Đề tài thực tập tốt nghiệp
A. MỞ ĐẦU
I. Lý do chọn đề tài
Vùng văn hoá Quảng Nam được hình hành trong tổng thể vùng văn hoá
miền Trung. Điều đặc biệt là Quảng Nam vẫn còn lưu giữ được những công
trình văn hoá vật thể và phi vật thể có giá trị cao, được thế giới công nhận.
Có thể nói đây là một vùng đất giàu giá trị văn hoá. Đến Quảng Nam,
chúng ta được chiêm ngưỡng vẻ đẹp của những công trình kiến trúc cổ đạt
tới đỉnh cao của nghệ thuật, chứa đựng biết bao giá trị văn hoá nhân văn -
văn hoá lịch sử được kết tinh và thăng hoa từ sự giao lưu của nhiều nền văn
hoá khác nhau trên nền tảng văn hoá mang đậm bản sắc văn hoá Việt Nam.
Ở Quảng Nam có hai di sản văn hoá thế giới được Unesco công nhận
đó là phố cổ Hội An và khu di tích Mỹ Sơn với những giá trị tiêu biểu của
nhân loại. Bên cạnh đó, còn có trên 260 di tích văn hoá, lịch sử cách mạng,
trong đó có 15 di tích xếp hạng quốc gia sẽ mãi mãi là niềm tự hào, là những
trang sử hào hùng minh chứng cho truyền thống đấu tranh cách mạnh kiên
cường của người xứ Quảng trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân
tộc. Gía trị văn hoá của Quảng Nam không chỉ tỏa sáng từ những công trình
kiến trúc cổ mà còn được tạo nên bởi những sắc màu văn hoá ẩn chứa trong
các phong tục, tập quán, lễ hội của các dân tộc sinh sống trên quê hương
nặng nghĩa tình này.
Các yếu tố tự nhiên kết hợp với các di sản văn hoá, truyền thống lịch sử
của Quảng Nam là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá, tạo điều kiện để
Quảng Nam phát triển mạnh ngành du lịch, trở thành điểm du lịch hấp dẫn
đối với du khách trong và ngoài nước.
Trong những năm gần đây, ngành du lịch Quảng Nam đã có bước phát
triển mạnh, tốc độ tăng trưởng bình quân trong giai đoạn 1999 – 2003 là 46
% / năm, phát huy những kết quả đã đạt được, Quảng Nam đang tiếp tục
đẩy mạnh phát triển ngành du lịch trên nền tảng những lợi thế về truyền
thống văn hóa và ưu thế về thiên nhiên theo định hướng phát triển lâu dài và
bền vững.
Trong xu hướng tăng đột biến về nhu cầu du lịch, nhiều quốc gia vùng
miền địa phương đã phát huy cao độ những lợi thế mạnh, khai thác triệt để
những tiềm năng sẵn có của quê nhà để tạo nên một bức tranh toàn cảnh
hoàn hảo nhất khi đón những du khách đến thăm. Du lịch Thăng Bình tuy
chưa phải là ngành kinh tế mũi nhọn bởi các danh lam thắng cảnh, di tích
lịch sử, văn hóa vẫn còn đang ở dạng tiềm ẩn chưa được khai thác. Nhưng
huyện Thăng Bình tỉnh Quảng Nam được thiên nhiên ban tặng cho những
danh lam thắng cảnh đẹp, hấp dẫn như sông Trường Giang, bãi biển Bình
1
Đề tài thực tập tốt nghiệp
Minh, Hố Thác, bàu Hà Kiều, hồ Cao Ngạn, đập Phước Hà cũng như
những di tích lịch sử, di tích văn hóa: tượng đài Bàu Bàng (Bình Phục),
tượng đài chợ Được, phật viện Đồng Dương, văn thánh Hà Lam Đây là
những thế mạnh để phát triển du lịch nhất là du lịch sinh thái. Hơn nữa là
một huyện có bề dày truyền thống lịch sử, văn hóa lâu đời trong các cuộc
đấu tranh chống giặc ngoại xâm.
Các di tích ấy hiện nay đã và đang được bảo tồn xây dựng như phật
viện Đồng Dương, di tích lăng Bà chợ Được (Bình Triều), cây Dương Thần
(Bình Dương), địa đạo vùng cát (Bình Giang), lăng mộ Tiểu La (Bình Quý),
làng mây tre (Bình Phục, Bình Quế)
Với những lý do nêu trên trong khoảng thời gian thực tập tôi chọn đề tài
"đánh giá tiềm năng và giải pháp phát triển du lịch huyện Thăng Bình
tỉnh Quảng Nam" làm đề tài nghiên cứu.
Với bài viết này tôi mong được đóng góp một tiếng nói nhở bé vào diễn
đàn của những người con yêu quê, mong quê hương mình ngày càng khởi
sắc. Và đây là những ý kiến của riêng tôi, với tầm nhìn hạn hẹp của mình
nên những thông tin đưa ra đa phần ở dạng tổng quát, chưa đi sâu vào đánh
giá hết tiềm năng du lịch của huyện để rồi sau tôi sẽ có những người đủ sức,
đủ tài, đủ lực với tầm nhìn xa trông rộng sẽ bắt tay vào nghiên cứu đánh giá
hết tiềm năng du lịch của huyện Thăng Bình và sẽ trở thành hiện thực trong
một ngày không xa.
II. Mục tiêu của đề tài
- Phát triển kinh tế - xã hội.
- Phát triển một số điểm du lịch.
- Khôi phục các làng nghề truyền thống.
III. Lịch sử đề tài
- Tập san Thăng Bình 2007: nội dung tổng kết những thành tựu đạt
được trong từng lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hóa, y tế, giáo dục từ sau khi
Thăng Bình được giải phóng cho đến nay, nêu ra một số hạn chế, bài học
kinh nghiệm cũng như những định hướng phát triển cho những năm tiếp
theo (2008 - 2020).
- Bài viết "phát triển du lịch Thăng Bình ước vọng của người con quê
hương" của Xa Doãn Hồng Thủy (sinh viên - trường đại học du lịch Hà Nội,
200): giới thiệu những địa điểm du lịch hấp dẫn của huyện nhà. Nội dung ở
mức khái quát giới thiệu, chưa đi sâu vào đánh giá hết tiềm năng cũng như
thực trạng khai thác du lịch ở các di tích và danh thắng.
- Nhìn chung các sách báo viết về Thăng Bình rất ít, chưa có bài viết
nào đi vào đánh giá cụ thể vấn đề du lịch cũng như tình hình phát triển du
lịch của các địa phương trong huyện.
IV. Điểm mới của đề tài
2
Đề tài thực tập tốt nghiệp
- Đánh giá được tiềm năng du lịch của huyện Thăng Bình.
- Đưa ra được một số giải pháp để phát triển du lịch.
- Khái quát được tình hình phát triển các điển du lịch trên địa bàn huyện
Thăng Bình.
V. Giới hạn nghiên cứu của đề tài
- Phạm vi trên địa bàn lãnh thổ huyện Thăng Bình.
- Thời gian thực hiện đề tài 6 tuần (từ ngày 14 tháng 4 đến 25 tháng 5
năm 2008).
- Giới hạn nghiên cứu, tìm hiểu về các thắng cảnh tự nhiên, các di tích
lịch sử, cách mạng, văn hóa, nghề và làng nghề truyền thống, lễ hội dân
gian, văn hóa ẩm thực của huyện Thăng Bình.
- Nghiên cứu tiềm năng và các giải pháp phát triển du lịch trên địa bàn
huyện Thăng Bình.
VI. Phương pháp nghiên cứu của đề tài
- Thu thập tài liệu.
- Khảo sát thực tế.
- Phương pháp phân tích so sánh.
- Phương pháp thực địa.
- Phỏng vấn chuyên gia.
- Phương pháp bản đồ.
B. NỘI DUNG
3
Đề tài thực tập tốt nghiệp
Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU
TIỀM NĂNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH
THĂNG BÌNH
I. Khái niệm về du lịch
1. Khái niệm về du lịch và du khách
1.1 Khái niệm về du lịch
Theo Liên Hiệp Quốc các tổ chức lữ hành chính thức (International
Union of Official Travel Oragnization) du lịch được hiểu là hành động du
hành đến một nơi khác với địa điểm cư trú thường xuyên của mình nhằm
mục đích không phải để làm ăn, tức không phải để làm một nghề hay một
việc kiếm tiền sinh sống tại Hội nghị Liên Hiệp Quốc về du lịch họp tại
Roma - Italia (21/8 - 5/9/1963), các chuyên gia đưa ra định nghĩa về du lịch:
du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt
nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài
nơi ở thường xuyên của họ hay ngoài nước họ với mục đích hòa bình. Nơi
họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ.
Theo các nhà du lịch Trung Quốc thì: hoạt động du lịch là tổng hòa
hàng loạt quan hệ và hiện tượng lấy sự tồn tại và phát triển kinh tế, xã hội
nhất định làm cơ sở, lấy chủ thể du lịch, khách thể du lịch và trung gian du
lịch làm điều kiện.
Theo I.I Pirôgionic, 1985 thì du lịch là một dạng hoạt động của dân cư
trong thời gian rỗi liên quan tới sự di chuyển và lưu lại tạm thời bên ngoài
nơi cư trú thường xuyên nhằm nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất và
tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức văn hóa hoặc thể thao kèm theo việc
tiêu thụ những giá trị về tự nhiên, kinh tế và văn hóa.
Nhìn từ góc độ thay đổi về không gian của du khách: du lịch là một
trong những hình thức di chuyển tạm thời từ một vùng này sang một vùng
khác, từ một nước này sang một nước khác mà không thay đổi nơi cư trú hay
nơi làm việc.
Nhìn từ góc độ kinh tế: du lịch là một ngành kinh tế, dịch vụ có nhiệm
vụ phục vụ cho nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ ngơi có hoặc không kết hợp
với các hoạt động chữa bệnh, thể thao, nghiên cứu khoa học và các nhu cầu
khác.
Theo pháp lệnh du lịch Việt Nam: “Du lịch là hoạt động của con người
ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thỏa mãn nhu cầu tham quan,
giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”.
1.2 Các khái niệm về khách du lịch
4
Đề tài thực tập tốt nghiệp
Khách thăm viếng (Visitor) là một người đi tới một nơi - khác nơi họ
thường trú với một lý do nào đó (ngoại trừ lý do đến để hành nghề và lĩnh
lương từ nơi đó). Định nghĩa này được áp dụng cho khách quốc tế
(Iternational visitor) và du khách trong nước (Domestic vistor).
Khách thăm viếng được chia làm hai loại
- Khách du lịch (Torist) là khách thăm viếng có lưu trú tại một quốc gia
hoặc một vùng khác với nơi cư trú thường xuyên trên 24 giờ và nghỉ qua
đêm tại đó với mục đích nghỉ dưỡng, tham quan, thăm viếng gia đình, tham
dự hội nghị, tôn giáo, thể thao.
- Khách thăm quan (Excursionist) còn gọi là khách thăm viếng một
ngày (Day virsitor) là loại khách thăm viếng lưu lại ở một nơi nào đó dưới
24 giờ và không lưu trú qua đêm.
2. Sản phẩm du lịch
2.1 Khái niệm
Sản phẩm du lịch bao gồm các dịch vụ du lịch, các hàng hóa và tiện
nghi cung ứng cho du khách, nó được tạo nên bởi sự kết hợp các yếu tố tự
nhiên, cơ sở vật chất kỷ thuật và lao động du lịch tại một vùng, một địa
phương nào đó.
Như vậy sản phẩm du lịch bao gồm những yếu tố hữu hình (hàng hóa)
và những yếu tố vô hình (dịch vụ) để cung cấp cho du khách hay nó bao
gồm các hàng hóa, các dịch vụ và tiện nghi phục vụ khách du lịch.
2.2 Đặc điểm của sản phẩm du lịch
Sản phẩm du lịch chủ yếu thỏa mãn nhu cầu thứ yếu cao cấp của du
khách. Mặc dù trong suốt chuyến đi họ phải thỏa mãn các nhu cầu thiết yếu
như ăn, ở, đi lại Tuy nhiên mục đích chính là thỏa mãn các nhu cầu đặc
biệt. Do đó nhu cầu du lịch chỉ được đặt ra khi người ta có thời gian nhàn rỗi
và có thu nhập cao. Người ta sẽ đi du lịch nhiều hơn nếu thu nhập tăng và
ngược lại sẽ bị cắt giảm nếu thu nhập giảm xuống.
Sản phẩm du lịch có đầy đủ 4 đặc điểm của dịch vụ đó là: tính vô hình,
tính không đồng nhất, tính đồng thời giữa sản xuất và tiêu dùng, tính mau
hỏng và không dự trữ.
Tính vô hình: thực ra đó là một kinh nghiệm du lịch hơn là một món
hàng cụ thể. Tuy nhiên, sản phẩm du lịch là không cụ thể nên dễ dàng sao
chép, bắt chước (những chương trình du lịch, cách trang trí, phòng đón
tiếp…).
Tính không đồng nhất: do sản phẩm du lịch chủ yếu là dịch vụ, vì vậy
mà khách hàng không thể kiểm tra chất lượng sản phẩm trước khi mua, gây
khó khăn cho việc chọn sản phẩm. Do đó vấn đề quảng cáo trong du lịch là
rất quan trọng.
5
Đề tài thực tập tốt nghiệp
Tính đồng thời giữa sản xuất và tiêu dùng: việc tiêu dùng sản phẩm du
lịch xảy ra cùng thời gian và địa điểm sản xuất ra chúng. Do đó không thể
đưa sản phẩm du lịch đến khách hàng mà khách hàng phải tự đến nơi sản
xuất ra sản phẩm du lịch.
Tính mau hỏng và không dự trữ được: sản phẩn du lịch chủ yếu là dịch
vụ như dịch vụ vận chuyển, dịch vụ lưu trú, dịch vụ ăn uống… Do đó về cơ
bản sản phẩm không thể tồn tại, khó dự trữ và rất dễ bị hư hỏng.
Ngoài ra sản phẩm du lịch còn có một số đặc điểm khác: sản phẩm du
lịch do nhiều nhà tham gia cung ứng, việc tiêu dùng sản phẩm du lịch mang
tính thời vụ, sản phẩm du lịch nằm ở xa nơi cư trú của khách du lịch.
II. Vai trò của du lịch
- Cùng với việc phát triển nền kinh tế thế giới thì nền kinh tế Việt Nam
cũng ngày một phát triển nhu cầu vui chơi giải trí của người dân ngày một
tăng. Do đó du lịch góp phần phục hồi sức khoẻ sau những ngày, giờ lao
động nặng nhọc, vất vả tạo tâm trạng sảng khái vui tươi cho một ngày mới
với năng suất công việc cao hơn.
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát
triển.
- Đem lại nguồn thu nhập, góp phần tạo việc làm, nâng cao đời sống
cho người dân.
- Du lịch phát triển là điều kiện và nền tảng cho việc bảo tồn, tôn tạo và
phát triển các giá trị di sản văn hoá : trùng tu, bảo vệ di tích, khôi phục và
phát triển làng nghề, lễ hội truyền thống, văn hoá văn nghệ dân gian.
- Góp phần phát triển kinh tế - xã hội ở những vùng sâu, vùng xa, vùng
khó khăn. Tăng tiềm lực kinh tế - quốc phòng - an ninh cho tỉnh.
III. Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch
1. Tài nguyên du lịch
Tài nguyên du lịch ảnh hưởng trực tiếp đến tổ chức lãnh thổ của ngành
du lịch, đến việc hình thành, chuyên môn hoá các vùng du lịch và hiệu quả
kinh tế của hoạt động ngành dịch vụ. Dĩ nhiên ảnh hưởng này chịu sự chi
phối gián tiếp của các nhân tố kinh tế - xã hội như phương thức sản xuất và
tính chất của quan hệ sản xuất, trình độ phát triển kinh tế - văn hoá và cơ
cấu, khối lượng nhu cầu du lịch.
2. Khí hậu
Khí hậu cũng được coi là một tài nguyên du lịch. Điều kiện khí hậu ảnh
hưởng đến việc thực hiện các chuyến du lịch hoặc hoạt động du lịch. Ở một
mức độ nhất định, cần phải lưu ý tới những hiện tượng thời tiết làm cản trở
tới kế hoạch du lịch.
Du lịch có tính vụ mùa rõ rệt, điều đó được cắt nghĩa chủ yếu bởi tính
mùa của khí hậu. Các vùng khác nhau trên thế giới có mùa du lịch khác nhau
6
Đề tài thực tập tốt nghiệp
do ảnh hưởng của các yếu tố khí hậu, phụ thuộc vào điều kiện khí hậu, hoạt
động du lịch có thể diễn ra quanh năm hoặc trong một vài tháng.
3. Dân cư và lao động
Dân cư là lực lượng sản xuất quan trọng của xã hội. Cùng với các hoạt
động lao động, họ còn có nhu cầu nghỉ ngơi, du lịch. Dân số càng đông, lực
lượng tham gia vào các sản xuất và dịch vụ ngày càng nhiều thì du lịch càng
có điều kiện phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu nghỉ ngơi, giải trí của mọi
người và mọi tầng lớp trong xã hội.
Sự tập trung dân cư vào các thành phố, sự tăng dân số, tăng mật độ,
tăng tuổi thọ, sự phát triển đô thị hoá…liên quan mật thiết đến sự phát triển
du lịch.
4. Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất - kỹ thuật
- Cơ sở hạ tầng
Cơ sở hạ tầng nói chung có vai trò đặc biệt đối với việc đẩy mạnh du.
lịch. Về phương diện này, mạng lưới và phương tiện giao thông là những
nhân tố quan trọng hàng đầu.
Du lịch gắn với sự di chuyển của con người trên một khoảng cách nhất
định, vì vậy nó phụ thuộc vào giao thông nhất là mạng lưới đường sá và
phương tiện giao thông. Việc phát tiển giao thông, nhất là tăng nhanh
phương tiện vận chuyển cho phép mau chóng khai thác nguồn tài nguyên du
lịch mới. Chỉ có thông qua mạng lưới giao thông thuận tiện thì du lịch mới
trở thành hiện tượng phổ biến trong xã hội.
Thông tin liên lạc là một phần quan trọng trong cơ sở hạ tầng của hoạt
động du lịch. Nó là điều kiện cần thiết để đảm bảo sự giao lưu cho khách du
lịch trong nước và quốc tế.
Trong cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch còn phải đề cập đến hệ thống các
công trình điện, nước. Các sản phẩm của nó phục vụ trực tiếp cho việc nghỉ
ngơi, giải trí của du khách. Như vậy, cơ sở hạ tầng là tiền đề, là đòn bẩy của
mọi hoạt động kinh tế trong đó có cả hoạt động du lịch.
- Cơ sở vật chất kỹ thuật
Cơ sở vật chất kỹ thuật đóng vai trò hết sức quan trọng trong quá trình
tạo ra và thực hiện sản phẩm du lịch, cũng như quyết định mức độ khai thác
tiềm năng du lịch nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách. Chính vì có vai trò
quan trọng như vậy nên sự phát triển ngành du lịch bao giờ cũng gắn liền
với sự xây dựng và hoàn thiện cơ sở vật chất - kỹ thuật.
5. Sự phát triển của nền sản xuất xã hội và các ngành kinh tế
Sự xuất hiện của nền sản xuất xã hội có tầm quan trọng hàng đầu, làm
xuất hiện nhu cầu du lịch và biến nhu cầu của con người thành hiện thực.
Không thể nói tới nhu cầu hoặc hoạt động du lịch của xã hội nếu như lực
lượng sản xuất xã hội còn ở trong tình trạng thấp kém.
7
Đề tài thực tập tốt nghiệp
Nền sản xuất xã hội càng phát triển, nhu cầu của nhân dân càng lớn,
yêu cầu chất lượng càng cao. Các nước có nền kinh tế chậm phá triển, nhìn
chung nhu cầu nghỉ ngơi du lịch còn hạn chế. Ngược lại, nhu cầu nghỉ ngơi -
du lịch ở các nước kinh tế phát triển đa dạng. Bên cạnh nhu cầu giải trí cuối
tuần, hằng năm nhân dân còn đòi hỏi những đợt nghỉ ngơi dài ngày ở vùng
biển (vào mùa hè), trên núi (vào mùa đông), trong nước hoặc ở ngoài nước.
Rõ ràng những nhu cầu này phải dựa trên cơ sở vững chắc của nền sản xuất
xã hội.
Sự phát triển của du lịch cũng bị chi phối bởi nền sản xuất xã hội. Để
giải quyết nhu cầu ăn, ở, đi lại, nghỉ ngơi - du lịch của con người tất yếu
phải có cơ sở hạ tầng tương ứng. Trong nền sản xuất xã hội nói chung, hoạt
động của một số ngành như công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải…
có ý nghĩa quan trọng để phát triển du lịch.
6. Điều kiện sống
Điều kiện sống của nhân dân là nhân tố quan trọng để phát triển du lịch.
Du lịch chỉ có thể phát triển khi mức sống vật chất và tinh thần của con
người đạt đến trình độ nhất định. Một trong những nhân tố then chốt là mức
thu nhập thực tế của mỗi người trong xã hội. Bởi để thực hiện được chuyến
đi du lịch thì cần phải có một lượng tiền cần thiết, nên thu nhập của người
dân càng cao thì họ có nhu cầu đi du lịch càng nhiều. Vì vậy ở các nước kinh
tế phát triển, có mức thu nhập tính theo bình quân đầu người cao thì nhu cầu
và hoạt động du lịch phát triển mạnh mẽ.
Ngoài ra còn có các yếu tố khác như giá cả, sự tăng trưởng kinh tế cũng
có tác động rất lớn đến nhu cầu du lịch.
7. Nhu cầu của con người
Nhu cầu nghỉ ngơi - du lịch và sự thay đổi của nó theo thời gian và
không gian trở thành một trong những nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến
quá trình ra đời và phát triển du lịch.
Nhu cầu nghỉ ngơi du lịch mang tính chất kinh tế - xã hội là sản phẩm
của sự phát triển xã hội. Nó được hình thành trong quá trình phát triển kinh
tế - xã hội dưới tác động của các yếu tố khách quan thuộc môi trường bên
ngoài và phụ thuộc trước hết vào phương thức sản xuất. Cụ thể hơn, đó là
nhu cầu của con người về khôi phục sức khỏe, khả năng lao động thể chất và
tinh thần bị hao phí trong quá trình sinh sống và lao động.
Nhu cầu của con người là một hệ thống và được thể hiện ở ba mức độ :
xã hội - nhóm người - cá nhân. Trong đó, quan trọng hàng đầu là nhu cầu xã
hội, nó được xác định như nhu cầu của xã hội về phục hồi sức khỏe và khả
năng lao động, về sự phát triển toàn diện về thể chất và tinh thần cho mỗi
thành viên trong xã hội. Nhu cầu này quyết định cấu trúc của ngành du lịch
và được phản ánh qua các hình thức tổ chức lãnh thổ của nó.
8
Đề tài thực tập tốt nghiệp
8. Thời gian nhàn rỗi
Du lịch trong nước và quốc tế không thể phát triển được nếu con người
thiếu thời gian nhàn rỗi. Nó thực sự trở thành một trong những nhân tố quan
trọng thúc đẩy hoạt động du lịch.
Không có thời gian nhàn rỗi thì con người không thể thực hiện được
những chuyến đi du lịch. Song nó còn phụ thuộc vào việc sử dụng thời gian
nhàn rỗi của con người mà hình thành nhu cầu du lịch.
Thời gian nhàn rỗi là nhân tố ảnh hưởng đến sự phân bố không đều của
nhu cầu du lịch, con người chỉ có thể đi du lịch vào thời gian nhàn rỗi. Lịch
sử ngành du lịch cho thấy hiện tượng đi du lịch tăng lên khi thời gian nhàn
rỗi của mọi người trong xã hội cũng tăng. Ngày nay, nền kinh tế ngày một
phát triển, năng suất ngày một cao, mức sống của con người ngày một được
cải thiện. Trong điều kiện đó xu hướng chung là giảm thời gian làm việc,
tăng thời gian nhàn rỗi. Đó là điều kiện để phát triển du lịch. Hiện nay nhiều
nước trên thế giới trong đó có Việt Nam chuyển sang chế đạo làm việc 5
ngày một tuần. Điều này cho phép các tổ chức du lịch thu hút được nhiều
khách du lịch đến với cơ sở của mình.
9. Nhân tố chính trị
Hòa bình và sự ổn định về chính trị là điều kiện đặc biệt quan trọng có
tác dụng thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của du lịch trong nước và
quốc tế. Du lịch chỉ có thể xuất hiện và phát triển trong điều kiện hòa bình
và quan hệ hữu nghị giữa các dân tộc. Ngược lại chiến tranh ngăn cản các
hoạt động du lịch, tạo nên tình trạng mất an ninh, đi lại khó khăn, phá hoại
các công trình du lịch, làm tổn hại đến cả môi trường tự nhiên.
Hòa bình là đòn bẩy đẩy mạnh hoạt động du lịch. Ngược lại, có tác
động trở lại đến việc cùng tồn tại hòa bình. Thông qua du lịch quốc tế con
người thể hiện nguyện vọng nóng bỏng của mình là được sống, lao động
trong hòa bình và hữu nghị.
Chương 2: ĐÁNH GIÁ TIỀM NĂNG DU LỊCH CỦA HUYỆN
THĂNG BÌNH TỈNH QUẢNG NAM
I. Vài nét chung
Thăng Bình - một vùng quê yên ả với sóng lúa xanh rì, những luống
khoai, luống cà nõn nà, xanh mướt với những người dân quê chân chất, thật
thà. Họ vẫn thế dẫu trải qua bao biến cố thăng trầm lịch sử, qua lớp bụi thời
gian, có những vùng đất mà dường như biến mất hoặc hoặc có còn chăng ở
những cái tên như Lệ Giang, Lệ Dương, Thăng Hoa là ngoại lệ đối với
người dân xứ này. Vào thế kỉ XIII Chế Mân (vua Chiêm Thành) dâng hai
9
Đề tài thực tập tốt nghiệp
châu: châu Ô và châu Lý cho Đại Việt làm sính lễ cưới Huyền Trân công
chúa (hai châu này là dải đất từ Quảng Trị đến bờ Bắc sông Thu Bồn ngày
nay). Năm 1403 vua Chiêm lại cắt nhượng tiếp 2 động: Chiêm Động và Cổ
Lũy, 2 động này được nhà Hồ đặt tên là Thăng Hoa gồm 4 châu: Thăng,
Hoa, Tư, Nghĩa (đây là dải đất từ bờ Nam sông Thu Bồn đến Quảng Ngãi).
Châu Thăng Hoa được chia làm 3 huyện: Lệ Giang, Đỗ Hà, An Bị, năm
1407 Chiêm Thành đánh chiếm lại Thăng Hoa, do đó đến năm 1471 vua Lê
Thánh Tông phải thân chinh Nam tiến, kết quả là không những giải phóng
được Thăng Hoa mà còn chiếm thêm Vijaya (Bình Định ngày nay). Từ đó
thành lập Đạo Thừa Tuyên Quảng Nam - Đạo thứ 13 của đất nước (dải đất
từ Nam sông Thu Bồn đến đèo Cả). Đạo Quảng Nam chia làm 3 phủ: Thăng
Hoa, Tư Nghĩa, Hoài Nhơn. Phủ Thăng Hoa lại được chia thành 3 huyện :
Lệ Giang, Hà Đông, Hy Giang, Thăng Bình lúc này thuộc huyện Lệ Giang
tồn tại mãi cho đến năm 1604 thì chúa Nguyễn Hoàng đổi thành Lệ Dương.
Năm 1906 huyện Lệ Dương lại đổi thành phủ Thăng Bình. Cách mạng tháng
Tám thành công, 5 xã phía Đông của huyện Duy Xuyên được xác nhập vào
phủ Thăng Bình trở thành huyện Thăng Bình. Đó là sơ lược về quá trình
hình thành và phát triển của vùng đất này.
Toàn huyện có 21 xã, thị trấn, trong đó có thị trấn Hà Lam là trung tâm
kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của huyện. Tổng diện tích đất đai toàn
huyện là 384,75 km
2
, dân số khoảng 185.000 người, mật độ dân số 467
người/ km
2
, cơ cấu kinh tế chủ yếu là nông nghiệp. Ngoài ra còn có một số
là tiểu thủ công nghiệp hoạt động trong các làng nghề truyền thống khai
thác, chế biến thủy sản ở các xã vùng Đông.
Thăng Bình là huyện trung tâm của tỉnh Quảng Nam (về mặt địa lí).
Nói một cách hình tượng, nếu lấy trục đường quốc lộ làm thước đo mà hai
huyện Điện Bàn và Núi Thành là hai đầu mút thì Thăng Bình là trung điểm
của "cây thước ấy". Nằm ở vị trí 15
0
30' - 15
0
39' Bắc và 108
0
07' - 108
0
30'
Đông, phía Bắc giáp với hai huyện Quế Sơn, Duy Xuyên, phía Nam giáp với
thành phố Tam Kỳ, phía Tây giáp với Tiên Phước và Hiệp Đức, phía Đông
giáp với biển Đông. Với vị trí địa lí như vậy Thăng Bình có được sự thuận
lợi cho việc giao thông đi lại buôn bán trao đổi hàng hóa, phát triển kinh tế
nâng cao mức sống người dân.
II. Tài nguyên tự nhiên
1. Khí hậu
Cùng nằm trong miền khí hậu nhiệt đới gió mùa với hai mùa trong năm,
nhưng mùa mưa nơi đây kéo dài từ tháng 9 đến tháng 2 năm sau, lượng mưa
bình quân 2000 - 2500 mm/năm, tập trung trong các tháng 9, 10, 11 độ ẩm
trung bình là 84%. Mùa khô bắt đầu từ tháng 2 đến tháng 8 nắng chan hòa,
dễ chịu. Nhiệt độ trung bình là 25
0
C, mùa đông dao động trong khoảng 20 -
10
Đề tài thực tập tốt nghiệp
25
0
C, mùa hè là 25 - 30
0
C. Thời tiết rất thuận lợi cho phát triển du lịch nhất
là du lịch sinh thái, tham quan nghiên cứu, tắm biển, nghỉ dưỡng
2. Địa hình
Có sự phân hóa thành những vùng khác nhau: vùng cát trắng ven biển,
vùng đồng bằng trung du bán sơn địa và vùng núi rập rạp. Địa hình thích
hợp để xây dựng và phát triển nhiều loại hình du lịch như: du lịch sinh thái,
thể thao, du lịch làng nghề làng quê nhưng tất cả những lợi thế này vẫn còn
ở dạng tiềm năng, chưa được chú ý đầu tư quy hoạch đưa vào khai thác để
phát triển du lịch. Vài ba năm trở lại đây nhận thức được tiềm năng, lợi thế
to lớn này được sự quan tâm đầu tư của tỉnh, huyện nhiều dự án đã và đang
được triển khai trên mảnh đất đầy hứa hẹn như: dự án nuôi Đà Điểu (Bình
Phục, Bình Dương), khu du lịch sinh thái Bình Dương, khu du lịch sinh thái
Hố Thác (Bình Qúy)
3. Thủy văn
3.1 Sông Trường Giang
Trải dặm qua suốt miền trung đầy nắng và gió, sừng sững với vóc hình
và uy linh cao nhất, Trường Sơn sẽ cô đơn nếu không có một "dòng sông
dài" - Trường Giang làm bạn, thiên nhiên đã rất hữu tình hữu ý khi tạo nên
một cuộc hôn phối Trường Sơn - Trường Giang ngay ở dải đất hẹp chính
giữa cây đòn gánh miền Trung. Ở nước ta ít nơi nào có dòng sông chảy dọc
chiều dài đất nước lại bám sát biển Đông để tạo nên một thế song song với
biển như dòng Trường Giang. chỉ với 70 km đường dài, dòng sông vẫn
mang cái tên hàm chứa tất cả niềm tự hào không thác ghềnh không quanh co
khúc khủy, một dòng sông biêng biếc, lượn lờ qua những xóm làng, vạn chài
rợp bóng dừa, bóng tre, khi ngửa "mặt" soi gương cho những cánh đồng lúa
triễu hạt, rừng dương xanh, triền cát trắng. Nhịp thở Trường Giang không
nói hết của bao người dân xứ Quảng nói chung và Thăng Bình nói riêng.
Về với Trường Giang vào tháng 3 đến tháng 8 du khách sẽ được thấy
quang cảnh khác lạ, dòng sông được be bờ, đắp bờ thẳng tắp, tạo thành
những hồ nuôi tôm, nuôi cua, nuôi cá nước lợ. Những đêm không trăng dòng
sông vẫn sáng lập lờ, lung linh huyền ảo của những bóng đèn Neon đồng
loạt được thắp sáng.
Mới sáng tinh mơ, thuyền bè xuôi ngược nhộn nhịp, kẻ bán người mua,
ai cũng vội vội, vàng vàng. Chợ ở đây họp đến lúc sáng rõ mặt người là tan
(độ 7 - 8 giờ sáng). Người dân chen chúc nhau trên bến dưới thuyền, ơi ới
gọi nhau bằng những hô từ, hô ngữ đậm chất Quảng. Đến chợ du khách sẽ
được mua những thứ tươi ngon nhất mà không phải mặc cả, dây dưa, kỳ kèo,
lại càng không nhìn tận mắt đối tác (trời còn mờ tối). Có rất nhiều chợ mai
như thế dọc sông Trường Giang mà chợ Bà (Bình Giang), chợ Được, chợ
Hưng Mỹ (Bình Triều) là những cái tiêu biểu.
11
Đề tài thực tập tốt nghiệp
Thiên nhiên đã ban tặng cho Trường Giang lắm tôm, cua, cá tươi ngon
như những nú, cồi, đối, trảnh, những nấm, hanh, ngạnh, úc không có gì thú
vị hơn là bạn tự khai thác chế biến và tiêu thụ sản vật của Trường Giang.
Trường Giang không phụ lòng người nghèo khó. Con lạch, con lươn,
con chem chép là những món quà mà Trường Giang gởi tặng họ. Con chem
chép - một loại sò lớn chỉ cần chăm chỉ mò lặn vài giờ dọc những rặng dừa
nước là đã có được một nồi cháo chem chép đầy vị ngọt tự nhiên. Như lạch
là một loại giống lươn (nhỏ hơn) da đen có khi vàng, xương mềm, thịt thơm
rất bổ dưỡng, chỉ cần một con sào gắn móc một đầu cào sâu 5 m sông là bắt
được chúng ngay. Tôi đã được ăn một lần để rồi nhớ mãi cái món lạch hấp
quấn bánh tráng kèm rau sống. Trường Giang từ lâu nổi tiếng với nhiều món
ngon, đặc sản: Cá đối chiên vàng ruộm dầm với nước mắm nhỉ ( mắm cá
cơm), canh chua cá ngạnh, cá bống kho tộ, rau đắng tươi chấm nước kho cá
trảnh, cá mốm, sẽ làm nao lòng du khách khiến bạn nhớ mãi chẳng nào
quên. Với tất cả vẻ đẹp và niềm kiêu hãnh vốn có, nơi đây có nhiều lợi thế
để đưa vào phát triển nhiều loại hình du lịch như ẩm thực, du lịch sinh thái
tham quan, giải trí đặc biệt là du thuyền trên sông Trường Giang thơ mộng
và trữ tình.
3.2 Bãi biển Bình Minh
Đâu phải mảnh đất nào cũng có vinh dự vừa có được sự "vỗ về âu yếm"
của dòng sông quê hương vừa nhận được tình thương vô bờ bến của người
mẹ biển cả. Bình Minh ngay tên gọi cũng gợi cho ta nhiều điều. Theo đa số
người dân nơi đây thì Bình Minh thể hiện ước vọng vùng đất, vùng biển này
sẽ rực sáng "bừng tỉnh", đời sống người dân sẽ không còn cái cảnh "cái
nghèo đeo dưới nước, cái cực bước lên bờ, gió lay chi nữa con đò, thân tôi
như bụi cơ xơ ngoài đồng".
Cách thị trấn Hà Lam đi về phía Đông khoảng 15 km, du khách dễ dàng
bắt gặp dải cát mịn màng, trắng xóa cùng những đồi dương xanh tươi trải dài
bên biển xanh, mêng mông đầy gợi cảm, đó là bãi biển Bình Minh - Thăng
Bình - Quảng Nam.
Bãi biển Bình Minh đẹp mà còn hoang sơ, cát trắng mịn, nước biển lúc
nào cũng xanh ngăn ngắt. Hệ thống giao thông thuận lợi gồm các tuyến
ĐT613 và tuyến đường Thanh Niên chạy dọc suốt ven biển. Biển Bình Minh
có nhiều tiềm năng to lớn để đưa vào khai thác phát triển các loại hình du
lịch như du lịch thể thao, nghỉ ngơi, giải trí…Một trong những thực trạng
đáng ngại và báo động là du khách khi tắm biển không được trang bị phao
cứu sinh, vắng bóng thuyền, ca nô cứu hộ mỗi khi gặp sự cố. Hoạt động chỉ
mang tính tự phát, theo mùa và chật người vào các dịp lễ nhất là 30/4,
ngày1/5, tết Đoan Ngọ Gần đây bãi biển Bình Minh được xây dựng lại
khang trang gồm có bãi đỗ xe, điểm tắm nước ngọt và các dịch vụ ăn uống,
12
Đề tài thực tập tốt nghiệp
môi trường biển ngày càng trong lành dễ chịu. Đây là bãi tắm đầu tiên của
huyện Thăng Bình. Hiện nay bãi biển Bình Minh đang được các công ty
kinh doanh du lịch trong và ngoài nước chú ý đầu tư khai thác. Chắc rằng
trên những bãi cát trắng này trong tương lai sẽ mọc lên những khu nhà nghỉ,
khách sạn, resoft tuyệt đẹp phù hợp với khung cảnh thiên nhiên tươi đẹp của
nơi này. Biển Bình Minh sẽ rực sáng như tên gọi mà cha ông đã đặt tự bao
giờ.
3.3 Bàu Hà Kiều
Hà Kiều nằm cách thị trấn Hà Lam khoảng 100 m về phía Tây Nam với
cảnh đẹp nên thơ, trữ tình của một vùng quê yên ả. Du khách chỉ một lần đặt
chân ghé qua sẽ cảm nhận được vị thơm ngào ngạt của hoa sen, hoa sưa.
Đã thành thông lệ, hằng năm cứ đến rằm tháng 4 và rằm tháng 7 người
dân nơi đây thường tổ chức thả hoa đăng trên bàu như một lời cầu phúc về
cuộc sống thanh bình no đủ của người dân quê quanh năm với mảnh ruộng,
mảnh vườn.
Diện tích bàu Hà Kiều ngày càng bị thu hẹp do quá trình canh tác và
dòng chảy không được khai thông nạo vét, thêm vào đó toàn bộ diện tích Hà
Kiều hiện nay được sử dụng vào mục đích kinh doanh. Một dự án với quy
mô lớn gồm nhiều hạng mục, công trình sắp được khởi công xây dựng trong
tương lai gần, một khu vui chơi giải trí với diện tích tổng thể 1000 m
2
sẽ ra
đời, một chiếc cầu theo dự tính nối liền hai bên bàu Hà Kiều, hồ nước, công
viên mới sẽ mọc lên trong nay mai tạo nên một cảnh quan hài hòa xinh đẹp
và hiện đại. Hy vọng, trong một cấu trúc như vậy, vẻ đẹp của Hà Kiều sẽ
được nhân lên gấp nhiều lần và sẽ là điểm tham quan, thu hút được sự chú ý
của nhiều người.
III.Tài nguyên về nhân văn
1. Công trình kiến trúc, di tích lịch sử cách mạng
1.1 Di tích lịch sử phật viện Đồng Dương
Phật viện Đồng Dương thuộc xã Bình Định huyện Thăng Bình, phật
viện Đồng Dương gắn liền với tên tuổi các vị vua Indravacman II (người
sáng lập vương triều Indrapura). Năm 875 vua Indravacman II đã cho xây
dựng một tu viện phật giáo và đền thờ một vị bồ tát bảo hộ cho vương triều
là Laksmindra Lôkesvara Svabhayada. Tính chất phật giáo đại thừa được thể
hiện rõ qua nội dung bi ký cũng như các tác phẩm điêu khắc ở Đồng Dương.
Dưới triều đại Indravacman II, kinh đô của vương quốc Champa lại được dời
từ vùng Panduranga trở ra vùng Amaravati (khu vực làng Đồng Dương ngày
nay).
Năm 1901, L.Finot, một học giả người Pháp đã công bố việc phát hiện
29 hiện vật ở Đồng Dương, trong đó có một tượng phật bằng đồng cao 178
cm, theo các nhà nghiên cứu thì pho tượng phật này mang yếu tố của nghệ
13
Đề tài thực tập tốt nghiệp
thuật Ấn Độ. Năm 1902, H. parmentiơ đã khai quật di tích Đồng Dương tìm
thấy khu kiến trúc chính của thánh địa cùng với nhiều tác phẩm điêu khắc
quí giá. Theo H. parmentiơ, toàn bộ khu đền thờ chính và các tháp nằm lân
cận phân bố trên một trục từ Tây sang Đông dài 1300m. Khu đền thờ chính
nằm trong một khu vực hình chữ nhật dài 326m, rộng 155m, chung quanh có
tường gạch bao bọc, từ khu đền thờ chính có một con đường dài khoảng
760m, chạy về phía Đông đến một thung lũng hình chữ nhật.
Khu đền thờ chính gồm có 3 nhóm kiến trúc kéo dài theo trục Đông
Tây, các nhóm này được phân cách nhau bởi những bờ tường bằng gạch.
- Nhóm phía Đông: chỉ còn lại dấu vết nền móng của khu nhà dài mà
các nhà nghiên cứu cho rằng khu nhà viện phật giáo (Vihara). Ngôi nhà dài
có mặt bằng hình chữ nhật với hai hàng cột song song theo trục Đông Tây,
mỗi hàng có 8 cột cây bằng gạch, mái nhà có hộ khung gỗ và lợp ngói. Ở
đây có một bàn thờ lớn bằng sa thạch, được chạm trổ nhiều hình người và
hoa văn rất tinh tế. Phía trên bệ thờ là một tượng phật Thích Ca rất lớn ngồi
trên ghế, hai bàn tay để trên đầu gối, kiểu giống như vua Champa ngồi trên
ngai vàng.
- Nhóm Giữa: chỉ còn lại dấu vết các chân tướng, các bậc thềm của một
ngôi nhà dài theo trục Đông Tây. Ngôi nhà này có tường gạch không dài
lắm, cửa ra vào nằm ở hai đầu hồi, trên hai vách tường có nhiều cửa sổ. Ngôi
nhà này cũng được lợp bằng ngói. Ở đây có 4 pho tượng hộ pháp
(Dvarapala) khá lớn, cao khoảng 2 m, mang đậm dấu ấn trong nghệ thuật
điêu khắc Champa.
- Nhóm phía Tây: gồm các đền thờ chính và các tháp phụ xung quanh,
đền thờ này thuộc loại tháp truyền thống của kiến trúc Champa, với mặt
bằng hình tứ giác, cửa ra vào ở hướng Đông, phía trước có tiền sảnh khá dài,
quanh các mặt tường có trụ áp tường được chạm những dải hoa văn bằng lá
cách điệu rậm rịt và xoắn xít như như dạng vết sâu bò, đó là loại hoa văn đặc
trưng của phong cách Đồng Dương.
Chung quanh tháp trang trí hình đầu voi là những hình tháp thu nhỏ
nằm xen kẻ nhau. Trong đền thờ có một bệ thờ lớn bằng sa thạch chạm trỗ
những dải hoa văn hình sâu bò, những cảnh sinh hoạt trong cung đình, một
số cảnh trích đoạn về cuộc đời đức phật Thích Ca. Những hình nét trên các
tượng người ở Đồng Dương được thể hiện cường điệu quá mức, đàn ông có
gương mặt gần như vuông, trán thấp, cung lông mày to rậm và giao nhau,
mũi to, miệng rộng, môi dày, ria mép rậm. Tượng phụ nữ có gương mặt hơi
khô và bộ ngực qua lớn.
Năm 1978, dân địa phương đã đào được một pho tượng nữ thần làm
bằng đồng thau, cao 114 cm, ở gần khu đền thờ chính. Theo các nhà nghiên
cứu, đây là pho tượng bồ tát Laksmindra Lôkesvana, trước đây pho tượng
14
Đề tài thực tập tốt nghiệp
này còn là một mảng tường tháp mà nhân dân địa phương thường gọi là
"tháp Sáng" cùng với nền mảng các công trình kiến trúc và một số đồ trang
trí kiến trúc.
phần lớn các tác phẩm điêu khắc ở Đồng Dương được trưng bày tại bảo
tàng điêu khắc Champa Đà Nẵng. Những tác phẩm điêu khắc của thời kỳ
này đã hình thành nên phong cách Đồng Dương nổi tiếng trong nghệ thuật
Champa từ giữa đến cuối thế kỷ thứ IX.
Khác với Mỹ Sơn, Đồng Dương nằm ngay trong lòng khu dân cư và bị
tàn phá nặng nề bởi chiến tranh, thiên nhiên và con người (người dân lấy
gạch về xây nhà, trâu bò dẫm đạp lên di tích ). Cũng như Mỹ Sơn, kinh
thành Trà Kiệu nhưng kinh thành Đồng Dơưng Indrapuraxưa không được
báo chí nhắc đến trên địa chỉ du lịch, Không có bảng tên đặt bên đường dù
nó chỉ cách quốc lộ 14E không quá 400m. Nên kí ức về sự vàng son của nó
vẫn còn in đậm nét người lớn tuổi nơi đây.
Lội khắp khuôn thành dài hơn cây số rộng gần 500m, bạn sẽ được
người dân địa phượng tận tình chỉ dẫn cho đâu là thành nội, thành ngoại, đâu
là tháp sáng, tháp tối đất thiên thì phải thờ tự, cúng tế, ngày rằm tháng tư
và mồng một tháng chạp là dịp người dân Chăm hậu sinh hưởng niềm vui
hội tụ. Đây không chỉ là dịp gặp gỡ đơn thuần mà còn là cơ hội để họ ôn nhớ
chuyện cũ của tổ tiên đồng thời cũng cố, thắt chặt tình đoàn kết hôm nay.
Khu di tích phật viện Đồng Duương được công nhận di tích cấp quốc
gia ngày 05/01/2001.
Hiện nay có nhiều dự án đầu tư tôn tạo, khai quật của tỉnh của huyện
hy vọng trong một ngày không xa phật viện Đồng Dương sẽ hồi sinh và bất
tử trong lòng những người con quê và những vị khách hành hương.
1.2 Tượng đài Bàu Bàng
Từ ngã tư Hà Lam hướng về phía Đông khoảng 700m bên tay trái nằm
ngay mặt đường ĐT613, nơi đây cầu Bàu Bàng - Bình Phục vào ngày
04/09/1954 nhân dân đã kiên quyết đấu tranh chống laị hành động cướp phá
của bọn bảo an tiểu đoàn 611 liên hợp Pháp. Cuộc đấu tranh bị đàn áp đẫm
máu nhiều người chết và bị thương có cả cụ già, phụ nữ và trẻ em.
Từ điểm xuất phát này dưới sự lãnh đạo của Đảng, cuộc đấu tranh
nhanh chóng lan rộng thu hút hàng vạn người tham gia và đã làm nên cuộc
đấu tranh chịnh trị hiển hách. Cuộc đấu tranh của nhân dân Hà Lam - chợ
Được (Thăng Bình ) đã ghi lại dấu ấn đậm nét trong trang sử đầu của cuộc
kháng chiến chống Mỹ cứu nước vĩ đại của nhân dân Quảng Nam, đã nói lên
tinh thần đấu tranh bất khuất kiên cường trước các âm mưu thủ đoạn thâm
độc của kẻ thù, đồng thời là những chứng tích của Mỹ - Diệm mãi mãi
không phai mờ trong tâm trí của những người dân đất Quảng. Tạc vào nền
trời xanh thẳm bốn bề là cánh đồng lúa xanh tươi, rì rào trong gió như minh
15
Đề tài thực tập tốt nghiệp
chứng và nhắc nhở cho bao thế hệ tương lai về một thời chiến tranh gian khổ
mà vĩ đại của cha anh thuở trước. Đấy là biểu tượng của lòng yêu nước ý chí
quật khởi, anh hùng của con người và vùng quê Thăng Bình kiên cường
này. Ngoài ý nghĩa lịch sử, tượng đài Bàu Bàng sẽ còn là một điểm tham
quan thu hút được sự chú ý của nhiều người. Tham quan tượng đài đấy cũng
là sự ngưỡng mộ và tự hào của những người con đang sống và cả con cháu
mai sau.
Ngoài phật viện Đồng Dưong (Bình Định), tượng đài Bàu Bàng (Bình
Phục), Thăng Bình còn nhiều công trình, kiến trúc, di tích lịch sử cách mạng
như tượng đài chợ Được (Bình Triều), cây Dương Thần (Bình Dương)
trong những năm sắp đến cùng với sự phát triển du lịch của tỉnh, hy vọng du
lịch Thăng Bình ngày càng khởi sắc và chắc chắn đây những địa điểm tham
quan của nhiều du khách trong và ngoài nước.
2. Làng nghề truyền thống
Từ những năm đầu của thế kỷ XV, XVI theo chân những lưu dân vùng
Bắc Bộ mở đất về phương Nam, nhiều ngành nghề thủ công mỹ nghệ đã ra
đời và phát triển mạnh trên vùng đất Quảng Nam nói chung và huyện Thăng
Bình nói riêng. Trải qua hàng trăm năm thăng trầm và thịnh vượng, một số
làng nghề ở Thăng Bình vẫn được gìn giữ theo truyền thống cha truyền con
nối.
2.1 Làng hương
Có một làng nghề ra đời cách nay 250 năm trải qua các giai đoạn thăng
trầm của lịch sử, cư dân nơi đây vẫn duy trì và phát triển làng nghề, bởi nghề
này đã mang lại hiệu quả kinh tế đáng kể tạo việc làm và tăng thu nhập cho
nhân dân khi mùa vụ nhàn rỗi. Đó là nghề làm hương ở khu phố A, thị trấn
Hà Lam, huyện Thăng Bình người dân nơi đây còn gọi là Quán Hương. Sở
dĩ có tên gọi như vậy theo gia phả của làng nghề Quán Hương thì tên gọi
ban đầu của nó là Xóm Hương. Ngày xưa đây không phải là Quán mà là một
xóm hương, và nghề làm hương đã dùng để đặt tên cho xóm. Theo dân làng,
nghề này được du nhập từ xứ Nghệ do một người phụ nữ họ Võ lưu dạy và
truyền cho dân làng.
Làng nằm bên đường quốc lộ 1A, thuộc địa phận thị trấn Hà Lam, cách
thành phố Tam Kỳ 20 km về phía Bắc và cách thành phố Đà Nẵng 50 km về
phía Nam. Dọc quốc lộ 1A, từ Tam Kỳ ra đến Hà Lam, khi đi qua khỏi một
cây cổ thụ tán lá xum xuê, che mát mặt đường và dân địa phương quen gọi là
Cây Cốc, đi khoảng 1km sẽ xuất hiện một cổng chào lớn "làng nghề làm
hương truyền thống Quảng Nam".
Hiện nay ở làng hương Quán Hương có hơn 350 hộ đang làm hương,
giải quyết việc làm cho 450 lao động nông nghiệp khi mùa vụ nông nhàn.
Có 5 cơ sở đóng tại làng nghề vừa xay bột nguyên liệu vừa kinh doanh các
16
Đề tài thực tập tốt nghiệp
loại bột nguyên liệu khác do chưa sản xuất được để cung cấp cho nhu cầu
sản xuất hương các hộ. Với sản lượng cung cấp hàng tháng là 480 tấn gồm:
bột quế, bột keo, bột cưa và các loại bột khác. Ngoài ra còn cung cấp các
nguyên liệu khác như cây chu và nhãn mác cho các hộ trong làng nghề. Mỗi
năm thị trường tiêu thụ trên 50.000 muôn hương (một muôn hương tương
đương với 10.000 cây hương), doanh thu trên 7 tỷ đồng. Thị trường tiêu thụ
chủ yếu ở huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam, các tỉnh Tây Nguyên và một
số xuất khẩu sang Lào và Campuchia.
- Để tạo nên một cây hương hoàn chỉnh thì cần phải có nguyên liệu, vật
liệu và dụng cụ làm hương (chu hương, bột dẻo, hương vị các loại )
- Chu hương nhập từ các tỉnh phía Bắc, chủ yếu là từ Hà Tây.
- Bột cưa mua từ các xưởng chế biến gỗ trong vùng.
- Bột dẻo nhập từ các tỉnh Gia Lai, Đăc Lăk.
- Quế mua từ Tiên Phước, Trà My.
- Trầm hương tổng hợp nhập từ Hà Nội, Hà Giang
- Bao bì cũng nhập từ Hà Nội về.
Có nhiều cách làm hương, như bột đã trộn vào khuôn rồi thổ ra ta được
hương trầm hộp, hương vàng thì phải có thêm công đoạn uốn chu rồi sau đó
thực hiện việc nhúng hương Nhưng chiếm đa số và được làm nhiều nhất
vẫn là hương dài. Có hai cách làm hương dài, đó là nhúng hương và xe
hương (căn hương). Trong đó xe hương là phổ biến hơn cả.
Hương lăn: đây là loại hương làm cổ truyền, có giá thành không cao
chủ yếu dùng cho việc tang ma, và ít sử dụng để thắp vì thân to và ít mùi
thơm.
- Thành phần nguyên liệu: chu hương làm bằng tre, bột cưa, bột cháy,
bột dẻo, phẩm màu vàng tất cả các bột phải được xay cho thật mịn.
- Dụng cụ phục vụ cho việc sản xuất hương: một cái ghế gỗ dài khoảng
1,8 đến 2 m, có chiều cao khoảng 0,5 m, Một cái bàn gỗ cao khoảng 1 m có
gắng thêm một cái khay đựng bột, một bàn chà bằng gỗ có tay cầm, một dao
sắt cạo bàn và một cái nia nhỏ để đựng hương. Cách trộn bột là công đoạn
quyết định sự thành công của cây hương. Tỉ lệ bột như sau: 10 chén bột cưa,
một chén bột dẻo, nửa chén bột cháy trộn đều cùng với nước lả. Không được
quánh khô hoặc lỏng sẽ khó làm và chất lượng cũng không tốt, tất cả trộn
vào với nhau sao cho nó vừa làm là được. Bên cạnh đó cũng phải trộn thêm
bột khô gồm bột cưa và phẩm màu vàng để cùng với bột nhão tạo thành cây
nhan.
- Cách tiến hành: người thợ ngồi vào ghế và đặt chiếc nia lên hai đùi,
tay phải cầm bàn chà, và vân kéo bột dài ra, tay trái cầm bó chu xòe ra.
Người thợ dùng bàn chà xúc bột khô trong khay phía trước bàn đổ dài trên
mặt bàn và tay trái cầm chu hương lăn vào bột khô trước một lần. Tay trái
17
Đề tài thực tập tốt nghiệp
vừa cầm bó chu vừa đưa ra từng cây một đặt lên bột nhão đã được kéo dài
ra, cây chu đặt trên bột nhão khoảng 2/3 độ dài cây. Tay phải đưa bàn chà
bột, tức từ phía người thợ ra phía trước. Chú ý là cái bàn gỗ phải có độ
nghiêng và dốc từ trên xuống, nó phải xuôi về phía người thợ để dễ dàng cho
việc lăn hương. Cứ như thế, tay trái cầm chu quét bột khô, tay phải cầm bàn
chà và kéo bột nhão. Khi tay trái đặt chu hương lên bột nhão thì tay phải
thực hiện chà từ dưới lên trên. Sau khi chà qua một lượt, nhích chu hương đó
sang bên trái bàn chà khoảng 15 cm và lăn lại cho đều. Sau khi đã lăn xong,
người thợ thả từng cây xuống nia cứ như thế cho dến khi hết bó chu. Lúc
này trên nia cũng đã đầy hương thì người thợ đem hương ra phơi, khoảng
cách giữa các cây hương không cần lớn. Khi hương hơi ráo, người thợ tiếp
tục cho chu hương vào phẩm màu đỏ để tạo vẻ đẹp cho cây hương. Sau đó
đem phơi lại cho thật khô. Nếu nắng tốt chỉ cần phơi một buổi là khô, nhưng
nếu nắng yếu và hơi mù thì phải đến hai ngày mới khô. Khi hương khô loại
bỏ những cây không tốt và hỏng ra thực hiện công đoạn tiếp theo là cho
nhãn hiệu và đóng gói. Thế là đã hoàn thành xong một bó hương, một khối
hương và có thể tiêu thụ được.
Với hiệu quả kinh tế từ nghề làm hương mang lại, Ủy ban Nhân dân
tỉnh Quảng Nam đã phê duyệt dự án khôi phục và phát triển làng nghề
truyền thống làm hương ở thị trấn Hà Lam với tổng kinh phí gần 6 tỷ đồng
với qui mô nội dung đầu tư gồm: khu trưng bày sản phẩm, xây dựng cơ sở
sản xuất tập trung, khu nhà xưởng, công trình phục vụ sản xuất, trạm biến
thế điện 100 KVA, đường dây hạ thế và chiếu sáng, hệ thống cấp thoát nước
và và hệ thống xử lý môi trường, thiết bị chẻ tre làm chu hương, máy xay
bột, giàn phơi, thiết bị sấy, đào tạo chuyển giao công nghệ, mua xe vận
chuyển nguyên liệu, sản phẩm. Bước đầu đã xây dựng được cổng làng, làm
đường bêtông dài 1.100 m, trồng cây hai bên đường đã tạo ra cảnh quan môi
trường xanh - sạch - đẹp. Đặc biệt, đã chuyển giao công nghệ sản xuất
hương vàng Hà Tây vào làng nghề.
Tuy nhiên hiện nay làng nghề Quán Hương vẫn chưa có ngày giỗ tổ
nghề riêng để lưu truyền. So với tiềm năng, vị trí, lao động của làng thì nghề
hương còn phát triển chậm, mang tính tự phát, nhỏ lẻ, chưa có sự quy hoạch
sản xuất cụ thể và qui mô. Đại đa số các cơ sở của làng có qui mô sản xuất
nhỏ, chủ yếu là làm thủ công, cơ sở vật chất còn nghèo nàn, lạc hậu, chất
lượng sản phẩm chưa cao nên khả năng cạnh tranh còn hạn chế.
Làng hương truyền thống Quán Hương được khôi phục và phát triển sẽ
tạo ra một diện mạo mới về làng nghề truyền thống nông thôn với phương
thức sản xuất mang tính tập trung, đảm bảo môi trường và mang lại hiệu quả
kịnh tế cao, góp phần tăng trưởng nền kinh tế địa phương trong thời kỳ công
nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn theo Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện
18
Đề tài thực tập tốt nghiệp
Thăng Bình đã đề ra. Nghề hương cũng chính là nét văn hóa đặc trưng của
quê hương Thang Bình. Trong tương lai không xa sẽ thu hút khách du lịch
thập phương đến với làng nghề.
2.2 Làng nước mắm Cửa Khe - Bình Dương
Bình Dương - một xã vùng Tây của huyện Thăng Bình, nơi mà người ta
ví như một cánh buồm. Nơi đây nằm sát biển Đông, ngày đêm sóng vỗ, có
dòng Trường Giang xanh mát lượn lờ xuôi về phố cổ Hội An. Đến với mảnh
đất Bình Dương, nhà thơ Dương Hương Ly đã từng viết:
"Thôn 6 Bình Dương bãi cát sóng dồi
nắng long lanh trong mắt người bám biển"
khi nói đến Bình Dương, người ta sẽ nghĩ ngay đến cái nắng cái gió của
một vùng cát chói chang. Bình Dương xanh rì rào sóng và gió. Buổi sáng
nắng chói rạo rực, buổi chiều vang vang lời tự tình của rừng dương xanh lá.
Trải qua nhiều tên gọi khác nhau: xưa là làng Cửa Khe, sau đổi thành làng
Duy An - Hà Tây và hiện nay trên địa giới hành chính gọi là thôn 6 - Bình
Dương. Tên gọi xưa không còn nhưng dấu tích của một làng quê gắn với
nghề làm mắm luôn được mọi người nhắc đến.
Làng nước mắm Cửa Khe, cách quốc lộ 1A thị trấn Hà Lam xuống
khoảng 13 km. Với vị trí địa lý thuận lợi cho dân cư sinh sống, tại vùng đất
này có điều kiện phát triển nghề đánh bắt và chế biến hải sản. Đặc biệt hải
sản đánh bắt tại vùng biển này đưa vào chế biến cho ra những sản phẩm
ngon và nổi tiếng từ xưa . Trong đó nước mắm Bình Dương là sản phẩm sản
xuất từ cá cơm than chất lượng không kém sản phẩm của các nơi khác như
Nam Ô, Phan Thiết, Phú Quốc…
Sở dĩ nước mắm Cửa Khe tạo nên thương hiệu riêng và nổi tiếng là nhờ
kỷ thuật và kinh nghiệm pha chế đã có từ bao đời.
Mỗi gia đình có một bí quyết làm nước mắm riêng nhưng muốn có
nước mắm ngon đòi hỏi rất công phu. Muối ướp cá là thứ muối lấy từ Quảng
Ngãi, Khánh Hòa, Bình Thuận hạt trắng tinh, to, già, được nắng mang vào
đổ trên nền xi măng khô ráo 5 đến 7 ngày cho chảy hết chắt nước đọng. Sau
đó cho vào vải cột trước khi đem làm.
Cá phải muối ngay khi còn tươi, cá muối không cần phải rửa lại vì
trước khi lên bờ đã được rửa bằng nước biển. Nếu rửa bằng nước ngọt sẽ
làm cho cá mất ngon, để lâu sợ bã thối. Muối một lần không muối nhiều lần
theo tỉ lệ 5 cá thì 2 muối rồi đổ vào thau trộn đều nhưng không làm nát.
Muối xong cho vào chum sành, chum bằng gỗ mít, hay thùng ca nô tuỳ theo
mỗi nhà. Nếu đổ vào chum thì những dụng cụ này phải được trán rửa sạch
sẽ, để ráo nước, dưới đáy chum phải chèn sạn. Phải đổ mắm vào chum cùng
một lần thì mắm mới ngon, tránh hôi kháng, trên bề mặt cá rắt một lớp muối
để không bị thình. Để trong khoảng thời gian một tháng rồi tày lên, dùng
19
Đề tài thực tập tốt nghiệp
dầm gỗ để tày, không dùng thanh tre để tránh thối mắm. Kể từ thời gian đó,
ta cứ thỉnh thoảng tày để mắm và sát đều nhau. Khi nước mắm đứng lên trên
thì không tày nữa, thông thường mắm mà có trứng ván nổi lên trên là mắm
đấy ngon. Để mắm được 6 - 9 tháng thì có thể pha chế.
Tương tự như mắm đổ vào chum thì muối cá bằng thùng ca nô cũng
vậy tuy nhiên, trước khi đổ mắm vào thì làm công đoạn đắp lù. Dùng sạn,
bao lát và chổi xương để kết thành tấm. Trước hết là đổ sạn quanh miệng
của lỗ rút lù, sau đó cho bao cát và chổi xương lên trên nhớ phải chừa một
khoảng để sau này mắm nước chảy qua, rồi đổ lên một lớp muối, tiếp đó cho
cá vào, dùng tấm bia đan để đậy thùng để nơi khô ráo, sạch sẽ, kín gió.
Để gạn được mắm thì phải dùng rổ gạn, khăn gạn, ca nô, canh và phểu.
Mắm khi được 6 - 9 tháng đã chín thục có thể gạn được.
Hiện nay làng nghề có 200 hộ sản xuất và chế biến hàng hải sản giải
quyết hơn 100 lao động chuyên nghiệp và gần 300 lao động phụ (chủ yếu là
lao động trong mùa vụ). Có 2 cơ sở đóng tại làng nghề vừa chế biến hải sản
vừa kinh doanh. Hằng năm sản lượng hải sản đánh bắt 55 - 60 tấn /năm bán
ra thị trường 90% doanh thu khoảng 5 - 7 tỷ đồng/năm. Tuy nhiên, phần lớn
số hộ sản xuất đơn lẻ chưa đầu tư sản suất mạnh, có 12 hộ sản xuất với quy
mô lớn nhưng cơ sở vật chất phục cho việc chế biến vẫn chưa đáp ứng được
nhu cầu sản xuất.
Những năm gần đây tỉnh, huyện đã có sự quan tâm đến việc khôi phục
và phát triển làng nghề truyền thống. Nhiều chủ trương chính sách phát triển
làng nghề truyền thống ra đời tạo điều kiện cho làng nghề có cơ hội phát
triển. Trong quá trình hoạch định chính sách quy hoạch và phát triển tuyến
du lịch ven biển làng nước mắm Cửa khe có điều kiện để phát triển và nếu
có sự đầu tư đúng mức thì hiệu quả kinh tế - xã hội của làng nghề mang lại
là rất lớn.
3. Lễ hội
Lễ hội là hình tức tái hiện lại cuộc sống quá khứ bằng các hình thức tế
lễ và trò chơi. Đó là cuộc sống lao động và sáng tạo chống lại thiên nhiên,
địch họa được thể hiện dưới dạng những hoạt động văn hóa, tinh thần vô
cùng sinh động như các hình thức tế lễ, trang phục truyền thống, những bài
văn tế, những điệu múa hát, nhạc cụ trò chơi dân gian.
3.1 lễ hội cầu ngư
Đến với biển, không tìm hiểu những nét văn hóa đậm chất biển quả là
điều thiếu sót. Đặc biệt là lễ hội cầu ngư - một nét văn hóa đặc sắc của cư
dân ven biển. Đầu xuân các cư dân xã Bình Minh (Thăng Bình) náo nức tổ
chức lễ hội cầu ngư - lễ hội mang tính nghề nghiệp. Lễ hội gắn với tín
ngưỡng thờ cá Ông - một vị thần bản mệnh liên quan đến sự hưng thịnh của
vạn chài.
20
Đề tài thực tập tốt nghiệp
Có nhiều cách giải thích khác nhau về nguồn gốc của tục thờ cúng này
cũng như những ý nghĩa mà lễ hội mang lại. Tuy nhiên, tất cả các ý kiến đều
cho rằng đây là một tín ngưỡng cổ truyền của người Chăm được người Việt
tiếp thu trong quá trình giao lưu tiếp biến văn hóa chỉ xuất hiện từ Nam Đèo
Ngang trở vào. Đến với lễ hội cầu ngư bạn sẽ cảm nhận được những kỳ tích,
huyền thoại, truyền thuyết liên quan đến cá Ông mà cả dân tộc Chăm và dân
tộc kinh tôn kính.
Lễ hội cầu ngư được tổ chức trên bãi biển và hướng về biển Đông,
trong thời gian hai ngày, thành phần tham dự là vạn ghe, tàu, thuyền đi biển.
Ngoài ra, còn có một số đại biểu các xã, huyện lân cận. Hình thức và nội
dung của lễ hội bao gồm các phần lễ và hội.
Phần lễ chính: phần lễ long trọng, trang nghiêm và thành kính nhất,
đồng thời cũng là ngày hội của vạn chài tỏ lòng tôn kính đối với thần Nam
Hải và những âm linh không may bị tử nạn trên biển khơi.
- Lễ vọng: được tổ chức từ sáng sớm ngày thứ nhất với mục đích là cáo
giỗ và cầu nguyện với tâm thức là cầu xin thần báo ứng cho vạn chài điềm
lành, dữ trong tâm.
- Lễ nghinh rước: khiêng kiệu rước hồn cá Ông, các vị thần linh và rước
vong hồn của những ngư dân chẳng may đã chết biển trở về cỏi siêu thoát.
- Lễ cúng âm linh (cô hồn): diễn ra tại sân lăng, lễ vật tuyệt đối không
dùng hải sản mà chỉ dùng các sản vật nông nghiệp như khoai, sắn, cháo
thánh, trầu, rượu, vàng bạc, áo giấy, hương hoa…nội dung của văn tế nói về
tình cảm nhân ái của cộng đồng vạn chài dành cho người chết: "sống đã khổ
thác thêm khổ nữa, biết lấy ai phụng thờ quảy đơm"
Phần hội náo nhiệt, vui vẻ, thu hút được sự tham gia đầy đủ, đông đảo
ngư dân và người xem hội bằng những cuộc thi tài: đua ghe, lắc thúng chai,
kéo co trên bãi biển…
Khác với những địa phương khác như Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa
Thiên…phổ biến với tiết mục hò khoan, Quảng Ngãi là hát bội, thì ở Quảng
Nam nói chung và các xã ven biển Thăng Bình nói riêng là hát bả trạo, hò
đưa linh Ông về bến Giác Hải. Hát bả trạo là một hình thức diễn xướng nghi
lễ dân gian gắn với tục thờ cá Ông, tham gia chủ yếu là những nam ngư
trong vạn chài, ăn mặc theo sắc phục truyền thống. Hát bả trạo được trình
diễn với ba tổng : tổng mũi (tổng tiền), tổng khoan (tổng thương), tổng lái
(người chỉ huy) và đám bạn chèo đưa Ông trong ngày hội tất cả khoảng 16
người.
Dẫn đầu đoàn chèo đưa Ông trên một chiếc thuyền rồng rực rỡ là tổng
mũi, tiếp đến là tổng khoan, tổng lái sau cùng, ra đến giữa sân đám chèo xếp
thành một vòng tròn sau đó tách ra thành hai hành chẵn. Sự phối hợp nhịp
nhàng giữa những tổng và các bạn chèo đưa linh tạo nên một bản hợp hình
21
Đề tài thực tập tốt nghiệp
sống động, với những động tác vừa kịch vừa tuồng. Buổi diễn ca ngợi công
đức giải nạn cứu khổ của cá Ông được tái hiện với những hình ảnh sóng gió,
những niền vui khi cứu nạn, trang nghiêm khi thương tiếc và biết ơn.
Gắn với tín ngưỡng thờ cá Ông, hát bả trạo đậm màu sắc bi ai nhưng
không hề bi lụy, ta cảm nhận ở đó tinh thần lạc quan, yêu cuộc sống yêu
nghề mặc dù ngày ngày phải đối đầu với sóng gió, đương đầu với quỹ dữ nơi
biển sâu.
Sau buổi hội bả trạo là lễ hội đua thuyền truyền thống, nhằm biểu
dương cuộc sống sông nước phong phú, đồng thời tạo không khí vui tươi
cho lễ hội. Đây là một lễ hội khá tiêu biểu của các cư dân ngư nghiệp, thể
hiện ước vọng an lành, may mắn trong cuộc sống khi đương đầu với sóng
gió, tinh thần đoàn kết tương trợ trong lao động và sản xuất. Lễ hội còn là sự
kết hợp, dung hoà tài tình giữa những yếu tố văn hoá Chăm – Ân Độ giáo
với đạo Phật trong quá trình tiếp biến trên mảnh đất Quảng Nam, trong đó cá
Ông - một linh vật biển được thần thánh hoá, được tôn vinh không chỉ lúc
sống mà cả khi đã chết. Điều đó không những thể hiện trí tượng phong phú,
sáng tạo mà còn thể hiện tình cảm sâu sắc của con người đất Quảng đối với
thiên nhiên đất nước và con người.
3.2 Lễ hội rưới cộ Bà chợ Được
Tiếp nói truyền thống "uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ kẻ trồng cây "
nhân dân xã Bình Triều huyện Thăng Bình đã dành cho bậc khai canh, khai
cư ở đây một niềm ngưỡng vọng thiêng liêng và lòng biết ơn sâu sắc :
"Hằng năm mười một tháng giêng
Chưng cộ, hát bộ đua thuyền tri ân "
Đã thành lệ, hằng năm vào ngày 11/1 âm lịch, sau khi ăn tết Nguyên
Đán xong người dân xã Bình Triều huyện Thăng Bình lại lo tổ chức lễ rước
cộ Bà chợ Được. Đây không chỉ là lễ hội lớn nhất, long trọng nhất mà còn là
ngày hội của cả vùng thu hút không chỉ nhân dân địa phương tham dự mà cả
các vùng lân cận, xa xôi nao nức kéo về.
Theo tài liệu và theo tương truyền, nữ thần là người Châu Phiếm ÁI,
khi sinh ra có những điểm khác lạ : là con nhà giàu có, sinh tại nơi khuê các
nhưng lại có bụi mù mịt, mây trắng bồng bềnh, dáng người khoẻ mạnh, trắng
như tuyết, bước đi khác thường, tiếng nói sang sảng. Đến tuổi trưởng thành,
Thần có ý định từ giã cỏi trần. Ngày 19 tháng 11 năm Đinh Sửu - 1818,
Thần quy tiên. Khi còn sống thân thẻ Bà không có xương, nên khi chết hồn
Bà bay đi khắp nơi, rất linh thiêng và tôn hiển. Bà hành nghề bốc thuốc,
chữa bệnh cứu nhân độ thế, biến hoá thần thông trừng trị bọn tham quan, và
cũng chính bà đã linh ứng tạo dựng nơi bãi cát hoang vắng này thành ngôi
chợ. Tưởng nhớ đến công lao của Bà, dân làng địa phương đã lập lăng thờ,
22
Đề tài thực tập tốt nghiệp
hằng ngày hương khói, định ra hai ngày tế lễ hằng năm là ngày sinh (25 – 2)
và ngày mất (19 - 11) để cầu an và truy niệm.
Rước cộ Bà Chợ được là lễ hội thường niên nên quy mô và thời gian
diễn ra dài ngắn tuỳ thuộc vào kinh phí của địa phương. Tuy nhiên, dẫu quy
mô như thế nào thì lễ hội vẫn phải đảm bảo những phần chính : khoe sắc, tế
lễ, vui chơi, rước cộ.
Phần khoe sắc (hay còn gọi là rước sắc) thường đươc tổ chức trước tế lễ
một ngày, vào buổi chiều ngày 10 /1 âm lịch. Ban khoe sắc tập trung đầy đủ
trước sân đền, xếp theo hai hàng cờ, quạt, chiêng, trống đầy đủ chờ ông thủ
sắc vào báo cáo Bà để tiến hành nghinh sắc ra khỏi đền.
Đi đầu đám rước là sáu thanh niên cầm 6 cây cờ, tiếp theo là 8 người
cầm 8 cây pêtít, 4 người cầm hèo, và một người cầm trống, sau đám cờ trống
là ban nhạc cổ bát âm (đàn, trống, kèn, phách, choã, chiêng, mỏ, sáo). Đi sau
là các bô lão, chức sắc và dân làng. Đi cuối đoàn rước là kiệu sắc phong và
ban nhạc cổ. Hành trình của đám rước là đi một vòng quanh chợ qua hết các
biểu thờ của các gia đình trong chợ rồi quay về đền.
Lễ tế diễn ra ngay trong lăng theo một trình tự nhất định trong làn khói
nghi ngút, thoang thoảng mùi trầm với ban nhạc lễ và những lời xướng bằng
chữ hán cổ (đôi khi khó hiểu với người đương đại) dường như có sự hiển
hiện của Bà đâu đây. Lễ vật dâng cúng rất dơn giản, gồm 6 mâm lễ vật đặt ở
6 bàn, ngoài hương, hoa, trà, quả, câu trầu và 6 nãi chuối chủ yếu là đồ chay
như xôi, cơm, bánh, đồ xào. Nhưng trong những năm gần đây lễ vật dâng
cúng đã chuyển sang đồ mặn. Khi lễ tế kết thúc, các lễ vật ban cho dân làng
và người dự lễ coi như lộc của Bà. Đây là một trong những lễ hội phản ánh
dấu vết tín ngưỡng phồn thực ở cư dân nông - ngư nghiệp vùng biển Quảng
Nam cũng như các xã vùng Đông của huyện Thăng Bình. Thể hiện sự biết
ơn đối với công đức của các bậc tiền nhân, đồng thời qua đó thể hiện ước
vọng, mong muốn an lành trong cuộc sống, được mùa lúa, mùa cá.
Các hoạt động vui chơi trong ngày hội rất sôi nổi và háo hức như : đua
thuyền, đập niêu đất, nấu cơm thi, hát bội, hô bài chòi…
- Đua thuyền là hoạt động thường lệ hằng năm, có sức hấp dẫn và thu
hút nhiều người xem nhất. Ở huyện Thăng Bình, đua thuyền là xương sống
của phần hội trong lễ hội rước cộ. Đó là bức tranh hoành tráng trên sông
nước làng quê. Ngoài sự quy tụ một khối lượng lớn thuyền đua từ Đà Nẵng
vào, từ Quảng Ngãi ra còn lại là các thuyền đua đến từ các địa phương trong
huyện. Ở hai bên bờ sông là hai rừng người khổng lồ, reo hò cổ vũ làm náo
động cả một khúc. Tất cả hoà vào nhau, tạo nên một bản hợp xướng hội hè
sông nước vui tươi đầy sức sống trong những ngày lễ hội.
- Hội nấu cơm thi : Nếu đua thuyền là hoạt động chỉ có nam thanh niên
tham gia thì nấu cơm sẽ là trò chơi phong phú hơn bởi có cả nam thanh nữ tú
23
Đề tài thực tập tốt nghiệp
cùng chơi. Cuộc thi là dịp để những nam nữ thanh niên thể hiện sự khéo léo
của mình, đồng thời giúp họ giao lưu tìm hiểu nhau tạo tiền đề cho những
mối lương duyên liên làng, liên xã.
- Lễ rước cộ: Chia tay với những trò chơi thôn dã, người dân như mệt
lả, nhưng không ai bảo ai trong đêm rước cộ họ đều đến dự đông đảo với
những khuôn mặt đầy ắp nụ cười. Dưới ánh trăng thượng tuần tháng giêng,
mọi người từ khắp nơi đổ về mỗi lúc một đông. Đúng 8 giờ tối, cộ được khởi
hành từ lăng Bà đi xung quanh chợ. Đầu tiên là đội lân đi mở đường, kế theo
là cộ của các thôn. Cộ được làm bằng tre, nứa, giấy, vải, sơn màu. Trên bàn
cộ chưng các sự tích liên quan như hình tượng Bà. Về sau theo đà phát triển
của lễ hội, các anh hùng dân tộc (Thánh Gióng, Hai Bà Trưng, vua Quang
Trung…), anh hùng thời đại (Kim Đồng, Võ Thị Sáu, Hồ Chí Minh…) được
thêm vào cho đa dạng và phong phú. Những hình tượng này đều do các nghệ
nhân tại địa phương xây dựng nên, mà người thủ vai là những đứa trẻ gương
mẫu, tiêu biểu của làng, được hoá trang rất khéo, hoá trang thành nhân vật
mà mình sắm vai.Trước đây, cộ di chuyển được nhờ khiêng, ngày nay dùng
xe kéo thay thế.
Nội dung cộ biểu hiện tình cảm nhớ ơn tiền nhân, qua đó cầu cho "điều
dữ mang đi, điều lành mang tới", chính những biểu tượng trên đã gợi lại
truyền thống đấu tranh của dân tộc là chất keo gắn kết người dân hôm nay
với người đã khuất tạo ra khối cố kết cộng đồng. Tuy đây chỉ là lễ hội mang
tính chất một khu vực hẹp liên làng (không lớn như các lễ hội ở miến Bắc)
nhưng với một vùng quê nhỏ như chợ Được lại duy trì được một ngày hội
như vậy từ bao đời nay quả là đáng trân trọng lắm thay.
4. Ẩm thực – hương vị đồng quê
Tìm hiểu, nghiên cứu hay thương thức các món ăn là một sự hành xử
văn hoá tìm đến cội nguồn, tôn vinh ngành nghề truyền thống dân tộc, tìm
cái tinh hoa, tinh tuý ở mỗi địa phương, vùng miền để hiểu được phần nào
kho tàng vă hoá ẩm thực vốn gắn bó, nuôi sống chia sẻ với con người trong
từng món ăn, miếng ăn, có khi là sở thích riêng, có khi là sự khám phá thú
vị. Thăng Bình một miền quê nghèo nhưng bằng sự khéo léo và sáng tạo của
mình người dân nơi đây đã chế tạo nên những món ăn rất dân dã và cũng rất
riêng từ những nguyên liệu sẵn có (trong nhà, trong vườn, ngoài ao, ngoài
chợ…) và rất dễ kiếm.
4.1 Mì Quảng
Một đặc sản ẩm thực của đất Quảng Nam là món mì Quảng. Sợi mì
được chế biến từ gạo như bánh phở, song khi xắt có thoa dầu để sợi mì rời
và béo mướt. Không phải bất kỳ gạo nào đem tráng mì cũng được mà phải là
gạo 13/2 để lâu ngày đem xay bột thì tráng lá mì mới mỏng, mới ngon. Nước
nhân có thể đủ loại như tôm, cua, cá, thịt bò, thịt gà, thịt heo… được ướp gia
24
Đề tài thực tập tốt nghiệp
vị thích hợp và xào nhiều dầu phộng. Lượng nước nhân cho một tô mì không
nhiều như bún, phở. Rau sống phải là bắp chuối xắt mỏng trộn với cải con
và rau mùi. Hai phụ gia cần cho tô mì ngon là đậu phộng rang giã dập và
bánh tráng nướng bóp vụn. Ớt phải là quả ớt xanh nhưng già cắn ăn nghe
giòn tan, cay và thơm ngon. Ăn mì Quảng thích nghi với mọi đối tượng,
song có lẽ phù hợp hơn cả là với người lao động. Nó đáp ứng được nhu cầu
no, ngon, không ngán.
Sau một cuộc dạo chơi mệt nhoà có lẽ du khách sẽ thấy tô mì Quảng
như ngon hơn, thơm hơn. Tự bao giờ tô mì Quảng đã đi vào tiềm thức như
cái tình của người dân quê: “anh đi cách trở sơn khê, nhớ tô mì Quảng tình
quê mặn nồng”. Ngày nay tô mì Quảng khó giữ được hương vị đậm đà như
thuở nào, không nghe người dân quê rủ nhau “đi ăn rơm” (cách nói dân dã
của việc đi ăn mì). Tuy nhiên, vẫn có điều an ủi cho những người con xa xứ
hay những người trót “nghiện” mì như tôi, ở quê mình vẫn còn giữ được
những hàng quán giữ được cái “hồn” của mì Quảng : quán mì bà Cả (Bình
Nguyên), quán mì bà Tự (Hà Lam), quán mì gà Bình Nguyên… Ăn tô mì
Quảng là bạn đã thưởng thức trọn vẹn sự kết hợp hài hoà của các vị chua
cay, thơm béo, mặn ngọt. Sự kết hợp dó kích thích vị giác làm cho mì Quảng
dễ dàng hợp với khẩu vị dà bạn là người kén ăn hay sành ăn.
4.2 Bánh xèo
Liệu bạn có tin rằng chỉ với một món ăn mà bạn phải huy động cả 5
giác quan để thưởng thức? Muốn ăn bánh xèo thì vậy thôi. Ngồi chờ từng cái
bánh nóng hổi vừa thổi vừa ăn, tai bạn sẽ được nghe tiếng “xèo” khi đổ bột
vào chỗ dầu đang sôi, mắt bạn sẽ nhìn thấy sự hài hoà màu sắc trong một cái
bánh và quan sát thêm lúc nào thì bánh “xê” chín. Bạn sẽ hít được cái hương
vị thơm nồn nàn khá quyến rũ, tay bạn cuốn miếng bánh vàng ruộm chấm
mắm rồi đưa lên miệng cắn một miếng ngon lành… quá hấp dẫn, có lẽ vì thế
mà xưa đến nay tôi chưa hề thấy một kỳ nhân nào chê bánh xèo cả. Bánh
xèo ở quê tôi gọi là “đúc” chứ không gọi là “đổ” như người dân Nam Bộ vẫn
gọi. Khi đổ bánh xèo các bà, các chị Nam Bộ thường rắc giá và các loại
nhân, đậu xanh luộc chín lên trên lớp mặt bánh chờ cho bánh chín thì gập
đôi bánh lại rối vớt ra đĩa. Còn ở quê tôi thì cho giá sống vào trước rồi cho
hỗn hợp bột lên trên. Hỗn hợp bao gồm bột gạo pha nước vừa phải, các loại
nhân, trứng gà (vịt) nếu có. Như vậy khi bánh chín mọi thứ đều dính vào
nhau nếu không gấp lại đi nữa thì nhân bánh cũng khó bề rơi rớt. Bánh xèo
xứ Quảng không thêm đậu xanh và nước cốt dừa. Đến đây thì mới thấy được
sự khác nhau giữa việc “đúc” và “đổ” bánh xèo.
Những ngày đông se lạnh (nếu trời có mưa lất phất vài hạt nữa thì càng
tuyệt), ngồi bên bếp lửa ấm áp, được thưởng thức những cái bánh xèo vừa ra
lò nóng rát tay thì dẫu có cho vàng cũng không đổi được. Bánh xèo Quảng
25