VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN THANH TUẤN
ƠNG BÀ BĨNG TRONG THỰC HÀNH
MÚA BÓNG RỖI CỦA NGƯỜI VIỆT NAM BỘ
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC
HÀ NỘI - 2023
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN THANH TUẤN
ƠNG BÀ BĨNG TRONG THỰC HÀNH
MÚA BĨNG RỖI CỦA NGƯỜI VIỆT NAM BỘ
Ngành: Văn hóa học
Mã số: 9 22 90 40
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC
Người hướng dẫn khoa học: 1. TS. Đoàn Thị Tuyến
2. TS. Nguyễn Đệ
HÀ NỘI – 2023
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận án Tiến sĩ này là kết quả nghiên cứu của riêng tôi
dưới sự hướng dẫn của người hướng dẫn khoa học, chưa từng được cơng bố trong
các cơng trình nghiên cứu nào khác. Kết quả nghiên cứu của các nhà nghiên cứu đi
trước đã được tiếp thu chân thực, cẩn trọng trong luận án.
Tác giả luận án
Trần Thanh Tuấn
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của đề tài .......................................................................................... 1
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu .......................................................................... 3
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ........................................................................... 3
4. Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu ............................................................. 5
5. Đóng góp mới về khoa học của luận án .................................................................. 9
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn .................................................................................... 9
7. Cấu trúc của luận án .............................................................................................. 10
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN
VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU ................................................................................ 11
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu .................................................................... 11
1.1.1. Những nghiên cứu về múa bóng rỗi Nam Bộ ...................................... 11
1.1.2. Những nghiên cứu về bà bóng Nam Bộ ............................................... 14
1.1.3. Những nghiên cứu về người thực hành tín ngưỡng tơn giáo ............... 17
1.1.4. Một số nghiên cứu sử dụng phương pháp lịch sử cuộc đời ................. 20
1.1.5. Những vấn đề luận án kế thừa và những vấn đề nghiên cứu đặt ra .......... 24
1.2. Cơ sở lý luận ..................................................................................................... 25
1.2.1. Các khái niệm liên quan đến vấn đề nghiên cứu của luận án .............. 25
1.2.2. Cơ sở lý thuyết của luận án .................................................................. 31
1.3. Địa bàn nghiên cứu .......................................................................................... 35
1.3.1. Khái quát về vùng đất Nam Bộ ............................................................ 35
1.3.2. Những vấn đề nổi bật trong đời sống văn hóa của người Việt ở Nam Bộ ....... 37
Tiểu kết chương 1 .................................................................................................... 45
Chương 2: KHÁI QUÁT VỀ THỰC HÀNH MÚA BÓNG RỖI CỦA
NGƯỜI VIỆT Ở NAM BỘ ..................................................................................... 46
2.1. Khái lược về tín ngưỡng thờ Bà ở Nam Bộ .................................................... 46
2.1.1. Thờ Bà: một nét văn hóa ở Nam Bộ .................................................... 46
2.1.2. Miễu Bà: "sân khấu" của thực hành múa bóng rỗi ............................... 49
2.2. Nguồn gốc và trình tự thực hành múa bóng rỗi ở Nam Bộ .......................... 54
2.2.1. Nguồn gốc múa bóng rỗi Nam Bộ ....................................................... 54
2.2.2. Trình tự các tiết mục trong múa bóng rỗi ............................................ 56
2.3. Những đặc điểm của thực hành múa bóng rỗi ở Nam Bộ ............................ 60
2.3.1. Múa bóng rỗi một loại hình nghệ thuật giàu nữ tính............................ 60
2.3.2. Múa bóng rỗi một loại hình nghệ thuật trực quan sinh động ............... 61
2.3.3. Múa bóng rỗi sự kết hợp các kỹ năng của nghệ thuật trình diễn dân
gian ................................................................................................................. 61
2.3.4. Múa bóng rỗi vừa mang tính tâm linh vừa mang tính giải trí .............. 62
2.4. Người thực hành múa bóng rỗi ....................................................................... 63
2.4.1. Bà bóng ở Nam Bộ là ai? ..................................................................... 63
2.4.2. Đặc điểm của bà bóng .......................................................................... 68
2.4.3. Ba buổi thực hành múa bóng rỗi tiêu biểu ........................................... 70
Tiểu kết chương 2 .................................................................................................... 80
Chương 3: CUỘC ĐỜI BÀ BĨNG: HÀNH TRÌNH VỚI NGHỀ, MƯU
SINH VÀ TRẢI NGHIỆM SỐNG ......................................................................... 81
3.1. Hành trình đến với nghề của bà bóng ............................................................ 81
3.1.1. Cơ duyên với nghề ............................................................................... 81
3.1.2. Hành trình học nghề ............................................................................. 88
3.2. Câu chuyện mưu sinh ...................................................................................... 94
3.2.1. Nghề không đủ nuôi thân ..................................................................... 94
3.2.2. Chiến lược duy trì nghề nghiệp của bà bóng ....................................... 99
3.3. Trải nghiệm sống ............................................................................................ 108
3.3.1. Cảm giác dễ bị tổn thương ................................................................. 108
3.3.2. Ứng xử trong hoạt động nghề ............................................................ 111
3.3.3. Câu chuyện tình cảm .......................................................................... 116
Tiểu kết Chương 3 ................................................................................................. 123
Chương 4: BÀ BÓNG, NGHỀ MÚA BÓNG RỖI Ở NAM BỘ VÀ NHỮNG
CHIỀU TƯƠNG TÁC .......................................................................................... 124
4.1. Các bối cảnh tác động và sự chủ động của bà bóng.................................... 124
4.1.1. Tác động từ điều kiện lịch sử - xã hội ................................................ 124
4.1.2. Tác động từ chính sách....................................................................... 126
4.1.3. Nhận thức xã hội về bà bóng và thực hành múa bóng rỗi.................. 131
4.1.4. Sự xác lập “đẳng cấp” và dấu ấn sáng tạo cá nhân của bà bóng ........ 132
4.2. Định vị bà bóng trong nghề múa bóng rỗi ................................................... 134
4.2.1. Trở thành bà bóng là vấn đề lựa chọn ................................................ 134
4.2.2. Bà bóng - yếu nhân trong thực hành múa bóng rỗi ............................ 137
4.2.3. Bà bóng và nỗ lực duy trì nghề nghiệp......................................................... 139
4.2.4. Bà bóng - người "giữ ngọc"........................................................................... 142
4.3. Những đóng góp của bà bóng đối với nghề múa bóng rỗi .......................... 145
4.3.1. Bà bóng - chủ thể "sân khấu hóa" thực hành múa bóng rỗi ............... 145
4.3.2. Bà bóng - chủ thể tạo tính "hiện đại" trong múa bóng rỗi ................. 147
4.3.3. Bà bóng - chủ thể góp phần lan tỏa văn hóa người Việt ở Nam Bộ ....... 151
Tiểu kết Chương 4 ................................................................................................. 154
KẾT LUẬN ............................................................................................................ 155
DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CƠNG BỐ CỦA TÁC GIẢ ......................... 159
TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................................... 160
PHỤ LỤC 1: LỜI CÁC BÀI RỖI TIÊU BIỂU ................................................. Pl.1
PHỤ LỤC 2: HÌNH ẢNH .................................................................................... Pl.9
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt
Chữ viết đầy đủ
BHYT
Bảo hiểm y tế
CLB
Câu lạc bộ
GS
Giáo sư
GS.TS
Giáo sư, Tiến sĩ
NCS
Nghiên cứu sinh
NNƯT
Nghệ nhân Ưu tú
PSG
Phó Giáo sư
TP.HCM
Thành phố Hồ Chí Minh
Tr
Trang
TS
Tiến sĩ
UBND
Ủy ban Nhân dân
UNESCO
Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hợp Quốc
VHTT
Văn hóa Thể thao
WHO
Tổ chức Y tế Thế giới
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Với người Việt ở Nam Bộ, thực hành múa bóng rỗi – một loại hình diễn
xướng dân gian của các ơng bà bóng trong tín ngưỡng thờ Mẫu/ Bà đã có từ lâu đời
và thấm sâu vào tâm thức của người dân nơi này. Loại hình diễn xướng dân gian
này được hình thành từ quá trình giao lưu, tiếp biến, dung hợp văn hóa của nhiều
tộc người, trong điều kiện tự nhiên và xã hội đặc biệt của vùng sông nước Nam Bộ
đa sắc tộc, đa văn hóa. Ơng bà bóng – những chủ thể của thực hành múa bóng rỗi,
có chức năng thực hiện các nghi lễ thờ phụng và “làm vui lòng” các lệnh Bà. Thực
hành nghi lễ của họ mang đậm màu sắc của tâm linh và giải trí, thể hiện bản sắc văn
hóa độc đáo của người Việt ở Nam Bộ. Những buổi thực hành cúng Bà diễn ra ở
miễu, đình, tư gia có thờ Bà tại Nam Bộ khơng thể thiếu nghi lễ múa bóng rỗi do
các ơng bà bóng thực hiện. Những ngơi miễu thờ Bà là khơng gian cho những ơng
bà bóng quy tụ và là nơi thờ phụng các vị nữ thần mang lại may mắn, tài lộc, thịnh
vượng và bình an cho cư dân bản xứ.
Song, không phải ở thời điểm lịch sử nào của xã hội, thực hành múa bóng rỗi và
các ơng bà bóng cũng được coi trọng; thực tế cho thấy, trong nhiều năm trước đây chúng
ta đã có những nhận định chưa chính xác về tơn giáo tín ngưỡng ở Việt Nam nói chung
về thực hành múa bóng rỗi ở Nam Bộ nói riêng. Do đó, đã đánh đồng thực hành múa
bóng rỗi của các ơng bà bóng với các hủ tục lạc hậu, mê tín dị đoan cần phải loại trừ.
Một thời gian dài thực hành múa bóng rỗi và các ơng bà bóng phải hoạt động lén lút, đồ
nghề bị tịch thu, thậm chí bị bắt đi cải tạo vì tun truyền mê tín dị đoan, v.v...
Tuy nhiên, trong khoảng hai thập kỷ trở lại đây, người ta đang chứng kiến sự
phục hưng trở lại với những hình thức mới và quy mô lớn hơn rất nhiều của tơn
giáo tín ngưỡng Việt Nam. Trong bức tranh chung về sự phục hưng đó là sự hồi
sinh/ trở lại của tín ngưỡng thờ Mẫu/ Bà nói chung và thực hành múa bóng rỗi của
ơng bà bóng ở Nam Bộ nói riêng. Thực hành múa bóng rỗi ngày càng phổ biến và
những người tham gia trực tiếp vào thực hành này (ơng bà bóng) được coi trọng
hơn. Chưa bao giờ người ta thấy thực hành múa bóng rỗi phát triển một cách công
khai như hiện nay, cũng chưa bao giờ người ta thấy có nhiều ơng bà bóng xuất hiện
đến vậy. Các ơng bà bóng thậm chí được phong tặng danh hiệu nghệ nhân ưu tú và
1
được coi là cầu nối thể hiện bản sắc văn hóa Việt Nam nói chung và văn hóa Nam
Bộ nói riêng thông qua thực hành nghi lễ của họ.
Sự phục hưng trở lại của tín ngưỡng tơn giáo ở Việt Nam nói chung và thực
hành múa bóng rỗi của các ơng bà bóng gắn với tín ngưỡng thờ Mẫu/ Bà ở Nam Bộ
nói riêng đến từ nhiều góc độ. Về góc độ chính sách, đó có thể là những nỗ lực để
có một nền văn hóa Việt Nam “tiên tiến”, “đậm đà bản sắc dân tộc”. Nghị quyết Hội
nghị lần thứ Năm Ban Chấp Hành Trung ương Đảng khóa VIII, số 03 – NQ/TW
ngày 16/7/1998 về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà
bản sắc dân tộc, đã xác định rằng: “Di sản văn hóa là tài sản vơ giá, gắn kết cộng
đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và
giao lưu văn hóa. Hết sức coi trọng bảo tồn, kế thừa, phát huy những giá trị văn hóa
truyền thống (bác học và dân gian), văn hóa cách mạng, bao gồm cả văn hóa vật thể
và phi vật thể” [57, tr.54-79]. Và, “Tín ngưỡng, tơn giáo là nhu cầu tinh thần của
một bộ phận nhân dân đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ
nghĩa xã hội ở nước ta” [58, tr.48). Đây có thể xem như một bước tái khẳng định quan
điểm về tơn giáo tín ngưỡng của Đảng, từ đó tạo nên một sự cơng nhận đúng đắn đối
với các nghi lễ thuộc về tín ngưỡng nói chung, thực hành múa bóng rỗi và các ông bà
bóng nói riêng.
Về học thuật, thờ Mẫu/ Bà ở Nam Bộ là một chủ đề được nhiều học giả trong
và ngồi nước dày cơng nghiên cứu và tiếp cận ở các góc độ khác nhau như nhân
học, tâm lý bệnh học, văn hóa học, văn học, v.v... Các cách tiếp cận này đem đến
nhiều thành tựu trong nghiên cứu tín ngưỡng thờ Mẫu/ Bà ở Nam Bộ nói chung và
thực hành múa bóng rỗi của các ơng bà bóng nói riêng như: cung cấp cái nhìn tổng
quan về sự hình thành, phát triển của tín ngưỡng thờ Mẫu/ Bà, của thực hành múa
bóng rỗi; các yếu tố về nghi lễ, lễ hội múa bóng rỗi; phân tích sâu sắc các giá trị và
phản giá trị của tín ngưỡng thờ Mẫu/ Bà; chức năng của nghi lễ thờ Mẫu/ Bà, v.v...
Tuy nhiên, có một thực tế dễ nhận thấy khi tổng quan tư liệu về tín ngưỡng thờ
Mẫu/ Bà, về ông bà bóng và về thực hành múa bóng rỗi đó là các nguồn tài liệu này
thường chỉ tập trung nghiên cứu về bản thân tín ngưỡng thờ Bà và dường như ít
quan tâm đến việc nghiên cứu chủ thể thực hành tức nghiên cứu về các câu chuyện
cuộc đời của các ơng bà bóng gắn với thực hành múa bóng rỗi như nghiên cứu về
2
câu chuyện nghề nghiệp và bối cảnh xã hội Nam Bộ tác động lên nghề nghiệp của
họ hay như nghiên cứu về mối quan hệ giữa những con người đó, về đóng góp của
họ đối với sự trở lại/ phục hồi của tín ngưỡng, v.v... Đây là một vấn đề cịn bỏ ngỏ,
cần sự quan tâm, tìm hiểu của các nhà nghiên cứu.
Trên cơ sở những gì vừa trình bày ở trên, có thể thấy rằng thực hành múa
bóng rỗi và ơng bà bóng gắn với tín ngưỡng thờ Mẫu/ Bà của người Việt ở Nam Bộ
là một chủ đề rất cần được nghiên cứu trong giai đoạn hiện nay đặc biệt là về các
chủ thể ơng bà bóng.
Với những lý do nêu trên, tác giả chọn: “Ơng bà bóng trong thực hành múa
bóng rỗi của người Việt Nam Bộ” làm đề tài nghiên cứu của mình.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
Thơng qua nghiên cứu chuyên sâu về cuộc đời của các ông bà bóng; tập
trung vào các khía cạnh như q trình học nghề, mưu sinh và trải nghiệm sống, luận
án hướng tới cung cấp thêm những bàn luận về các chủ thể này trong thực hành
múa bóng rỗi cũng như cho thấy các chiều tương tác của bà bóng, nghề múa bóng
rỗi ở Nam Bộ hiện nay và làm rõ sự đóng góp của họ đối với thực hành này.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Từ mục đích nghiên cứu nêu trên, luận án đặt ra các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể
như sau:
Thứ nhất: Mô tả dân tộc học các câu chuyện cuộc đời của ơng bà bóng như:
cơ dun, hồn cảnh đến với nghề, quá trình học nghề, làm nghề, mưu sinh và trải
nghiệm sống.
Thứ hai: Phân tích và lý giải về căn ngun đến với nghề múa bóng rỗi của
ơng bà bóng và đồng thời nêu các “chiến lược” nhằm duy trì và phát triển nghề của
các chủ thể này trong thực tiễn.
Thứ ba: Phân tích và chỉ ra những đóng góp của ơng bà bóng trong việc gìn
giữ và phát huy thực hành múa bóng rỗi ở Nam Bộ hiện nay.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính của luận án là sáu ơng bà bóng (ơng bóng Ngọc
Cúc, 26 tuổi, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương; ơng bóng Ngọc Tân, 34
3
tuổi, quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh; ơng bóng Ngọc Hoa, 42 tuổi, quận Gị Vấp,
Thành phố Hồ Chí Minh; ơng bóng Út Nhỏ, 42 tuổi, huyện Châu Thành, tỉnh Long
An; ơng bóng Ngọc Long, 63 tuổi, thành phố Tân An, tỉnh Long An; ơng bóng Út
Mai, 55 tuổi, huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang). Họ đều là bóng tuồng1.
Ngồi đối tượng nghiên cứu chính này, tác giả cịn mở rộng tìm hiểu thêm
một số ơng bà bóng ở Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương, Long An,
Tây Ninh, Cần Thơ, Tiền Giang, Đồng Tháp, v.v… để có cái nhìn so sánh và khách
quan hơn.
Trong số sáu ơng bà bóng là đối tượng nghiên cứu chính nêu ở trên, hai
người có độ tuổi từ 26 đến 34; bốn người có độ tuổi từ 40 đến trên 60. Sở dĩ các ơng
bà bóng này được lựa chọn trong số nhiều ơng bà bóng ở Nam Bộ là vì họ là những
người tác giả có điều kiện tiếp xúc nhiều nhất trong hơn 10 năm qua (từ năm 2012
tới nay) và đã tạo dựng được mối quan hệ thân thiết. Tác giả xin được nhấn mạnh
rằng sáu ông bà bóng trong nghiên cứu này khơng đại diện cho tồn thể ơng bà
bóng ở Nam Bộ mà chỉ có thể được xem là những trường hợp điển hình trong thực
hành múa bóng rỗi. Họ là những ơng bà bóng xuất sắc (ba người trong số họ được
Chủ tịch nước phong tặng danh hiệu Nghệ nhân ưu tú); hơn nữa độ tuổi của họ đại
diện cho hai thế hệ bà bóng và không quá gần nhau về khoảng cách thế hệ, tức họ
gần như thuộc hai thế hệ làm nghề múa bóng. Điều đó sẽ giúp cho tác giả có cái
nhìn đa chiều hơn khi tìm hiểu về các câu chuyện liên quan đến cuộc đời của ơng bà
bóng. Để đảm bảo sự ẩn danh của những người cung cấp thông tin, trong luận án
này, tác giả chỉ sử dụng tên nghệ danh của các ơng bà bóng thay vì dùng tên khai
sinh ghi trong Chứng minh Nhân dân/ Căn cước cơng dân của họ.
Trong q trình gắn bó, “theo chân” sáu ơng bà bóng là đối tượng nghiên
cứu chính của luận án nói riêng và ơng bà bóng ở Nam Bộ nói chung, tác giả nhận
thấy các ơng bà bóng mặc dù có cả nam và nữ (nam nhiều hơn nữ), tuy nhiên dù có
là nam giới thì nét “nữ tính” của họ cũng bộc lộ nổi trội. Với ơng bà bóng dù là nam
hay nữ khi bước vào miễu Bà, thực hiện vai trò là người hầu cận, mua vui cho Bà,
thì tất cả đều được người dân gọi là các “bà/ cơ bóng”. Trong cách xưng hơ giao
tiếp với những người khác, các ơng bà bóng cũng tự xưng là cơ/ bà/ em và gọi
Bóng tuồng để phân biệt với bóng rí, bóng xác. Sẽ được minh định rõ trong mục 1.2.1 “Các khái niệm liên
quan đến vấn đề nghiên cứu của luận án”.
1
4
những người tiếp xúc với mình là anh/ chị/ tín chủ. Từ thực tế vừa nêu và để tôn
trọng, đề cao “tiếng nói của các chủ thể/ người trong cuộc”, từ đây, tác giả sẽ sử
dụng thuật ngữ bà bóng hay cơ bóng xun suốt luận án để chỉ chung cho những
người làm nghề múa bóng rỗi thay vì dùng là ơng bà bóng.
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Luận án tập trung nghiên cứu các bình diện cuộc đời của bà
bóng gắn với thực hành nghi lễ múa bóng rỗi ở Nam Bộ; tìm hiểu các căn ngun
đến với nghề bóng của họ cũng như các trải nghiệm liên quan gồm quá trình học
nghề, sống với nghề, mở rộng nghề, v.v… cũng như vị trí của họ trọng thực hành
múa bóng rỗi hiện nay khi mà bối cảnh xã hội đang đặt ra khơng ít những cơ hội và
thách thức.
Về khơng gian: Luận án nghiên cứu bà bóng tại bốn tỉnh thành khác nhau ở
Nam Bộ gồm Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Long An và Tiền Giang. Tuy
nhiên, do các bà bóng thường xuyên đi hành nghề xa nên phạm vi nghiên cứu của
luận án không chỉ dừng lại tìm hiểu những hoạt động nghề nghiệp và mối quan hệ
diễn ra tại nơi cư trú của họ mà còn ở cả những nơi khác – nơi mà các bà bóng là
đối tượng nghiên cứu chính của luận án tới hành nghề.
Về thời gian: Luận án sẽ tập trung bàn luận về các vấn đề liên quan trong
khoảng bảy năm trở lại đây khi mà thực hành múa bóng rỗi bắt đầu bùng phát trở lại
thành một hiện tượng. Khi này bối cảnh xã hội cũng có những chuyển đổi mạnh mẽ,
xuất hiện những rủi ro, bất trắc đối với nghề múa bóng rỗi của các bà bóng và tính
chất các mối quan hệ trong cơng việc của họ cũng trở nên đa dạng, phức tạp hơn.
4. Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
4.1. Cách tiếp cận
Trong nghiên cứu này, tác giả luận án sử dụng quan điểm tiếp cận của ngành
nhân học và nghiên cứu văn hóa. Theo đó, tác giả quan niệm việc nhìn nhận, đánh
giá về giá trị của các thực hành văn hóa phải được đặt trong bối cảnh của chính nền
văn hóa đó. Tác giả chú tâm đến các bối cảnh và cách thức mà thực hành múa bóng
rỗi của bà bóng được sử dụng và gán nghĩa. Thực hành múa bóng rỗi của bà bóng ở
luận án này vì vậy sẽ không được tiếp cận như một thực thể tĩnh tại, bất biến. Luận
án cũng khơng để nhằm mục đích tìm kiếm bản chất của thực hành múa bóng rỗi
5
hay để khái qt hóa về căn tính tộc người Việt ở Nam Bộ. Thực hành múa bóng rỗi
của bà bóng được xem xét và diễn giải trong bối cảnh xã hội và truyền thống văn
hóa người Việt nói chung và Nam Bộ nói riêng cũng như trong bối cảnh của những
tình huống mà các chủ thể phải đối diện hàng ngày.
Trong luận án này, tác giả coi các truyền thống và hành vi văn hóa đều có giá
trị như nhau và khơng đưa ra đánh giá mang tính định kiến ví dụ “đúng” hay “sai”,
“cao' hay “thấp”, “lạc hậu” hay “phát triển” khi tiếp cận và diễn giải về các hành vi,
thực hành nghi lễ múa bóng rỗi của bà bóng.
Bên cạnh đó, tác giả luận án cũng ln ý thức rằng cần phải đề cao cái nhìn
của người trong cuộc. Tác giả luận án sẽ mô tả, phân tích, diễn giải ý nghĩa của
hành vi, nghi lễ thực hành múa bóng rỗi của bà bóng từ quan điểm của chính các
chủ thể. Các quan sát cho thấy, quan điểm của người trong cuộc khi tham gia vào
các thực hành đời sống thường được định hình bởi hệ giá trị, niềm tin, vũ trụ quan,
phong tục tập quán của một nền văn hóa mà trong đó họ là thành viên. Để có thể
hiểu đúng, đủ và sâu về một thực hành nghi lễ của bà bóng, việc tìm hiểu quá trình
người thực hành diễn giải về ý nghĩa, chức năng của các thực hành văn hóa do
chính họ thực hiện luôn được xem là điều rất quan trọng. Trong q trình tiếp xúc,
tác giả luận án cịn chú ý đến cách diễn đạt của bà bóng và người dân khi tự đề cập
đến hành vi của chính họ.
Cách quan điểm tiếp cận được lựa chọn nêu trên sẽ giúp cho q trình diễn
giải về thực hành múa bóng rỗi của bà bóng trở nên thận trọng hơn, tránh được việc
chỉ nhìn cách đánh giá một hành vi trong thực hành nghi lễ theo kiểu là tốt hay xấu,
tiến bộ hay lạc hậu, nên được gìn giữ hay cần phải đào thải, loại trừ. Các quan điểm
tiếp cận này cũng sẽ giúp nhìn ra cách thức mà thực hành múa bóng rỗi của bà bóng
tham gia vào giải quyết những mối bận tâm của con người, cùng họ đối diện với
những vấn đề và ứng phó trước sự đổi thay của xã hội đương đại trong cả các lĩnh
vực kinh tế, văn hóa và xã hội.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Trong luận án này, tác giả sử dụng ba phương pháp nghiên cứu chính: (1)
phương pháp nghiên cứu định tính, điền dã dân tộc học với sự ưu tiên cho phương
pháp quan sát tham dự và phỏng vấn sâu khi thu thập tư liệu; (2) phương pháp tổng
6
hợp, phân tích các tài liệu thứ cấp và tìm kiếm tư liệu tại địa bàn; (3) phương pháp
lịch sử cuộc đời.
- Phương pháp quan sát tham dự và phỏng vấn sâu.
Đây là những phương pháp quan trọng của ngành dân tộc học/ nhân học. Sử
dụng phương pháp này cho phép tác giả luận án thâm nhập sâu vào thế giới của các
bà bóng, hiểu hơn về các mối quan hệ của họ cũng như nhìn rõ được bản chất của
vấn đề và giúp“diễn giải văn hóa từ cái nhìn của người trong cuộc”, tơn trọng tiếng
nói của người trong cuộc. Cụ thể:
+ Quan sát tham dự: Tác giả luận án đã tham dự và quan sát một số hoạt
động của các bà bóng nhiều lần tại các thời điểm tháng Chạp và ba tháng đầu của
mỗi năm Âm lịch. Đây cũng là thời điểm mà các bà bóng hoạt động nghề nghiệp
bận rộn nhất. Tác giả luận án đã tham gia và quan sát các buổi lễ như: lễ cúng tạ
trang tại tư gia; lễ vía Bà tại miễu; liên hoan múa bóng rỗi, v.v... Ngồi ra tác giả
cũng thực hiện quan sát tham dự một số buổi họp nhóm của các bà bóng và theo
chân họ đi làm lễ ở nhiều địa điểm khác nhau.
+ Phỏng vấn sâu: Tác giả luận án đã thực hiện nhiều cuộc phỏng vấn sâu với
nhiều đối tượng khác nhau. Về cơ bản có thể hình dung, liên quan đến nghề nghiệp
của sáu bà bóng cịn có người thân (mẹ, vợ, con, họ hàng, thầy dạy nghề), đối tác
(chủ đình, miễu, chủ tư gia có thờ Bà, các bà bóng khác), người dân tham dự lễ
cúng Bà, cơ quan quản lý văn hóa, v.v... Thêm nữa, mỗi bà bóng khi hành nghề có
thể hoạt động riêng lẻ một mình hoặc kết hơp với vài bà bóng khác tạo thành nhóm
bóng. Ngồi ra, cịn có đội ngũ chuyên lo về âm nhạc cho các bà bóng làm nghề và
họ cũng có thể hoạt động độc lập hoặc liên kết với một bà bóng hay một nhóm bóng
khác tùy mối quan hệ của họ. Vì vậy, để hiểu sâu về những câu chuyện cuộc đời,
chuyện nghề nghiệp của các đối tượng nghiên cứu chính nói riêng và các bà bóng
khác nói chung, tác giả đã phỏng vấn các đối tượng sau:
• Với sáu bà bóng: Tác giả luận án phỏng vấn sâu cả sáu bà bóng để tìm hiểu
về các câu chuyện cuộc đời, chuyện nghề của họ như: về cơ duyên, hoàn cảnh đến
với nghiệp múa bóng; về hành trình tập luyện để ra nghề của họ; về quá trình mưu
sinh và những trải nghiệm sống cá nhân; về định kiến xã hội nhìn nhận họ và nghề
nghiệp của họ; về vị trí, vai trị và đặc trưng trong nghề gắn với tín ngưỡng thờ Bà
7
của họ; về “chiến lược” để họ tồn tại với nghề và giữ nghề trong hồn cảnh cuộc
sống gặp khó khăn, làm nghề khơng đủ ni bản thân.
• Với người thân (Cha, mẹ, vợ, con, họ hàng ruột thịt, thầy dạy nghề): Tác
giả luận án đã tiến hành phỏng vấn sâu để hiểu về cảm nhận và suy nghĩ của họ về
nghề nghiệp của con, chồng, cha mình; đồng thời xét xem liệu rằng các bà bóng có
nhận được sự quan tâm, chia sẻ và giúp đỡ từ người thân.
• Với đối tác nghề nghiệp của các bà bóng (chủ đình, chủ miễu, chủ tư gia,
v.v… có thờ Bà): Tác giả luận án đã tiến hành phỏng vấn sâu họ để hiểu được quy
trình làm việc, trách nhiệm với nghề cũng như mối quan hệ, cách ứng xử của các bà
bóng với họ và ngược lại. Hiểu được thực tế nghề nghiệp của các bà bóng diễn ra
như thế nào.
• Với người dân: Khi theo chân bà bóng đi làm nghề, tại mỗi điểm dừng tác
giả luận án đều phỏng vấn từ 5 đến 7 người đến xem thực hành nghi lễ múa bóng
rỗi cúng Bà, để tìm hiểu niềm tin hiện nay của người dân đối với tín ngưỡng thờ Bà
Nam Bộ cũng như thị hiếu của họ đối với các tiết mục múa bóng rỗi mà bà bóng thể
hiện trong buổi cúng Bà.
• Ngồi các đối tượng phỏng vấn chính vừa nêu, tác giả luận án cịn phỏng
vấn một số bà bóng khác ở các tỉnh thành Nam Bộ như ở Đồng Nai, Bình Dương,
TP.HCM, Long An, Bến Tre, Đồng Tháp và Tiền Giang; để biết về thân phận của
họ và về mối quan hệ giữa những bà bóng này với nhau cũng như giữa các bà bóng
này với sáu đối tượng nghiên cứu chính của luận án.
Các tư liệu thu được từ phỏng vấn sâu và quan sát tham dự, tác giả luận án
đã chuyển thể thành Nhật kí thực địa và Tư liệu điền dã thơng qua việc gỡ băng. Đó
là những tư liệu điền dã có giá trị được dùng để trích dẫn trong luận án.
- Phương pháp tổng hợp, phân tích các tài liệu thứ cấp và tư liệu tại địa bàn
Phương pháp tổng hợp, phân tích các tài liệu thứ cấp được sử dụng để tổng
quan các tài liệu đã nghiên cứu – tài liệu tiếng Việt và tiếng Anh về chủ đề tín
ngưỡng thờ nữ thần/ Mẫu trên thế giới và ở Việt Nam, đặc biệt là các nghiên cứu ở
vùng Nam Bộ. Tác giả đã tìm kiếm và khai thác các tư liệu nghiên cứu về văn hóa
người Việt, lịch sử tộc người Việt ở Nam Bộ, tơn giáo tín ngưỡng, luật tục, phong
tục tập quán, các hình thức thực hành nghi lễ, cúng bái, sách múa hát, chuyện kể
8
dân gian, tục ngữ, lời ông cha, v.v... trong các thư viện Quốc gia, thư viện trường
đại học, phòng lưu trữ tại các huyện và từ chính các bà bóng. Nhiều tư liệu về thực hành
nghi lễ, lễ hội, bài bản rỗi do các bà bóng sưu tầm được lưu giữ một cách độc lập hoặc
được coi là “bảo bối hành nghề” cũng được tác giả tiếp cận. Nhiều buổi thực hành múa
bóng rỗi với bài bản rỗi được các bà bóng hát xướng, các hành vi, thao tác múa bóng đã
được tác giả sưu tầm, ghi âm, ghi chép lại để phục vụ cho việc viết luận án.
- Phương pháp lịch sử cuộc đời
Phương pháp lịch sử cuộc đời được tác giả sử dụng trong luận án để cơ bản
phác họa nên câu chuyện cuộc đời các bà bóng – chủ thể của thực hành múa bóng
rỗi trên các bình diện cụ thể sau:
Câu chuyện cơ duyên đến với nghề, q trình học nghề của bà bóng.
Câu chuyện làm nghề, “chiến lược” giữ nghề và trải nghiệm sống của bà
bóng.
Phương pháp lịch sử cuộc đời trong luận án này là kết quả của những ghi
chép, phóng vấn sâu sáu bà bóng – đối tượng nghiên cứu chính của luận án mà tác
giả đã có hơn 10 năm “theo chân”, gắn bó với họ.
5. Đóng góp mới về khoa học của luận án
Luận án là một nghiên cứu chuyên sâu và có hệ thống về bà bóng trong tín
ngưỡng thờ Bà ở Nam Bộ hiện nay. Kết quả nghiên cứu của luận án cung cấp một
cái nhìn tổng quan về bà bóng trên nhiều phương diện từ cơ duyên cho đến quá
trình hoạt động, duy trì nghề của các bà bóng cũng như về vị trí, vai trị của bà bóng
trong thực hành múa bóng rỗi ở Nam Bộ.
Trong bối cảnh phần lớn các nghiên cứu về thực hành múa bóng rỗi gắn với tín
ngưỡng thờ Mẫu/ thờ Bà ở Nam Bộ từ trước đến nay chỉ tập trung vào giới thiệu, mơ tả
tín ngưỡng thờ Bà, thực hành múa bóng rỗi và ít quan tâm đến các chủ thể thực hành –
bà bóng thì luận án này là một sự bổ khuyết cho khoảng trống nghiên cứu còn bỏ ngỏ.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
6.1. Ý nghĩa lý luận của luận án
Thông qua nghiên cứu về các bà bóng, luận án cung cấp một cái nhìn tồn
diện về chủ thể của thực hành múa bóng rỗi gắn với tín ngưỡng thờ Bà trong bối
9
cảnh xã hội Nam Bộ hiện nay. Kết quả luận án làm sâu sắc thêm hiểu biết chung về
thực hành múa bóng rỗi ở Nam Bộ cũng như chủ thể của thực hành này – bà bóng
khi đi sâu phân tích và chỉ ra các đặc điểm, đặc thù của nghề múa bóng rỗi; cách
thức bà bóng áp dụng để giữ nghề/ bảo lưu nghề trong điều kiện khi mà nghề múa
bóng rỗi đang gặp khơng ít khó khăn, thách thức.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn của luận án
Kết quả luận án sẽ cung cấp thêm những luận cứ quan trọng cho việc hoạch
định chiến lược phát triển liên quan đến thực hành múa bóng rỗi ở Nam Bộ.
Kết quả nghiên cứu của luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho sinh viên
và các nhà nghiên cứu quan tâm tới các chủ đề văn hóa, tơn giáo, tín ngưỡng trong đời
sống xã hội đương đại.
Kết quả của luận án cũng có thể là một tài liệu tham khảo cho các nhà quản
lý tơn giáo tín ngưỡng nói riêng và quản lý văn hóa nói chung; giúp họ có được một
cái nhìn sâu sắc và đa chiều hơn về các bà bóng và thực hành múa bóng rỗi, từ đó
đưa ra những quyết sách sát với thực tế quản lý hoạt động nghề của các bà bóng
cũng như những người thực hành tơn giáo tín ngưỡng truyền thống trên thực tế.
7. Cấu trúc của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận án được kết
cấu thành 4 chương sau đây:
Chương 1 – Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và địa bàn nghiên cứu
Chương 2 – Khái quát về thực hành múa bóng rỗi của người Việt ở Nam Bộ
Chương 3 – Cuộc đời bà bóng: hành trình với nghề, mưu sinh và trải nghiệm
sống
Chương 4 – Bà bóng, nghề múa bóng rỗi ở Nam Bộ và những chiều tương tác
10
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN
VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1. Những nghiên cứu về múa bóng rỗi Nam Bộ
Từ sau năm 1986, với sự cởi mở trong chính sách về tơn giáo tín ngưỡng của
Đảng và Nhà nước, đời sống tơn giáo tín ngưỡng ở nước ta nói chung và ở Nam Bộ
nói riêng có nhiều khởi sắc. Đi cùng với đó các chương trình/ dự án nghiên cứu và
hội thảo về tín ngưỡng thờ Mẫu/ Bà ở Nam Bộ cũng xuất hiện ngày càng nhiều.
Thực hành múa bóng rỗi của bà bóng bắt đầu được chú ý hơn bởi các học giả trong
và ngoài nước. Qua tổng quan các tài liệu về thực hành múa bóng rỗi mà tác giả
luận án có điều kiện tiếp cận, có thể thấy, thực hành này đã được xem xét ở các khía
cạnh sau đây:
1.1.1.1. Những nghiên cứu về nguồn gốc múa bóng rỗi
Xét về lịch sử nghiên cứu múa bóng rỗi, nhà nghiên cứu văn hóa Huỳnh
Ngọc Trảng là một trong những người đầu tiên khái quát và đưa ra nhận định về
nguồn gốc diễn xướng múa bóng rỗi ở Nam Bộ. Năm 1983, ông giới thiệu về Chặp
Địa Nàng trên tạp chí Nghiên cứu Nghệ thuật. Năm 1990, ơng giới thiệu về Hát
bóng rỗi trong sách Địa chí văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh (tập III), gồm 7 tiết
mục: 1 Lễ khai tràng; 2 Chầu mời – Thỉnh tổ; 3 Mời tiên ra tuồng; 4 Phước lộc; 5
Trạng – nàng xuống huê viên; 6 Địa – nàng; 7 Hát chặp [72]. Năm 1992, ông cho in
cuốn sách Địa Nàng chặp bóng tuồng hài Nam Bộ. Mục đích của tập sách này là
giới thiệu với người đọc về chặp bóng tuồng Địa Nàng hài hước của hát bóng rỗi
mà theo ông là một hình thức diễn xướng tổng hợp gồm ca, nhạc, múa và trị diễn.
Đặc biệt, năm 1993, ơng cơng bố bài viết Tìm hiểu nguồn gốc và đặc điểm của múa
bóng ở Nam Bộ. Qua bài viết này, trên cơ sở những luận cứ, luận điểm khoa học
ông kết luận: “múa bóng Nam Bộ có nguồn gốc trực tiếp từ múa bóng vùng cực
Nam Trung Bộ và có gốc gác gián tiếp từ múa nghi lễ Chăm. Từ sản phẩm Chăm đã
được Việt hóa trên mảnh đất này, múa bóng đã phát triển trong điều kiện tuồng và
trở thành một loại hình biểu diễn nghệ thuật chiếm địa vị thống trị trong xã hội”
11
[152]. Có thể nói, qua những cơng trình và bài viết trên cho thấy sự đóng góp đầy
tâm huyết của nhà nghiên cứu văn hóa Huỳnh Ngọc Trảng với việc nghiên cứu múa
bóng rỗi – một thực hành gắn với tín ngưỡng thờ Bà của người Việt ở Nam Bộ.
Đồng quan điểm với tác giả Huỳnh Ngọc Trảng, tác giả Huỳnh Văn Tới
trong cuốn Bản sắc văn hóa dân tộc và văn hóa dân gian Đơng Nam bộ cũng xác
nhận “Hát bóng rỗi, Địa – Nàng ở Đơng Nam bộ có diện mạo chung tương tự nội
dung mà tác giả Huỳnh Ngọc Trảng đã cơng bố; nhưng ít khi thể hiện đầy đủ các
tiết mục theo tiến trình đã nêu trên; thơng thường mỗi chương trình cúng miếu Bà
gồm các tiết mục: 1 Khai tràng, 2 Chầu mời, 3 Thỉnh tổ, 4 Chặp Địa – Nàng, Hát
bóng rỗi” [150]. Sau khi phân tích 4 tiết mục trên, tác giả đi đến kết luận: “Hát bóng
rỗi gắn liền với nghi lễ cúng tế thần linh nhưng bản thân nó khơng phải do sức
mạnh thần thánh, chẳng thể gọi là mê tín, dị đoan. Đây đích thực là nghệ thuật diễn
xướng dân gian, vốn quý trong kho tàng văn hóa dân tộc cần được trân trọng, giữ
gìn” [150, tr.161].
Trong bài viết Tìm về nguồn cội của hát bóng rỗi Nam Bộ [18], tác giả
Huỳnh Thanh Bình đã truy nguyên về nguồn cội xa xưa của Hát bóng rỗi. Cụ thể
tác giả đã đối chiếu trình thức thực hành nghi lễ Chăm với trình thức diễn xướng
nghi lễ của Bà La Mơn Ấn Độ mà chứng cứ còn bảo lưu trong các lễ hội Hindu
ngày nay. Xét thấy việc truy nguyên của tác giả bằng phương pháp so sánh như vậy
là công việc có nhiều triển vọng, giúp cho chúng ta có được những đối chứng lịch
sử - văn hóa lý thú về diễn xướng múa bóng rỗi của người Việt ở Nam Bộ.
1.1.1.2. Những nghiên cứu về đặc điểm diễn xướng của múa bóng rỗi
Bên cạnh các nghiên cứu của tác giả Huỳnh Ngọc Trảng và Huỳnh Văn Tới,
các bài viết và cơng trình: Tục thờ Bà và nghệ thuật múa bóng rỗi (2007) và Đặc
trưng nghệ thuật múa bóng rỗi (2017) của tác giả Mai Mỹ Duyên hay Chặp Địa
Nàng trong văn hóa người Việt ở Nam Bộ (2010) và Bóng rỗi và Chặp Địa nàng
trong tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt Nam Bộ (2013) của tác giả Nguyễn Thị
Hải Phượng cũng là những cơng trình có đóng góp quan trọng giúp hồn thiện hơn
nữa những góc nhìn về múa bóng rỗi Nam Bộ. Trong bài viết Đặc trưng nghệ thuật
múa bóng rỗi, tác giả Mai Mỹ Duyên với lập luận của mình đã đưa ra bốn đặc trưng
múa bóng rỗi là: 1 Yếu tố giới trong múa bóng rỗi; 2 Tính trực cảm của múa bóng
12
rỗi; 3 Tính nhân sinh trong múa bóng rỗi; 4 Tính chun nghiệp của múa bóng rỗi
và tác giả đi đến kết luận: “Múa bóng rỗi đặc biệt hơn các loại hình diễn xướng dân
gian khác, vì nó khơng chỉ đáp ứng nhu cầu đời sống tâm linh của cộng đồng mà
thỏa mãn nhu cầu giải trí của cộng đồng sau một mùa lao động vất vả” [101, tr.495].
Luận án Bóng rỗi và Chặp Địa nàng trong tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt Nam
Bộ, tác giả Nguyễn Thị Hải Phượng đã đứng ở góc độ Văn hóa học để tiếp cận đối
tượng nghiên cứu là Bóng rỗi và Chặp Địa nàng; so sánh một số nghi thức diễn
xướng khác nhau trong tín ngưỡng thờ nữ thần ở Nam Bộ; đồng thời đánh giá giá trị
của đối tượng nghiên cứu trong đời sống tâm linh của người dân Nam Bộ.
Các tác giả như Nguyễn Hữu Hiếu, Nguyễn Thị Nguyệt, Nguyễn Thị Hải
Phượng, Mai Mỹ Duyên, Phan Thị Yến Tuyết, v.v… khi bàn về đặc điểm của diễn
xướng múa bóng rỗi đều chung một nhận định “đây là một loại hình diễn xướng
dân gian và gắn với tín ngưỡng thờ nữ thần/ Bà ở Nam Bộ” [101]. Bên cạnh đó, các
tác giả trên cũng cơ bản thống nhất rằng múa bóng rỗi hiện nay là một nghề và cần
được các cấp chính quyền quan tâm, tạo điều kiện hơn nữa trong việc duy trì và
phát triển loại hình diễn xướng dân gian này.
1.1.1.3. Những nghiên cứu về giá trị của diễn xướng múa bóng rỗi
Song song với các cơng trình nghiên cứu của những tác giả nêu trên cịn có
hơn 100 bài viết của nhiều nhà nghiên cứu được đề cập trong hai kỷ yếu Tín ngưỡng
thờ Mẫu ở Nam Bộ bản sắc và giá trị (được tổ chức ở tỉnh Tiền Giang, 2007) và Tín
ngưỡng thờ nữ thần và thực hành bóng rỗi – Địa Nàng ở Nam Bộ (được tổ chức ở
tỉnh Đồng Nai, 2017). Các bài viết này là kết quả bước đầu và quan trọng tạo tiền đề
cho việc nghiên cứu các bình diện mới của thực hành múa bóng rỗi gắn với bản sắc
và giá trị văn hóa của người Việt ở Nam Bộ.
Tác giả Trần Diễm Thùy với bài viết “Nhận diện diễn xướng bóng rỗi ở
miền Tây Nam Bộ hiện nay” [101], đã phác họa diễn xướng múa bóng rỗi ở các tỉnh
An Giang, Tiền Giang, Long An, Bến Tre, một cách sinh động và chân thực. Qua
việc mô tả công việc của các bà bóng, tác giả đã phần nào khái quát được giá trị văn
hóa của cộng đồng người ở những địa phương đó hay nói một cách khác đó chính là
bản sắc văn hóa riêng của các địa phương được hiểu thơng qua thực hành diễn
xướng múa bóng rỗi.
13
Tác giả Vũ Đình Trung, có bài nghiên cứu “Nghệ thuật diễn xướng bóng rỗi
Địa nàng nhìn từ miễu Bà cây Quéo” [101]. Đây là một nghiên cứu trường hợp
được thực hiện ở xã Thạnh Phú, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai. Thông qua nghiên
cứu này, chúng ta biết thêm được diễn xướng nghi lễ múa bóng rỗi được diễn ra ở
nơi từng là căn cứ địa cách mạng (miễu Bà Cây Quéo) và như tác giả đã đề cập thì
thơng qua diễn xướng này: “thể hiện được truyền thống tri ân, “uống nước nhớ
nguồn” của con người với thần linh, với tổ tiên và với những người đã khuất” [101,
tr.567].
Nhìn chung các nghiên cứu nêu trên đã khái quát được thực hành múa bóng
rỗi trong tín ngưỡng thờ nữ thần/ thờ Bà của người Việt Nam Bộ, giúp người đọc có
thể nhận ra những nét đặc trưng tiêu biểu của thực hành tín ngưỡng này. Bên cạnh
đó, với việc mơ tả chi tiết các tiết mục của hát bóng rỗi, Chặp Địa – Nàng, các tác
giả đã chỉ rõ cho người đọc thấy được nội dung đầy đủ của một chương trình múa
bóng rỗi ở Nam Bộ với những tiết mục. Tuy nhiên, các nghiên cứu này chủ yếu đi
sâu vào việc khảo tả trình thức biểu diễn, ghi chép lại kịch bản của chặp Địa Nàng,
Bóng rỗi và giải nghĩa câu chữ trong kịch bản, các tác giả chưa hệ thống và chưa đi
sâu vào việc xem xét các bình diện của người thực hành nghi lễ, tức chưa nghiên
cứu sâu về các bà bóng và nghề thực hành múa bóng rỗi – một nghề nghiệp đặc
biệt/ đặc thù của họ trong bối cảnh xã hội hiện nay. Đó chính là chỗ cần bổ sung
cho những nghiên cứu tiếp theo về thực hành múa bóng rỗi của bà bóng trong tín
ngưỡng thờ Mẫu/ Bà của người Việt ở Nam Bộ.
1.1.2. Những nghiên cứu về bà bóng Nam Bộ
Mặc dù trong quá trình tổng quan tài liệu những ghi chép liên quan đến múa
bóng rỗi tương đối nhiều song dường như cho đến nay chưa có một cơng trình
nghiên cứu chuyên sâu nào về người thực hành múa bóng rỗi tức nghiên cứu sâu về
bà bóng và nghề nghiệp của họ. Tuy nhiên, vẫn có thể kể đến những cơng trình, bài
viết có những phần đề cập đến bà bóng như Gia Định thành thơng chí (Trịnh Hồi
Đức 1972) [69], Đại Nam nhất thống chí (Tu Trai Nguyễn Tạo dịch 1973) [136;
137], Nói về miền Nam, Cá tính miền Nam, Thuần phong mỹ tục Việt Nam (Sơn
Nam 2009) [125], Xứ trầm hương (Quách Tấn 2002) [138], Múa bóng rỗi nghệ
thuật tâm linh và giải trí (Mai Mỹ Duyên 2014) [54], Luận án Bóng rỗi và chặp Địa
14
nàng (Nguyễn Thị Hải Phương 2013) [131] v.v...
Trịnh Hoài Đức là một trong những người đầu tiên nhắc đến các bà bóng ở
Nam Bộ, trong sách Gia Định thành thơng chí, ơng có ghi: “Gia Định ở về địa vị
Dương minh (phương nam), nhiều người trung dũng khí tiết, trọng nghĩa khinh tài,
dù hàng phụ nữ cũng thế. Họ hay chuộng đạo Phật, tin việc đồng bóng, kính trọng
nữ thần, như: bà Chúa Ngọc, bà Chúa Động (quen gọi người phu nhân tôn quý bằng
Bà), Bà Hỏa Tinh, Bà Thủy Long và cô Hồng, cô Hạnh”, v.v... [62, tr.4]. Đại Nam
nhất thống chí – Lục tỉnh Nam Việt, của Quốc sử quán triều Nguyễn đã mô tả phong
tục tỉnh Định Tường “Người Nam Bộ (...) hay tụng kinh lễ Phật, chuộng ma quỷ, tin
đồng bóng cúng lễ, ưa đãi khách khơng kể tổn phí, cúng lễ hay dùng cơ đồng múa
hát lấy làm vui thú” [136, tr.103]. Và ở tỉnh An Giang “sĩ chuộng thi thơ, dân siêng
cày ruộng, dệt vải (...) nhiều người hào phóng; tập thượng xa hoa, y phục ưa sắc đỏ;
tật bệnh tin dùng đồng bóng, có khi dùng phù pháp của Cao – Nam, Đồ Bà (...) cầu
đảo thì chuộng hát xướng, hồn nguyện việc gì thì hay thắp thiên đăng” [136, tr.9].
Tuy khơng mơ tả nhiều về bà bóng nhưng hai tập sách trên đã vẽ phác thảo được
đường nét ban đầu về một bức tranh phản ánh đời sống tín ngưỡng của người Việt
Nam Bộ khi công cuộc khẩn hoang lập ấp đã định hình. Qua đó, cũng cho phép
chúng ta giả định được rằng trước đó ở Nam Bộ, tục thờ nữ thần và bà bóng đã khá
phổ biến trong đời sống tâm linh của cộng đồng và ở đó các bà bóng đã xuất hiện.
Một trong những cơng trình có mơ tả về bà bóng đáng được nhắc tới nữa là
Xứ trầm hương của nhà văn Quách Tấn. Trong tác phẩm của mình ơng mơ tả:
“Thời tiền chiến, đến ngày vía Bà (ngày 3 tháng 3 Âm lịch) nhân dân
địa phương tổ chức lễ cúng tế rất long trọng. Ban đêm có lệ múa bóng
ở trước sân tháp. Điệu múa Bóng là điệu múa của Chiêm Thành
truyền lại. Người múa toàn là con gái. Áo xiêm rực rỡ; đầu đội, người
cổ hoa tươi, kẻ đèn lồng ngũ sắc. Đèn và hoa trồng cao như ngọn
tháp. Vũ nữ múa theo điệu đàn điệu trống, nhào lộn nhịp nhàng dưới
ánh đuốc ánh đèn hừng hẫy. Họ múa rất khéo và rất tài. Chẳng những
đôi tay đôi chân luôn luôn cử động, vừa dẻo vừa mềm, mà đầu và thân
cũng luôn luôn ngửa nghiêng uốn éo theo bước chân nhịp tay, rộn
ràng đều đặn. Thế mà đèn và hoa đội trên đầu, không vịn không đỡ
15
mà vẫn không hề lay không hề dịch, dường như có những bàn tay vơ
hình đỡ nâng” [138, tr.165-166].
Qua mơ tả điệu múa của người Chăm trong lễ cúng Bà (do các vũ nữ thực
hiện) tác giả Quách Tấn đã gần như khái quát được chân dung của các bà bóng
Chăm trong việc thực hành nghi lễ của mình, giúp độc giả bước đầu hình dung ra
được nghề nghiệp của bà bóng gắn với tín ngưỡng thờ nữ thần.
Tác giả Sơn Nam, một người gần như dành cả cuộc đời nghiên cứu của mình
viết về Nam Bộ, về con người, lịch sử nơi đây. Ông được nhiều độc giả cùng các
nhà nghiên cứu trân trọng, gọi bằng danh xưng mến phục “Nhà Nam Bộ học Sơn
Nam”. Một số cơng trình tiêu biểu của ơng như: Đình miếu và hội dân gian Việt
Nam (1994), Nghi Thức và lễ bái của người Việt (1997), Đất Gia Định – Bến Nghé
xưa và người Sài Gịn (tái bản 2007). Trong đó đặc biệt là tập sách biên khảo Nói về
Miền Nam, Cá tính Miền Nam, Thuần phong mỹ tục Việt Nam (tái bản 2007) ông
viết: “Ta hiểu đây là những bà bóng múa rỗi, họ bày trò xiếc, trên đầu chiếc đũa, đặt
cái đĩa, cử động nhẹ khiến cái đĩa quay trịn, khơng rớt, hoặc cắm vào mồm một cái
chân bàn nhỏ, ba chân kia nằm nghiêng, hàm răng cắn quá chặt khiến cái bàn không
rơi, hoặc cắn khúc cây ngắn, ở đầu khúc cây đặt cái ve chai dựng đứng. Ở trong
Nam, những bà bóng nổi danh thường là “ái nam ái nữ” (...) thiếu âm nhạc, đàn,
sáo, hoặc thiếu tiếng vỗ tay để đánh nhịp của đồng bọn thì khơng trình diễn có kết
quả được” [125, tr.365]. Với chỉ trên dưới bảy dịng, Sơn Nam đã mơ tả về lối múa
đồ chơi của các bà bóng; tuy khơng phân tích nhiều về họ và nghề nghiệp của họ
nhưng với lối quan sát tài tình ơng đưa ra đã khẳng định thường các bà bóng giỏi,
có tiếng tăm là những người “ái nam ái nữ”. Qua đó ơng khái qt nên được phong
tục tập quán và thú ham thích văn nghệ của cư dân Nam Bộ cùng các trị diễn mang
tính tạp kỹ của các bà bóng.
Ở một góc độ khác, với nhiều năm gắn bó với nghiên cứu múa bóng rỗi Nam
Bộ, tác giả Mai Mỹ Dun trong cơng trình Múa bóng rỗi nghệ thuật tâm linh và
giải trí ở Nam Bộ, đã khẳng định múa bóng rỗi là một nghề nghiệp và nêu bốn cái
“có” của một nghệ nhân bóng rỗi đó là: a) có giọng rỗi tốt; b) có kỹ thuật múa nghi
lễ điêu luyện, đẹp mắt; c) có kỹ thuật múa đồ chơi khéo léo, chính xác; d) có sự
khéo léo để làm đồ thủ công, như: cắt mâm vàng, vàng mã [54, tr.59].
16
Nhìn chung, những cơng trình kể trên phần nào ít nhiều cũng nhắc đến bà
bóng ở Nam Bộ trong vai trị người thực hành nghi lễ múa bóng rỗi. Tuy các tác giả
tiếp cận bà bóng ở những góc độ và tùy thời điểm lịch sử khác nhau nhưng cơ bản
đều khẳng định bà bóng khơng thuần nhất về giới tính; có kỹ năng trong thực hành
nghi lễ và chịu ảnh hưởng từ văn hóa Chăm. Đó chính là những đóng góp quý báu
của các tác giả cho nghiên cứu về múa bóng rỗi nói riêng và tín ngưỡng thờ Bà ở
Nam Bộ nói chung. Tất cả các nghiên cứu này đã gợi ý giúp cho tác giả luận án mở
rộng tìm hiểu sâu về các khía cạnh của bà bóng cùng nghề nghiệp của họ như
nghiên cứu về thân phận; yếu tố giới trong nghề nghiệp hay thực tiễn hoạt động
nghề và giữ nghề cũng như các mối quan hệ trong nghề nghiệp trong của họ đặt
trong bối cảnh xã hội Nam Bộ hiện nay, v.v...
1.1.3. Những nghiên cứu về người thực hành nghi lễ tín ngưỡng tơn giáo
Trên thế giới nghiên cứu về shaman – người thực hành nghi lễ trong tín
ngưỡng tơn giáo đã được đề cập trong rất nhiều các hội thảo, bài viết, cơng trình
nghiên cứu. Theo như các nghiên cứu của James A. Overton (1998), E.R Leach
(1962) và Evans Pritchard (1956), “Các shaman là những người có khả năng tự đưa
mình vào trạng thái xuất thần. Ý thức, tinh thần và tâm lý của họ biến đổi và họ làm
nhiệm vụ trung gian giữa con người với thần linh để giao tiếp với thần linh, nương
tựa vào sức mạnh của thế giới siêu nhiên để làm những việc như: hành lễ, chữa
bệnh, phù phép, tiên báo hậu vận cho cá nhân hay cộng đồng, ban ơn phúc và bảo
hộ cho cá nhân hay cộng đồng” (dẫn theo Fung Jee Vui, 2007) [68]. Đồng quan
điểm về shaman với các tác giả trên, nhà nhân học người Mỹ Fiona Bowie trong
The Anthropology of Religion nhận định “shaman là một nhân vật có khả năng đặc
biệt về tơn giáo, là người có vai trị trung gian giữa con người và thần linh, hỏi ý
kiến những vấn đề nan giải trong đời sống của cộng đồng, có khả năng nhập thần để
tiếp kiến thần linh hỏi cách chữa bệnh, cầu sự sinh sôi nảy nở, cầu xin được bảo vệ
trong chiến tranh, cầu hướng dẫn linh hồn người chết” [175, tr.19]. Từ những
nghiên cứu thực tế về cộng đồng người dân Nam Mỹ, Landon trong Shamanism and
Anthropology (1992), cũng cho rằng: “người làm shaman là trung tâm trong các
nghi thức hành lễ bởi ơng ta đóng vai trị trung gian giữa người trần gian với thế lực
siêu phàm, giữa tự nhiên và văn hóa. Người này mang dáng dấp khi tỏ khi mờ, ông
17
ta vừa là người vừa là vật vì ơng ta có thể biến đổi từ người sang vật. Ơng ta vốn
không tốt cũng không xấu bởi hành động của ông ta vừa mang lại lợi ích lẫn nỗi bất
hạnh cho người khác” [185, tr.103-104].
Nhìn chung những nghiên cứu của các học giả nước ngồi kể trên đều nhìn
nhận shaman là những người có thể giao tiếp với “thần linh” và có quyền lực nhất
định trong đời sống xã hội của con người.
Ở Việt Nam nghiên cứu về shaman – người thực hành trong tơn giáo tín
ngưỡng có thể kể đến những cơng trình, bài viết của nhà nghiên cứu văn hóa Ngơ
Đức Thịnh: Đạo Mẫu và các hình thức shaman trong các tộc người ở Việt Nam và
Châu Á (2004), Lên đồng hành trình của thần linh và thân phận (2010); của
Nguyễn Kim Hiền: Lên đồng ở Việt Nam một sinh hoạt văn hóa tâm linh mang tính
trị liệu (2004); của Nguyễn Thị Hiền: Nghiên cứu tơn giáo, tín ngưỡng ở Việt Nam
đương đại (2010); của Phan Thị Yến Tuyết: Tri thức bản địa về shaman giáo trong
các cộng đồng cư dân Việt, Khmer và Hoa tại Nam Bộ (2010); của Đoàn Thị
Tuyến: Sự hồi sinh của nghi lễ Then và vấn đề bảo tồn văn hóa tộc người trong xã
hội Việt Nam hiện đại (2014) v.v...
Trong những cơng trình nghiên cứu về lên đồng của mình, tác giả Ngơ Đức
Thịnh nhìn nhận hiện tượng lên đồng trong tín ngưỡng thờ Mẫu là sự nhập hồn
nhiều lần của các thần linh Tứ phủ vào thân xác của các bà đồng, ông đồng để trị
bệnh, cầu sức khỏe, tài lộc, may mắn, v.v… [143, tr.7]. Ông nêu quan điểm Lên
đồng của ông bà đồng là nghi lễ đặc trưng của Đạo Mẫu Tam phủ, Tứ phủ của
người Việt. Nghi lễ này mang trong nó chất shaman giáo, một loại hình tín ngưỡng
khá phổ biến trong nhiều dân tộc ở nước ta cũng như trên thế giới, mà điển hình
nhất là của các dân tộc vùng thảo nguyên Châu Á và Xibêri [145]. Đặc biệt là trong
cuốn sách Lên đồng hành trình của thần linh và thân phận, với cách tiếp cận văn
hóa dân gian từ góc độ tơn giáo tín ngưỡng, tác giả Ngô Đức Thịnh không dừng lại
ở việc nhận diện và nhận thức bản chất của hiện tượng lên đồng, mà bước đầu đã
khái quát nên các khía cạnh tâm sinh lý và trị liệu của nó, vấn đề cơ đày mang đầy
tính bí ẩn, vấn đề ái nam ái nữ và quan hệ đồng giới, v.v… Các khía cạnh kinh tế,
xã hội của lên đồng cũng được tác giả đặt ra từ cách tiếp cận giới và cuối cùng là sự
giải phóng các khát vọng của phụ nữ trong xã hội cổ truyền và xã hội hiện đại ở
18