TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP.HCM
KHOA LUẬT HÀNH CHÍNH
-----------***------------
BÙI THỊ CHINH
MSSV: 1953801013024
CƠ CHẾ KIỂM SOÁT VIỆC THỰC HIỆN QUYỀN TƢ PHÁP
CỦA TỊA ÁN TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY
Khố luận tốt nghiệp cử nhân luật
Niên khóa: 2019 - 2023
Ngƣời hƣớng dẫn: Ths. Đặng Thị Thu Trang
TP.HCM – Năm 2023
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn tốt nghiệp cử nhân luật với đề tài “Cơ chế kiểm
soát việc thực hiện quyền tư pháp của Tòa án tại Việt Nam hiện nay” là cơng
trình nghiên cứu do chính tơi thực hiện dưới sự hướng dẫn của Ths. Đặng Thị Thu
Trang. Khóa luận có sử dụng, trích dẫn ý kiến, quan điểm khoa học của một số tác
giả. Các thông tin này đều được trích dẫn nguồn cụ thể và chính xác. Các số liệu,
thơng tin được sử dụng trong Khóa luận là hồn tồn khách quan, trung thực.
Tác giả
Bùi Thị Chinh
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ........................................................................................................ 1
1. Tính cấp thiết của đề tài .......................................................................................... 1
2. Tình hình nghiên cứu .............................................................................................. 2
3. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu ....................................................... 2
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ........................................................................... 3
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của Luận văn .......................................................... 3
6. Phương pháp nghiên cứu......................................................................................... 3
7. Kết cấu của Luận văn .............................................................................................. 4
CHƢƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CƠ CHẾ KIỂM SOÁT VIỆC
THỰC HIỆN QUYỀN TƢ PHÁP CỦA TÒA ÁN TẠI VIỆT NAM HIỆN
NAY…………………………………………………………………………………5
1.1. Khái quát về quyền tư pháp và việc thực hiện quyền tư pháp của Tòa án ........... 5
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm quyền tư pháp ............................................................. 5
1.1.2. Khái niệm thực hiện quyền tư pháp của Tòa án .............................................. 9
1.2. Quy định pháp luật về việc thực hiện quyền tư pháp của Tòa án tại Việt Nam
hiện nay ....................................................................................................................... 9
1.3. Khái quát về cơ chế kiểm soát việc thực hiện quyền tư pháp của Tòa án tại Việt
Nam hiện nay ............................................................................................................ 13
1.3.1. Khái niệm và đặc điểm cơ chế kiểm soát việc thực hiện quyền tư pháp của
Tòa án ........................................................................................................................ 14
1.3.2. Các cơ chế kiểm soát việc thực hiện quyền tư pháp của Tòa án tại Việt Nam
hiện nay ..................................................................................................................... 17
1.3.2.1. Cơ chế tự kiểm sốt của Tịa án ................................................................... 17
1.3.2.2. Cơ chế kiểm sốt bên ngồi Tịa án ............................................................. 28
TIỂU KẾT CHƢƠNG 1 ......................................................................................... 38
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ KIẾN NGHỊ HỒN THIỆN CƠ CHẾ
KIỂM SỐT VIỆC THỰC HIỆN QUYỀN TƢ PHÁP CỦA TÒA ÁN TẠI
VIỆT NAM HIỆN NAY.......................................................................................... 39
2.1 Thực trạng quy định pháp luật về cơ chế kiểm soát việc thực hiện quyền tư pháp
của Tòa án tại Việt Nam hiện nay ............................................................................. 39
2.2. Thực trạng thực hiện cơ chế kiểm soát việc thực hiện quyền tư pháp của Tòa
án tại Việt Nam hiện nay........................................................................................... 51
2.2.1. Thực trạng thực hiện cơ chế tự kiểm sốt của Tịa án .................................... 51
2.2.2. Thực trạng thực hiện cơ chế kiểm soát bên ngồi Tịa án .............................. 56
2.3. Kiến nghị hồn thiện cơ chế kiểm sốt việc thực hiện quyền tư pháp của Tòa án
tại Việt Nam hiện nay ............................................................................................... 64
TIỂU KẾT CHƢƠNG 2 ......................................................................................... 69
KẾT LUẬN .............................................................................................................. 70
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hiến pháp năm 2013 quy định: “Quyền lực Nhà nước là thống nhất, có sự
phân cơng, phối hợp, kiểm sốt giữa các cơ quan Nhà nước trong việc thực hiện
quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”. Để bảo đảm quyền lực Nhà nước khơng bị
lạm dụng, khơng có sự lạm quyền và đảm bảo sự kiểm soát, phối hợp lẫn nhau giữa
các quyền lực trong bộ máy Nhà nước (quyền lập pháp, quyền hành pháp, quyền tư
pháp), pháp luật Việt Nam, ngoài Hiến pháp 2013 đã ban hành nhiều quy định nhằm
đảm bảo thực hiện quyền lực Nhà nước nói chung và các quyền lập pháp, hành pháp
và tư pháp nói riêng.
Tuy nhiên, trên thực tế, tình trạng lạm quyền, tha hóa quyền lực vẫn luôn
tiềm ẩn và thường xuyên xảy ra. Một số cá nhân, thậm chí bao gồm cả các cơ quan
Nhà nước thay mặt nhân dân nắm giữ và thực hiện quyền lực Nhà nước nhưng lại
lợi dụng quyền lực được giao vào mục đích vụ lợi hoặc vì lợi ích cục bộ. Có thể kể
đến những thực trạng xấu đang diễn ra như tình trạng tham ơ, tham nhũng; lạm
quyền trục lợi từ người dân hay lợi dụng chức vụ, quyền hạn cấu kết với doanh
nghiệp, với đối tượng khác để hưởng lợi ích,…
Từ những bất cập trên, đòi hỏi pháp luật quy định cũng như các cơ quan có
cơ chế kiểm sốt phù hợp, đặc biệt đối với cơ quan thực hiện quyền tư pháp (cụ thể
là Tịa án). Đây là nơi quyết định, phân xử tính đúng đắn của các quan hệ xã hội, là
yếu tố bảo đảm cho các chủ thể có thẩm quyền thực hiện kiểm sốt quyền lực Nhà
nước có hiệu quả. Do đó, cần phải có một cơ chế, chính sách đặc biệt để kiểm soát
việc thực hiện quyền tư pháp của Tòa án tại Việt Nam. Để làm được điều này, cần
có các nghiên cứu chun sâu và tồn diện về cơ chế giám sát việc thực hiện quyền
tư pháp của Tịa án tại Việt Nam, từ đó đưa ra những biện pháp, những cơ chế phù
hợp để kiểm soát quyền tư pháp của Tịa án.
Những điều trình bày trên đây là cơ sở và lý do khách quan để tác giả lựa
chọn đề tài “Cơ chế kiểm soát việc thực hiện quyền tư pháp của Tòa án tại Việt
Nam hiện nay”. Trên cơ sở phân tích lý luận và thực tiễn thực hiện các cơ chế kiểm
soát việc thực hiện quyền tư pháp của Tòa án tại Việt Nam, tác giả đưa ra các giải
pháp hoàn thiện pháp luật với mong muốn nâng cao hiệu quả thực hiện việc kiểm
soát quyền tư pháp của Tịa án, từ đó nâng cao sự phối hợp, kiểm soát giữa các chủ
thể thực hiện quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp, đảm bảo việc thực hiện quyền lực
Nhà nước.
2
2. Tình hình nghiên cứu
Hiện nay, nội dung nghiên cứu về cơ chế kiểm soát việc thực hiện quyền tư
pháp của Tịa án tại Việt Nam được thể hiện thơng qua các nghiên cứu chuyên sâu
như: Luận án Tiến sĩ “Cơ chế pháp lý kiểm soát quyền lực Nhà nước giữa cơ quan
thực hiện quyền hành pháp và quyền tư pháp ở Việt Nam” của tác giả Phạm Hồng
Phong (2021); Luận án Tiến sĩ “Kiểm soát quyền lực tư pháp trong Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam” của tác giả Nguyễn Quốc Hùng (2016),… tuy
các đề tài trên có đề cập đến cơ chế kiểm sốt việc thực hiện quyền tư pháp của Tòa
án tại Việt Nam nhưng nội dung đó chỉ là một phần nhỏ trong tồn bộ cơng trình
nghiên cứu của các tác giả. Cơ chế kiểm soát việc thực hiện quyền tư pháp của Tòa
án chỉ được nghiên cứu một cách tổng quan, khái qt và vẫn chưa thực sự có một
cơng trình nào tìm hiểu chun sâu về việc kiểm sốt quyền tư pháp của Tịa án tại
Việt Nam. Ngồi ra cũng có một số bài viết pháp luật, một số cơng trình nghiên cứu
khoa học có đề cập đến cơ chế kiểm sốt việc thực hiện quyền tư pháp của Tịa án,
có thể kể đến như: Bài viết “Hoàn thiện cơ chế tự kiểm sốt việc thực hiện quyền tư
pháp của Tịa án nhân dân trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam”
của tác giả Nguyễn Mai Thuyên; Bài viết “Quyền tư pháp và kiểm soát quyền tư
pháp ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Cao Anh Đô; Bài viết “Kiểm sốt quyền tư
pháp của Tịa án Việt Nam” của tác giả Phạm Hồng Phong,… Các bài viết phần lớn
nghiên cứu cơ chế kiểm soát quyền tư pháp của Tịa án với phạm vi rộng, khơng
chun sâu, khơng làm rõ được thực trạng cơ chế kiềm soát quyền tư pháp của Tòa
án tại Việt Nam hiện nay.
Trong nội dung nghiên cứu của khóa luận này, tác giả sẽ đưa ra quan điểm về
những vấn đề lý luận mà các cơng trình nghiên cứu kể trên đã nêu, từ đó phân tích,
đánh giá nội dung và tình hình pháp luật về cơ chế kiểm soát việc thực hiện quyền
tư pháp của Tòa án tại Việt Nam hiện nay, đề xuất, kiến nghị một số định hướng và
giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về vấn đề này, đồng thời đưa
ra các giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật trên thực tế.
3. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục tiêu
Đề tài tập trung nghiên cứu, phân tích, làm rõ các vấn đề lý luận và quy định
pháp luật về cơ chế kiểm soát việc thực hiện quyền tư pháp của Tịa án tại Việt
Nam. Qua việc tìm hiểu cơ chế kiểm sốt quyền tư pháp của Tịa án tại Việt Nam,
tác giả đánh giá những tiến bộ và yếu kém cần được loại bỏ. Từ đó kiến nghị một số
giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả kiểm sốt quyền tư pháp của Tịa án tại
Việt Nam.
3
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Một là, nghiên cứu cơ sở lý luận và hệ thống hóa các quy định pháp luật hiện
hành về cơ chế kiểm soát quyền tư pháp của Tịa án.
Hai là, phân tích và đánh giá thực trạng cơ chế kiểm soát việc thực hiện
quyền tư pháp của Tịa án tại Việt Nam, qua đó đánh giá những kết quả đạt được,
hạn chế và nguyên nhân.
Ba là, kiến nghị giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật về cơ chế kiểm soát
việc thực hiện quyền tư pháp của Tòa án tại Việt Nam.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn hướng đến nghiên cứu các đối tượng cụ thể sau:
- Nghiên cứu các vấn đề lý luận về cơ chế kiểm soát việc thực hiện quyền tư
pháp của Tòa án;
- Nghiên cứu quy định của pháp luật hiện hành về cơ chế kiểm sốt việc thực
hiện quyền tư pháp của Tịa án;
- Nghiên cứu thực trạng quy định của pháp luật về kiểm sốt việc thực hiện
quyền tư pháp của Tịa án tại Việt Nam, chỉ ra những bất cập, vướng mắc trong quy
định của pháp luật. Từ đó, đề xuất các giải pháp mang tính lý luận và thực tiễn có
giá trị áp dụng cao cho pháp luật Việt Nam trong việc nâng cao hiệu quả kiểm soát
quyền tư pháp của Tòa án tại Việt Nam.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Với đối tượng nghiên cứu đã định, tác giả giới hạn phạm vi nghiên cứu tập
trung quy định pháp luật Việt Nam về cơ chế tự kiểm sốt của Tịa án và cơ chế
kiểm sốt của các cơ quan ngồi Tịa án về cơ cấu tổ chức, kiểm soát trong hoạt
động tố tụng của Tòa án tại Việt Nam.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của Luận văn
Kết quả nghiên cứu của đề tài nhằm bổ sung, làm phong phú thêm lý luận
khoa học pháp lý đối với cơ chế kiểm sốt việc thực hiện quyền tư pháp của Tịa án
tại Việt Nam. Đồng thời, có ý nghĩa thực tiễn trong việc hoàn thiện các quy định
pháp luật về việc kiểm sốt quyền tư pháp của Tịa án thơng qua việc đưa ra những
phương thức nhằm tăng hiệu quả kiểm soát quyền tư pháp của Tòa án.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở lý luận khoa học và các phương pháp luận
của triết học Mác – Lênin; lý luận chung về Nhà nước – pháp luật; các quan điểm
của Đảng và tư tưởng của chủ tịch Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật.
4
Ngoài ra, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu của ngành khoa học
pháp lý như: phân tích tài liệu, tổng hợp và phân tích thực tiễn chứng minh cho lý
luận, bên cạnh đó, luận văn cịn sử dụng phương pháp của luật so sánh.
7. Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn gồm 2
chương:
Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận về cơ chế kiểm soát việc thực hiện quyền
tư pháp của Tòa án tại Việt Nam hiện nay.
Chƣơng 2: Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện cơ chế kiểm sốt việc thực
hiện quyền tư pháp của Tịa án tại Việt Nam hiện nay.
Kết luận
Danh mục tài liệu tham khảo
5
CHƢƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CƠ CHẾ KIỂM SỐT VIỆC
THỰC HIỆN QUYỀN TƢ PHÁP CỦA TỊA ÁN TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY
1.1. Khái quát về quyền tƣ pháp và việc thực hiện quyền tƣ pháp của Tòa án
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm quyền tư pháp
a. Khái niệm
Thuật ngữ “Quyền tư pháp” đã tồn tại rất lâu trong lịch sử pháp lý. Bắt
nguồn từ học thuyết của Aristole, ông cho rằng hoạt động của Cơ quan Nhà nước
bao gồm ba cơ quan gắn liền với ba thành tố. Đầu tiên là cơ quan gắn liền với thành
tố Nghị luận – cơ quan làm luật; thứ hai là cơ quan gắn liền với thành tố Chấp hành
– cơ quan thực thi pháp luật và cuối cùng, cơ quan xét xử gắn với thành tố Xét xử1.
Học thuyết của Aristole có ưu điểm là đã phân biệt được các lĩnh vực hoạt động của
Nhà nước, nhưng chưa nêu rõ khái niệm, chỉ rõ chức năng và đặc điểm của các cơ
quan trên.
Đến thế kỷ 17 – 18, C.L. Montesquieu và John Locke đã phát triển, tạo nên
học thuyết “Tam quyền phân lập”2 với sự kế thừa những ưu điểm từ học thuyết của
Aristole. Với học thuyết Tam quyền phân lập, thể chế chính trị sẽ bao gồm ba cơ
quan được tổ chức với cơ chế giám sát, kiềm chế hoạt động lẫn nhau, bao gồm cơ
quan lập pháp, cơ quan hành pháp và cơ quan tư pháp. Theo đó, cơ quan lập pháp sẽ
có quyền lập pháp, đây là quyền được ban hành các quy tắc xử sự chung áp đặt cho
toàn xã hội; cơ quan hành pháp có quyền hành pháp, đảm nhận việc thực thi pháp
luật và cơ quan tư pháp có quyền tư pháp – quyền xét xử và các quyền khác nhằm
tác động đến hành vi con người. Cũng theo thuyết “Tam quyền phân lập”, cơ quan
tư pháp phải độc lập với hai cơ quan cịn lại. Bởi, khi mà quyền con người có thể bị
xâm phạm bởi quyền ban hành luật pháp của cơ quan lập pháp hay bị đe dọa bởi
quyền thực thi pháp luật của cơ quan hành pháp thì cơ quan tư pháp lại có thể giúp
con người bảo vệ những quyền chính đáng của mình bằng việc xét xử cơng bằng,
phân minh.
Chính vì những lí do đó, trong luật pháp của các quốc gia trên thế giới, đặc
biệt là ở Việt Nam có những quy định chặt chẽ, đặc biệt về quyền tư pháp, nhằm
giúp cơ quan tư pháp có cơ sở để hoạt động độc lập, đảm bảo thực hiện được nhiệm
vụ của mình.
Xét về khái niệm “Quyền tư pháp”, trong cuốn Tinh thần pháp luật (Hoàng
Thanh Đạm dịch) cho rằng trong mỗi quốc gia đều có ba thứ quyền lực, trong đó
1
Chu Thị Ngọc (2010), “Phân quyền trong Nhà nước pháp quyền”, Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà
Nội, Hà Nội, số 26, tr. 50 - 56.
2
/>(truy
cập
ngày
18/04/2023).
6
“quyền tư pháp là quyền thi hành những điều trong luật dân sự”. Đây là một loại
quyền “không nên giao cho một viện nguyên lão thường trực, mà phải do những
người trong đoàn thể dân chúng được cử ra từng thời gian trong một năm, do luật
quy định, lập thành Tòa án, làm việc kéo dài bao lâu tùy sự cần thiết”3. Từ khái
niệm trên, có thể hiểu rằng quyền tư pháp là một trong ba nhóm quyền lực Nhà
nước (quyền lập pháp, quyền hành pháp, quyền tư pháp), được trao cho Tịa án
nhằm thực hiện việc kiểm sốt cách xử sự của con người trong xã hội. Tuy nhiên,
khái niệm mà Monstequieu đưa ra vẫn chưa thực sự cụ thể và mang tính khái quát
cao. Cho đến hiện nay, trên thế giới vẫn chưa có một khái niệm thống nhất nào nói
về “Quyền tư pháp”.
Tại Việt Nam cũng có nhiều quan điểm khác nhau về “Quyền tư pháp”, có
thể kể đến như sau4:
Nhóm quan điểm thứ nhất cho rằng: “Quyền tư pháp được hiểu là hoạt động
xét xử của Tòa án và những hoạt động của các cơ quan, tổ chức khác trực tiếp liên
quan đến hoạt động xét xử của Tòa án, nhằm bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, pháp
chế, trật tự pháp luật, quyền và lợi ích hợp pháp của cơng dân, lợi ích của Nhà
nước và xã hội”. Theo như quan điểm này, các cơ quan thực hiện quyền tư pháp
không chỉ bao gồm Tòa án mà gồm những cơ quan hỗ trợ khác như: Viện kiểm sát,
các cơ quan điều tra, các chủ thể khác như Luật sư, Cơng chứng viên,…
Nhóm quan điểm thứ hai cho rằng: “Quyền tư pháp được hiểu là tập hợp
những hoạt động cụ thể do cơ quan tư pháp thực hiện trong tố tụng tư pháp, liên
quan trực tiếp đến việc giải quyết vụ án, các tranh chấp pháp luật, hướng tới mục
đích giải quyết các vụ án, tranh chấp một cách khách quan, đúng đắn và các hoạt
động liên quan đến thi hành các phán quyết của Tịa án, mà các hoạt động đó thuộc
về cơ quan điều tra, viện kiểm sát, Tòa án và thi hành án”.
Nhóm quan điểm thứ ba cho rằng: “Quyền tư pháp là lĩnh vực quyền lực Nhà
nước được thực hiện thông qua hoạt động phân xử và phán xét tính đúng đắn, tính
hợp pháp của các hành vi, quyết định áp dụng pháp luật khi có sự tranh chấp về
các quyền và lợi ích giữa các chủ thể pháp luật. Nói đến tư pháp là nói đến lĩnh vực
hoạt động xét xử của Tòa án và ngược lại”. Như vậy, việc thực hiện quyền tư pháp
chỉ thuộc về Tòa án, và quyền tư pháp chỉ bao gồm việc xét xử.
Các quan điểm đều đồng nhất rằng quyền tư pháp có liên quan đến việc giải
quyết các tranh chấp và xét xử của Tòa án. Tuy nhiên, các ý kiến trên hoặc là nêu
3
Montesquieu, Tinh thần pháp luật, Hoàng Thanh Đạm dịch (1996), NXB Giáo dục, Trường Đại học Khoa
học Xã hội và Nhân văn - Khoa Luật, Hà Nội, tr. 100.
4
(truy cập ngày
20/5/2023).
7
khái quát về khái niệm “quyền tư pháp”. Như là ở nhóm quan điểm thứ nhất và
nhóm quan điểm thứ hai cho rằng quyền tư pháp khơng chỉ do Tịa án đảm nhận mà
còn do các cơ quan khác thực hiện. Do đó, “quyền tư pháp” khơng chỉ bao gồm
hoạt động xét xử của Tòa án, mà còn bao gồm các hoạt động của các cơ quan, tổ
chức khác có liên quan trực tiếp đến việc thực hiện quyền xét xử của Tịa án. Ví dụ
như hoạt động điều tra của cơ quan điều tra, hoạt động kiểm sát việc xét xử của
Viện kiểm sát nhân dân hay là hoạt động thi hành án của cơ quan thi hành án. Các
hoạt động trên tuy có liên quan đến việc thực hiện hoạt động xét xử của Tòa án.
Nhưng chung quy lại, những hoạt động ấy chỉ là hoạt động hỗ trợ việc thực hiện
quyền tư pháp của Tòa án. Do đó, theo tác giả, việc gộp tất cả các hoạt động trên để
cấu thành nên khái niệm “quyền tư pháp” là quá rộng, và không đúng bản chất.
Không chỉ là phân tích quá rộng về khái niệm “quyền tư pháp”, một số nhóm
quan điểm ở trên cịn đi vào phân cụ thể một khía cạnh trong khái niệm này. Như ở
nhóm quan điểm thứ ba cho rằng: “Nói đến tư pháp là nói đến lĩnh vực hoạt động
xét xử của Tịa án và ngược lại”. Có nghĩa là, quyền tư pháp bao gồm quyền xét xử
của Tòa án. Việc khẳng định quyền xét xử nằm trong quyền tư pháp là khơng sai.
Nhưng nếu như nói rằng quyền tư pháp chỉ bao gồm quyền xét xử thơi thì chưa đủ.
Vì ngồi quyền xét xử, quyền tư pháp còn bao gồm những quyền khác như: “giải
thích pháp luật; tổng kết thực tiễn xét xử và hướng dẫn áp dụng pháp luật; xây
dựng và phát triển án lệ; xây dựng và phát triển cộng đồng Thẩm phán; kiểm tra
tính hợp pháp và tính có căn cứ của các quyết định và hoạt động của các cơ quan
Nhà nước và của những người có chức vụ, quyền hạn; bảo đảm việc thi hành và
chấp hành các bản án, các quyết định khác”5.
Theo tác giả, “quyền tư pháp” là quyền đặc trưng của Tòa án, được hiểu là
việc thực hiện những hoạt động nhằm bảo vệ pháp luật, bảo vệ chế độ xã hội chủ
nghĩa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cơng dân, tổ chức. Với quyền xét xử
của Tòa án là trọng tâm và những quyền khác như quyền giải thích pháp luật, hướng
dẫn áp dụng pháp luật, kiểm tra tính hợp pháp và tính có căn cứ của các quyết định
của các chủ thể có thẩm quyền hay là việc bảo đảm việc chấp hành đúng các bản án,
quyết định của Tòa án, nhằm tác động đến hành vi và xử sự của các chủ thể trong xã
hội.
b. Đặc điểm
“Quyền tư pháp” có những đặc điểm chủ yếu sau:
5
Võ Khánh Vinh (2019), “Về quyền tư pháp và chế độ tư pháp ở Việt Nam”, Tạp chí Tịa án nhân dân, số
07/2019.
8
Thứ nhất, Tịa án là chủ thể chính trong việc thực hiện quyền tư pháp. Hiến
pháp 2013, tại khoản 1 Điều 102 đã quy định: “Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử
của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp”. Như vậy,
là một trong ba trụ cột của quyền lực Nhà nước, quyền tư pháp được nhân dân Việt
Nam trao cho Tòa án, bên cạnh quyền hành pháp do Chính phủ thực hiện và quyền
lập pháp được trao cho Quốc hội.
Ngồi Tịa án cịn có các cơ quan tham gia việc thực hiện quyền tư pháp, có
thể kể đến như Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Cơ quan thi hành án,…
Thứ hai, quyền tư pháp mang bản chất dân chủ và pháp quyền. Bản chất dân
chủ của quyền tư pháp thể hiện ở việc tuy Tòa án là cơ quan thực hiện quyền tư
pháp, nhưng quyền lực thực sự lại thuộc về nhân dân. Bản chất pháp quyền thể hiện
ở việc quyền tư pháp là một loại quyền lực pháp luật, nó gắn liền với pháp luật và
các quyền cơ bản của con người.
Thứ ba, phạm vi của quyền tư pháp thể hiện ở những hoạt động thuộc quyền
tư pháp, trải dài cả q trình tố tụng. Đó là quyền xét xử và các quyền khác của Tòa
án nhằm tác động đến hành vi và xử sự của các chủ thể trong xã hội.
Thứ tư, quyền tư pháp có tính độc lập, đây là đặc điểm đặc trưng của quyền
tư pháp. Điều này có nghĩa Tịa án sẽ độc lập trong việc thực hiện quyền tư pháp;
độc lập và có vị trí, sự tác động nhất định đối với hai quyền lực còn lại là quyền lập
pháp và quyền hành pháp; độc lập trong việc đưa ra bản án, quyết định; độc lập giữa
các chủ thể khi tham gia xét xử,…
Ngoài ra, sự độc lập của quyền tư pháp còn thể hiện qua việc tuân thủ pháp
luật và sự tách bạch đối với các chủ thể tham gia vào việc xét xử cũng như các chủ
thể bên ngồi Tịa án. Cụ thể, khi Tòa án tiến hành xét xử chỉ tuân theo pháp luật,
tất cả những chủ thể tham gia vào quá trình xét xử khi đưa ra quyết định chỉ dựa vào
quan điểm của bản thân và tự chịu trách nhiệm đối với quyết định của mình. Cịn
đối với việc tách bạch về hoạt động của Tòa án đối với các cơ quan khác cũng như
đối với các chủ thể tại Tịa, có nghĩa là khơng một cơ quan, tổ chức, cá nhân nào có
quyền can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm, kể cả đó là những chủ
thể tham gia vào quá trình xét xử hay những người có liên quan đến việc xét xử.
Ngồi ra, pháp luật cịn nghiêm cấm bất kì cá nhân, tổ chức nào can thiệp đến quá
trình xét xử hay ra phán quyết của Tòa án, nghiêm cấm việc tạo áp lực hay có bất kì
hành động nào gây ảnh hưởng đến phán quyết cuối cùng của Tịa.
Có thể thấy, những đặc điểm tương đồng với quyền tư pháp của các nước
trên thế giới và những điểm khác biệt đã tạo nên đặc trưng của quyền tư pháp tại
9
Việt Nam. Trong đó, Tịa án là chủ thể duy nhất thực hiện quyền tư pháp và có
những cơ quan, tổ chức khác tham gia hỗ trợ việc thực hiện quyền tư pháp của Tòa.
1.1.2. Khái niệm thực hiện quyền tư pháp của Tòa án
Theo Từ điển tiếng Việt, thực hiện có nghĩa là “bằng hoạt động làm cho nó
trở thành sự thật” hay “làm theo trình tự, phép tắc nhất định”6.
Liên hệ với khái niệm “quyền tư pháp” đã được tác giả phân tích ở trên, có
thể hiểu “thực hiện quyền tư pháp của Tòa án” là việc Tòa án tiến hành hoạt động
xét xử hay những hoạt động khác nhằm tác động đến hành vi và xử sự của các chủ
thể trong xã hội. Việc thực hiện quyền tư pháp được cụ thể hóa bằng những hành
động, theo những trình tự, thủ tục nhất định mà pháp luật quy định. Hay nói dễ hiểu
hơn, thực hiện quyền tư pháp của Tòa án là việc Tòa án thực hiện những hoạt động
thuộc thẩm quyền của mình, nhằm thực hiện quyền tư pháp. Bao gồm trước hết là
quyền xét xử và các công việc khác theo quy định của pháp luật; áp dụng, kiểm tra,
hoặc hủy bỏ việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế làm hạn chế quyền con người,
quyền công dân; áp dụng các biện pháp xử lý hành chính; quyết định, giám sát việc
thi hành bản án, quyết định của Tòa án; hướng dẫn thống nhất áp dụng pháp luật;
kiểm soát hoạt động tư pháp, hoạt động của cơ quan hành pháp theo cơ chế phân
công, phối hợp và kiểm soát việc thực hiện quyền lực Nhà nước và các quyền khác
bảo đảm để Tòa án thực thi quyền lực tư pháp theo quy định của pháp luật7.
Đặc điểm chung của những quyền lực được giao cho Tịa án là những nhóm
quyền lực có liên quan hay ảnh hưởng trực tiếp đến quyền con người, quyền công
dân. Khi thực hiện những hoạt động thuộc phạm vi thực hiện quyền tư pháp, Tòa án
phải xem xét các yếu tố khách quan, nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ một cách
tồn diện và kỹ lưỡng. Ngồi ra, Tịa án cũng cần phải có sự độc lập và cần có sự
giám sát từ các cơ quan bên ngoài để đảm bảo sự khách quan, công khai, minh
bạch, như vậy mới có thể đảm bảo được quyền con người.
1.2. Quy định pháp luật về việc thực hiện quyền tƣ pháp của Tòa án tại Việt
Nam hiện nay
Đầu tiên, về tên gọi “quyền tư pháp”. Tên gọi này xuất hiện từ rất sớm, bắt
đầu khi nền dân chủ tư sản phương Tây du nhập vào Việt Nam và dưới sự ảnh
hưởng của tư tưởng cải cách đất nước của tiền bối đi trước như Nguyễn Trường Tộ,
Nguyễn Lộ Bạch,… Vào thế kỷ 19 – 20, Phan Chu Trinh (1872 – 1926), một nhà
hoạt động chính trị cận đại trong lịch sử Việt Nam, đã đưa ra quan điểm về thuyết
6
Hoàng Phê (Chủ biên) (2003), Từ điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, Đà Nẵng, tr.973.
/>4/5/2023).
7
(truy
cập
ngày
10
“Tam quyền phân lập” của Montesquieu và John Locke như sau: “Cái quan chức về
việc cai trị chỉ có quyền hành chính mà thơi, cịn quyền xử án thì giao cho các quan
án là những người học giỏi luật lệ, có bằng cấp; các quan án chỉ coi việc xử đốn,
có quyền độc lập, cứ theo lương tâm cơng bình, chiếu theo pháp luật mà xử, xử
Chính phủ cũng như xử một người dân. Các quan án ở về một viện riêng gọi là Viện
tư pháp. Quyền tư pháp cũng như quyền hành chính của Chính phủ và quyền lập
pháp của Nghị viện đều đứng riêng ra, không hợp lại trong tay một người nào”8. Có
thể thấy ở lập trường chính trị của mình, Phan Chu Trinh rất coi trọng việc xây
dựng Hiến pháp và một Nhà nước dân chủ. Chính vì vậy, ơng đã đưa quyền tư pháp
vào nhóm quyền lực Nhà nước, được giao cho Viện tư pháp thực hiện và độc lập
với quyền lập pháp, quyền hành pháp.
Tuy không đưa ra khái niệm cụ thể về “quyền tư pháp” nhưng Phan Chu
Trinh đã có sự tiếp thu tiến bộ tinh hoa của thế giới về học thuyết “Tam quyền phân
lập”, đặt nền móng cho việc xây dựng nên khái niệm “quyền tư pháp” và hiện thực
hóa khái niệm này; làm cơ sở cho sự phát triển sau này của việc thực hiện quyền tư
pháp.
Sau nhiều năm cải cách và phát triển, pháp luật Việt Nam tuy đã có quy định
cụ thể hơn về cơ quan thực hiện quyền tư pháp nhưng đến hiện nay, vẫn chưa có
văn bản pháp luật nào đưa ra khái niệm “quyền tư pháp”.
Bày tỏ quan điểm về vấn đề này, GS Võ Khánh Vinh (Viện Hàn lâm Khoa
học xã hội Việt Nam) đã viết: “Quyền tư pháp lâu nay chỉ được tiếp cận từ phương
diện quyền lực và hoạt động tư pháp bao gồm điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án
và các hoạt động bổ trợ. Điều đó đúng nhưng chưa đủ và chưa bao quát hết được
yêu cầu và nội dung của cải cách tư pháp đến năm 2045”9.
Thứ hai, về cơ quan thực thực hiện quyền tư pháp. Hiến pháp 2013 đã khẳng
định cơ quan thực hiện quyền tư pháp tại Việt Nam hiện nay là Tòa án.Khoản 1
Điều 102 Hiến pháp 2013 có quy định như sau:
“Tịa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp”.
Trước đây, trong các Hiến pháp 1946, 1959, 1980, 1992 đều không quy định
về cơ quan thực hiện quyền tư pháp. Hiến pháp 1946 là bản hiến pháp đầu tiên của
nước Việt Nam Dân chủ Cộng hịa, đã có một chương quy định về cơ quan tư pháp.
Cụ thể tại Chương V, Điều thứ 63 có quy định Cơ quan tư pháp của nước Việt Nam
8
Phan Chu Trinh (1958), Thư thất điều gửi Hoàng đế Khải Định ở Paris năm 1922, NXB An ninh, Huế, tr.
22 – 26.
9
Võ Khánh Vinh (2019), “Về quyền tư pháp và chế độ tư pháp ở Việt Nam”, Tạp chí Tịa án nhân dân số,
07/2019.
11
dân chủ cộng hồ gồm có: “Tồ án tối cao; Các toà án phúc thẩm; Các toà án đệ
nhị cấp và sơ cấp”.
Đến Hiến pháp 1959 cũng khơng có quy định cụ thể về cơ quan thực hiện
quyền tư pháp. Tuy nhiên, Hiến pháp 1959 đã có một chương quy định về Tòa án
nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân Bản Hiến pháp này đã đánh dấu sự ra đời của
một hệ thống cơ quan mới trong bộ máy Nhà nước xã hội chủ nghĩa ở nước ta Viện Kiểm sát nhân dân, có chức năng “kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các
cơ quan thuộc Hội đồng Chính phủ, cơ quan Nhà nước địa phương, các nhân viên
cơ quan Nhà nước và công dân”10.
Kế thừa những nội dung tiến bộ của Hiến pháp 1959 về cơ quan tư pháp,
Hiến pháp 1980 và Hiến pháp 1992 cũng dành ra một chương quy định về Tòa án
nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân11. Tuy nhiên, ở các bản Hiến pháp này cũng
chưa có bất kì quy định nào về quyền tư pháp hay cơ quan thực hiện quyền tư pháp
tại Việt Nam.
Phải đến Hiến pháp 2013, các nhà làm luật mới đưa ra quy định cụ thể về cơ
quan thực hiện quyền tư pháp, chỉ bao gồm duy nhất một chủ thể - đó là Tịa án. Để
lí giải cho sự tiến bộ này, GS.TS Thái Vĩnh Thắng (Trường Đại học Luật Hà Nội)
đã có quan điểm như sau: “Hiến pháp năm 2013 đã thể hiện sự tiếp nhận những hạt
nhân hợp lý của học thuyết phân chia quyền lực trong tổ chức bộ máy Nhà nước khi
xác lập vị trí, tính chất của Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát
nhân dân một cách rõ ràng. Hiến pháp năm 2013 đã xác định rõ Quốc hội là cơ
quan thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp (Điều 69), Chính phủ là cơ quan
thực hiện quyền hành pháp (Điều 94), Tòa án nhân dân thực hiện quyền tư pháp
(Điều 102);Viện kiểm sát nhân dân thực hiện quyền công tố và kiểm sát hoạt động
tư pháp (Điều 107)”12.
Lí do mà Tịa án được lựa chọn làm cơ quan thực hiện quyền tư pháp là bởi
vì Tòa án là một trong ba trụ cột của quyền lực Nhà nước. Tòa án tại Việt Nam giữ
một vai trị rất quan trọng trong hệ thống tư pháp nói riêng và của cả bộ máy Nhà
nước nói chung. Ngồi ra, Tịa án cũng là cơ quan duy nhất có thẩm quyền xét xử
và các quyền khác có thể tác động trực tiếp hay gián tiếp đến quyền con người,
quyền cơng dân. Thêm vào đó, pháp luật cũng quy định cũng quy định Viện kiểm
sát và các cơ quan khác trong bộ máy Nhà nước có quyền kiểm sốt hoạt động của
các cơ quan tư pháp, trong đó có Tịa án. Điều này giúp cho hoạt động của Tòa án
10
Xem quy định tại Điều 105 Hiến pháp 1959.
Xem quy định tại Chương 10 Hiến pháp 1980 và Chương 10 Hiến pháp 1992.
12
(truy cập ngày
16/5/2023).
11
12
được công khai, minh bạch, hiệu quả hơn và giúp đảm bảo được quyền con người,
quyền công dân không bị xâm phạm.
Thứ ba ,về các hoạt động thực hiện quyền tư pháp. Bao gồm quyền xét xử và
các hoạt động khác nhằm thực hiện quyền tư pháp.
Về “quyền xét xử”, pháp luật Việt Namhiện chưa có giải thích cụ thể về khái
niệm này. Tuy nhiên, theo Từ điển Luật học, quyền xét xử:
“Là hoạt động đặc trưng, là chức năng, nhiệm vụ của các Tòa án. Các Tòa
án là những cơ quan duy nhất của một nước được đảm nhiệm chức năng xét xử.
Mọi bản án do các Tòa án tun đều phải qua xét xử. Khơng một ai có thể bị buộc
tội mà không qua xét xử của các Tịa án và kết quả xét xử phải được cơng bố bằng
bản án. Phân theo nội dung xét xử có: xét xử tội phạm hình sự, xét xử tranh chấp
dân sự, xét xử khiếu kiện hành chính, xét xử tranh chấp lao động. Phân theo cấp độ
xét xử có: xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thẩm, xét xử sơ thẩm đồng thời chung thẩm,
xét xử giám đốc thẩm, xét xử tái thẩm. Khi xét xử các Tòa án phải tuân theo các
nguyên tắc: khi xét xử Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật;
Tòa án nhân dân xét xử công khai, trừ trường hợp do luật định; Tòa án nhân dân
xét xử tập thể và quyết định theo đa số.”13
Ngoải ra, theo Từ điển vtudien.com14, quyền xét xử còn được định nghĩa như
sau: “quyền xét xử là hoạt động của các toà án được tổ chức và tiến hành trên cơ sở
những nguyên tắc nhất định và theo một trật tự do luật định nhằm xem xét và giải
quyết các vụ án hình sự, dân sự, lao động, hơn nhân và gia đình và những vụ việc
khác do pháp luật quy định thuộc thẩm quyền của toà án nhân dân”.
Theo quan điểm của tác giả, quyền xét xử là quyền đặc trưng được trao cho
Tòa án và chỉ Tòa án mới được thực hiện quyền này. Theo đó, Tịa án có quyền xem
xét và giải quyết các vụ án thuộc thẩm quyền của mình theo trình tự, thủ tục pháp
luật quy định. Sở dĩ Tòa án là cơ quan duy nhất nắm giữ “quyền xét xử” bởi vì như
đã phân tích ở trên, tác giả cho rằng hoạt động xét xử là hoạt động có ảnh hưởng
trực tiếp đến quyền con người, quyền cơng dân. Cụ thể, khi Tòa án đưa ra phán
quyết về một vụ án, tranh chấp hay một yêu cầu, phán quyết ấy sẽ ảnh hưởng đến
quyền và nghĩa vụ của các chủ thể có liên quan. Phán quyết của Tịa án tác động
đến hành vi của con người và thông qua hoạt động của cơ quan thi hành án, giúp
đảm bảo việc áp dụng pháp luật trong xã hội. Do đó, chỉ duy nhất Tịa án – một
trong ba trụ cột trong hệ thống quyền lực Nhà nước, được nhân dân tin tưởng và
13
Viện khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp (2006), Từ điển Luật học, NXB Từ điển Bách khoa, Bộ tư pháp, tr.
576.
14
(truy cập ngày 01/6/2023).
13
trao cho quyền thực hiện quyền tư pháp, mới có thể thực hiện được quyền xét xử và
tác động đến hành vi, xử sự của con người.
Các hoạt động khác của Tịa án nhằm thực hiện quyền tư pháp có thể kể đến
như hoạt động xem xét văn bản pháp luật; kiểm tra tính hợp pháp và tính có căn cứ
của các quyết định và hoạt động của các cơ quan Nhà nước và của những người có
chức vụ, quyền hạn, … Những hoạt động này không được quy định ở một văn bản
pháp luật cụ thể mà nằm rải rác ở nhiều văn pháp luật khác nhau. Ví dụ như hoạt
động xem xét văn bản pháp luật của Tòa án được quy định tại Điều 265 Bộ luật Tố
tụng Hình sự 2015; Điều 112 Luật Tố tụng Hành chính 2015; Điều 221 Bộ luật Tố
tụng Dân sự 2015,…
Tuy các hoạt động nhằm thực hiện quyền tư pháp có khái niệm, nội hàm và
phạm vi khác nhau nhưng giữa chúng có sự bổ trợ lẫn nhau.
“Theo đó, mơ hình tố tụng ở Việt Nam được xác định là mơ hình tố tụng
tranh tụng kết hợp với thẩm vấn. Nét đặc thù của mơ hình tố tụng tranh tụng kết
hợp với thẩm vấn của Việt Nam thể hiện ở chỗ: Trách nhiệm chứng minh tội phạm
thuộc về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng bao gồm Cơ quan điều tra, Viện
kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân. Khi tiến hành điều tra, truy tố, xét xử, các cơ
quan này có quyền đồng thời cũng có nghĩa vụ áp dụng mọi biện pháp hợp pháp để
xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ những
chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vơ tội, những tình tiết tăng nặng và
những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo. Ngồi ra, trong
q trình tiến hành tố tụng, các cơ quan này cịn có nhiệm vụ tìm ra nguyên nhân
và điều kiện phạm tội, yêu cầu cơ quan, tổ chức hữu quan áp dụng các biện pháp
khắc phục và phòng ngừa tội phạm. Như vậy, từ chính mơ hình tố tụng tranh tụng
kết hợp thẩm vấn ở Việt Nam đã làm phát sinh và tồn tại mối quan hệ tất yếu giữa
cơ quan tiến hành tố tụng.”15
Như vậy, trong quá trình tố tụng hình sự có sự kết hợp, phân cơng, phối hợp
giữa các cơ quan và giữa các hoạt động nhằm thực hiện quyền tư pháp. Mỗi hoạt
động đều độc lập nhưng trong mối quan hệ tương quan, gắn bó với nhau. Những
hoạt động trên hỗ trợ, giám sát, bổ sung cho nhau, giúp cho Tịa án thực hiện tốt
nhất quyền của mình – quyền tư pháp.
1.3.
Khái quát về cơ chế kiểm soát việc thực hiện quyền tƣ pháp của Tòa án
tại Việt Nam hiện nay
15
(truy cập ngày 23/5/2023).
14
1.3.1. Khái niệm và đặc điểm cơ chế kiểm soát việc thực hiện quyền tư
pháp của Tòa án
Tại Việt Nam, Hiến pháp 2013 đã quy định: “Quyền lực Nhà nước là thống
nhất, có sự phân cơng, phối hợp, kiểm sốt giữa các cơ quan Nhà nước trong việc
thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”16. Về nguyên lý, để đảm bảo
thực hiện quyền lực Nhà nước nói chung và các quyền lập pháp, hành pháp nói
riêng thì cần thiết phải xây dựng một Nhà nước pháp quyền mà trong đó tư pháp
phải nghiêm minh17. Do đó, cần có cơ chế kiểm sốt hợp lý để giúp cho Tịa án có
cơ sở thực hiện quyền tư pháp một cách có khoa học, cơng bằng và đúng đắn.
Theo Từ điển tiếng Việt, cơ chế là “cách thức theo đó một q trình thực
hiện” . Kiểm sốt là việc “xem xét để phát hiện, ngăn ngừa kịp thời việc làm sai
trái với thỏa thuận, với quy định” và được “các cơ quan quản lí Nhà nước có thẩm
18
quyền bố trí việc tiến hành ở các địa điểm dễ xảy ra vi phạm, hoặc ở một khâu
trong quá trình hoạt động của các đối tượng cần kiểm sốt”19.
Như vậy, có thể hiểu “cơ chế kiểm soát” là cách thức, biện pháp để theo dõi,
quản lí nhằm phát hiện, ngăn ngừa kịp thời việc xảy ra vi phạm trong một vấn đề
hay một cơng việc nào đó. Liên hệ với khái niệm “quyền tư pháp”, tác giả cho rằng
“cơ chế kiểm soát quyền tư pháp” là cách thức sắp xếp, tổ chức các yếu tố, các thiết
chế để xem xét, ngăn ngừa, phòng chống các hành vi vi phạm pháp luật trong quá
trình thực hiện quyền xét xử của Tòa án nhằm bảo vệ pháp luật, bảo vệ chế độ xã
hội chủ nghĩa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cơng dân, tổ chức. Hoạt động
trên được thực hiện bởi chủ thể mang quyền lực Nhà nước; chủ thể thường hoặc có
thể bởi chính cơ quan nắm giữ quyền tư pháp với mục đích tăng hiệu quả thực hiện
quyền lực Nhà nước nói chung và quyền tư pháp của Tịa án nói riêng, bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong xã hội. Quyền tư pháp là một
quyền lực đặc biệt, tuy chịu sự kiểm soát nhưng vẫn có tính độc lập. Chính bởi vì
đặc tính này cho nên cơ chế kiểm soát việc thực hiện quyền tư pháp của Tịa án có
nhiều đặc điểm riêng biệt:
Thứ nhất, Tịa án tự kiểm sốt việc thực hiện quyền tư pháp của mình. Lí giải
cho điều này là vì quyền tư pháp là một loại quyền lực Nhà nước có tính độc lập rất
cao, tuy bị kiểm sốt nhưng vẫn phải đảm bảo có sự độc lập so với quyền hành pháp
và lập pháp, tạo cơ sở cho việc Tịa án xét xử một cách cơng bằng, phân minh; bảo
16
Xem quy định tại khoản 3 Điều 2 Hiến pháp 2013
Phạm Hồng Phong (2018), “Kiểm soát quyền tư pháp của Tịa án Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp,
số 24.
18
Hoàng Phê (Chủ biên) (2003), Từ điển Tiếng Việt, NXB Hồng Đức, Đà Nẵng, tr.214.
19
Viện khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp (2006), Từ điển Luật học, NXB Từ điển Bách khoa, Bộ tư pháp, tr.
264
17
15
vệ hiệu quả quyền con người. Một nền tư pháp độc lập là nền tảng cho sự thịnh
vượng của các nền kinh tế bởi vì chỉ có tư pháp độc lập cơng dân mới có thể mong
đợi các phán quyết của Tòa án dựa trên sự thật và pháp luật mà không chịu ảnh
hưởng bởi bất kỳ tác động bất hợp pháp nào.
Chính vì lẽ đó, Tịa án trở thành chủ thể chính trong kiểm sốt việc thực hiện
quyền tư pháp của mình. Tại Việt Nam, hệ thống Tịa án nhân dân có trách nhiệm
kiểm sốt lẫn nhau, theo dõi, đánh giá, giám sát, ngăn ngừa và loại bỏ những vi
phạm pháp luật trong quá trình thực hiện quyền tư pháp. Việc tự kiểm sốt trong hệ
thống Tịa án có thể thể hiện trên nhiều khía cạnh, như: kiểm sốt về tổ chức trong
hệ thống Tịa án; kiểm sốt bằng xét xử phúc thẩm, xem xét lại bản án với trình tự
giám đốc thẩm, tái thẩm; kiểm sốt bằng các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của
Tòa án,…
Trong quá trình thực hiện quyền xét xử (một quyền thuộc quyền tư pháp),
những chủ thể thực hiện quyền xét xử cần có trách nhiệm kiểm sốt hành vi, đảm
bảo sự khách quan, vô tư, giúp cho việc thực hiện quyền tư pháp được độc lập,
không bị ảnh hưởng bởi các yếu tố bên ngồi. Điều 9 Luật Tổ chức Tịa án nhân dân
2014 đã có quy định như sau:
“1. Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; nghiêm
cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm
dưới bất kỳ hình thức nào.
2. Cá nhân, cơ quan tổ chức có hành vi can thiệp vào việc xét xử của Thẩm
phán, Hội thẩm thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt
hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.”
Dựa vào quy định trên, có thể thấy trách nhiệm tự kiểm sốt của Tịa án được
thể hiện ở hai khía cạnh. Khía cạnh đầu tiên là ở nội bộ Tòa án, Thẩm phán và Hội
thẩm nhân dân trong một phiên tịa khơng được là người thân thích, đã tham gia xét
xử cùng nhau hoặc có mối quan hệ khác khiến họ không thể vô tư khách quan khi
xét xử20. Thẩm phán chỉ được dựa vào quy định pháp luật và các chứng cứ, sự vật,
sự việc khách quan có liên quan đến vụ án để đưa ra quyết định. Có nghĩa là trong
q trình thực hiện quyền tư pháp, Thẩm phán không bị ảnh hưởng bởi bất kỳ tác
động nào. Khía cạnh thứ hai là ở ngồi phạm vi Tịa án, các chủ thể tham gia vào
q trình xét xử phải hồn tồn độc lập với các tác nhân bên ngồi, khơng để bị chi
phối, ảnh hưởng đến việc đưa ra phán quyết của mình.
20
Xem quy định tại Điều 53 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015; Điều 49 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015; Điều 14
Luật Tố tụng Hành chính 2015
16
Như vậy, Tịa án tự kiểm sốt việc thực hiện quyền tư pháp của mình. Có
nghĩa là Tịa án tự kiểm soát về cơ cấu tổ chức, kiểm soát các hoạt động nhằm thực
hiện quyền tư pháp của mình.. Đây cũng được xem là cơ chế tự kiểm soát của Tịa
án, là cơ chế kiểm sốt chính đối với việc thực hiện quyền tư pháp của Tòa án tại
Việt Nam.
Thứ hai, cơ chế tự kiểm soát việc thực hiện quyền tư pháp của Tòa án nhân
dân là cơ chế khép kín, vừa chủ động vừa tự động.
Cơ chế khép kín được thể hiện ở việc kiểm soát quyền tư pháp của Tòa án
được diễn ra chủ yếu trong nội bộ hệ thống Tịa án. Mỗi Tịa án đều có trách nhiệm
tự giám sát hoạt động của cơ quan mình và sau đó là giám sát hoạt động của các
Tịa án khác trong hệ thống.
Tính chủ động của cơ chế tự kiểm soát được quy định tại Điều 18 Luật Tổ
chức Tòa án nhân dân 2014, cụ thể như sau:
“1. Tòa án nhân dân tối cao quản lý các Tòa án nhân dân về tổ chức.
2. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì, phối hợp với Bộ Quốc phịng quản lý các
Tòa án quân sự về tổ chức.
Quy chế phối hợp giữa Tòa án nhân dân tối cao và Bộ Quốc phòng trong
việc quản lý các Tòa án quân sự về tổ chức do Ủy ban thường vụ Quốc hội quy
định.”
Trong nội bộ hệ thống Tòa án, Tòa án cấp cao chủ động kiểm sốt hoạt động
của Tịa án cấp dưới. Tại Việt Nam, Tòa án nhân dân tối cao có quyền quản lý các
cấp Tịa án khác về tổ chức và chủ động phối hợp với Bộ Quốc phòng để quản lý
đối với Tịa án qn sự. Ngồi ra, sự chủ động cịn được thể hiện thơng qua cơ chế
quản lý hành chính nội bộ. Cơ chế này được hiểu là trong nội bộ Tịa án nói riêng
hay tồn bộ hệ thống Tịa án nói chung sẽ tồn tại các chủ thể được Nhà nước trao
thẩm quyền quản lý, các chủ thể này có quyền đơn phương ban hành các quyết định
hoặc thực hiện các hành vi liên quan đến các đối tượng quản lý và các đối tượng
này phải phục tùng các mệnh lệnh, yêu cầu của chủ thể quản lý hành chính đưa ra.
Có thể kể đến những chủ thể như: Vụ Giám đốc, kiểm tra về hình sự, hành chính
(Vụ Giám đốc kiểm tra I); Vụ Giám đốc, kiểm tra về dân sự, kinh doanh - thương
mại (Vụ Giám đốc kiểm tra II); Cục Kế hoạch - Tài chính21,… Với sự phân cơng
quyền lực như vậy sẽ tránh được vấn đề chồng chéo quyền lực và giúp cho việc
quản lý hoạt động của Tòa án được hiệu quả hơn.
21
Xem quy định tại Nghị quyết 956/NQ-UBTVQH13 về phê chuẩn đề nghị của Chánh án Tòa án nhân dân
tối cao về tổ chức bộ máy, nhiệm vụ, quyền hạn của đơn vị trong bộ máy giúp việc của Tòa án nhân dân tối
cao do Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành ngày 28/5/2015.
17
Tính tự động được thể hiện ở khả năng tự kiểm sốt của các chủ thể trong
q trình thực hiện quyền tư pháp. Bao gồm việc đảm bảo sự độc lập trong xét xử
của Thẩm phán và trong hoạt động Tịa án thơng qua các ngun tắc tổ chức và hoạt
động của Tịa án nhân dân. Đó là ngun tắc các Tòa án nhân dân được tổ chức độc
lập theo thẩm quyền xét xử được quy định tại Điều 5 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân
2014: “Tòa án nhân dân được tổ chức độc lập theo thẩm quyền xét xử” và tại khoản
2 Điều 103 Hiến pháp 2013: “Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo
pháp luật; nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của
Thẩm phán, Hội thẩm”.. Qua các quy định trên, tác giả cho rằng các nguyên tắc tổ
chức Tòa án và hoạt động của Thẩm phán, Hội thẩm nhân nhân dân là sự thể hiện rõ
nét nhất tính tự động của cơ chế tự kiểm sốt việc thực hiện quyền tư pháp của Tịa
án. Có nghĩa là những nguyên tắc luật định mang tính chất bắt buộc, áp đặt các chủ
thể trong hệ thống Tòa án nhân dân phải tuân theo. Do đó, khi thực hiện các hoạt
động nhằm thực hiện quyền tư pháp của Tịa án, cụ thể là quyền xét xử thì các
ngun tắc quy định tại Điều 5 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân 2014 và tại khoản 2
Điều 103 Hiến pháp 2013 sẽ được tự động áp dụng.
Thứ ba, cơ chế kiểm soát việc thực hiện quyền tư pháp khá đa dạng, ngồi tự
kiểm sốt cịn có sự kiểm sốt từ các chủ thể khác ngồi hệ thống Tịa án nhân dân.
Các chủ thể đó có thể mang quyền lực Nhà nước, như cơ quan lập pháp (Quốc hội);
cơ quan hành pháp (Chính phủ); cơ quan cơng tố (Viện kiếm sát nhân dân),… hoặc
các chủ thể không mang quyền lực Nhà nước, như các tổ chức chính trị - xã hội; các
đảng phái chính trị; cơ quan báo chí, truyền thơng đại chúng; người dân,…
Thứ tư, mục đích cuối cùng của cơ chế kiểm soát việc thực hiện quyền tư
pháp của Tòa án là nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả của việc thực hiện quyền tư
pháp, giúp bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích của các chủ thể trong xã hội. Việc kiểm
sốt hoạt động giúp cho Tịa án ngăn ngừa được các tác nhân xấu gây ảnh hưởng
đến việc thực hiện quyền tư pháp, ngăn chặn tình trạng lạm quyền và bảo đảm
quyền lực Nhà nước được sử dụng đúng mục đích và hiệu quả. Ngồi ra, việc áp
dụng cơ chế kiểm soát vào việc thực hiện quyền tư pháp của Tịa án cịn làm tăng
tính cơng khai, minh bạch, điều này giúp cho người dân có thể theo dõi, giám sát và
đảm bảo rằng quyền lợi của họ khơng bị xâm phạm.
1.3.2.
Các cơ chế kiểm sốt việc thực hiện quyền tư pháp của Tòa án tại
Việt Nam hiện nay
1.3.2.1.
Cơ chế tự kiểm sốt của Tịa án
Cơ chế tự kiểm soát là tổng thể các biện pháp, cách thức được tiến hành
trong nội bộ Tòa án nhằm theo dõi việc thực hiện quyền tư pháp của Tòa, từ đó phát
18
hiện những hạn chế trong quá trình thực hiện quyền tư pháp, tạo tiền đề cho việc
đưa ra những biện pháp khắc phục những thiếu sót trên, góp phần nâng cao hiệu quả
thực hiện quyền tư pháp. Cơ chế này kiểm sốt việc thực hiện quyền tư pháp của
Tịa dựa trên hai khía cạnh: kiểm sốt về cơ cấu tổ chức và kiểm soát về hoạt động
tố tụng.
Việc ghi nhận “quyền tư pháp” tại Hiến pháp 2013 đã tạo ra một nền móng,
đặt cơ sở cho những cải cách liên quan đến việc thực hiện quyền tư pháp của Tòa án
cũng như là tổ chức lại hệ thống Tòa án nhân dân tại Việt Nam. Trong đó, “Tịa án
nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực
hiện quyền tư pháp” và “Tòa án nhân dân gồm Tòa án nhân dân tối cao và các Tòa
án khác do luật định”22. Tiếp thu sự đổi mới của Hiến pháp 2013, Luật Tổ chức Tòa
án nhân dân 2014 đã đưa ra quy định về việc tổ chức hệ thống tài phán tư pháp ở
nước ta như sau:
“1. Tòa án nhân dân tối cao.
2. Tòa án nhân dân cấp cao.
3. Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.
4. Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương
đương.
5. Tịa án qn sự.”23
Trong đó, Tịa án nhân dân tối cao thống nhất quản lý các Tòa án nhân dân
về tổ chức24. Đây cũng chính là một nội dung trong cơ chế tự kiểm sốt của Tịa án
đối với việc thực hiện quyền tư pháp của mình.
Cũng giống như pháp luật nhiều nước trên thế giới, Việt Nam trao cho hệ
thống Tòa án sự độc lập nhất định trong cơ cấu tổ chức. Điều này vừa giúp nâng cao
trách nhiệm tự kiểm sốt của Tịa án; vừa giúp các cơ quan khác giảm bớt được
trách nhiệm kiểm soát việc thực hiện quyền tư pháp của Tòa án. Sự độc lập trong cơ
cấu tổ chức của Tòa án được thể hiện ở những điểm sau đây:
Thứ nhất, Tòa án nhân dân tại Việt Nam được tổ chức độc lập theo thẩm
quyền xét xử, không gắn với bất kỳ đơn vị hành chính nào. Theo Luật Tổ chức Tịa
án nhân dân 2014, tổ chức Tịa án nhân dân gồm có: Tịa án nhân dân tối cao, Tòa
án nhân dân cấp cao, Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Tòa án
nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương; Tòa án quân
22
Xem quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 102 Hiến pháp 2013.
Điều 3 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014.
24
Xem quy định tại Điều 18 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân 2014
23
19
sự25. Quy định của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân 2014 đã khắc phục được những
hạn chế của Luật Tổ chức Tịa án nhân dân 2002 về mơ hình tổ chức Tịa án, vị trí,
vai trị, chức năng, nhiệm vụ, bộ máy của Tòa án từng cấp, đưa vị trí của Tịa án lên
làm trung tâm, xét xử là trọng tâm của hoạt động tư pháp; các Toà án được tổ chức
và hoạt động theo thẩm quyền xét xử, khơng phụ thuộc vào đơn vị hành chính. Cơ
cấu tổ chức của Tòa án đã được triển khai theo hướng tinh gọn, chun mơn hóa và
linh hoạt. Giữa các cấp Tòa, chỉ tồn tại “cấp cao hơn” và “cấp thấp hơn” về thẩm
quyền tố tụng; khơng tồn tại “Tịa cấp trên” và “Tòa cấp dưới”. Theo GS. TS
Nguyễn Đăng Dung (Trường Đại học Luật Hà Nội): “Nguyên tắc tổ chức Tòa án
theo thẩm quyền xét xử được thiết lập trên một quản hạt nhất định. Quản hạt của
Tịa án khơng trùng với đơn vị hành chính lãnh thổ để đảm bảo sự độc lập cho Tòa
án về cả chiều ngang lẫn chiều dọc (độc lập với cả bên trong lẫn bên ngoài) tránh
sự can thiệp của các cơ quan quyền lực Nhà nước, các quan chức hành chính địa
phương vào hoạt động xét xử cũng như tránh sự can thiệp của Tòa án cấp trên đối
với cấp dưới…”26
Hệ thống Tòa án nhân dân được tổ chức độc lập theo thẩm quyền xét xử,
không gắn với bất kỳ đơn vị hành chính nào được hiểu là việc Tịa án được xây
dựng thành bốn cấp (Tòa án tối cao, Tòa án cấp cao, Tòa án cấp tỉnh và Tòa án cấp
huyện), với sự xuất hiện của Tòa án cấp cao tại ba miền Bắc, Trung và Nam, không
gắn với bất kỳ đơn vị hành chính nào.
Cụ thể hóa ngun tắc trên, ngun tắc tổ chức và nhiệm vụ, quyền hạn của
các Tòa án trong hệ thống Tòa án nhân dân được quy định như sau:
Tòa án nhân dân tối cao là cơ quan xét xử cao nhất của nước Cộng hòa xã
hội Chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện nhiệm vụ “giám đốc thẩm, tái thẩm bản án,
quyết định của các Tòa án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo quy định của
luật tố tụng”27. Tòa án nhân dân cấp cao là cấp Tòa án mới được đưa vào hệ thống
tổ chức Tòa án Việt Nam so với Luật Tổ chức Tòa án nhân dân 2002, cấp tòa này
được đưa vào Luật Tổ chức Tịa án nhân dân 2014 có hiệu lực vào ngày 1/6/2015.
Tòa án cấp cao được tổ chức tại ba miền Bắc, Trung và Nam gắn liền với ba địa
điểm Hà Nội, Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh. Có thể nhận thấy Tịa án nhân
dân cấp cao thực hiện cả chức năng giám đốc thẩm, tái thẩm như Tòa án nhân dân
tối cao, cụ thể là “phúc thẩm vụ việc mà bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án
nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thuộc phạm vi thẩm quyền theo
25
Xem quy định tại Điều 3 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân 2014
Nguyễn Đăng Dung (2014), “Nguyên tắc độc lập của Tóa án và quy định của Hiến pháp năm 2013”, Tạp
chí Nghiên cứu lập pháp, số 20, tr. 3 – 8.
27
Xem quy định tại Điều 20 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân 2014
26
20
lãnh thổ chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của
luật tố tụng” và “giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp
luật của Tịa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Tòa án nhân dân
huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương thuộc phạm vi thẩm
quyền theo lãnh thổ bị kháng nghị theo quy định của luật tố tụng”28.
Tòa án nhân dân cấp tỉnh là Tòa án cấp địa phương, bao gồm các tịa chun
trách: tịa hình sự , tịa dân sự, tịa hành chính, tịa kinh tế, tịa lao động, tịa gia đình
và người chưa thành niên. Được thành lập ở các địa phương, Tịa án nhân dân cấp
tỉnh có thẩm quyền xét xử sơ thẩm các vụ án theo quy định pháp luật, “phúc thẩm
vụ việc mà bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã,
thành phố thuộc tỉnh và tương đương chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo,
kháng nghị theo quy định của pháp luật”, “kiểm tra bản án, quyết định đã có hiệu
lực pháp luật của Tịa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và
tương đương, khi phát hiện có vi phạm pháp luật hoặc có tình tiết mới theo quy định
của luật tố tụng thì kiến nghị với Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao, Chánh án
Tòa án nhân dân tối cao xem xét, kháng nghị”29,… Cũng giống như Tòa án nhân
dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân cấp huyện được tổ chức tại các địa phương, có nhiệm
vụ xét xử sơ thẩm các vụ án và giải quyết các công việc khác theo quy định pháp
luật. Tuy nhiên, khác với Tòa án cấp tỉnh, các tòa chuyên trách ở cấp huyện chỉ
được thành lập theo yêu cầu của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, theo yêu cầu và
thực tế xét xử ở mỗi Tòa án nhân dân huyện.
Khác với các Tòa án nhân dân, các cấp Tòa án quân sự bao gồm: Tòa án
quân sự trung ương; Tòa án quân khu và tương đương và Tòa án quân sự khu vực.
“Các Tòa án quân sự được tổ chức trong Quân đội nhân dân Việt Nam để xét xử
những vụ án mà bị cáo là quân nhân tại ngũ và những vụ án khác theo quy định của
luật”30. Nhiệm vụ và quyền hạn của Tòa án án quân sự bao gồm: “phúc thẩm vụ
việc mà bản án, quyết định sơ thẩm của Tịa án qn sự qn khu và tương đương
chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của Bộ luật Tố
tụng Hình sự” và “giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp
luật của Tòa án quân sự quân khu và tương đương, Tòa án quân sự khu vực bị
kháng nghị theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự”31.
Như vậy, dựa vào nội dung pháp luật quy định về cơ cấu tổ chức cũng như là
nhiệm vụ, quyền hạn của các cấp Tòa án trong hệ thống Tòa án nhân dân, có thể
28
Xem quy định tại Điều 29 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân 2014
Xem quy định tại Điều 37 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân 2014
30
Xem quy định tại Điều 49 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân 2014
31
Xem quy định tại Điều 51 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân 2014
29
21
thấy rằng hệ thống Tòa án nhân dân ở nước ta được tổ chức độc lập theo thẩm
quyền xét xử, khơng gắn với bất kỳ đơn vị hành chính nào. Mỗi cấp tịa đều có thẩm
quyền xét xử riêng biệt, độc lập với nhau. Cách phân chia như vậy góp phần giảm
bớt sự chồng chéo trong thẩm quyền thụ lý vụ án và làm tăng mức độ tự kiểm soát
trong nội bộ các cấp tòa. Thứ hai, sự độc lập trong cơ cấu tổ chức của Tòa án được
thể hiện ở khía cạnh bên trong (yếu tố chủ thể).
Theo John Ferejohn, Giáo sư Khoa học chính trị Đại học Stanford, “độc lập
tư pháp phải bao gồm các yếu tố bên trong (internal aspects) và các yếu tố bên
ngoài (external aspects)”. Sự độc lập về các yếu tố bên ngoài, như đã phân tích ở
trên, đó là việc hệ thống Tịa án nhân dân tại Việt Nam được tổ chức độc lập theo
thẩm quyền xét xử, mỗi cấp Tòa án nắm giữ những thẩm quyền riêng biệt, tuy có
mối liên hệ nhưng nhìn chung, giữa các cấp Tịa có sự tách biệt về cơ cấu tổ chức
cũng như thẩm quyền.
Yếu tố bên trong yêu cầu về tính độc lập của Thẩm phán, bao gồm những nội
dung sau đây:
Một là, sự độc lập giữa các thành viên hội đồng xét xử và giữa hội đồng xét
xử với các cá nhân, tổ chức khác. Nội dung này được cụ thể hóa bởi quy định của
Hiến pháp 2013: “Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật;
nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán,
Hội thẩm”32. Tiếp thu tinh thần của Hiến pháp, Luật Tổ chức Tịa án nhân dân 2014
có quy định về vấn đề này như sau: “Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ
tuân theo pháp luật; nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét
xử của Thẩm phán, Hội thẩm dưới bất kỳ hình thức nào”33. Tuy hệ thống Tịa án
nhân dân có tồn tại cấp cao hơn và cấp thấp hơn. Nhưng giữa các cấp tịa lại có sự
độc lập, Tịa án cấp thấp hơn khơng phải là Tịa án cấp dưới của Tịa án cấp cao
hơn. Do đó, hội đồng xét xử khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình khơng cần
phải tn theo sự chỉ đạo của các Tòa án cấp cao, mà chỉ xét xử và đưa ra quyết
định dựa trên cơ sở pháp luật. Khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân không
bị ràng buộc, không bị chi phối bởi bất kỳ ý kiến của ai. Có thể hiểu, các thành viên
Hội đồng xét xử khi tham gia vào quá trình xét xử, đưa ra quyết định hay thực hiện
các cơng tác có liên quan đến phán quyết cuối cùng của vụ án phải độc lập, không
phụ thuộc vào quan điểm của các thành viên khác và chỉ được tuân theo pháp luật.
Các cá nhân, tổ chức khác cũng có nghĩa vụ khơng được can thiệp vào việc
xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân. Mọi hành động can thiệp dưới bất kỳ
32
33
Xem quy định tại khoản 2 Điều 103 Hiến pháp 2013.
Xem quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân 2014.