Bộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘTƯ PHẢP
TRƯỜHTG Đ Ạ
• I H Ọ• C L U i ẳ ĩ H À HTỘI
■
NGUYỄN MẠNH HÙNG
9
60 CHẾ KIỂM SOÁT THÔNG QUA VỐN
TRONG IH0 HÌNH CÔNG TY MẸ - CÔNG TY CON
TIẾP CẬN
TÙTTHỰC
TIỄN BÊ■ CÔNG NGHIỆP
■
■
■
Chuyên ngânh: LUẬT KINH TẼ
Mfi số: 603850
THƯ VIỆN
TRƯƠNG BA HOC I L)ÀT
PHÒNG G ỉ
La
NỘI
LUẬN VĂN THẠC sĩ LUẬT HỌC
Nývii
/á#*
ị*ez
PGS.TS. NGUYỄN NHƯ PHÁT
H à N ội - 2005
0
LỜI CẦM ƠN
ốm dein. htiụ tớ làng, biêi ờti lâu. iííe íTỉn thầụ ạiá&
7S.
(ìlạutjẨn. Qlhti ^ĨPhút, tiựiSỜỈ đã ụỢi mẦ những, ụ tưừtiạ khoa họe. ữà iit' ehl
bào tận tình, ehu đáo tho em írtìttợ quả trinh nụitièn eứu.
tịtù chân thành, tảnt ổn Quý thầụ, eồ ạiAtì ơă đầttạ nạhiêp,
đattạ. côMị tán lạ i
(Vụ fJ)hjájỊL eltê,
ehứtt - ê ó f t hô, 3Cèhỡ€U’i i, @Áttạ.
nạhỉệp íTítêư ílùnạ ơà (
ítõ đ ĩ tát' ạiÁ hữàn thành bân Jíuíìii ơủn nàự.
1
M ỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU .................................................................................................................. 2
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ MÔ HỈNH CÔNG TY MẸ - CÔNG TY
CON................................................................................................................. 6
1.1 Công ty đối vốn và mô hình công ty mẹ - công ty con............................6
1.2 Đặc điểm về mối liên kết theo mô hình công ty me - công ty con....... 13
1.3 Bản chất pháp lý và phương thức kiểm soát trong mô hình công ty mẹ công ty con..................................................................................................18
1.4 Một số điểm khác nhau cơ bản giữa mô hình công ty me - công ty con
với mô hình tổng công ty 90, 91.................................................................... 22
Chương 2: c ơ CHẾ KIÊM SOÁT CỦA CÔNG TY MẸ ĐÔI VỚI CÔNG
TY CON THÔNG QUA VỐN ĐẦU TƯ......................................................27
2.1 Bản chất của vốn......................................................................................... 27
2.2 Quan hệ góp vốn trong một số loại hình công t y ......................................32
2.3 Quan hệ góp vốn trong mô hình công ty mẹ - công ty con......................37
2.4 Cơ ch ì kiểm soát của công ty mẹđối với công ty con...............................41
Chương 3: THựC TIẺN CHUYÊN ĐỔI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC
SANG HOẠT ĐỘNG THEO MỒ HÌNH CÔNG TY MẸ CỒNG TY CON
Ở B ộ CÔNG NGHIỆP VÀ NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM
RÚT RA ........................................................................................................... 51
3.1 Khái quát về chúc năng quản lý kinh tế của Bộ Công nghiệp.............. 51
3.2 Thực trạng của cơ chế kiểm soát trong mô hình công ty mẹ - công ty
con ở Bộ Công nghiệp.................................................................................... 55
3.3 Một số bài học cụ thể từ thực tiễn áp dụng mô hình công ty mẹ - công ty
con ở Bộ Công nghiệp.................................................................................... 66
2
LỜI NÓI ĐÀU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, hướng nước ta phát triển nền kinh
tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, có sự quản lý của Nhà nước.
Trong sự nghiệp đổi mới, Nhà nước ban hành các chính sách, pháp luật
khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển. Đe đáp ứng nhu cầu của các
nhà đầu tư trong việc lựa chon mô hình tổ chức kinh tế, Nhà nước đồng thời
đưa ra rất nhiều mô hình tổ chức kinh tế phù hợp như: Công ty cổ phần, Công
ty trách nhiệm hữu hạn, Doanh nghiệp tư nhân......
Ngày nay trước yêu cầu của hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam cần
phải có những tập đoàn kinh tế mạnh đủ sức cạnh tranh trên thị trường. Việc
tìm tòi, thử nghiệm những mô hình phù hợp để tìm hướng đ mới cho việc
hình thành các tập đoàn kinh tế là công việc cần làm với nỗ lực lớn trong giai
đoạn hiện nay. Một trong những hướng đi đó, Nhà nước
Cí
li phải xây dựng
một khung pháp lý cho việc xây dựng và vận hành mô hình công ty mẹ - công
ty con. Khi nghiên cứu việc sắp xếp lại các tổng công ty nhà nước, Hội nghị
Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ ba (khoá IX) đã chỉ rõ: “Hình thành
một sổ tập đoàn kinh I ị mạnh trên cơ sở các tổng công ty nhà nước, có sự
tham gia của các thành phần kinh tế, kinh doanh đa ngành, trong đó có ngành
kiiứi doanh chính, chuyên môn hoá cao và giữ vai trò ch phối lớn trong nền
kinh tế quốc dân, có quy mô lớn về vốn, hoạt động cả trong nước và ngoài
nước, có trình độ công nghệ cao và quản lý hiên đại, có sự gắn kết trực tiếp,
chặt chẽ giữa khoa học và công nghệ, đào tạo, nghiên cứu triển khai với sản
xuất kinh doanh” [1, tr. 9].
Cụ thể hoá những chủ trương, định hướng trong Nghị quyết trên, Quốc
hội đã ban hành Luật Doanh nghiệp nhà nước (2003), trong đó, nội dung có
đề cập tới mô hình công ty mẹ - công ty con. Tuy nhiên, cả lý luận và thực
3
tiến về mô hình kinh doanh này đối với Việt Nam chưa nhiều. Do đó, việc
nghiên cứu về mô hình luôn là yêu cầu cần thiết.
Bộ Công nghiệp là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng quản
lý nhà nước về công nghiệp. Hiện nay, Bộ là cơ quan chủ quản đối với 16
tổng công ty 90, 91 và hơn 30 doanh nghiệp nhà nước khác. Tiếp tục quá trình
đổi mới doanh nghiệp nhà nước, Bộ Công nghiệp đã và đang thực hiện
chuyển một số tổng công ty, công ty là đơn vị kinh doanh thuộc Bộ sang hoạt
động theo mô hình công ty me - công ty con. Một số tổng công ty đã được
chuyển đổi ốn định dần trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Để nhân rộng
mô hình này, Bộ Công nghiệp đang tiến hình rút kinh nghiệm để việc chuyển
đổi các doanh nghiệp nhà nước thuộc Bộ sang hoạt động theo mô hình công
ty mẹ - công ty con đạt hiệu quả cao.
Một mô hình kinh doanh mới ra đời, có rất nhiều vấn đề lý luận và thực
tiễn về cả khía cạnh kinh tế lẫn khía cạnh pháp lý cần được giải quyết thấu
đáo. Vấn đề cơ chế kiểm soát của công ty mẹ với công ty con là một trong
những nội dung cần làm rõ vì bản chất của mô hình công ty mẹ - công ty con
là một tập đoàn kinh tế trong đó yếu tố vốn và cơ chế kièm soát của công ty
mẹ với công ty con luôn là vấn đề phức tạp.
Dựa vào những cơ sở phân tích trên cho thấy việc nghiên cứu đề tài
“Cơ chế kiểm soát thông qua vốn trong mô hình công ty mẹ - công ty con Tiếp cận từ thực tiễn từ Bộ Công nghiệp” có ý nghĩa quan trọng.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Ở Việt Nam hiện nay, một số vấn đề lý luận và thực tiễn licn quan đến mô
hình công ty mẹ - công ty con đang được nhiều người quan tâm nghiên cứu.
Nhưng nhìn chung phạm vi của những nghiên cứu này còn hạn hẹp, phần lớn
mới chỉ dừng lại ở những nội dung mang tính khái quát chung về mô hình. Một
công trình nghiên cứu đầy đủ, toàn diện vấn đề cơ chế kiểm soát của công ty mẹ
đối với công ty con thì đến nay hầu như chưa có. Đây là cơ hội thuận lợi để tác
4
giả mạnh dạn thể hiện những ý tưởng của mình nhưng đồng thời là một khó
khăn cho tác giả trong quá trình nghiên cứu vì không được kế thừa thành quả của
những người đi trước nên Luận văn khó tránh khỏi những hạn chế.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
1
a
1
__ • A
_ _ 1_ •
_
K—
1 ' • 1 '
1'
--
~
.
A ,
__ Ạ
4 Ạ
I f
I
A
1* Ạ
Mục đích của việc nghiên cứu đê tài là làm rõ một so van đê ly luận liên
quan đến vốn và cơ chế kiểm soát của công ty mẹ đối vói công ty con, thực trạng
của cơ chế kiểm soát trong mô hình công ty mẹ - công ty con ở Bộ Công nghiệp.
Với những mục đích đó, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài là:
- Nghiên cứu một số vấn đề lý luận của mô hình công ty mẹ - công ty con.
- Nghiên cứu bản chất của vốn, quan hệ góp vốn trong mô hĩnh Công ty
mẹ - Công ty con và cơ chế kiểm soát của công ty mẹ đối với công ty con.
- Tìm hiểu và nêu thực trạng của cơ chế kiểm soát trong mô hình công
ty mẹ - công ty con ở Bộ Công nghiệp.
- Một số bài học cụ thể từ thực tiễn áp dụng mô hình công ty mẹ - công
ty con ở Bộ Công nghiệp.
4. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Nhà nước dang thực hiện việc chuyển đổi một số tổng công ty nhà nước
sang hoạt động theo mô hình công ty mẹ - công ty con là một chủ chương mới
nên còn nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn cần luận giải. Trong khuôn khổ bản
Luận văn này, tác giả chủ yếu đề cập một số khía cạnh pháp lý cơ bản, khái
quát nhất xung quanh vấn đề vốn trong mô hình công ty mẹ - công ty con và cơ
chế kiểm soát của công ty mẹ đối với công ty con mà ít đề cập đến vấn đề khác
mang tính lý luận chung về mô hình công ty mẹ - công ty con.
Mặt khác, với phạm vi nghiên cứu này thì tác giả khó có thể giải quyết
thoả đáng mọi khía cạnh của đề tài. Tác giả hy vọng sẽ được trở lại đề tài này
trong một công trình nghiên cứu toàn diện hơn và với một yêu cầu cao hơn.
5
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở bám sát những chủ Irương, đường
lối của Đảng và Nhà nước về đổi mới doanh nghiệp nhà nước, xây dựng và
phát triển nền kinh tế thị trường.
Luận văn vận dụng phương pháp luận, các quy luật và phạm trù của
triết học Mác - Lê Nin trong quá trình nghiên cứu mà hạt nhân là phép duy
vật biện chứng và phép duy vật lịch sử. Ngoài ra các phương pháp phân tích,
so sánh, tổng hợp cũng được vận dụng kết hợp giải quyết những vấn đề mà đề
tài tiếp cận nghiên cứu.
6. Những đóng góp của Luận văn
Luận văn có những đóng góp sau:
- Luận văn làm rõ bản chất pháp lý của mô hình công ty mẹ - công ty
con và luận giải khoa học một số vấn đề lý luận liên quan đi 1 mô hình này.
- Luận văn làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận liên quan đến vốn toong mô hình
công ty mẹ - công ty con và cơ ch kiểm soát của công ty mẹ đối vói công ty con.
- Luận văn trình bày thực trạng của cơ chế kiểm soát ừong mô hình
công ty mẹ - công ty con ở Bộ Công nghiệp.
Từ những vấn đề lý luận và thực tiễn được phân tích, Luận văn đưa ra
một số bài học cụ thể từ thực tiễn áp dụng mô hình công ty mẹ - công ty con ở
Bộ Công nghiệp.
7. Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần Lời nói đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham klvo và Mục
lục, Luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về mô hình công ty mẹ - công ty con
Chương 2: Cơ chế kiểm soát của công ty mẹ đối với công ty con
thông qua vốn đầu tư
Chương 3: Thực tiễn chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước sang hoạt
động theo mô hình công ty mẹ - công ty con ở Bộ Công nghiệp và những
bài học kỉnh nghiệm rút ra
6
CHƯƠNG 1
TỒNG QUAN VÈ MÔ HÌNH CÔNG TY MẸ - CÔNG TY CON
1.1. Công ty đối vốn và mô hình công ty mẹ - công ty con
1.1.1. Công ty đối vốn
a) Khái niệm, đặc điểm công ty
Theo kết quả nghiên cứu lịch sử về công ty thì công ty đã hình thành và
tồn tại khá sớm. Công ty bắt đầu xuất hiện từ thế kỷ XVII nhưng một số dấu
hiệu của công ty đã xuất hiện từ thời La Mã cổ đại và được quy định trong
Luật La Mã. Tuy nhiên, phải đến những thập niên cuối thế kỷ XIX thì các
công ty với tư cách pháp nhân độc lập cùng với những thành viên có trách
nhiệm hữu hạn mới được hình thành một cách rộng rãi và phổ biến. Trong
những năm gần đây công ty ngày càng phát triển và hoàn thiện, đã khẳng định
được vị trí quan trọng của mình trong đời sống kinh tế xã hội.
Khi xét đến nguyên nhân ra đòi của công ty có thể kể đến một số nguyên
nhân chủ yếu sau: Do sự phát triển của lực lượng sản xuất và những tiến bộ kỹ
thuật thì xã hội không chấp nhận kiểu làm ăn nhỏ lẻ, manh mún. Bên cạnh đó, sự
xuất hiện nền kinh tế hàng hoá ở giai đoạn đầu của chủ nghĩa tư bản, yếu tố cạnh
tranh khốc liệt cũng xuất hiện. Từ yếu tố cạnh tranh tất yếu dẫu đến hiện tượng
rủi ro trong kinh doanh thường xuyên xảy ra. Mặt khác, để nâng cao năng lực
sản xu; t các nhà kinh doanh luôn coi ừọng yếu tố vốn. Hình thức huy động vốn
bằng cách góp vốn của nhiều người cùng kinh doanh là binh thức đạt hiệu quả
cao. Do đó, để giảm thiểu rủi ro ừong knh doanh, nâng cao năng lực sản xuất,
các nhà kinh doanh chọn giải pháp liên kết lại với nhau thực hiện mục đích
chung là sản xuất kinh doanh tìm kiếm lợi nhuận.
về khái
niệm công ty, có thể hiểu theo nhiều nghĩa và được xét trên
nhiều khía cạnh khác nhau. Nếu xét dưới góc độ pháp lý thì công ty có thể
được hiểu đó là sự liên kết của nhiều người để tiến hành các hoạt động nào đó
7
với mục đích kiếm lời. Theo Điều 1012 Bộ Luật Thương mại Thái Lan, công
ty được hiểu là hai hoặc nhiều cá nhân thoả thuận cùng nhau thực hiện công
việc chung, trên nguyên tắc cùng chia sẻ lợi nhuận có được từ công việc đó.
Ở Việt Nam, công ty ra đời muộn hơn so với các nước tư bản Châu Âu.
Dưới thời Pháp thuộc lần đầu tiên khái niệm công ty được đề cập trong Bộ
luật Dân sự Trung phần và được hiểu là khế ước do hai hay nhiều người thoả
thuận cùng xuất tài sản, góp lại chung nhau để cùng chia lợi nhuận. Tuy
nhiên, sau khi Luật Công ty (1990) ra đời thì công ty và khái niệm công ty
được hoàn thiện và phát triển. Theo đó, công ty được hiểu là doanh nghiệp
trong đó các thành viên cùng góp vốn, cùng chia lợi nhuận, cùng chịu lỗ
tương ứng với phần vốn góp và chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của
công ty trong phạm vi phần vốn của mình góp vào công ty.
Như vậy, dù có nhiều khái niệm về công ty nhưng tựu chung công ty có
một số đặc điểm chủ y< 1 sau:
Thứ nhất'. Công ty phải do hai chủ th trở lên liên kết lại với nhau để
thành lập. Đây là đặc điểm phản ánh tính liên kết trong quá trình hình
thành công ty. Các quy đ.nh đỉềti chinh về công ty của một số nước trên thế
giới còn đặt ra điều kiện nhất định đối với những người tham gia sự liên
kết này. Tuy nhiên, vòi sự ra đời của mô hình tổ chức công ty trách nhiệm
hữu hạn một thành viên thì công ty này có một chủ sở hữu do đó yếu tố liên
kết không được đặt ra. Đây là mô hình công ty được hình thành do nhu cầu
của các nhà đầu tư trong việc đa dạng hoa loại hình tổ chức kinh tế phù hợp
với mục đích đầu tư.
Thứ hai: Các thành viên phải đóng góp tài sản vào công ty. Để cho
công ty ra đời và hoạt động kinh doanh trong nền kinh tế thì tổ chức này buộc
phải có vốn. Khi công ty mới thành lập, vốn được hình thành trên cơ sở đóng
góp của các thành viên tham gia liên kết. Tài sản của các thành viên đóng góp
8
vào công ty được thể hiện bằng tiền, giá trị quyền sử dụng đất, bí quyết công
nghệ hay các tài sản khác có giá trị.
Thứ ba\ Các thành viên liên kết với nhau để thành lập công ty với mục
đích kiếm lời. Công ty là một chủ thể kinh tế, khi tham gia các quan hệ kinh
tế công ty đặt mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận. Trong công ty, lợi nhuận thường
được chia theo tỷ lệ vốn góp của các thành viên.
Tóm lại, công ty không phải là sản phẩm của bất cứ nền kinh tế nào.
Nó chỉ là kết quả tất yếu của nền kinh tế mà ở đó đã có sản xuất hàng hoá,
có sự tự do kinh doanh và canh tranh giữa các doanh nghiệp. Điều đó giải
thích tại sao trong các triều đại phong kiến Việt Nam và trong nền kinh tế
kế hoạch hoá tập trung không thể có công ty và hoạt động công ty theo
đúng nghĩa của nó.
b) Công ty đổi vốn
Xét về mặt lịch sử, các công ty đối vốn ra đời muộn hơn các công ty
đối nhân. Khác với công ty đối nhân, trong công ty đối vốn tỷ lệ vốn góp giữa
các thành viên công ty là yếu tố chi phối. Hai loại hình công ty th hiện đặc
điểm chung nhất của công ty đối vốn là công ty trách nhiệm hữu hạn hai
thành viên trở lên và công ty cổ phần. Ngoài những đặc đi m chung về công
ty, công ty đối vốn có một số đặc điểm chủ yếu sau:
Thứ nhất: Đặc đii TI quan trọng của công ty đối vốn là có sự tách bạch
về tài sản của công ty và tài sản của thành viên tham gia. Đi u đó có nghĩa là
có sự phân biệt về tài sản dùng để k^ứi doanh và tài sản cho tiêu dùng hay tài
sản sở hữu khác của thành viên công ty. Công ty đoi vốn là chủ thể pháp lý và
có tư cách pháp nhân độc lập. Yếu tố tài sản độc lập là một trong các điều
kiện để một tổ chức trở thành pháp nhân [3, Đ.9]. Đặc điểm này khác hoàn
toàn với yếu tố tài sản trong công ty đối nhân vì trong công ty đối nhân không
có sự tách biệt giữa tài sản của cá nhân tham gia liên kết và tài sản của công
ty. Do vậy, cho dù tài sản cá nhân có được đưa vào kinh doanh hay không
9
nhưng khi công ty đối nhân phải thực h'ựn nghĩa vụ về tài sản thì thành viên
công ty phải đảm bảo trách nhiệm ấy bằng toàn bộ tài sản thuộc sở hữu của
mình bao gồm tài sản mang ra để kinh doanh ở công ty và tài sản cá nhân.
Thứ hai: Do việc thành lập công ty chỉ dựa trên yếu tố vốn góp nên
thành viên của công ty thường đông. Theo quy định của pháp luật Việt Nam,
công ty trách nhiệm hữu hạn từ hai thành viên trở lên thì số thành viên tham
gia tối thiểu là 2 người và tối đa không quá 50 người, còn trong công ty cổ
phần thì số lượng tối thiểu là 3 người và không giới hạn số lượng tối đa [5,
Đ.51]. Những người tham gia công ty đối vốn thường quan tâm đến số lượng
vốn góp của người cùng tham gia nên so với những công ty đổi nhân thì sổ
lượng người tham gia thường đông hơn.
Thứ ha: Thông thường các công ty đối vốn được chia làm hai loại:
Công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần. Hai loại công ty này tồn tại
phổ biến ở các nước Châu Âu lục địa. Mỗi loại công ty có quy chế pháp lý
khác nhau như: Luật Công ty cổ phần của Đức, Luật công ty đại chúng, Luật
Công ty trách nhiệm hữu hạn của Mỹ.
Tóm lại, các công ty đối vốn có rất nhiều ưu điểm so với công ty đối
nhân, được các nhà đầu tư lựa chọn phổ biến. Với ch. độ trách nhiệm hữu hạn
của loại hình công ty này, các nhà đầu tư sẵn sàng đầu tư vào những lĩnh vực
có tính rủi ro cao. Đồng thời, nó tạo cho nhà đầu tư có khả năng phân tán vốn
đầu tư vào nhiều cơ sở sản xuất kinh doanh khác nhau. Bên cạnh những ưu
điểm nói trên, công ty đối vốn cũng có những hạn chế nhất định. Do công ty
chĩ chịu trách nhiệm hữu hạn nên khách hàng của công ty đối vốn dễ gặp rủi
ro hom khi làm ăn với công ty này. Mặt khác, vì chỉ quan tâm đến vốn góp nên
số lượng thành viên tham gia thường rất đông. Điều đó, có thể dẫn tới sự phân
hoá các nhóm quyền lợi trong công ty, gây nên sự bất bình đẳng giữa các cổ
đông. Ngoài ra, cũng vì số lượng thành viên đông nên việc quản lý công ty rất
10
phức tạp đòi hỏi pháp luật phải có quy chế chặt chẽ và những người tham gia
quản lý, điều hành công ty phải có nhiều kinh nghiệm chuyên môn.
1.1.2. Các dạng liên kết theo mô hình công ty mẹ - công ty con
a)
Nguyên nhân của sự liên kết theo mô hình công ty mẹ - công ty con
Tập đoàn kinh doanh ra đời là kết quả của sự liên kết kinh tế. Nó tồn tại
theo nhiều hình thức tổ chức khác nhau mà mô hình công ty mẹ - công ty con là
loại hình tổ chức phổ biến nhất. Mô hình này là sản phẩm tất yếu của sự liên kết
kinh tế trong điều kiện của nền sản xuất hàng hoá và cơ chế thị trường.
Việc hình thành tập đoàn kinh doanh có thể xuất phát từ nhiều nguyên
nhân khác nhau trong đó có thể kể đến một số nguyên nhân chủ yếu sau:
- Do có sự chuyên môn hoá sản xuất và phân công lao động xã hội.
Theo quy luật, sự thay đổi của lực lượng sản xuất tất yếu sẽ kt o theo sự
thay đổi của quan hệ sản xuất. Khi lực lượng sản xuất phát triển ở trình độ cao
sẽ phá bỏ những mô hình kinh doanh mang tính chất manh mún, rời rạc dựa
trên sự phân công lao động giản đơn với các hình thức sở hữu đơn lẻ. Mặt
khác, sự phát triển của nền sản xuất xã hội cũng kéo theo sự phát triển trong
chuyên môn hoá sản xuất và phân công lao động xã hội. Điều này đã đưa dần
sự phân công lao động giản đơn giữa những người thợ trong các công trường
thủ công ở giai đoạn đi 1 của chủ nghĩa tư bản hình thành sự chuyên môn hoá
và phân công lao động diễn ra giữa các ngành của một nền k;nh tế hay giữa
các quốc gia ở giai đoạn hiện nay.
Do vậy, sự xuất hiện các hình thức liên kết và hình thi.tnh các mô hình
kinh doanh mới
hoá và phân công lao động xâ hội ở trình độ cao là tất yếu.
- Do nhu cầu tích tụ và tập trung vốn
Sự hình thành các mô hình liên kết kiểu tập đoàn để đáp ứng nhu cầu
tích tụ và tập trung vốn như một tất yếu. Khi nhận định về vấn đề này, c. Mác
và Ph. Ảng ghen đã cho rằng: Tích tụ và tập trung tư bản tất yếu sẽ dẫn đến ra
11
đời những xí nghiệp tư bản chủ nghĩa có quy mô lớn. Kế thừa quan điểm đó
và bằng sự phân tích của sự phát triển của chủ nghĩa tư bản trong giai đoạn
cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, Lê Nin đã đưa ra luận điểm quan trọng:
“Việc tập trung sản xuất đẻ ra các tổ chức độc quyền thì nói chung lại là một
quy luật phổ biến và cơ bản trong giai đoạn hiện nay của chủ nghĩa tư bản”
[12, tr. 27]. Ngày nay, trong xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế, việc mở rộng thị
trường luôn tác động thay đổi mạnh mẽ đến quy mô sản xuất, tính cạnh tranh
càng đòi hỏi các doanh nghiệp tích tụ và tập trung vốn lớn để đáp ứng yêu cầu
của những thay đổi đó.
- Nhu cầu cạnh tranh và phân tán rủi ro
Doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường luôn đứng trong vòng xoáy
của quy luật cạnh tranh để khẳng định vị thồ của mình. Đe xác lập điều đó,
doanh nghiệp cần có một tiềm lực mạnh hoặc về tài chính hoặc bằng các thế
mạnh khác tạo nên sức mạnh trong quá trình cạnh tranh. Tiềm lực mạnh của
doanh nghiệp hình thành bằng nhiều cách khác nhau có thể doanh nghiệp tự
mình tích tụ vốn hoặc có thể liên kết vừa bảo vệ cho nhau khỏi bị thôn tính
bởi doanh nghiệp có ti m lực mạnh khác vừa nâng cao được vị ứ i của mình
trong 1 lền kinh tế. Tuy nhiên, hình thức liên kết để tạo thế mạnh luôn ch ỉm
ưu thế. Do đó, có thể khẳng định cạnh tranh và liên k t là hai mặt đối lập
nhưng lại quan hệ với nhau một cách biện chứng và cùng tồn tại. Cạnh tranh
giũa các doanh nghiệp sẽ kéo theo sự liên kết kinh tế và sự liên kết kinh tế sẽ
tạo thế mạnh thúc đẩy quá trình cạnh tranh phát triển.
Bên canh đó, sự cạnh tranh quyết liậí chắc chắn không tránh khỏi rủi ro
trong kinh doanh. Đó cũng là nguyên nhân buộc các doanh nghiệp phi li tìm
cách phân tán và lấy hình thức liên kết kinh tế để dựa vào nhau cùng tồn tại là
cách doanh nghiệp ưu tiên áp dụng.
Dưới tác động của những nhân tố trên, sự liên kết kinh tế để hình thành
nên những tập đoàn kinh doanh như một tất yếu. Yếu tố liên kết đó xuất phát
12
từ nhu cầu khách quan của nền kinh tế thị trường, từ nhu cầu tự thân của
doanh nghiệp bởi liên kết kinh tế không chỉ nâng cao năng lực kinh doanh của
các thành viên trong tập đoàn hay của cả tập đoàn mà còn giúp các doanh
nghiệp rút ngắn được chi phí sản xuất, tăng sức cạnh tranh ra bên ngoài khối
liên kết. Với khoảng 60.000 công ty mẹ và 500.000 công ty, chi nhánh, các
công ty xuyên quốc gia đang kiểm soát 40% sản lượng công nghiệp, 60%
ngoại thương, 80% kỹ thuật mới của thế giới tư bản chủ nghĩa [13, tr. 10].
Ị$)b) Các dạng liên kết theo mô hình công ty mẹ - công ty con
Đe đạt được mục tiêu giảm bớt thua thiệt không cần thiết do doanh
nghiệp cạnh tranh quá mức so với năng lực hiện có, đa dạng hoá về sản phẩm,
giảm chi phí sản xuất, trao đổi kinh nghỉệm giữa các thành viên nhằm phục vụ
nhu cầu mở rộng đầu tư .... các doanh nghiệp tìm đến các phương thức khác
nhau để liên kết. Do đó, sự liên kết giữa các doanh nghiệp ngày càng đa dạng
về hình thức mà một trong những hình thức liên kết đó có thể kể đến: Liên kếi
ngang, liên kết dọc, liên kết hỗn họp.
-
Liên kết dọc: Là liên kết giữa các công ty trong cùng một dây truyền
công nghệ sản xuất trong đó mỗi công ty đảm nhận một hoặc một số công
đoạn của quá trình sản xuất. Mô hình này thường kinh doanh đa ngành nhung
nhờ sự phụ thuộc Ví dây truyền công nghệ mà các công ty thành viên có mòi
liên hệ chặt chẽ với nhau.
Hình thức liên kết này cũng có nhiều biến tướng khác nhau như: Tập
đoàn san xuất hàng dọc ki u cung ứng - sản xuất và có thể kể đ n tập doàn
Toyota là một điển hình. Những tập đoàn kiểu này thường bao gồm một công
ty sản xuất nòng cốt và rất nhiều công ty thầu phụ được liên kết với nhau để
tạo ra sản phẩm cuối cùng thông qua nắm giữ cổ phiếu và những ràng buộc về
nhân sự; Tập đoàn sản xuất hàng dọc kiểu sản xuất phân phối bao gồm nhiều
cửa hàng bán lẻ được hình thành xung quanh một công ty mẹ chuyên sản xuất
để bán hàng và duy trì giá bán. Một số công ty đại diện cho kiểu liên kết này
như: Hitachi, Toshiba V . V . .
13
- Liên kết ngang: Việc tham gia cổ phần lẫn nhau giữa các công ty
có hoạt động trong cùng một ngành hoặc có thoả thuận với nhau nhằm
phân chia thị trường, lĩnh vực sản xuất
V .V ..
đã hình thành tập đoàn theo
kiểu liên kết này.
- Liên kết hỗn hợp: Đó là sự kết hợp giữa liên kết dọc và liên kết
ngang, thường diễn ra giữa các công ty hoạt động trong nhiều lĩnh vực thường
áp dụng hình thức liên kết này và ngày càng phổ biến. Kiểu liên kết hỗn hợp
không chỉ khắc phục được những bất cập của hình thức liên kết ngang và liên
kết dọc mà còn tạo tính linh hoạt liên kết trong tập đoàn.
Tóm lại, sự liên kết trong tập đoàn kinh doanh rất đa dạng. Việc lựa
chọn hình thức liên kết nào phải xuất phát từ đặc thù của mỗi tập đoàn và
chiến lược kinh doanh, năng lực sản xuất của mỗi tập đoàn đó.
1.2. Đặc điểm về mối liên ki it theo mô hình công ty mẹ -công ty con
1.2.1. Khái niệm mô hình công ty m ẹ- công ty con
Mô hình công ty mẹ - công ty con là một loại hình tập đoàn kinh doanh
được các tập đoàn đa quốc gia áp dụng và ngày càng thể hiện nhiều ưu thế đối
với các nhà đầu tư. Do đó, khi nghiên cứu mô hình công ty mẹ - công ty con
trước hết c n nghiên cứu về mô hình tập đoàn kinh tế.
Theo Từ điển Bussiness English thì: “Tập đoàn kinh tế là một tổ hợp
các công ty độc lập về mặt pháp lý nhưng tạo thành tập đoàn gồm một công ty
mẹ và một hay nhiều công ty, chi nhánh góp vốn cổ phần chịu sự ki Im soát
của công ty mẹ”(Longman Bussiness English). Còn trong một tác pl .m của
mình, tác giả Nguyễn Đình Phan cùng cộng sự lạ đưa ra một khái niệm tổng
quát về tập đoàn kinh doanh: “Tập đoàn kiah doanh là tổ hợp các công ty hoạt
động trong một ngành hay nhiều ngành khác nhau trong phạm vi một nước
hay nhiều nước, trong đó có một công ty mẹ nắm quyền lãnh đạo, chi phối
hoạt động của các công ty con về mặt tài chính và chiến lược phát triển. Tập
đoàn kinh doanh là một cơ cấu tổ chức vừa có chức năng kinh doanh, vừa có
chức năng liên kết kinh doanh nhằm tăng cường tích tụ, tập trung, tăng khả
năng cạnh tranh và tối đa hoá lợi nhuận” [14, tr. 10-20]. Tương tự, Từ điển
14
kinh doanh Anh - Việt của Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật định nghĩa tập
đoàn là: “ Một tập hợp nhiều công ty bao gồm một công ty chủ quản (công ty
mẹ) và các công ty phụ (công ty con)” [15].
Như vậy, khi nói về tập đoàn thường có nhận thức chưa thống nhất, xét
_ ?
\
Ã
,Ạ
.
•
* Ạ .
r _
4*
1
<* •
1
'
_ * _
1 1
Ị •
. *Ạ
.
,Ạ
4
_ '
.
*
T^v * Ả
4
f
X iv
_ r •
cả vê tên gọi, việc xác định nội hàm của khái niệm tập đoàn. Điêu đó đã nói
lên sự đa dạng của mô hình tập đoàn.
Từ những khái niệm trên, chúng ta có thể hiểu rằng mô hình công ty mẹ
- công ty con là tập đoàn kinh doanh, ở mô hình này thể hiện sự liên kết giữa
một công ty được coi là nòng cốt (thường gọi là công ty mẹ) với các công ty
chịu sự chi phối của công ty mẹ (thường gọi là công ty con) trong cùng một tổ
hợp. Theo từ điển kỹ thuật kinh doanh Anh - Việt, “công ty mẹ là công ty giữ
địa vị kiểm soát hoặc chi phối một công ty khác do nắm được đa số cổ phiếu
của công ty đó. Các công ty bị kiểm soát như vậy gọi là công ty con” [16]. v ề
nội dung này, tại Điều 18 Nghị đinh số 153/2004/NĐ-CP quy định tổng công
ty theo mô hình công ty mẹ - công ty con được hiểu: “Là hình thức liên kết và
chi phối lẫn nhau bàng đầu tư, góp vốn, bí qu>
công nghệ, thưomg hiệu hoặc
thị trường giữa các doanh nghiệp có tư cách pháp nhân, trong đó có một công
ty nhà nước giữ quy en chi phối các doanh nghiệp thành viên khác (gọi tắt là
công ty mẹ) và các doanh nghiệp thành viên khác bị công ty mẹ ch I phối (gọi
là công ty con) hoặc có một phần vốn góp không chi phố' (gọi tắt là công ty
liên kết)”.
Như vậy, có thể khẳng định trong mô hình công ty mẹ - công ty con chỉ
có một công ty đóng vai trò chủ đạo (công ty mẹ) còn các công ty khác đóng
vai trò công ty con và theo quan hệ “huyết thống” thì một công ly con chỉ có
một công ty mẹ.
1.2.2. Đặc điểm về mối liên kết theo mô hình công ty mẹ - công ty con
Mối liên kết theo mô hình công ty mẹ - công ty con là một hình thức
phổ biến về tổ chức của tập đoàn kinh doanh. Theo đó, mô hình công ty mẹ công ty con vừa là hiện tượng kinh tế, nó ra đời bởi các quy luật khách quan
15
của nền kinh tế vừa là một thực thể pháp lý vì không có một mô hình tổ chức
nào chỉ thuần tuý mang tính kinh tế mà không tồn tại trong một không gian
pháp lý nhất định. Do đó, những đặc điểm liên quan đến kiểu liên kết này vừa
chứa đựng yếu tố kinh tế vừa mang yếu tố pháp lý cụ thể là:
- Mô hình công ty mẹ - công ty con là một tố hợp hình thành trên cơ
sở liên kết về tài chính, công nghệ, thị trường... Tổ hợp này có hoạt động
đa ngành, đa lĩnh vực hoặc phát triển từ đom ngành lên đa ngành với việc
xây dựng một ngành kinh doanh chủ đạo, lĩnh vực đầu tư mũi nhọn được
coi là thế mạnh của tập đoàn. Mục tiêu của sự liên kết nhằm tăng cường
tích tụ, nâng cao khả năng cạnh tranh của mỗi đơn vị thành viên hay của cả
tập đoàn. Trong tập đoàn vừa có tích tụ, tập trung vốn ở công ty mẹ đồng
thời có sự tập trung đầu tư của doanh nghiệp thành viên xung quanh công
ty mẹ từ đó nâng cao năng lực sản xuất của mỗi doanh nghiệp so với doanh
nghiệp tồn tại riêng lẻ.
- Nhìn chung mô hình công ty mẹ - công ty con vừa thực hiện chức
năng sản xuất vừa có chức năng tài chính, v ề hoạt động của tập đoàn trước
hết cần đề cập đến phương diện hoạt động đầu tư tài chính. Đây được coi là
một trong những hoạt động cơ bản của những tập đoàn phát triển và có quy
mô lớn hiện nay. Bằng họat động này, công ty mẹ thực hi ìn đầu tư tài chính
vào công ty thành viên trong tập đoàn. Thông qua tỷ lệ vốn góp, công ty mẹ
chi phối đến hoạt động của các công ty con. Mặt khác, trong tập đoàn có thể
có công ty tài chính hoặc các ngân hàng, vốn trong các định chế tài chính có
thể do công ty mẹ đầu tư toàn bộ hoặc có thi hình ihành việc huy động vốn
cho tập đoàn bằng nhiều nguồn và thông qua các kênh khác nhau trong đó có
vốn góp của các thành viên của tập đoàn, vốn đó sẽ được đầu tư vào các
doanh nghiệp thành viên hoặc thực hiện các dự án đầu tư chung của cả tập
đoàn. Thực chất của hoạt động này nhằm đảm nhiệm toàn bộ hay một phần
16
vấn đề tài chính của cả tập đoàn từ đó xác lập sự thống nhất về tài chính và
kiểm soát tài chính.
- Mô hình thường đa hình thức sở hữu vốn trong đó có thể có vốn
nhà nước, vốn góp của các thành phần kinh tế khác. Một trong những
nguyên nhân hình thành tập đoàn kinh doanh là nhu cầu về tích tụ, tập
trung vốn của các doanh nghiệp. Mô hình công ty mẹ - công ty con là hình
thức liên kết có thể huy động tập trung vốn từ nhiều chủ thể khác nhau.
Trong cơ cấu vốn của công ty mẹ có thể nhà nước nắm giữ 100% hoặc có
sự tham gia của nhiều chủ thể khác nhau như: Nhà nước, doanh nghiệp, tổ
chức đầu tư tài chính khác. Trên thế giới, công ty mẹ do nhà nước sở hữu
toàn bộ không nhiều và có thi kể đ( n tập đoàn BP của Anh, tập đoàn
’ Petronas của Malaixia. Ở Việt Nam, trong giai đoạn thí điểm chuyển một
số tổng công ty nhà nước sang hoạt động theo mô hình công ty mẹ - công
ty con như hiện nay thì các công ty mẹ đều do nhà nước nắm giữ 100%
vốn. Thực chất là các doanh nghiệp nhà nước. Còn vốn của các công ty con
chủ yếu hình thành bằng việc góp vốn của các chủ thể thuộc các thành
phần kinh tế khác nhau và tồn tại dưới các hình thức như công ty trách
nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, doanh nghiệp ỉiên doanh v.v... Đó là
những loạ hình doanh nghiệp tạo huy động vốn góp của nhiều thành ph n
k:nh tế. Như vậy, đa dạng sở hữu là một đặc trưng của mô hình này.
- Tổ hợp công ty mẹ - công y con hoạt động đa ngành, đa lĩnh vực. T
hợp thường lấy ngành kinh doanh mà tập đoàn có thế mạnh đóng vai trò
ngành kinh doanh chủ đạo, mũi nhọn. Bên cạnh đó, tập đoàn còn mở rvng
kinh doanh các ngành nghề khác nhau. Những ngành ngbè đó có thể liên quan
đến ngành kinh doanh chủ đạo hoặc không. Tuy nhiên, sự đa dạng ngành, lĩnh
vực kinh doanh trong tập đoàn đã tạo thuận lợi nâng cao năng lực sản xuất và
vị thế của tập đoàn.
17
- Trong mô hình công ty mẹ - công ty con có một công ty đóng vai trò
là hạt nhân thường gọi là công ty mẹ. Công ty mẹ hoặc chỉ thực hiện đầu tư
tài chính để hình thành các công ty con hoặc vừa thực hiện chức năng sản
xuất trực tiếp vừa thực hiện chức năng đầu tư tài chính. Công ty mẹ có vai trò
định hướng hoạt động và quyết định những vấn đề quan trọng về bộ máy nhân
sự và sản xuất kinh doanh của công ty con theo chiến lược chung của cả tập
đoàn. Công ty con là công ty thuộc sờ hữu hoàn toàn của công ty mẹ hoặc
công ty mẹ nắm cổ phần, vốn góp chi phối. Công ty con là những pháp nhân
độc lập và chịu sự chi phối của công ty mẹ trong việc thực hiện chiến lược
chung của cả tập đoàn. Bên cạnh đó, tập đoàn có thể có tầng liên kết con cháu. Công ty cháu do công ty con của công ty mẹ sở hữu toàn bộ vốn góp
hay nắm giữ tỷ lệ vốn góp đủ chi phối công ty. Trên thực tế, công ty mẹ chi
phối công ty này ở mức độ hạn chế hơn so với các công ty con và thường chi
phối gián tiếp thông qua việc kiểm soát hoạt động đối với công ty con từ đó
công ty mẹ có thể kiểm soát được công ty cháu.
1.2.3.
Những ưu điểm, hạn chế của mô hình tập đoàn công ty mẹ -
công ty con
a)
Những ưu điểm
- Địa vị pháp lý cửa công ty mẹ cũng như công ty con có tính độc lập,
do đó các công ty con trong tập đoàn phát huy được sáng tạo, quyền tự chủ tự
do định đoạt để giải quyết những vấn đề nhanh hom ở công ty.
- Nhờ sức mạnh của tập đoàn, công ty mẹ nên vị thế của công ty con
thường nâng cao hơn khi tham gia các quan hệ kiiih tế.
- Hình thành tập đoàn làm tăng khả năng cạnh tranh, phân tán rủi ro.
Tận dụng được năng lực dư thừa tương đối do sử dụng được nguồn vốn
của cả tập đoàn.
Thúc đẩy việc cải tiếr kỹ thuật, chuyển giao công nghệ.
18
b) Những điểm hạn chế
___
' T
' _
4 _ Ị
_ '
♦
J.1_ ?
i.
_
’
il
_
'
*
1
_
1
'
>
4 Ặ .4.Ạ
IV
À
_
_
t ÃẠ. A .
- Tập đoàn có thê trở thành nhà đâu tư độc quyên, dê gây nên hiện
_
t
• ^
.
tượng lũng đoạn thị trường ảnh hưởng xấu tới môi trường kinh doanh chung.
- Do tính độc lập tự chủ trong hoạt động sản xuất kinh doanh nên các
công ty có thể cạnh tranh lẫn nhau gây ảnh hưởng đến lợi ích chung của cả
tập đoàn.
- Công ty con có thể bị phụ thuộc vào công ty mẹ, do đó khó theo đuổi
mục đích khác với mục đích của tập đoàn.
1.3.
Bản chất pháp lý và phương thức kiểm soát trong mô hình
công ty mẹ - công ty con
Quan hệ chủ đạo giữa công ty mẹ với công ty con là quan hệ tài
chính. Yếu tố đầu tư của công ty mẹ với công ty con luôn được quan tâm.
Thông qua quan hệ đầu tư tài chính, công ty mẹ trở thành chủ sở hữu và có
quyền chi phc đối với các công ty con. Mức độ chi phối công ty con của
công ty mẹ phụ thuộc vào tỷ lệ vốn do công ty mẹ sở hữu. Để có được
quyền chi phối, theo quy định của pháp luật một số nước trong đó có v ĩệt
Nam thì công ty mẹ phải sở hữu toàn bộ hoặc ít nhất là trên 50%vốn của
công ty con. v ấn đề này được quy định tại khoản 2 Đi II 19 Nghị định số
153/2004/NĐ-CP ngày 9 tháng 8 năm 2004 của Chính phủ về tổ chức, quản
lý tổng công ty và chuyển đổi tổng công ty nhà nước, công ty nhà nước độc
lập theo mô hình công ty mẹ - công ty con: Các công ty con là các công ty
có vốn góp chi phối của công ty mẹ bao gồm: Công ty trách nbiệm hữu hạn
hai thành viên trở lên, công ty cổ phần, công ty liên doanh với nước ngoài,
công ty ở nước ngoài và công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do
công ty mẹ nắm giữ toàn bộ vốn điều lệ.
Quan hệ tài chính trong mô hình công ty mẹ - công ty con không chỉ có
chiều đầu tư của công ty mẹ vào công ty con mà khi công ty mẹ có nhu cầu
vốn để thực hiện hoạt động kinh doanh của mình thì công ty mẹ có thể kêu
19
gọi vốn đầu tư từ các công ty con hoặc thậm chí các công ty con có thể đầu tư
vốn lẫn nhau hay đầu tư vào những công ty bên ngoài tập đoàn để thiết lập
các mối liên kết mới. Bên cạnh đó, công ty mẹ có thể đầu tư ra bên ngoài tập
đoàn hình thành mối liên hệ giữa công ty mẹ với các công ty liên kết tức là
các công ty có vốn góp không chi phối của công ty mẹ. Điều này làm cho
quan hệ đầu tư và quan hệ sở hữu trong mô hình công ty mẹ - công ty con rất
đa dạng. Tuy nhiên, dù quan hệ đầu tư diễn ra nhiều chiều, đa dạng nhưng vẫn
đảm bảo nguyên tắc một công ty mẹ có thể có nhiều công ty con nhưng một
công ty con chỉ có một công ty mẹ mà thôi.
Công ty mẹ và công ty con là những pháp nhân độc lập, bình đẳng
trước pháp luật. Mặc dù công ty mẹ, công ty con là những pháp nhân độc lập
nhưng do có yếu tố liên kết hình thành tập đoàn nên giữa công ty mẹ và công
ty con vẫn tồn tại quan hệ chi phối và đó là sự chi phối của công ty mẹ đối với
công ty con với tư cách là chủ sở hữu. Sự tuân theo của công ty con ngoài
việc đảm bảo quyền lợi của công ty mẹ còn có ý nghĩa tạo nên tính thống nhất
trong thực hiện chiến lược chung của cả tập đoàn. Tuy nhiên, việc chi phối
của công ty mẹ không phải là không có giới hạn. Ngoài những vấn đề định
trước công ty con buộc phải tuân theo thì công ty con có quyền tự chủ kinh
doanh theo quy đinh của pháp luật. Đặc điểm này đã khẳng định tổ hợp công
ty mẹ - công ty con không có tư cách pháp nhân mà đó là hình thức của sự
liên kết kinh tế.
Hình thức tổ chức và chế dộ sở hữu trong mô hình công ty mẹ - công ty
con rất đa dạng. Công ty mẹ có th là doanh nghiệp nhà nước, công ty trách
nhiệm hữu hạn một thành viên, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành vỉên,
công ty cổ phần thậm trí có th trong đó hình thức công ty cổ phần được ưu
tiên áp dụng vì nó phù họp với việc tích tụ, huy động vốn và tính chất đa sở
hữu về vốn của công ty mẹ. Từ sự đa dạng hình thức tổ chức đã hình thành đa
dạng sở hữu trong mô hình này. vốn trong công ty mẹ có thể thuộc sở hữu
20
của nhiều tổ chức cá nhân hay của một chủ (nhà nước hoặc tư nhân). Giống
như công ty mẹ, công ty con cũng thường đa sở hữu và tồn tại dưới hình thức
công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty liên doanh. Sự đa dạng
về hình thức tổ chức và sở hữu tạo cho mô hình công ty mẹ - công ty con khả
năng huy động vốn, và tập trung sản xuất để phục vụ chiến lược kinh doanh
chung của cả tập đoàn. Đồng thời, nó còn cho phép công ty mẹ chủ động điều
chỉnh mối liên kết với các công ty con một các linh hoạt.
Chế độ phân chia lợi nhuận theo cổ phần thể hiộn mối quan hệ lợi ích
giữa công ty mẹ và công ty con. Lợi nhuận sau thuế của công ty con sẽ được
phân chia cho các cổ đông hoặc các thành viên góp vốn. Trong trường hợp
công ty mẹ sở hữu 100% vốn của công ty con thì lợi nhuận của công ty con sẽ
thuộc về công ty mẹ toàn bộ và do công ty mẹ quyết định số lợi nhuận đó.
Nếu công ty mẹ có vốn góp chi phối trong công ty con thì số lợi nhuận sẽ
được chia theo cơ cấu vốn góp. Trong trường hợp này, ngoài các quyền chi
phối công ty con, các qu) n lợi khác của công ty mẹ tại công ty con cũng
bình đẳng như các chủ thể tham gia góp vốn khác. Chế độ phân chia lợi nhuận
trong mô hình còn thể hiện sự phân chia lợi nhuận của công ty mẹ cho công ty
con kh' công ty con là cổ đông hay thành viển góp vốn đầu tư vào công ty mẹ.
Quan hệ đầu tư đa dạng hình thành nên sự liên ỉ :ết giữa công ty mẹ và
công ty con rất phong phú và phân chu thành nhiều cấp độ. cấp thử nhất gồm
công ty mẹ và các công ty con do công ty mẹ trực tiếp sở hữu toàn bộ vốn cổ
phần hoặc nắm giữ cổ phần chi pbối Đây là cấp độ không thể thiếu, đặt nền
móng cho sự ra đời của mô hình công ty mẹ - công ty con. cấp thứ hai là
quan hệ giữa công ty mẹ với những công ty con do công ty con của công ty
mẹ sở hữu 100% vốn hoặc nắm giữ cổ phần chi phối và thường gọi là các
công ty “cháu”. Ở mối quan hệ này có thể có hoặc không có trong tập đoàn và
thường phụ thuộc vào sự mở rộng kinh doanh của tập đoàn hay năng lực sản
xuất của các công ty con trong tập đoàn. Xét về tính chất quan hệ thì công ty
21
mẹ ít chi phối hơn đến các công ty cháu. Ngoài hai cấp quan hệ chủ yếu trên
thì trong mô hình còn có mối quan hệ giữa công ty mẹ với những công ty có
vốn góp của công ty mẹ nhưng số vốn không đả chi phối các công ty đó và
thường gọi là công ty liên kết. Mối quan hệ này là hệ quả của hoạt động đầu
tư tài chính, nâng cao năng lực hay mở rộng đầu tư của công ty mẹ. Tuy
nhiên, quan hệ giữa công ty mẹ và công ty liên kết có thể thay đổi theo hướng
chuyển thành công ty mẹ - công ty con khi công ty mẹ đầu tư bổ sung và trở
thành chủ thể có vốn góp chi phối hoặc ngược lại
Tóm lại, Mô hình công ty mẹ - công ty con nổi bật nhiều ưu điểm thích
hợp cho việc thực hiện những mục tiêu và chi *n lược kinh doanh của tập
đoàn. Với quan hệ chủ đạo là đầu tư và sở hữu vốn cho phép công ty mẹ chi
phối các công ty con để tập trung sức mạnh nâng cao năng lực sản xuất do
công ty mẹ vạch ra nhưng vẫn đảm bảo các nguyên tắc thị trường và không
hạn chế quyền tự chủ của các công ty con. Bên cạnh đó, nó tạo ra cơ chế 1’nh
hoạt để công ty con huy động tối đa nguồn vốn cần thiết cho hoạt động sản
xuất kinh doanh và gắn kết được lợi ích giữa công ty mẹ với công ty con.
v ề phương thức kiểm soát của công ty mẹ với công ly con là hoạt động
kiểm tra, £'ám sát của công ly mẹ nhằm tác động lên hoạt động của công ty
con từ đó đảm bảo quyền và lợi ích của công ty mẹ. Công ty mẹ thực hiện
quyền kiểm soát đối với công ty con với tư các là chủ sờ hữu thông qua nhiều
phương thức khác nhau và thường tập trung vào một số lĩnh vực như: Cơ cấu
tổ chức, điều chỉnh vốn điều lệ, phê duyệt phương án đầu tư, sửa đổi bổ sung
điều lệ. Mặc dù công ty mẹ chỉ ki m. soát trực tiếp một số lĩnh vực chủ yếu
nhưng qua đó công ty mẹ sẽ kiểm soát được các lĩnh vực khác của công ty
con. Mức độ chi phối của công ty mẹ với công ty con phụ thuộc chủ yếu vào
tỷ lệ vốn công ty mẹ sở hữu và được quy định cụ thể trong điều lệ của công ty
con. Một sổ phương thức công ty mẹ có thể sử dụng để giám sát hoạt động
của công ty con như: Dùng quyền của chủ sở hữu hay cổ đông chi phối để
22
quyết định các vấn đề quan trọng, kiểm tra giám sát Chủ tịch và các thành
viên hội đồng quản trị, tổng giám đốc, giám đốc các công ty con, đơn vị phụ
thuộc, người đại diện phần vốn góp của công ty mẹ ở các công ty khác.
1.4. Một sổ điểm khác nhau cơ bản giữa mô hình công ty mẹ - công
ty con vói mô hình tỗng công ty 90, tỗng công ty 91 (tỗng công ty nhà
nước chưa chuyển đỗi mô hình)
1.4.1.
về cẩu trúc vẩn trong mô hình
Theo Điều 4 Nghị định số 153/2004/NĐ-CP ngày 9 tháng 8 năm 2004
của Chính phủ về tổ chức, quản lý tổng công ty, công ty nhà nước độc lập
theo mô hình công ty mẹ - công ty con thì tổng công ty do nhà nước quyết
định đầu tư và thành lập là hình thức liên kết và tập hợp các công ty thành
viên hạch toán độc lập và các đơn vị thành viên khác theo quy định của pháp
luật, có mối quan hệ gắn bó với nhau về lợi ích kinh tế, công nghệ, thị trường,
các dịch vụ kinh doanh khác, hoạt động trong một hay một số chuyên ngành
kinh tế kỹ thuật chính nhằm tăng cường tích tụ, tập trung vốn và chuyên môn
hoá kinh doanh của các đom vị thành viên và của toàn tổng công ty. Theo đó,
tổng công ty thuộc sở hữu nhà nước, vốn sở hữu chủ của tổng công ty do nhà
nước đầu tư. Tổng công ty là một pháp nhân mà tài sản trong tổng công ty do
nhà nước đầu tư toàn bộ. Do đó, tổng công ty có thể có hoạt động liên kết ra
bên ngoài nhưng sự liên kết ấy không được làm thay đổi tính chất của sở hữu
chủ tại tổng công ty. Trong quá trình thực hiện tiến trình cải cách doanh
nghiệp nhà nước, Nhà nước đã ban hành nhiều quy phạm pháp luật đem lại sự
thay đổi tính chất sở hữu trong công ty thành viên của tổng công ty. Đặc biệt
sự xuất hiện các công ty cổ phần từ việc cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà
nước nhưng tổng công ty vẫn nắm giữ cổ phần chi phối là một điển hình.
Đối với mô hình công ty mẹ - công ty con nói chung thường có đặc
trưng là sự đa dạng về vốn. Trong mô hình này, công ty mẹ tồn tại dưới nhiều