) kiểm
sốt của quyền tư pháp (Tồ án) ) và kiếm sốt ngồi (tức sự kiểm sốt của quần chúng
nhân dân, báo chí truyền thơng,...). Trong phạm vi khố luận thì tác giả sẽ tập trung vào
vấn đề kiểm soát bên trong nội bộ các cơ quan nhà nước mà cụ thể là hoạt động kiểm
sốt của quyền tư pháp (Tồ án) đối với quyền hành pháp (Chính phủ, CQHC).


Việc kiểm soát trong nội bộ nhánh hành pháp theo chiều dọc từ trung ương tới
địa phương, giữa Cơ quan nhà nước cấp trên với cấp dưới, theo tác giả là khơng đảm bảo
tính khách quan vì khơng có điều kiện nào chứng minh rằng các Cơ quan trong cùng hệ
thống hành pháp không bao che cho nhau. Sự kiểm sốt của nhánh lập pháp cũng có phần
hạn chế để làm việc này, bởi vì Quốc hội được giao quyền lập pháp. Nếu như lập pháp
vừa ban hành luật lại vừa bảo đảm thực thi luật đó thì sẽ khơng cơng bằng. Ngồi ra, hiệu
quả của việc kiểm sốt quyền hành pháp bởi quyền lập pháp gây hoài nghi bởi giữa lập
pháp và hành pháp ln có mối liên hệ mật thiết với nhau. Sự nghi ngờ này càng gia tăng
ở những nước theo chính thể đại nghị hoặc hỗn hợp thiên về đại nghị vì ở chính thể này
gần như luôn tồn tại nguyên tắc mọi dự luật đều xuất phát từ Chính phủ. Như vậy, chỉ có
Cơ quan tư pháp, khơng có quyền lập pháp và cũng khơng có quyền hành pháp, một bộ
phận hoạt động riêng rẽ, có trách nhiệm phán xét sự đúng sai của hai nhánh QLNN cịn
lại. Chính sự độc lập này cho phép Tịa án là “thành trì cuối cùng” để bảo đảm các Cơ
quan hành pháp thực thi pháp luật một cách đúng dẫn, hợp pháp.35 Những cơ sở của việc
sử dụng Tịa án như một cơng cụ kiểm sốt QLNN nói chung và quyền hành pháp nói

riêng có thể được kể tới như sau:
Một là, tư pháp ln có tính độc lập so với lập pháp và hành pháp cho dù trong
chính thể đại nghị hay tổng thống. Lập pháp và hành pháp trong các chính thể ln có
mối quan hệ mật thiết với nhau nhưng tư pháp thì ln độc lập. Guy Green cho rằng: “Tơi
định nghĩa tính độc lập của Tòa án là khả năng thực hiện chức năng Hiến pháp của mình
mà khơng bị ảnh hưởng bởi sự can thiệp pháp lý hoặc thực tế từ bất kỳ người nào hoặc
thiết chế nào, đặc biệt là ngành hành pháp của quyền lực nhà nước”.36 Các quốc gia luôn
tạo ra nhiều phương thức như tổ chức Tồ án khơng phụ thuộc về tài chính, giám sát của
nhánh hành pháp, nhiệm kỳ bền vững và chế độ lương cao cho thẩm phán, tăng cường
trách nhiệm của thẩm phán,...
Hai là, kiểm sốt của Tịa án đối với quyền hành pháp nhằm bảo đảm ngun tắc
phân cơng, phối hợp, kiểm sốt quyền lực. Với Chính phủ hiện nay, một trong những lập
luận ủng hộ sự tồn tại của tư pháp kiểm soát dựa trên quan điểm cho rằng nó giúp cho
việc thực hiện ngun tắc kiểm sốt quyền lực.37 Điều này có được là do Tịa án được ủy

Tơ Văn Hịa (2007), Tính độc lập của Tịa án Nghiên cứu pháp và về các khía cạnh lý luận, thực tiễn ở Đức, Mỹ,
Pháp, Việt Nam và các kiến nghị đối với Việt Nam, Nxb Lao động, tr.36 - 37.
36
Sir Guy Green, “The Rationale and Some Aspects of Judicial Independence”, 59 Aus.LJ, 1984, page 135.
37
Louis L. Jaffe (1965), Judicial control of administrative action, Little Brown and Company Boston, Toronto,
page 325.
35


×