BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Thị Ngọc Hiền
Q TRÌNH PHÁT TRIỂN
TÍNH CÁCH NGƯỜI VIỆT NAM BỘ
THẾ KỶ XVII - XIX
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Thành phố Hồ Chí Minh – 2011
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Thị Ngọc Hiền
Q TRÌNH PHÁT TRIỂN
TÍNH CÁCH NGƯỜI VIỆT NAM BỘ
THẾ KỶ XVII - XIX
Chuyên ngành: Lịch sử Việt Nam
Mã số:
60 22 54
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Người hướng dẫn khoa học:
TS. LÊ HUỲNH HOA
Thành phố Hồ Chí Minh – 2011
MỤC LỤC
Trang phụ bìa
MỞ ĐẦU
.............................................................................................................. 1
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ LÝ LUẬN, ĐIỀU KIỆN HÌNH THÀNH VÀ
PHÁT TRIỂN TÍNH CÁCH NGƯỜI VIỆT NAM BỘ
1.1. Những vấn đề lý luận ............................................................................................10
1.1.1. Khái niệm tính cách ................................................................................ 10
1.1.2. Tính cách dân tộc: ................................................................................... 12
1.2. Những nhân tố cơ bản định hình và phát triển tính cách người Việt Nam Bộ ...14
1.2.1. Tính cách người Việt truyền thống ........................................................ 14
1.2.2. Các điều kiện tác động đến tính cách người Việt Nam Bộ..................... 16
Tiểu kết chương 1 ................................................................................................ 34
CHƯƠNG 2: TÍNH CÁCH NGƯỜI VIỆT NAM BỘ HÌNH THÀNH TRONG QUÁ
TRÌNH ĐỊNH CƯ VÀ KHAI PHÁ VÙNG ĐẤT NAM BỘ THẾ KỶ XVII
– XVIII
2.1. Hoàn cảnh lịch sử vùng đất Nam Bộ thế kỷ XVII, XVIII ....................................36
2.2. Tính cách người Việt Nam Bộ bước đầu hình thành trong quá trình khẩn hoang tự phát.
..................................................................................................................................40
2.2.1. Tác động của điều kiện tự nhiên ............................................................. 40
2.2.2. Tác động của yếu tố xã hội .................................................................... 42
2.3. Tính cách người Việt Nam Bộ được củng cố trong quá trình thúc đẩy khẩn hoang lập
làng của các chúa Nguyễn ......................................................................................44
2.4. Tác động của nền kinh tế thị trường.......................................................................52
2.5. Tác động từ tính mở của văn hóa Nam Bộ ............................................................55
Tiểu kết chương 2 ................................................................................................ 58
CHƯƠNG 3: TÍNH CÁCH NGƯỜI VIỆT NAM BỘ PHÁT TRIỂN ĐẬM NÉT Ở
THẾ KỶ XIX
3.1. Hoàn cảnh lịch sử vùng đất Nam Bộ nửa đầu thế kỷ XIX ...................................59
3.1.1. Tác động từ chính sách thúc đẩy khẩn hoang, lập đồn điền của triều Nguyễn
3.1.2. Tác động từ chế độ sở hữu ruộng đất dưới triều Nguyễn ..................... 65
3.1.3. Tác động từ nền kinh tế hàng hóa .......................................................... 69
59
3.2. Vùng đất Nam Bộ thời Pháp thuộc (1858 -1884) .................................................69
3.2.1. Tác động từ công cuộc khẩn hoang dưới thời Pháp thuộc (1858 – 1884 ) ...... 70
3.2.2. Tác động từ công cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp xâm lược và sự cai trị của
thực dân Pháp .......................................................................................... 75
3.2.3. Tác động từ những ảnh hưởng của văn hóa phương Tây ...................... 81
3.2.4. Tác động từ nền kinh tế hàng hóa Nam Bộ thế kỷ XIX ......................... 83
Tiểu kết chương 3 ................................................................................................ 87
CHƯƠNG 4: ĐẶC TRƯNG TÍNH CÁCH NGƯỜI VIỆT NAM BỘ .............. 89
4.1. Lòng yêu nước nồng nàn và tinh thần đấu tranh bất khuất ...................................89
4.2. Tính trọng nghĩa khinh tài.......................................................................................92
4.3. Tính hào phóng và lịng hiếu khách .......................................................................95
4.4. Tính năng động và sáng tạo ....................................................................................97
4.5. Tính thiết thực ....................................................................................................... 100
Tiểu kết chương 4 .............................................................................................. 103
KẾT LUẬN .......................................................................................................... 105
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................... 110
PHỤ LỤC
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nam Bộ, là vùng đất mang dấu ấn về nhiều mặt; bởi trên dải đất vừa mới mở mang,
lịch sử đã đi qua với bao nỗi thăng trầm. Trải hơn 300 năm khai phá, lớp lớp thế hệ người
Việt từ vùng đất sinh tụ lâu đời của mình là châu thổ sơng Hồng, sơng Mã và dải đất ven
biển miền Trung đã nối tiếp nhau đến đây lập nghiệp. Với truyền thống kiên cường bất
khuất, tinh thần lao động cần cù, người Việt cùng các tộc người anh em khác đã gìn giữ và
sáng tạo nên cuộc sống với những giá trị bền vững được lưu truyền qua nhiều thế hệ. Bản
sắc đó được thể hiện trong lối sống, trong giao tiếp, trong ngôn ngữ, trong tư tưởng, tình
cảm, nghệ thuật … Nó phản ánh phẩm chất, tính cách của con người Việt Nam nói chung và
người Việt Nam Bộ nói riêng.
Q trình Nam tiến, quá trình mở mang khai phá đất đai là q trình người Việt tiếp
cận với văn hóa mới, điều kiện tự nhiên mới, hoàn cảnh xã hội mới. Trên cơ sở của điều
kiện mới đã nâng sức sống con người lên tầm cao mới với một tính cách mang dấu ấn lịch
sử đặc thù. Hay nói cách khác tính cách người Việt Nam Bộ được hình thành do sự tác động
qua lại giữa thiên nhiên, xã hội, con người trên nền tảng tính cách con người Việt Nam
truyền thống. Trong khung cảnh vùng đất mới – vùng đất Nam Bộ, q trình khai phá mở
mang lãnh thổ cũng chính là quá trình người Việt chứng tỏ sức chịu đựng trước những thử
thách, tài sáng tạo trước các tình huống khắc nghiệt, sự hòa đồng tuyệt diệu với những con
người thuộc các dân tộc khác nhau; để rồi qua thời gian đã dần hình thành tính cách của
người Việt Nam Bộ.
Hiện nay, mục tiêu của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, là xây dựng con người
mới, nền văn hóa mới xã hội chủ nghĩa. Trong bối cảnh đó, vấn đề con người được đặt lên
hàng đầu. Chính vì thế mà việc tìm hiểu “Q trình phát triển tính cách người Việt Nam Bộ
thế kỷ XVII – XIX” có ý nghĩa quan trọng. Vì nghiên cứu tính cách người Việt trong quá
khứ sẽ giúp chúng ta hiểu người Việt hiện đại sâu sắc hơn. Trong những năm qua, đã có rất
nhiều những cơng trình nghiên cứu về Nam Bộ trên tất cả các lĩnh vực nhằm phục dựng lại
bộ mặt của vùng đất này. Điều đó chứng tỏ vùng đất và con người Nam Bộ có sức cuốn hút
đặc biệt.
Về mặt lý luận, việc nghiên cứu đặc điểm, tính cách người Việt Nam Bộ là tiếp cận
một khía cạnh quan trọng trong việc nghiên cứu về con người, là cơ sở để góp phần xây
dựng chiến lược phát triển con người Việt Nam nói chung và con người Nam Bộ nói riêng.
Về mặt thực tiễn, việc nghiên cứu “Quá trình phát triển tính cách người Việt Nam
Bộ thế kỷ XVII – thế kỷ XIX” góp phần giáo dục đạo đức tư tưởng cho thế hệ trẻ về lòng
yêu quê hương, con người, đặc biệt là những người Việt Nam Bộ cần cù và sáng tạo trong
lao động sản xuất, anh dũng kiên cường, chống giặc ngoại xâm - từ đó có thái độ và trách
nhiệm xây dựng vùng Nam Bộ vững mạnh.
Mặt khác việc nghiên cứu “Quá trình phát triển tính cách người Việt Nam Bộ thế kỷ
XVII – thế kỷ XIX” cịn giúp tơi nâng cao nhận thức về lịch sử Nam Bộ nói riêng và lịch sử
Việt Nam nói chung; bổ sung hệ thống kiến thức cần thiết phục vụ cho việc giảng dạy lịch
sử địa phương ở trường phổ thơng.
2. Mục đích nghiên cứu
- Phục dựng bức tranh về “Q trình phát triển tính cách người Việt Nam Bộ thế kỷ
XVII – thế kỷ XIX” gắn liền với quá trình phát triển của lịch sử Nam Bộ, với những chuyển
biến của các quan hệ xã hội trong quá trình người Việt khai phá, mở mang vùng đất phương
Nam.
- Tập trung nghiên cứu những yếu tố: tự nhiên, sự quần tụ của cư dân, sinh hoạt kinh
tế, giao lưu văn hóa ở vùng đất Nam Bộ, quá trình lao động đấu tranh chống cường quyền,
đấu tranh bảo vệ quê hương của người Việt Nam Bộ đã tác động đến việc hình thành và
phát triển tính cách người Việt phương Nam. Tính cách con người được hình thành và phát
triển song song với lịch sử khai phá vùng đất Nam Bộ thế kỷ XVII – XIX.
- Nêu bậc một số tính cách cơ bản và nổi trội người Việt Nam Bộ. Mục đích để hiểu
giá trị tinh thần truyền thống dân tộc, vị trí và tác dụng của những giá trị đó trong việc xây
dựng người Việt Nam Bộ mới, góp phần xây dựng và phát triển đất nước.
3. Lịch sử nghiên cứu vấn đề:
Đề tài “Quá trình phát triển tính cách người Việt Nam Bộ thế kỷ XVII - thế kỷ
XIX”, được thực hiện dựa trên sự kế thừa nghiêm túc và có chọn lọc các kết quả nghiên cứu
trước đây liên quan đến đề tài bao gồm các nội dung về vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên,
kinh tế, văn hóa và các nhân tố khác có tác động đến việc hình thành tính cách người Việt
Nam Bộ.
– Đầu tiên là quyển “Phủ biên tạp lục” của nhà bác học Lê Quý Đôn (1726 – 1783)
được viết vào khoảng năm 1776, là thời điểm diễn ra cuộc khẩn hoang, mở mang lãnh thổ
về phía Nam. Tác phẩm có những tư liệu q về cảnh quan, mơi trường thiên nhiên, những
biến động về kinh tế - chính trị, con người vùng đất Nam Bộ khi chưa khai phá.
– Tác phẩm “Gia Định thành thơng chí” của tác giả Trịnh Hoài Đức (1765 – 1825)
được viết vào đầu thế kỷ XIX thời vua Gia Long (1802 – 1820). Đây là quyển địa phương
chí đầu tiên đề cập một cách khái quát về địa giới, vùng đất, sản vật, núi sơng. Trong đó tác
giả cịn đề cập đến đặc điểm con người Nam Bộ thông qua việc đánh giá về đặc điểm của cư
dân 5 trấn (Phiên An, Biên Hòa, Vĩnh Thanh, Định Tường, Hà Tiên). Tuy nhiên đó chỉ là
những nét chấm phá mang tính cục bộ của từng địa phương và còn sơ lược.
– Bộ “Đại Nam thực lục” của Quốc sử quán triều Nguyễn, được vua Minh Mệnh cho
biên soạn vào năm 1821, gồm hai phần: Đại Nam thực lục tiền biên ghi chép giai đoạn lịch
sử từ khi Nguyễn Hoàng vào Nam (1558) đến đời chúa Nguyễn Phúc Thuần (1777); Đại
Nam thực lục chính biên ghi chép từ lúc Nguyễn Ánh bơn ba tìm cách khơi phục lại quyền
lực (1777) đến năm Đồng Khánh mất (1889). Bộ sách được viết theo lối biên niên nên là bộ
tư liệu quý ghi chép khá đầy đủ, khắc họa đậm nét xã hội Việt Nam, trong đó có Nam Bộ.
– Tác phẩm “ Đại Nam nhất thống chí – Lục tỉnh Nam Việt” là bộ sách địa lý – lịch
sử được biên soạn thời Tự Đức từ năm 1865 hoàn thành năm 1882. Tác phẩm ghi chép từng
tỉnh và mỗi tỉnh đều có nói về phong tục, con người Nam Bộ. Tuy nhiên cơng trình chỉ phản
ánh sơ lược, rời rạc, chưa thành hệ thống và chỉ là tính cách chung của các dân tộc ở Nam
Bộ, chứ không nói riêng về tính cách người Việt Nam Bộ.
Tóm lại, thư tịch cổ viết về Nam Bộ, về tính cách con người Nam Bộ về cơ bản là
phong phú nhưng còn rời rạc đang xen với nhiều lĩnh vực khác nhau. Vì vậy rất cần có
những cơng trình nghiên cứu có hệ thống, hồn chỉnh về tính cách người Việt Nam Bộ.
Theo chiều hướng đó, các tư liệu trên dẫu chưa đầy đủ vẫn là nguồn tư liệu quý cho việc
tham khảo và đối chiếu trong quá trình nghiên cứu triển khai đề tài.
Bên cạnh những thư tịch cổ, hiện nay cũng có nhiều cơng trình nghiên cứu về tính
cách con người, tính cách dân tộc, tính cách người Đồng Nai – Cửu Long hoặc đề cập trực
tiếp hoặc được lồng vào tính cách người Việt Nam nói chung.
Trước hết là những tác phẩm của nhà văn Sơn Nam, người có nhiều tác phẩm viết về
vùng đất Nam Bộ. Đầu tiên là Quyển “Văn minh miệt vườn” xuất bản năm (1970) đề cập
khá chi tiết về nếp sống vật chất và sinh hoạt tinh thần của cư dân Nam Bộ từ thế kỷ XIX
đến thế kỷ XX. Thứ hai là quyển “Cá tính miền Nam” xuất bản năm (1974) là một cơng
trình có giá trị chuyên biệt. Song tác giả không chỉ rõ đặc điểm về tính cách miền Nam mà
thiên về miêu tả đời sống kinh tế vật chất và tín ngưỡng. Qua những trang viết đậm chất
Nam Bộ này, người đọc có thể tìm thấy những nhận định của tác giả về người Việt ở vùng
đất mới.
Trong quyển “Bút ký Đồng bằng sông Cửu Long” của nhà văn Phan Quang do Nhà
xuất bản Trẻ phát hành năm 1998, tác giả có bài viết “Nghĩ về tính cách con người” đề cập
những đặc điểm nổi bật trong tính cách của người nơng dân Nam Bộ dựa trên nét tính cách
chung của người Việt Nam, nhưng vẫn còn sơ lược, chưa đầy đủ.
Quyển Kỷ Yếu Hội thảo “Nam Bộ và Nam Trung Bộ những vấn đề lịch sử thế kỷ
XVII – XIX”, tháng 5 – 2002, do Bộ giáo dục và Đào tạo trường Đại học sư phạm thành
phố Hồ Chí Minh phát hành, có bài viết của tác giả Trần Bạch Đằng nghiên cứu về: “Tính
năng động, sáng tạo của người Việt sống trên đất Phương Nam”, tác giả đã đề cập tính cách
người Việt trên dãy đất phương Nam. Tuy nhiên, bài viết chỉ nói hai tính cách đặc trưng là
tính năng động và sáng tạo của người Việt sống trên đất phương Nam mà thôi.
Quyển “Nam Bộ đất và người” – tập 2, do Hội khoa học lịch sử thành phố Hồ Chí
Minh biên soạn, năm 2004 là quyển sách tập hợp các bài viết về đất và người Nam Bộ.
Trong đó có bài viết của TS. Nguyễn Hữu Nguyên về “Những cơ sở hình thành tính cách,
năng lực của người Nam Bộ và xu hướng kế thừa, phát triển”, tác giả đã nói cơ sở hình
thành tính cách năng lực của người Nam Bộ do sự tác động của mơi trường sinh thái, hồn
cảnh lịch sử và điều kiện kinh tế - xã hội.
Quyển “Nam Bộ đất và người – tập 4”, do Hội khoa học lịch sử thành phố Hồ Chí
Minh biên soạn, năm 2007 cũng là quyển sách tập hợp các bài viết về đất và người Nam Bộ.
Đáng chú ý là bài viết của PGS. Huỳnh Lứa về: “Quá trình khai phá vùng Đồng Nai - Cửu
Long và sự hình thành một số tính cách, nếp sống và tập quán của người nông dân Nam
Bộ”. Đây là bài viết nói rõ tính cách người Việt được hình thành cùng với cơng cuộc khẩn
hoang khai phá, tuy nhiên vẫn cịn sơ lược.
Bên cạnh đó, các cơng trình nghiên cứu tính cách người Việt Nam Bộ dưới góc độ
văn hóa cũng khá nhiều:
Tác phẩm “Việt Nam văn hóa sử cương” được tác giả Đào Duy Anh viết vào những
năm 1938, là cơng trình văn hóa đầu tiên đề cập tính cách con người nhưng đó là tính cách
chung của cả nước.
Tác phẩm “Tìm hiểu tính cách dân tộc” của tác giả Lê Hồng Phong xuất bản 1963 là
tác phẩm nghiên cứu tính cách con người trên lĩnh vực văn hóa, văn nghệ, tác giả nêu những
tính cách của cả dân tộc trên cả nước Việt Nam.
Bài viết của tác giả Thạch Phương với nhan đề: “Từ vốn văn học dân gian, nghĩ về
tính cách con người đồng bằng Cửu Long – Đồng Nai”, đăng trong quyển: “Mấy đặc điểm
văn hóa Đồng bằng sơng Cửu Long”, xuất bản năm 1984, đề cập đến tính cách con người là
một bằng chứng thể hiện rõ tính cách con người hình thành từ trong lao động, trong chiến
tranh.
GS.TSKH.Trần Ngọc Thêm có bài viết “Tính cách văn hóa Nam Bộ” in trong “Nam
Bộ đất và người” – tập 6, do Hội khoa học lịch sử thành phố Hồ Chí Minh biên soạn, xuất
bản 2008. Tác giả mơ tả những đặc trưng tính cách văn hóa con người Nam Bộ hình thành
từ nguồn gốc, bối cảnh xã hội Nam Bộ. Trên cơ sở đó, luận văn có thể tham khảo những nét
tính cách đặc trưng của người Việt Nam Bộ.
Ngồi ra, luận văn cịn tham khảo những cơng trình nghiên cứu về Nam Bộ đề cập ở
mức độ nhất định hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp về vấn đề miền Nam trong quá trình nghiên
cứu như:
Quyển “Nói về miền Nam” của nhà văn Sơn Nam, xuất bản năm 1967, tác giả nói về
miền Nam từ thế kỷ XVII về thiên nhiên, xã hội miền Nam và đề cập đến cá tính riêng của
người miền Nam so với cả nước.
“Người Việt Nam có dân tộc tính khơng?” của nhà văn Sơn Nam, xuất bản năm
1969, tác giả cho rằng những người đến Nam Bộ do những điều kiện tự nhiên tác động đã
tạo nên những con người có cá tính riêng.
“Lịch sử khẩn hoang miền Nam” của nhà văn Sơn Nam xuất bản năm 1973 tập hợp
những bài viết về lịch sử của Nam Bộ có liên quan đến q trình hình thành tính cách con
người.
Quyển “Đồng bằng sơng Cửu Long – nét sinh hoạt xưa”, của nhà văn Sơn Nam, xuất
bản năm 1985, cũng cung cấp về thiên nhiên, con người Nam Bộ.
Tác phẩm “Lịch sử khai phá vùng đất Nam Bộ” do Huỳnh Lứa chủ biên xuất bản
năm 1987, đã góp phần tìm hiểu sâu hơn về q trình khai phá vùng đất Nam Bộ; thơng qua
đó có thể rút ra những điều kiện trực tiếp hoặc gián tiếp tác động đến quá trình hình thành,
phát triển tính cách người Việt Nam Bộ.
Tác phẩm “Đất Gia Định - xưa” xuất bản năm 1997, nhà văn Sơn Nam đã đề cập
đến, vấn đề đất đai, phong tục và con người Nam Bộ.
Ngồi ra cịn có một số tác phẩm như “Góp phần tìm hiểu vùng đất Nam Bộ thế kỷ
XVII, XVIII, XIX” của Huỳnh Lứa xuất bản năm 2000, “Đồng bằng sông Cửu Long nghiên
cứu và phát triển” do Nguyễn Cơng Bình chủ biên, “Lược sử vùng đất Nam Bộ” của Vũ
Minh Giảng chủ biên …
Nhìn chung, các tác phẩm mà tôi đã từng tham khảo chưa đi sâu tìm hiểu sự hình
thành, đặc điểm tính cách người Việt Nam Bộ trong điều kiện của công cuộc khẩn hoang mà
chỉ đề cập đến một trong các yếu tố về cơ sở hình thành, đặc điểm hoặc gián tiếp qua việc
miêu tả sinh hoạt đời sống của con người. Những bài viết chuyên đề tuy có đi sâu vào một
vài khía cạnh nào đó nhưng trên bình diện chung chưa được hệ thống, chưa phản ánh một
cách toàn diện, khái quát vấn đề. Như vậy, chủ đề này vẫn còn nhiều vấn đề đặt ra cho giới
nghiên cứu.
Với mong muốn trình bày vấn đề một cách có hệ thống, đầy đủ hơn đặt trong bối
cảnh lịch sử cụ thể của Việt Nam trước năm 1945 dưới tác động của điều kiện chủ quan và
khách quan, người viết muốn làm rõ quá trình hình thành, phát triển, một số biểu hiện cụ thể
tính cách người Việt Nam Bộ. Trên cơ sở những tư liệu hiện có, với khả năng cho phép của
mình, người viết đã tập hợp, lựa chọn, phân tích, xử lý tư liệu để hồn thành đề tài.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Chủ đề của luận văn là “Q trình phát triển tính cách người Việt Nam Bộ thế kỷ
XVII – thế kỷ XIX ”, nên luận văn sẽ đi sâu nghiên cứu tính cách người Việt Nam Bộ được
hình thành và phát triển trong quá trình lịch sử khi người Việt đến Nam Bộ để mở mang
khai phá đất đai và sinh sống. Đối với người Việt Nam tính cách được hình thành trong quá
trình dựng nước, giữ nước và tiếp tục phát triển cùng với thời gian dưới tác động của điều
kiện tự nhiên, lịch sử, và kinh tế, văn hóa - xã hội; cịn đối với người Việt Nam Bộ, tính
cách của họ hình thành và phát triển gắn liền với lịch sử khai phá, mở mang, phát triển
vùng đất Nam Bộ.
Không gian nghiên cứu là vùng đất Nam Bộ bao gồm cả hai khu vực thuộc lưu vực
sông Đồng Nai và sông Cửu Long – địa bàn định cư cuối cùng của những lưu dân người
Việt. Về thời gian, luận văn giới hạn trong các thế kỷ XVII – thế kỷ XIX. Cụ thể là từ năm
1620, Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên gả công chúa Ngọc Vạn cho vua Chân Lạp (Chey
ChettaII) [22, 27] tạo điều kiện thuận lợi cho người Việt đến khai phá đất đai, định cư và
sinh sống ở vùng đất Nam Bộ; và kết thúc vào thế kỷ XIX khi thực dân Pháp tiến hành xâm
lược Việt Nam và cũng là lúc nhà Nguyễn đã mở rộng vùng đất Nam Bộ đến tận mũi Cà
Mau.
Tuy nhiên, tính cách người Việt Nam Bộ mang sắc thái truyền thống của dân tộc Việt
sống trên lãnh thổ Việt Nam, tính cách đó đã theo những di dân đến miền Nam Việt Nam,
do đó luận văn có mở rộng để so sánh với tính cách người Việt ở Bắc Bộ và người Việt
Trung Bộ để làm rõ hơn tính cách người Việt Nam Bộ. Quá trình mở mang và khai phá
miền Nam Việt Nam thế kỷ XVII – XIX đã từng bước định hình và phát triển tính cách
người Việt Nam Bộ - một vùng đất hấp dẫn có sức thu hút và tầng số lan tỏa ngày càng
mạnh cũng bởi giá trị đích thực do nó tạo nên (sức lan tỏa đó khơng phải chỉ trước đây mà
ngày nay vẫn tiếp tục hấp dẫn).
5. Phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu:
5.1 Phương pháp nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, luận văn vận dụng phương pháp lịch sử và phương pháp logic.
Đây là những phương pháp cơ bản sử dụng trong luận văn. Trong đó, phương pháp lịch sử
đóng vai trò chủ đạo.
Phương pháp hệ thống hóa: Hệ thống lại những vấn đề được viết tản mạn, rải rác
trong các tư liệu và nhiều nguồn tư liệu khác nhau có liên quan đến tính cách người Việt
Nam Bộ trong các thế kỷ XVII – XIX.
Phương pháp so sánh: Dùng phương pháp này để đối chiếu tính cách người Việt Nam
Bộ với tính cách người Việt Bắc Bộ và người Việt Trung Bộ.
Phương pháp liên ngành: trong quá trình thực hiện đề tài, luận văn kết hợp chủ yếu
các loại tài liệu và kế thừa thành tựu nghiên cứu của các ngành khác nhau như tâm lý học,
giáo dục học, địa lý, khảo cổ học, văn học….
5.2 Nguồn tài liệu
Trong quá trình thực hiện luận văn, chúng tôi nghiêm túc kế thừa không chỉ tư liệu
mà cả về lý luận của các công trình đi trước có liên quan đến đề tài. Nguồn tư liệu có trong
Thư viện Khoa học Xã Hội, Thư viện Khoa học Tổng hợp, Thư viện Đại học Sư phạm thành
phố Hồ Chí Minh. Đây là nguồn sử liệu từ các thư tịch cổ, cơng trình nghiên cứu, các sách
chun khảo có vai trị quan trọng nhất. Bên cạnh đó cịn những bài viết trong báo, tạp chí
chun ngành, những báo báo cáo tham luận trong các cuộc hội thảo, các luận văn, luận án
và những bộ môn khác … cũng là nguồn tư liệu mang tính cập nhật cao được sử dụng trong
luận văn.
6. Những đóng góp mới của luận văn
- Khái quát tổng thể quá trình lịch sử góp phần hình thành, phát triển tính cách người
Việt Nam Bộ thế kỷ XVII – XIX: nêu công lao khẩn hoang của người Việt, quá trình khai
phá và định cư của người Việt trên vùng đất mới, để thấy sự phát triển tính cách con người
trong lao động qua thời gian lịch sử.
- Góp phần làm phong phú thêm khối lượng tư liệu lịch sử liên quan đến quá trình
phát triển tính cách người Việt Nam Bộ thế kỷ XVII – XIX. Nguồn tư liệu này bổ sung
nghiên cứu văn hóa Nam Bộ nói riêng và văn hóa Việt Nam nói chung.
- Đóng góp một số kết luận cụ thể về những ưu khuyết điểm của tính cách con người
Nam Bộ. Trên cơ sở đó có những có những giải pháp cụ thể để giáo dục học sinh góp phần
xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn hiện nay.
7. Bố cục của luận văn
Luận văn gồm có 4 chương:
Chương 1: Những vấn đề về lý luận, điều kiện hình thành và phát triển tính cách
người Việt Nam Bộ.
Chương 2: : Tính cách người Việt Nam Bộ hình thành trong quá trình định cư và
khai phá vùng đất Nam Bộ thế kỷ XVII – XVIII
Chương 3 : Tính cách người Việt Nam Bộ phát triển đậm nét ở thế kỷ XIX
Chương 4: Những đặc trưng tính cách người Việt Nam Bộ.
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ LÝ LUẬN, ĐIỀU KIỆN HÌNH THÀNH VÀ
PHÁT TRIỂN TÍNH CÁCH NGƯỜI VIỆT NAM BỘ
1.1. Những vấn đề lý luận
Các Mác có một định nghĩa nổi tiếng “Con người là tổng hòa các quan hệ xã hội”.
Điều đó cũng bao hàm ý nghĩa con người là sản phẩm của lịch sử. Con người là chủ thể của
xã hội, nhưng tính cách của con người lại chịu sự tác động của mơi trường thiên nhiên và
hồn cảnh xã hội mà con người sinh sống. Người Việt Nam dù ở đâu trên dãy đất này, đều
có những đặc điểm chung của dân tộc, bởi lẽ họ cùng một cội nguồn, một cộng đồng dân tộc
vốn đã ổn định từ rất sớm về mặt ngôn ngữ, lãnh thổ, sinh hoạt kinh tế, tâm lý … [36, 129]
Mỗi một dân tộc đều có tính cách riêng của mình, khơng dân tộc nào giống dân tộc nào.
Hoàn cảnh thiên nhiên - những điều kiện đất đai, điều kiện địa lý tự nhiên khác nhau - cũng
ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển tính cách của con người. Do vậy, muốn tìm hiểu
tính cách của người Việt Nam Bộ hình thành và phát triển thế nào, nhất thiết phải tìm hiểu
lịch sử mở mang vùng đất phương Nam. Yếu tố này đã góp phần quan trọng cho sự định
hình và phát triển tính cách người Việt Nam Bộ.
Mỗi dân tộc đều có tính cách riêng của mình. Cho nên khi tìm hiểu tính cách dân tộc,
cần phải tìm hiểu khái niệm tính cách là gì? Tính cách dân tộc là gì? Tính cách dân tộc chứa
đựng những điểm gì? Tính cách dân tộc hình thành trên cơ sở nào ? Để từ những đặc điểm,
cơ sở đó có thể thấy được tính cách có thay đổi hay khơng để lý giải vì sao có tính cách
người Việt Nam Bộ.
1.1.1. Khái niệm tính cách
- Theo tâm lý học :
“Tính cách là một thuộc tính tâm lý phức hợp của cá nhân bao gồm một hệ thống thái
độ của nó đối với hiện thực, thể hiện trong hệ thống hành vi cử chỉ, cách nói năng tương
ứng”.
Trong cuộc sống hàng ngày, ta thường dùng từ “tính tình”, “tính nết”, “tư cách” …
để chỉ tính cách. Những nét tính cách tốt thường được gọi là “đặc tính”, “lịng”, “tinh thần”
… Những nét tính cách xấu thường được gọi là “thói”, tật” …
Tính cách mang tính ổn định và bền vững, tính thống nhất đồng thời cũng thể hiện
tính độc đáo, riêng biệt điển hình cho mỗi cá nhân. Vì thế tính cách của mỗi cá nhân là sự
thống nhất giữa cái chung và cái riêng, cái điển hình và cái cá biệt. Tính cách của cá nhân
chịu sự chế ước của xã hội”. [61, 144]
Hay “Tính cách là sự kết hợp độc đáo các đặc điểm tâm lí ổn định của con người,
những đặc điểm này quy định phương thức hành vi điển hình của người đó trong những điều
kiện và hoàn cảnh sống nhất định, thể hiện thái độ của họ đối với thế giới xung quanh và
bản thân.” [ 65, 245]
- Còn Từ điển giáo dục học định nghĩa tính cách như sau:
“Tính cách là sự kết hợp độc đáo các đặc điểm tâm lí chủ yếu và ổn định của một
người tạo nên phong cách ứng xử của người ấy trong các tình huống, hoàn cảnh sinh hoạt
nhất định và thể hiện thái độ của người ấy đối với thế giới xung quanh và bản thân. Tính
cách của con người được hình thành bởi những điều kiện xã hội mà người ấy đã và đang
sống, trong đó có điều kiện giáo dục, cho nên nó cũng phản ánh những điều kiện và lối sống
của người ấy, đồng thời cũng thay đổi theo sự thay đổi của các điều kiện xung quanh. Các
yếu tố di truyền trong thể chất, trong hệ thần kinh chỉ có ảnh hưởng gián tiếp, nhưng khơng
quyết định đến sự hình thành của tính cách, nhất là về mặt phẩm chất đạo đức. Tính cách
của con người là thể thống nhất những nét tính cách cá biệt và điển hình bởi vì mọi người
đều có những điều kiện sống và mơi trường hoạt động riêng, nhưng đồng thời cũng không
tách khỏi những điều kiện sống và môi trường hoạt động điển hình chung cho nhiều người,
do đó tính cách của người này khác tính cách của người kia ở sự kết hợp các nét tính cách
nổi bật của mỗi người. Trong mỗi kết hợp các nét tính cách, tức trong nét tính cách có thể
tách ra làm hai nhóm:
1/ Nhóm thứ nhất biểu thị những thái độ đối với thực tiễn như với xã hội, với tập thể,
với thành quả lao động, với bản thân mình v.v do đó mà có các nét tính cách tốt như tinh
thần tập thể, ý thức kỷ luật, ý thức lao động, lòng nhân ái, tính vị tha v.v. và các nét tính
cách xấu như: tính ích kỷ, vơ kỷ luật, lười lao động, tính giả dối v.v
2/ Nhóm thứ hai biểu thị những điều kiện thuộc về ý chí chi phối hoạt động của con
người, trong đó có những nét tính cách tốt như: chí tiến thủ, tính kiên nhẫn, tinh thần kiên
quyết, lịng dũng cảm v.v, và các nét tính cách xấu như: tính bảo thủ, tính khơng kiên nhẫn,
tính nhát gan v.v [ 2, 289]
Theo định nghĩa trên, khái niệm tính cách được định nghĩa chung cho mỗi cá nhân
với đặc điểm riêng điển hình và như vậy sẽ khơng thể phân biệt được dân tộc này với dân
tộc khác. Cịn ở đây luận văn tìm hiểu tính cách chung của người Việt Nam Bộ ở thế kỷ
XVII - XIX, tính cách đó hình thành trên cơ sở của người Việt cội nguồn nhưng đến Nam
Bộ trên một vùng đất mới, tiếp xúc với một nền văn minh, văn hóa mới người Việt Nam Bộ
đã phát triển hoặc lắng đọng những đức tính của mình tạo nên nét đặc sắc riêng của người
Việt Nam Bộ.
“Vậy tính cách chứa đựng những điểm gì? – Đó là tồn bộ những đặc điểm tâm lý có
tính chất bền vững hình thành trong con người ta. Các đặc điểm ấy nói lên thái độ và hành
vi đối với xã hội, đối với bản thân, đối với nghề nghiệp, và những đặc điểm về ý chí và
phẩm chất con người. Tất cả cái đó gọi là tính cách.” [ 53, 20]
Vì những nét tính cách của con người là những biểu thị thái độ của con người đối với
hiện thực, đối với điều kiện và hồn cảnh sống nhất định, cho nên chính những thái độ đó
làm cho người này khác người kia. Và tập hợp những nét tính cách riêng, điển hình của từng
người sẽ tìm hiểu được tính cách của một dân tộc.
1.1.2. Tính cách dân tộc:
Một dân tộc khơng phải là một con người, mỗi con người cũng không phải là một
điển hình cho tính cách dân tộc của họ. Mỗi dân tộc đều có đặc trưng, đặc điểm về tinh thần
của mình khác với các dân tộc khác, những đặc điểm ấy tạo nên tính cách dân tộc. Vậy tính
cách dân tộc là gì?
Để tìm hiểu “Q trình phát triển tính cách người Việt Nam Bộ thế kỷ XVII - thế kỷ
XIX”, cần phải tìm hiểu khái niệm tính cách dân tộc. Tác giả Nguyễn Hồng Phong, một nhà
nghiên cứu sử học khi nghiên cứu về tính cách dân tộc trong tác phẩm “Tìm hiểu tính cách
dân tộc” có nêu câu hỏi “Cần phải nghiên cứu tính cách dân tộc như thế nào?” Và câu trả lời
như sau:
“Trước tiên cần phải tìm hiểu khái niệm dân tộc tính. Khái niệm dân tộc tính thực ra
rất bao quát, chứa một nội dung gồm nhiều nhân tố nhằm xác định đặc điểm dân tộc này với
dân tộc khác …” [53, 18]
Tính cách dân tộc được hình thành do ảnh hưởng của hồn cảnh tự nhiên, điều kiện
kinh tế, văn hóa xã hội nhất định. Cho nên có thể định nghĩa: “Tính cách dân tộc là những
đặc điểm của tâm lý dân tộc hình thành trong quá trình phát triển lâu dài của lịch sử, nó
phản ánh những điều kiện sinh sống của dân tộc, bao gồm toàn bộ những ấn tượng tiếp thu ở
môi trường xung quanh. Mỗi dân tộc đều có tính cách riêng của mình.” [ 53, 20]
Tính cách người Việt Nam Bộ hình thành và phát triển trên cơ sở nào? Sự hình thành
và phát triển tính cách con người chịu sự tác động của nhiều nhân tố, cả nhân tố sinh học lẫn
nhân tố xã hội. Tính cách dân tộc là sự phản ánh những điều kiện sinh sống của dân tộc, do
đó nó khơng thể tách khỏi các điều kiện xã hội trong đó tính cách ấy hình thành và phát
triển trong q khứ và hiện tại. Chính vì “Tính cách dân tộc hình thành trên những điều kiện
kinh tế và xã hội nhất định cho nên khi những điều kiện kinh tế, xã hội đã thay đổi thì tính
cách dân tộc cũng thay đổi theo. Khơng làm gì có một tính cách dân tộc cố định, bất biến,
không bao giờ thay đổi. Một dân tộc ở trong các giai đoạn lịch sử khác nhau, có những tính
cách khác nhau.” [ 53, 22 – 23]
Tính cách của người Việt Nam Bộ được hình thành từ người Việt ở đồng bằng sông
Hồng nhưng khi di cư vào Nam từ thế kỷ XVII đã chịu sự tác động của những điều kiện và
hoàn cảnh lịch sử vùng đất Nam Bộ nên phát triển thành tính cách riêng chỉ có ở người Việt
Nam Bộ, khác với tính cách của người Việt ở miền Bắc và miền Trung.
Tuy nhiên, khi nghiên cứu tính cách theo quan niệm của lịch sử, dựa trên những nhân
tố cấu thành nên tính cách con người sẽ thấy có những nhân tố thay đổi nhanh, có những
nhân tố thay đổi chậm, và trong sự thay đổi của một nhân tố nào đó cũng có mặt thay đổi,
có mặt chưa thay đổi. Chẳng hạn điều kiện thiên nhiên và cuộc đấu tranh chống thiên nhiên
của Việt Nam ở miền Bắc – Nam đều giống nhau, vấn đề chống lũ lụt, đắp đê … thì cũng
chỉ khác nhau một ít, vậy thì những đặc tính nào được hình thành trên cơ sở ấy thì rõ ràng là
vẫn được củng cố và phát triển trong các giai đoạn tiếp theo. Hay nhân tố đấu tranh chống
ngoại xâm cũng vậy, thời phong kiến hay chống Pháp, ở miền Bắc – miền Nam việc đó
cũng được lắp đi lắp lại, hình thành một truyền thống dân tộc và những yếu tố tích cực sẽ
được phát triển tạo nên một nét mới của tinh thần dân tộc.
Nhìn lại lịch sử mở đất phương Nam thế kỷ XVI – thế kỷ XVIII, sẽ thấy thành phần
cư dân chính là những người lao động, vì những nguyên nhân khác nhau họ đã rời bỏ quê
cha đất tổ của mình vào Nam lập nghiệp. Cho nên, khi nghiên cứu quá trình phát triển tính
cách người Việt Nam Bộ, phần lớn là nghiên cứu tính cách của nhân dân lao động, người
chiếm tuyệt đại đa số trong dân tộc, người sáng tạo nên tất cả, là lực lượng chủ yếu trong
cuộc đấu tranh sản xuất, đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp, là lực lượng tiêu biểu, thể
hiện một cách sâu sắc nhất, đầy đủ nhất và toàn diện nhất, liên tục và lâu bền nhất cho tính
cách dân tộc. Cịn các thành phần khác như giai cấp thống trị, thành phần trí thức cũng là
một lực lượng góp phần khơng nhỏ cho sự hình thành và phát triển tính cách tốt đẹp của dân
tộc.
Như vậy, q trình phát triển tính cách của người Việt Nam Bộ là sự tiếp thu và sàng
lọc những nét tính cách của người Việt cội nguồn gắn liền với điều kiện lịch sử, tự nhiên,
kinh tế, xã hội và văn hóa Nam Bộ. Cho nên để tìm hiểu sự phát triển tính cách người Việt
Nam Bộ, cần căn cứ vào điều kiện lịch sử, phong tục tập quán, kinh tế và văn hóa xã hội nơi
họ sống để nêu lên những đặc điểm nổi bật nhất, phổ biến nhất và tương đối cơ bản nhất. Có
như vậy mới nói lên đầy đủ tính cách của dân tộc và nhận thức ra tính dân tộc đó là gì, mặt
nào tiên tiến cần tiếp thu, cái nào lỗi thời, lạc hậu cần phải trừ bỏ.
Nói tóm lại, “Tính cách dân tộc là một cấu trúc tinh thần được định hình trong một
quá trình lịch sử lâu dài, trên cơ sở những điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, văn hóa, thay
đổi rất chậm chạp trong sự vận động và phát triển. Tính cách là hệ thống những đặc điểm,
phẩm chất tồn tại một cách khách quan, tất yếu trong cách sống, cách ứng xử, hành động
của con người mà ta có thể nhận thấy ở số đơng thành viên của cộng đồng trong cuộc sống
hàng ngày ….” [3, 1]
Tính cách con người Việt Nam khơng phải có sẵn ngay từ buổi ban đầu và càng đặc
biệt hơn khi nói tính cách người Việt Nam Bộ, mặc dù có cùng nguồn gốc tổ tiên với người
Việt miền Bắc, miền Trung nhưng họ lại có tính cách khác biệt so với người Việt Bắc Bộ,
Trung Bộ bởi họ chịu sự tác động của hoàn cảnh lịch sử, tự nhiên - xã hội và văn hóa Nam
Bộ từ khi họ rời miền Bắc, miền Trung xa xôi vào miền Nam lập nghiệp.
1.2. Những nhân tố cơ bản định hình và phát triển tính cách người Việt Nam Bộ
1.2.1. Tính cách người Việt truyền thống
Lịch sử khai phá vùng đất Nam Bộ là một quá trình lịch sử lâu dài, gian khổ và phức
tạp. Kể từ lúc người Việt đầu tiên đặt chân lên đất Bà Rịa bắt đầu khai phá vùng đất phì
nhiêu Nam Bộ cha ông ta đã mất trên một thế kỷ.
Trong suốt thời gian định cư, khai phá vùng đất mới, những lưu dân Việt đã dần tạo
dựng nên một sắc thái văn hóa mới, dựa trên nền tảng văn hóa truyền thống. Dù rằng nguồn
gốc tính cách người Việt Nam Bộ đã được hình thành trong quá trình lịch sử dân tộc, có
nguồn gốc từ lịch sử. Tuy nhiên tính cách đó khơng cịn ngun vẹn trong hàng thế kỷ khẩn
hoang. Bởi những điều kiện mới của vùng đất mới, cùng với những đặc trưng vốn có của
lưu dân Nam Bộ qua nhiều đời đã dần kết tụ lại thành tính cách người Việt Nam Bộ.
Để lý giải sâu hơn và rõ hơn một câu hỏi lớn được đặt ra là vì sao lại có nét riêng biệt
đó? Muốn trả lời cần điểm lại nguồn gốc người Việt Nam Bộ ở thế kỷ XVII – XIX họ là ai?
Trong bài viết “Mấy đặc tính của nông dân đồng bằng Cửu Long - Đồng Nai” in trong
quyển “Mấy đặc điểm văn hóa đồng bằng sơng Cửu Long”, Viện văn hóa xuất bản năm
1984 giáo sư Trần Văn Giàu có viết:
“Gốc gác người nơng dân Lục Tỉnh chủ yếu có ba nguồn gốc:
- Thứ nhất là những người dân Trung, Bắc bần cùng lưu tán hay muốn tránh khỏi sự
phân tranh đẫm máu kéo dài giữa chúa Trịnh và chúa Nguyễn, từ đầu thế kỷ XVII đã lần
lượt theo gió mùa vào vùng Đồng Nai – Cửu Long để kiếm sống và an thân. Họ là những
toán tiên phong vũ trang bằng óc phiêu lưu mạo hiểm, bằng cán búa, lưỡi cày, tấm lưới.
- Thứ nhì những người (số ít) có tiền của, có quyền thế, chiêu mộ dân nghèo (số
đông) ở miền Trung đi vào Nam khẩn đất theo chính sách dinh điền của nhà Nguyễn.
- Thứ ba là những lính tráng với nhiều tội đồ được triều đình sai phái, bắt buộc vào
Nam lập đồn điền, vừa bảo vệ biên cương, giữ trị an, vừa mở mang ruộng lập vườn xung
quanh cứ điểm quân sự.” [ 36, 104]
Như vậy, nhìn tổng thể cư dân Nam Bộ đa phần là những người nông dân nghèo khổ,
chỉ một số ít giàu có. Vì vậy đa số họ lâm vào bước đường cùng buộc phải rời bỏ quê hương
làng mạc. Những người nông dân di cư này về tính cách vẫn là người Việt Nam sống trên
đất nước Việt Nam, do đó về bản chất họ vẫn mang tính cách Việt Nam đã hình thành trong
q trình dựng nước và giữ nước.
“ Tất cả những gì là cốt tử của tinh thần dân tộc, của văn hóa dân tộc, tất cả những gì
đã tạo nên con người Việt Nam, tất cả cái gì mà quá trình đấu tranh của dân tộc ta để lại
trong con người Việt Nam, tất cả những cái đó đều có trong con người miền Nam và người
miền Bắc”. [ 4, 8]
Ngoài ra, “Trong quá trình phát triển vào Nam, cái cốt tủy, cái tinh túy của dân tộc
tuy căn bản có giữ, nhưng về một mặt nào hay một phạm vi nào đó, có bớt đi ít nhiều,
nhưng một mặt khác, nó lại sáng tạo thêm, phát triển thêm. Nhờ đó, tính cách dân tộc của
chúng ta thêm phong phú”. [ 4, 8]
Đó là lời khẳng định người Nam Bộ mang trong mình tính cách truyền thống của
người Việt Nam, nhưng việc mở rộng công cuộc khẩn hoang và sản xuất nông nghiệp trong
các thế kỷ XVII, XVIII và XIX, đã làm thay đổi hẳn cảnh quan vùng đất, cũng như tính
cách con người nơi đây.
Vậy tính cách truyền thống của người Việt là gì?
Về nguồn gốc tính cách truyền thống của người Việt, Giáo sư Trần Ngọc Thêm cho
rằng “… có năm đặc trưng: a) Thiên về âm tính; b) Ưa hài hịa; c) Tính tổng hợp; d) Tính
cộng đồng; và e) Tính linh hoạt”. [ 25, 273] Và tính cách văn hóa của người Việt Nam Bộ là
sản phẩm tổng hợp của ba nhân tố chính: truyền thống văn hóa dân tộc Việt Nam tiếp biến
với văn hóa phương Tây trong bối cảnh của tự nhiên – xã hội Nam Bộ”, … hình thành nên
năm đặc trưng tính cách văn hóa Nam Bộ : tính sơng nước, tính bao dung, tính năng động,
tính trọng nghĩa, tính thiết thực”.
Như vậy trên cơ sở những tính cách văn hóa truyền thống, có thể rút ra được tính
cách người Việt Nam Bộ là Tinh thần u nước, Tính trọng nghĩa khinh tài, Hào phóng và
lịng hiếu khách, Tính năng động và sáng tạo, cuối cùng là Tính thiết thực.
Người Việt Nam Bộ là những người dân có cuộc sống bình thường nên những cái
đặc thù nảy sinh trong quá trình khai hoang kiếm sống, đã được truyền tập qua các thế hệ
lưu dân dần dần định hình và hồn thiện, mặc dù tự nhiên và xã hội có nhiều biến đổi.
1.2.2. Các điều kiện tác động đến tính cách người Việt Nam Bộ
1.2.2.1 Điều kiện địa lý tự nhiên Nam Bộ
Nam Bộ chia làm hai khu vực lớn: khu vực thứ nhất là vùng phù sa cổ đệm giữa cao
nguyên đất đỏ và châu thổ sông Cửu Long rộng khoảng 26000km2 gồm các tỉnh miền Đông
(Đồng Nai, Bà Rịa -Vũng Tàu, Tây Ninh). Trong lịch sử khẩn hoang, khu vực này là nơi
dừng chân đầu tiên của người Việt trước khi họ di chuyển xuống phía Nam.
Khu vực thứ hai thuộc châu thổ sơng Cửu Long có diện tích 40.000 km2, cịn gọi là
miền Tây (gồm các tỉnh Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Cửu Long, Đồng Tháp, Hậu Giang,
An Giang, Kiên Giang và Minh Hải) được khai phá muộn hơn. Đồng bằng rộng lớn này có
hệ thống sơng ngịi dày đặc rất thích hợp với sản xuất nơng nghiệp. Trịnh Hồi Đức đã nhấn
mạnh “Đất Gia Định nhiều sơng ngịi, bãi biển, 10 người thì 9 người giỏi lội nước, quen chở
thuyền, thích ăn mắm.” [ 95, 147]
Nam Bộ trước thế kỷ XVII mặc dù đã có con người sinh sống nhưng vẫn cịn hoang
hóa, có chủ nhưng gần như vơ chủ.
Cả hai vùng Đồng Nai và Cửu Long trước đây được gọi chung là vùng đất Gia Định
(Nam Bộ nói chung). Khi người Việt đặt chân đến, nơi này còn rất hoang sơ. Trong “Đất
Gia Định xưa” nhà văn Sơn Nam đã mô tả: “Theo những sử sách của người Việt cũng như
người nước ngoài, chủ yếu là của người Pháp, miền đất Nam Bộ xưa khi người Việt đặt
chân đến hãy còn khá hoang vu. Vào thế kỷ XVI trở về trước, đã có nhiều người nước ngồi
qua lại nơi này tìm phương làm ăn bn bán: người Trung Hoa, người Nhật, người Mã Lai,
người Ấn Độ, người Phương Tây (Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha). Nhưng hầu hết họ không
dừng chân lại đây mà đi xa hơn, lên tận Phnôm-Pênh để buôn bán. Người Khơ-me tập trung
chủ yếu ở vùng đất Lục Chân Lạp (lãnh thổ Campuchia hiện nay), đất cao ráo dễ làm ăn,
nguồn lợi nhiều tôm cá Biển Hồ. Miền hạ lưu sông Mê-Kông, nay là Nam Bộ, khơng có mỏ
vàng, mỏ bạc, đậu khấu, trầm hương tơ lụa, hồ tiêu v.v… để hấp dẫn thương khách. Lúc bấy
giờ có một vùng tương đối sung túc, nhiều lúa gạo là Bãi Xàu, gần cửa sông Hậu. Phần lớn
đất đai còn rừng rậm hoang vu, nhiều thú dữ, khí hậu cịn ẩm thấp khó làm ăn.” [ 74, 8]
Như vậy, vùng đất mới này đối với di dân người Việt có nhiều thuận lợi nhưng cũng
lắm khó khăn; khơng những tác động trực tiếp đến q trình lao động mà cịn ảnh hưởng
đến đời sống văn hóa, tinh thần của người dân và hình thành nên tính cách người Việt Nam
Bộ.
Trên bước đường chinh phục thiên nhiên, thuần hóa đất đai, dựng làng để tạo dựng
một cuộc sống mới, lưu dân người Việt phải đối mặt với đủ loài thú dữ, bệnh tật, và rất
nhiều nguy hiểm. Nhiều câu ca dao, truyền thuyết ra đời từ lâu cịn lưu truyền đến nay nói
về cảnh hoang sơ, cơ cực và nỗi gian truân của những người Việt đầu tiên đi khai hoang, lập
ấp:
“Đồng Nai xứ sở lạ lùng
Dưới sông sấu lội lên bờ cọp um”
“Tới đây xứ sở lạ lùng
Con chim kêu phải sợ con cá vùng phải kinh”
( Ca dao)
Hay:
“ Chèo ghe sợ sấu cắn chưn
Xuống bưng sợ đỉa, lên rừng sợ ma”
( Ca dao)
Hoặc
“ Muỗi kêu như sáo thổi
Đỉa lội tựa bánh canh
Cỏ mọc thành tinh
Rắn đồng biết gáy”
( Ca dao)
Dù thiên nhiên ở đây có khắc nghiệt nhưng cũng đỡ hơn quê cũ; nơi mà chế độ
phong kiến đã mục nát, người dân bị áp bức, bóc lột, sưu cao thuế nặng phải ra đi làm lại
cuộc đời. Đến Nam Bộ, đất đai rộng rãi, người nông dân Việt Nam không phải tranh giành
với ai. Rừng hoang, đất vắng còn nhiều. Đối thủ chính của họ là hoang vu. Cuộc đọ sức giữa
con người với thiên nhiên, mở mang đất mới đầy rẫy khó khăn đã góp phần tơi luyện tính
cách con người Việt Nam Bộ. Đó là những con người can trường, gan góc dám đương đầu
với khó khăn, trở ngại của thiên nhiên.
Mặc khác, chế độ thủy triều khá ổn định nhưng chu kỳ của nó cũng ảnh hưởng lớn
đến việc lưu thông đường thủy, cũng như sản xuất và sinh hoạt hàng ngày của lưu dân trong
vùng. Ở vùng duyên hải, thủy triều đưa nước biển xâm nhập vào sông rạch làm nước sông
trở nên mặn. Nhiều vùng như bán đảo Cà Mau, nước sơng rạch hồn tồn là nước mặn.
Trong khi đó, Đồng Tháp Mười là một vùng trũng rộng mênh mông, thật sự là một biển
nước vào mùa nước lũ và trở nên khô nẻ vào mùa nắng. Ở phía Nam sơng Hậu, khu tứ giác
Long Xun, vùng Phụng Hiệp, U Minh là những vùng trũng thấp rộng lớn, nhiễm phèn gây
khó khăn cho sản xuất.
Mùa mưa ở Nam Bộ có đặc điểm riêng, thường là dạng mưa rào, to và nặng hạt, mưa
tập trung nên có tác dụng xói mịn rất lớn trên đất trồng và trên các sườn đồi trơ trụi.
Thiên nhiên Nam Bộ tuy khắc nghiệt lúc còn hoang sơ nhưng cũng rất hào phóng đối
với những người cải tạo được nó; ruộng đất Nam Bộ cho năng xuất lương thực cao hơn hẳn
so với Đàng Ngồi; sơng rạch Nam Bộ là nguồn thủy sản dồi dào, vơ tận, đó là điều kiện để
con người tạo dựng cuộc sống mới.
Do ở cận xích đạo nên Nam Bộ có khí hậu nóng và ẩm, nhưng nhờ hệ thống kênh
ngịi dày đặc, nên cũng khơng q nóng bức, mưa nắng thuận hịa ít thiên tai xảy ra. Đối với
nền kinh tế phụ thuộc vào thiên nhiên thì mưa thuận gió hịa có một ý nghĩa quan trọng đối
với cho cư dân nơi đây.
Nhìn chung, mơi trường thiên nhiên Nam Bộ chứa đựng nhiều yếu tố thuận lợi như
đất đai màu mỡ, thời tiết điều hịa nhưng nó cũng bày ra trước mắt lưu dân khơng ít những
chướng ngại. Chẳng hạn đại bộ phận đất đai sình lầy, bị ngập úng vào mùa mưa, thiếu nước
ngọt vào mùa khô, nhiều vùng phèn, mặn nghiêm trọng, chính là mơi trường để cho nhiều
loại chuột bọ, sâu bệnh phá hoại mùa màng phát triển. Đó là tất cả những gì mà người lưu
dân cùng các thế hệ con cháu của họ phải tiếp tục khắc phục. Điều kiện địa lý tự nhiên như
vậy là một trong những yếu tố góp phần vào việc hình thành và phát triển tính cách người
Việt Nam Bộ.
Về tác động của điều kiện tự nhiên, Giáo sư Huỳnh Lứa đã nhận định “Nam Bộ là
một vùng đất có mơi trường thiên nhiên rất phong phú và đa dạng, vừa có nhiều thuận lợi
nhưng cũng khơng ít khó khăn đối với cuộc sống con người. Trong 300 năm trở lại đây,
người Việt hết thế hệ này đến thế hệ khác, cùng với đồng bào một số dân tộc anh em, bằng
mồ hôi và công sức cùng với truyền thống cần cù, kiên nhẫn và sáng tạo, vốn văn hóa phong
phú và đặc sắc của mình, đã từng bước chinh phục và biến môi trường ấy thành một vùng
đất trù phú phục vụ đắc lực cuộc sống con người. Ngược lại, môi trường thiên nhiên Nam
Bộ với những đặc điểm riêng biệt của nó, cũng đã để lại nhiều dấu ấn sâu đậm trong đời
sống văn hóa vật chất và tinh thần cũng như trong việc hình thành tính cách con người đang
sống ở đây”. [ 83, 44]
Vùng đất này tuy lý tưởng đối với cư dân nông nghiệp nhưng trên bước đường mỡ
cõi người dân Việt phải chứng kiến cảnh thiên nhiên đầy khắc nghiệt. Vì vậy họ cần có hành
động dũng cảm, năng động sáng tạo, chịu thương chịu khó và một tinh thần đoàn kết giúp
đỡ lẫn nhau mới có thể chế ngự được thiên nhiên.
Cuộc sống ở mơi trường mới dạy cho người Việt tinh thần đoàn kết sống vì nghĩa và
u thương nhau. Đầu tiên đó là sự tương trợ cho nhau để tồn tại rồi dần dần tính cộng đồng
được hình thành và phát triển. Tính cộng đồng là truyền thống chung của dân tộc cả nước,
nhưng ở Nam Bộ nó có khác với ở Bắc Bộ. Những lưu dân cũng lập làng như làng ở Bắc Bộ
nhưng vì là sự tập hợp của những người dân “tứ chiếng”, tha phương cầu thực nhưng vì
chưa quen thủy thỗ nên họ tự nguyện gắn bó với nhau mà khơng hề có sự xung đột nào. Họ
u thương, đùm bọc nhau một cách lạ lùng. “Tục gọi những người ở bốn phương là tứ
chiếng, vì tập họp người lưu tán bốn phương làm một thôn, không phải ông cha là người địa
phương ấy”. [ 95, 113]
Họ đã bần cùng, nghèo khổ và cô đơn lắm rồi, họ đã một lần chán cảnh bị gị bó, bị
áp bức mà ra đi nên không những không tranh chấp họ còn cùng nhau chia ngọt sẻ bùi thành
quả lao động do chính mình làm ra quan hệ khơng phải là tình mà là nghĩa. Đồng thời khi
mới vào vùng đất mới, cuộc sống có nhiều thuận lợi, ưu đãi hơn, con người không phải bon
chen vất vả như ở nơi đất hẹp người đông. Cái gánh nặng quá khứ xa xưa với những quan
niệm hẹp hịi, gị bó … đã được họ cởi bỏ lại đằng sau để tạo nên một phong cách sống tự
do, phóng khống, cởi mở và hào hiệp hơn góp phần làm cho tính nhân ái trong con người
càng sâu đậm hơn.
Như vậy, để tồn tại được với hoàn cảnh mới, thiên nhiên mới, mọi người nơi đây
phải có sức chống đối mãnh liệt, tinh thần tự cường, tự lập của cộng đồng phát triển lên
thành tinh thần trọng nghĩa sẵn sàng hy sinh vì nghĩa Sẵn sàng bênh vực những người sa cơ
thất thế như mình, khơng chịu luồn cúi, nơ dịch, trên tinh thần nghĩa hiệp là chủ yếu, giống
như một nhu cầu vậy, quần cư lại thành tập hợp của những người “bà con tứ xứ”, “tối lửa tắt
đèn có nhau”, “Nhiễu điều phủ lấy lá gương, Người trong một nước phải thương nhau
cùng”, (Ca dao) sự giúp đỡ qua lại thành một ngun tắc hơm nay anh giúp tơi thì ngày mai
tơi giúp lại anh và từ đó cũng hình thành nên một tinh thần, một tình cảm quý trọng bạn bè,
coi trọng tình nghĩa, kẻ bất nhân bất nghĩa thì khó có cơ hội dung thân “Tiền tài như phấn
thổ, nhân nghĩa tợ thiên kim, thương người như thể thương thân, thi ân bất cầu báo….”(Ca
dao Nam Bộ).
Tuy nhiên, thiên nhiên cũng sống chan hòa với con người khi con người biết quý
trọng và chinh phục được nó. Bởi bên cạnh sự khắc nghiệt của thiên nhiên thì đổi lại thiên
nhiên cũng đã cho họ rất nhiều mà không hề lấy lại. Sông Tiền (Cửu Long) và sông Hậu rất
rộng lượng, đơn hậu ít khi trở chứng, nước lụt hàng năm không gây tai họa nếu như con
người biết quy luật. Xử lý khơn khéo lần hồi ta có lúa, có cá đồng, cá biển, cây củ, vườn cây
trái hoa màu, gió sẽ mát hơn, nắng cũng bớt oi bức hơn … Quả là đất trời sông nước
phương Nam đã dành nhiều ưu đãi cho con người. Kênh rạch thì đầy cá, vườn tược sum
xuê, cây trái bốn mùa dồi dào, phong phú. Khí hậu dịu hịa ấm áp dễ làm ăn, cái mảnh đất
mà người ta thường hay nói: “làm chơi, ăn thiệt”, tạo cho con người một cuộc sống, một nếp
sinh hoạt, một tính cách mới, mới hơn người Việt đồng bằng sông Hồng, họ hay rộng rãi
thích giúp đỡ mọi người bởi họ khơng cần lo nghĩ đến ngày mai phải ăn gì so với vùng đất
người khơn của khó … cho nên con người ở đây bản lĩnh hào phóng là điều dễ hiểu; với lại
họ mang trong mình tính “trọng nghĩa, khinh tài” – truyền thống tốt đẹp trọng đạo nghĩa của
dân tộc, khi vào đây nó càng phát triển mạnh hơn, lịng hiếu khách cũng tăng lên gấp bội.
“Thành Gia Định nước Việt Nam ta, đất rộng lương thực nhiều, không lo về đói rét, cho nên
ít chứa sẵn, tục dân xa hoa, kẻ sĩ đua nhau tài giỏi. Người bốn phương ở lẫn nhau, mỗi nhà
tự có tục riêng” [ 95, 141].
Sự ưu đãi của thiên nhiên vơ tình làm cho con người ở đây có một chút tính cách tiêu
cực mà người dân Bắc phần, Trung phần khơng có “Sĩ phu trọng danh tiết, tục chuộng xa
hoa …” [ 95, 150]. Ruộng đất ở đây cho năng suất cao hơn hẳn ở Đàng Ngồi, từ đó họ có
đầy đủ lương thực không sợ bị túng thiếu. Sự sung túc về kinh tế, việc làm ăn dễ dãi chính
là những tiền đề cho sự thay đổi nếp nghĩ, nếp sống, dần dần làm cho họ có thêm một đặc
tính mới đó là qn đi thói quen “tích cốc phịng cơ” từ truyền thống tổ tiên mà thay vào đó
là sự cởi mở, hào phóng. Và trong những điều kiện như vậy đã tạo cho con người ý thức tự
do hơn, cởi mở hơn, sống phóng khống hơn. Ở một thế giới rộng lớn bao la, sự quản lý
hành chánh của chính quyền phong kiến cịn lỏng lẻo. Tác động của mơi trường thiên nhiên,
những thách thức vùng đất mới đã làm cho họ bỏ đi phía sau tính căn cơ tiết kiệm để tiếp
nhận những tư tưởng mới như óc tị mị đối với những cái mới, thái độ không mấy dễ dàng
để mình bị ràng buộc bởi lịch sử và truyền thống, thậm chí trở thành thiếu tính kế hoạch
trong cơng việc làm ăn.
Tóm lại trong bước đường mưu sinh di dân người Việt đã hòa nhập với dân địa
phương, sớm thích nghi với hồn cảnh, sống chan hịa với thiên nhiên tiếp nhận những cái
mới phát triển tính năng động, thông minh, sáng tạo đã bắt thiên nhiên phục vụ con người
với hiệu năng cao nhất. Giáo sư Trần Văn Giàu trong lời tựa Quyển Địa chí Long An đã
viết: “… Cái đẹp vừa phải của Long An ngày nay là kết quả thu được của muôn trùng gian
lao để khắc phục một thiên nhiên vốn khá khắc nghiệt. Thiên nhiên nào có ưu đãi cho người
Long An đâu? Nam thì mặn, Bắc thì phèn, Đơng thì mặn, nước ngọt ít, quá ít … Mới 50
năm trước đây, tôi đi hoạt động ở Mỹ Hạnh, Đức Hòa, phèn ở bưng Tràm Lạc làm rụng hết
lông chân sau vài lần lội qua lội lại trong năng dày. Ngay cả hồi trước Cách mạng tháng
Tám, Đồng Tháp Mười nổi tiếng là muỗi kêu như sáo thổi, đỉa lội tựa bánh canh. Vậy thì xa
hơn, hồi thế kỷ XVII, XVIII nơi đây cịn hoang vu đến mức nào nữa? Mấy lớp ông cha ta đã
đổ mồ hôi, nước mắt chịu đựng biết bao gian khổ hy sinh thì mới có đồng lúa mênh mông
này, vườn thơm bát ngát kia”[ 81, 8]. Nam Bộ là vùng đất có mơi trường thiên nhiên phong