BỘ NỘI VỤ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NỘI VỤ HÀ NỘI
ĐỀ TÀI:
TRÌNH BÀY VAI TRỊ CỦA CHỨC NĂNG KIỂM SỐT.
LIÊN HỆ THỰC TIỄN TRONG HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ
BÀI TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN
Học phần: Quản lý học đại cương
Mã phách:………………………………….
Hà Nội – 2022
LỜI CẢM ƠN
Đề tài nghiên cứu “Trình bày vai trị của chức năng kiểm sốt. Liên hệ
thực tiễn trong hoạt động quản lý” là kết quả của q trình cố gắng khơng
ngừng học hỏi và tìm tịi của bản thân, cùng với đó là sự giúp đỡ nhiệt tình của
các thầy cơ. Trong suốt q trình học môn “Quản lý học đại cương” vừa qua, tôi
xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất đến cơ - ThS. Trần Thu Trang đã
chỉ bảo tận tình giúp tơi có được nền tảng kiến thức để có thể làm nên đề tài này.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng để thực hiện đề tài một cách hoàn chỉnh nhất nhưng
đề tài sẽ không tránh khỏi những thiếu sót mà bản thân chưa thấy được. Vì vậy,
tơi rất mong nhận được sự góp ý của thầy cơ để đề tài này được hồn chỉnh hơn.
Tơi xin chân thành cảm ơn!
MỤC LỤ
LỜI CẢM ƠN
MỞ ĐẦU..............................................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài.............................................................................................1
2. Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu.........................................................1
3. Kết cầu đề tài...................................................................................................2
NỘI DUNG...........................................................................................................3
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHỨC NĂNG KIỂM SỐT TRONG
HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ...................................................................................3
1.1. Một số khái niệm có liên quan.....................................................................3
1.1.1. Quản lý........................................................................................................3
1.1.2. Kiểm soát.....................................................................................................3
1.2. Các yêu cầu đối với kiểm soát.....................................................................3
1.3. Phân loại kiểm soát.......................................................................................5
Tiểu kết chương 1................................................................................................6
Chương 2. VAI TRỊ CỦA CHỨC NĂNG KIỂM SỐT VÀ LIÊN HỆ
THỰC TIỄN VAI TRỊ CỦA KIỂM SỐT TRONG HOẠT ĐỘNG THỰC
THI CÔNG VỤ CỦA ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC............................7
2.1. Vai trị của chức năng kiểm sốt.................................................................7
2.1.1. Kiểm sốt nhằm đảm bảo cho các kế hoạch được thực hiện với hiệu
quả cao nhờ việc chủ động phát hiện kịp thời những sai sót trước khi chúng
trở nên nghiêm trọng............................................................................................7
2.1.2. Kiểm soát nhằm đảm bảo thực thi quyền lực quản lý của người lãnh
đạo tổ chức............................................................................................................8
2.1.3. Kiểm soát giúp tổ chức theo sát và đối phó với sự thay đổi của mơi
trường....................................................................................................................9
2.1.4. Kiểm sốt tạo tiền đề cho q trình hồn thiện và đổi mới......................9
2.1.5. Kiểm soát tạo điều kiện để thực hiện một cách thuận lợi các chức năng
uỷ quyền, chỉ huy và thực hiện chế độ trách nhiệm cá nhân...........................10
2.2. Liên hệ vai trị của kiểm sốt trong hoạt động thực thi công vụ của đội
ngũ cán bộ, công chức hiện nay........................................................................11
2.2.1. Vai trị của kiểm sốt trong hoạt động thực thi công vụ của đội ngũ cán
bộ, công chức......................................................................................................11
2.2.2. Thực trạng kiểm soát trong hoạt động thực thi công vụ của đội ngũ cán
bộ, công chức......................................................................................................12
2.2.3. Đánh giá thực trạng kiểm sốt trong hoạt động thực thi cơng vụ của đội
ngũ cán bộ, công chức.......................................................................................16
2.3. Giải pháp nâng cao hiệu quả kiểm soát trong hoạt động thực thi công
vụ của đội ngũ cán bộ, công chức hiện nay.....................................................18
Tiểu kết chương 2..............................................................................................20
KẾT LUẬN........................................................................................................21
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.........................................................22
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Sau khi tiến hành các chức năng lập kế hoạch, tổ chức, nhân sự và lãnh
đạo thì mơ hình hoạt động của một tổ chức vẫn chưa hoàn chỉnh. Do vậy nhà
quản lý phải tiến hành giám sát và đánh giá công việc nhằm hạn chế tới mức tối
đa các sai sót, hay có thể nói nhà quản lý đã tiến hành chức năng kiểm soát.
Kiểm soát là chức năng cuối cùng của hoạt động quản lý. Kiểm sốt được xem
như là q trình cung cấp các thông tin phản hồi, giúp cho việc khắc phục những
nhược điểm của công tác quản lý, đảm bảo cho tổ chức đạt được những mục tiêu
đã đề ra.
Kiểm sốt hiệu quả là một trong số các bí quyết để gia tăng lợi nhuận của
các doanh nghiệp cũng như giúp hệ thống của khu vực công vận hành một cách
thực chất và hiệu quả. Nhà quản lý không thể xác định mức độ hồn thành cơng
việc của bộ phận nếu không đo lường được việc đã thực hiện và so sánh với tiêu
chuẩn đã xây dựng. Trên cơ sở đó, các nhà quản lý nhận thấy những khiếm
khuyết trong hệ thống của tổ chức, phát hiện ra sự sai lệch và nguyên nhân của
sự sai lệch. Đồng thời, đề ra những quyết định điều chỉnh kịp thời. Mặt khác,
các hoạt động kiểm soát đảm bảo cho sự tồn tại và duy trì tính hiệu quả của mỗi
cá nhân, mỗi nhóm, mỗi bộ phận và tổ chức. Một hệ thống kiểm soát hữu hiệu
sẽ thúc đẩy và cho phép mỗi nhân viên tự kiểm soát bản thân hơn là chịu sự
kiểm sốt từ người khác. Chính sự tự giác sẽ giúp cơng việc được hiệu quả hơn.
Do đó, có thể nói chức năng kiểm sốt là một chức năng cơ bản của quản lý.
Để hiểu rõ hơn vai trò quan trọng của chức năng kiểm soát trong hoạt
động quản lý về mặt lý thuyết và thực tiễn, tôi quyết định chọn chủ đề “Trình
bày vai trị của chức năng kiểm soát. Liên hệ thực tiễn trong hoạt động quản
lý” để làm bài tiểu luận kết thúc học phần.
2. Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu
- Nhiệm vụ nghiên cứu
+ Hệ thống hóa các khái niệm liên quan đến chức năng kiểm sốt trong
hoạt động quản lý.
+ Tìm hiểu về các yêu cầu đối với kiểm soát và phân loại kiểm sốt.
+ Làm rõ vai trị của chức năng kiểm soát và liên hệ thực tiễn trong hoạt
động thực thi công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức.
+ Từ thực trạng, đánh giá thực trạng kiểm soát trong hoạt động thực thi
công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu
quả kiểm sốt trong hoạt động thực thi cơng vụ của đội ngũ cán bộ, công chức
hiện.
- Phương pháp nghiên cứu
Trong bài tiểu luận này tôi sử dụng tổ hợp các phương pháp: phân tích tổng hợp, quy nạp - diễn dịch... Bên cạnh đó, tiểu luận cịn sử dụng một số
phương pháp nghiên cứu khoa học xã hội khác như: khảo cứu tài liệu, so sánh đối chiếu…
3. Kết cầu đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung của đề tài
được bố cục trong ba chương như sau:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về chức năng kiểm soát trong hoạt động quản
lý
- Chương 2: Vai trị của chức năng kiểm sốt và liên hệ thực tiễn vai trị
của kiểm sốt trong hoạt động thực thi công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức.
NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHỨC NĂNG KIỂM SỐT
TRONG HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ
1.1. Một số khái niệm có liên quan
1.1.1. Quản lý
Khi đề cập đến quản lý có một cách tiếp cận nhận được sự ủng hộ của
nhiều nhà khoa học và nhà quản lý thực tiễn, đó là: Quản lý là sự tác động có tổ
chức, có đích hướng của chủ thể lên đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu dự
kiến [4, tr.40].
1.1.2. Kiểm soát
Trong hoạt động quản lý không thể thiếu việc xem xét, đánh giá, điều
chỉnh các kế hoạch và các hoạt động nhằm đảm bảo cho hệ thống vận hành của
tổ chức diễn ra phù hợp với các kế hoạch đã đề ra, đúng định hướng và đáp ứng
nhu cầu phát triển, đòi hỏi của môi trường. Những hoạt động này được hiểu là
kiểm soát. Kiểm soát là chức năng quan trọng của nhà quản lý, là quá trình giám
sát, đo lường, đánh giá và điều chỉnh hoạt động nhằm đảm bảo sự thực hiện theo
kế hoạch.
Theo quan điểm của Robert Mockler “Kiểm sốt trong quản lý là những
hoạt động có hệ thống, bao gồm việc xác lập những tiêu chuẩn thực thi theo
mục tiêu, thiết kế hệ thống thông tin phản hồi, so sánh các hoạt động thực tế với
những tiêu chuẩn định trước; xác định những sai lệch và hậu quả của những sai
lệch để điều chỉnh khi cần thiết nhằm bảo đảm tất cả các nguồn lực trong tổ
chức được sử dụng một cách có hiệu quả nhất nhằm đạt được mục tiêu quản lý”.
1.2. Các yêu cầu đối với kiểm sốt
Để thực hiện có hiệu quả cơng tác kiểm soát, cần phải đảm bảo các yêu
cầu sau:
- Kế hoạch cụ thể
Nhà quản lý xác định mức độ hồn thành cơng việc của bộ phận dựa vào
kế hoạch cụ thể. Kế hoạch này vạch ra mục tiêu, nhiệm vụ, nội dung, trách
nhiệm của các bộ phận, cá nhân có liên quan. Việc kiểm sốt được tiến hành dựa
trên bản kế hoạch đó để đo lường việc đã thực hiện và so sánh với tiêu chuẩn đã
xây dựng.
- Khách quan, cơng khai, minh bạch
Nếu việc kiểm sốt được thực hiện với những định kiến, thiên vị sẽ cho
kết quả khơng đúng và sai lệch. Để đảm bảo tính khách quan đòi hỏi chủ thể khi
tác nghiệp phải xuất phát từ thực tế cuộc sống, tôn trọng sự thật; phải xem xét,
đánh giá sự vật, hiện tượng trên quan điểm lịch sử, cụ thể, biện chứng, logic.
Việc công khai bao gồm nhiều vấn đề cụ thể như: công khai quyết định
kiểm sốt; tiếp xúc cơng khai đối tượng; cơng khai kết luận kiểm soát… Tuỳ
từng đối tượng, nội dung mà có hình thức cơng khai thích hợp, có thể thực hiện
trên các phương tiện thơng tin đại chúng, có thể trong phạm vi địa phương hoặc
hẹp hơn là chỉ trong đơn vị đối tượng… Tuy nhiên, pháp luật cũng quy định có
những thơng tin phải giữ bí mật, hay nói cách khác có những thơng tin khơng
thể cơng khai rộng rãi, nhất là khi chưa có kết luận chính thức. Những người
thực thi nhiệm vụ kiểm soát chỉ được phép hành động theo quy chế đã được
công bố cho cả hệ thống biết. Kết quả của cuộc kiểm tra, giám sát phải được thể
hiện bằng văn bản, công bố văn bản đó cho cả bên (chủ thể kiểm tra và bên bị
kiểm tra) được biết và xác nhận điều đó.
- Có trọng điểm
Những yếu tố có ý nghĩa đối với hoạt động của tổ chức là các điểm phản
ảnh rõ nhất mục tiêu và tình trạng khơng đạt mục tiêu; đo lường tốt nhất sự sai
lệch, biết được ai là người chịu trách nhiệm về sự thất bại; ít tốn kém nhất và là
tiêu chuẩn kiểm tra hiệu quả nhất.
- Tiết kiệm, hiệu quả
Hoạt động kiểm sốt ln địi hỏi những chi phí nhất định. Do vậy cần
phải tính tốn để làm sao hoạt động kiểm sốt được tiết kiệm nhất.
Trong cơng tác kiểm tra phải tính đến hiệu quả: kinh phí kiểm tra phải
thỏa đáng, kiểm tra như thế nào để hệ thống hoạt động có hiệu quả. Các kỹ thuật
và cách tiếp cận kiểm sốt là có hiệu quả khi chúng có khả năng làm sáng tỏ
nguyên nhân và điều chỉnh những sai lệch tiềm năng và thực tế so với kế hoạch
với mức chi phí nhỏ nhất.
- Đồng bộ, linh hoạt
Trong quá trình kiểm tra cần quan tâm đến chất lượng của tồn hệ thống
chứ khơng phải là chất lượng của từng bộ phận, từng con người. Cần quan tâm
đến chất lượng của cả q trình hoạt động chứ khơng chỉ đến kết quả cuối cùng
của hoạt động
Chủ thể kiểm tra phải đồng bộ, các bộ phận của đoàn kiểm tra phải đầy
đủ.
Đồng bộ về đối tượng kiểm soát: Kiểm tra nhiều bộ phận, nhiều cơng
đoạn, quy trình,...
Hệ thống kiểm sốt phải linh hoạt, có thể điều chỉnh tương thích với
những thay đổi bất lợi hay tận dụng lợi thế của những cơ hội mới. Khi thành lập
hệ thống kiểm sốt cần xây dựng các phương án dự phịng và sẵn sàng chấp
nhận những thay đổi.Tránh bị động do thiếu nguồn lực hay bất đồng quan điểm.
- Dẫn tới hoạt động
Việc kiểm sốt chỉ có hiệu quả khi những sai lệch được sửa sai, điều
chỉnh; nếu khơng thì việc kiểm sốt sẽ trở nên vơ nghĩa.
1.3. Phân loại kiểm sốt
Có thể phân loại các hoạt động kiểm soát theo nhiều cách khác nhau, dựa
trên các tiêu chí khác nhau.
Theo nội dung kiểm sốt, có thể phân thành các loại: kiểm sốt tài chính,
kiểm sốt nhân sự, kiểm sốt hoạt động, kiểm sốt thơng tin,...
Theo mức độ kiểm sốt, có thể chia ra: kiểm sốt tổng thể, kiểm sốt có
trọng điểm.
Theo mức độ thường xuyên có thể chia ra: kiểm soát thường xuyên, kiểm
soát định kỳ và kiểm soát đột xuất.
Theo tiến trình thực hiện một kế hoạch, có thể phân kiểm soát thành ba
loại chủ yếu sau:
- Kiểm soát trước hoạt động (tiền kiểm): Đây là loại kiểm soát tiên liệu
trước các vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện kế hoạch để đề ra các
phương án xử lý trước. Hình thức kiểm sốt này giúp cho tổ chức tránh được các
sai lầm có thể xảy ra ngay từ đầu, khi các sai lầm này chưa xảy ra.
- Kiểm sốt trong q trình hoạt động (kiểm sốt song hành): Đây là quá
trình theo dõi diễn biến của việc thực hiện kế hoạch, là hình thức kiểm sốt quan
trọng quyết định tới hiệu lực của việc thực hiện kế hoạch.
- Kiểm soát sau hoạt động (hậu kiểm): Là hình thức kiểm sốt đối với đầu
ra, được tiến hành bằng cách đo lường kết quả hoạt động sau khi đã thực hiện
xong kế hoạch và so sánh với các mục tiêu đã đề ra.
Tiểu kết chương 1
Trong chương 1, tác giả đã tập trung nghiên cứu các khái niệm liên quan
đến chức năng kiếm soát trong hoạt động quản lý, bao gồm khái niệm: quản lý,
kiểm soát. Đồng thời, tìm hiểu về các u cầu đối với kiểm sốt, phân loại kiểm
soát. Đây là tiền đề để tác giả tiến hành nghiên cứu vai trị của chức năng kiểm
sốt và liên hệ thực tiễn trong hoạt động quản lý trong chương 2.
Chương 2
VAI TRỊ CỦA CHỨC NĂNG KIỂM SỐT VÀ LIÊN HỆ THỰC TIỄN
VAI TRỊ CỦA KIỂM SỐT TRONG HOẠT ĐỘNG THỰC THI
CÔNG VỤ CỦA ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC
2.1. Vai trị của chức năng kiểm sốt
Về cơ bản, kiểm sốt có vai trị quan trọng trong hoạt động quản lý, là
một trong năm chức năng của quản lý bao gồm: (1) Chức năng lập kế hoạch; (2)
Chức năng tổ chức; (3) Chức năng nhân sự; (4) Chức năng lãnh đạo và (5) Chức
năng kiểm soát.
2.1.1. Kiểm soát nhằm đảm bảo cho các kế hoạch được thực hiện với
hiệu quả cao nhờ việc chủ động phát hiện kịp thời những sai sót trước khi
chúng trở nên nghiêm trọng
Trong hoạt động quản lý, chức năng kiểm sốt có một ý nghĩa rất quan
trọng. Nhiều nhà quản lý cho rằng, kiểm soát là quá trình nhà quản lý giám sát
và điều tiết tính hiệu quả và hiệu lực của một tổ chức và các thành viên trong
việc thực hiện các hoạt động nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức. Tuy nhiên,
kiểm sốt khơng có nghĩa là chỉ phản ứng lại những sự kiện sau khi đã xảy ra.
Kiểm sốt cũng có nghĩa là giữ cho tổ chức theo đúng định hướng và dự kiến
các sự kiện có thể xảy ra. Kiểm sốt quan tâm đến khuyến khích người lao động
tập trung vào những vấn đề quan trọng của tổ chức, làm việc cùng nhau để khai
thác các cơ hội có thể giúp tổ chức hoạt động tốt hơn. Thực hiện chức năng này
cũng có nghĩa là phải đánh giá hoạt động đã làm và so sánh với kế hoạch đã đề
ra để điều chỉnh để hoạt động đi vào đúng quỹ đạo.
Bên cạnh đó, như chúng ta đã biết, hoạt động của một tổ chức luôn phải
đối mặt với các vấn đề như hoạt động khơng hiệu quả, lãng phí nguồn lực, thiếu
giám sát hiệu quả, tổ chức và chức năng kém, thiếu tầm nhìn, chiến lược rời rạc,
thiếu liên kết, kiểm sốt phức tạp, chi phí cao, thơng tin thiếu tính tồn vẹn,
phức tạp một cách khơng cần thiết... Kiểm sốt thực chất là sự tích hợp các hoạt
động, biện pháp, cơ chế kiểm soát bên trong tổ chức nhằm giảm thiểu và ngăn
ngừa những rủi ro có thể xảy ra cho tổ chức.
Kiểm soát là nhu cầu cơ bản nhằm hoàn thiện các quyết định trong quản
lý. Kiểm sốt thẩm định tính đúng sai của đường lối, chiến lược, kế hoạch,
chương trình và dự án; tính tối ưu của cơ cấu tổ chức quản lý; tính phù hợp của
các phương pháp mà cán bộ quản lý đã và đang sử dụng để đưa hệ thống tới
mục tiêu của mình. Đồng thời, kiểm sốt đảm bảo cho các kế hoạch được thực
hiện với hiệu quả cao và chi phí thấp. Trong thực tế, những kế hoạch tốt nhất
cũng có thể khơng được thực hiện như ý muốn. Các nhà quản lý cũng như cấp
dưới của họ đều có thể mắc sai lầm và kiểm soát cho phép chủ động phát hiện,
sửa chữa các sai lầm đó trước khi chúng trở nên nghiêm trọng để mọi hoạt động
của hệ thống được tiến hành theo đúng kế hoạch đã đề ra.
Nếu chúng ta theo sát phát hiện được những sai phạm hoặc sự chênh lệch
giữa thực hiện với kế hoạch đề ra thì chúng ta nhanh chóng đưa ra quyết định
sửa sai ngay. Nhờ vậy nên hệ thống hoạt động đúng yêu cầu, đạt được mục tiêu
mà không xảy ra các trường hợp chi phí lãng phí và ngược lại.
2.1.2. Kiểm soát nhằm đảm bảo thực thi quyền lực quản lý của người
lãnh đạo tổ chức
Nhờ chức năng này, các nhà quản lý có thể kiểm sốt được những yếu tố
sẽ ảnh hưởng đến sự thành công của tổ chức. Điều này rất quan trọng vì mất
quyền kiểm sốt có nghĩa là nhà quản lý đã bị vơ hiệu hóa, hệ thống có thể bị lái
theo hướng khơng mong muốn. Q trình kiểm sốt cho phép nhà quản lý giám
sát hoạt động đang diễn ra trong tổ chức, đặt nền tảng quan trọng cho quá trình
ra quyết định. Nhà quản lý sau khi lập kế hoạch, tổ chức bộ máy và điều hành hệ
thống quản lý thì trong quá trình đó nhà quản lý phải kiểm tra, giám sát. Nếu
khơng kiểm tra, giám sát thì coi như khơng có quản lý. Đây là một chức năng
quan trọng và người lãnh đạo, người quản lý chỉ có thể kiểm sốt thì mới phát
hiện được những sai sót và thấy được mặt ưu điểm, hạn chế trong kế hoạch của
mình, từ đó rút ra bài học và đưa ra quyết định điều chỉnh hợp lý kịp thời. Vậy
nên rõ ràng nhà lãnh đạo, nhà quản lý thực thi quyền lực của mình bằng cơng tác
kiểm sốt.
Kiểm sốt đòi hỏi được thực hiện ở mọi khâu hoạt động, mọi cấp quản lý
đều hình thành các “chốt chặn” kiểm soát để thực hiện việc kiểm tra, giám sát và
cung cấp các thơng tin hữu ích giúp người quản lý thực hiện hoạt động tốt hơn,
hiệu quả hơn.
2.1.3. Kiểm soát giúp tổ chức theo sát và đối phó với sự thay đổi của
mơi trường
Trong thực tế, việc kiểm sốt có tác động rất mạnh tới các hoạt động. Một
công việc nếu khơng có kiểm sốt sẽ chắc chắn nảy ra nhiều sai sót hơn nếu
được theo dõi, giám sát thường xun. Điều đó khẳng định rằng kiểm sốt
khơng chỉ là giai đoạn cuối cùng trong quá trình hoạt động của hệ thống hoặc là
khâu sau cùng của chu trình quản lý (từ lập kế hoạch đến tổ chức lãnh đạo).
Kiểm sốt cũng khơng phải là hoạt động đan xen mà là một quá trình liên tục về
thời gian và bao qt về khơng gian. Nó là yếu tố thường trực của nhà quản lý ở
mọi nơi, mọi lúc. Thông qua hoạt động kiểm sốt nhằm thu thập thơng tin về các
quá trình, hiện tượng diễn ra trong xã hội, về các cấu thành cụ thể của xã hội với
các mục đích đã được dự tính, về các hành vi của công dân, cơ quan, tổ chức đối
chiếu với các quy định pháp luật về đánh giá xem các hành vi đó có phù hợp với
quy định pháp luật hay khơng, từ đó có thể đưa ra được các quyết định quản lý
sáng tạo và có hiệu quả.
Trong q trình kiểm soát chúng ta cần xem xét sự hoạt động của hệ
thống quản lý với tác động của của môi trường và từ môi trường tác động vào hệ
thống quản lý. Ở mơi trường đó có sự thay đổi hoặc hệ thống đó hoạt động
khơng phù hợp với mơi trường, chỉ có cơng tác giám sát, theo dõi thường xun
thì chúng ta mới phát hiện được và kịp thời điều chỉnh làm cho hệ thống quản lý
vận hành suôn sẻ.
2.1.4. Kiểm sốt tạo tiền đề cho q trình hồn thiện và đổi mới
Với việc đánh giá các hoạt động, kiểm soát khẳng định những giá trị nào
sẽ quyết định sự thành công của tổ chức. Những giá trị đó sẽ được tiêu chuẩn
hóa để trở thành mục đích, mục tiêu, quy tắc, chuẩn mực cho hành vi của các
thành viên trong hệ thống. Đồng thời, kiểm soát giúp các nhà quản lý cải tiến lại
mọi hoạt động của hệ thống thông qua việc xác định những vấn đề và cơ hội cho
hệ thống.
Ví dụ, kiểm sốt góp phần tạo nên những sáng kiến mới về sản phầm nhờ
việc xem xét khả năng đáp ứng của doanh nghiệp đối với nhu cầu của người tiêu
dùng; nêu yêu cầu đổi mới một cơ cấu bộ máy quản lý khơng cịn phù hợp với
thực trạng phát triển của tổ chức; gợi ý một hình thức phân phối thu nhập mới
đáp ứng hơn lợi ích của các thành viên trong tổ chức… Chính yếu tố này của
kiểm sốt làm cho quản lý trở thành q trình liên tục với những sự hồn thiện
và đổi mới khơng bao giờ ngừng. Chúng ta khó và khơng thể cưỡng lại được sự
thay đổi, lại càng không thể lờ chúng đi. Vấn đề là chúng ta có thể và cần kiểm
sốt những thay đổi đó sao cho có hiệu quả nhất và tìm kiếm những nguồn lợi từ
bối cảnh do những thay đổi đó tạo ra.
2.1.5. Kiểm sốt tạo điều kiện để thực hiện một cách thuận lợi các chức
năng uỷ quyền, chỉ huy và thực hiện chế độ trách nhiệm cá nhân.
Một lý do khác để nói việc kiểm soát quan trọng, ý nghĩa là việc các nhà
quản lý ủy thác quyền hạn và ủy quyền nhân viên. Trong quá trình quản lý, ủy
quyền cho cấp dưới là một vấn đề quan trọng và luôn làm cho các nhà quản lý lo
lắng. Nếu xây dựng được hệ thống kiểm sốt có hiệu quả thì việc ủy quyền sẽ
thuận lợi và hiệu quả hơn.
Rất nhiều nhà quản lý miễn cưỡng giao quyền cho nhân viên của họ vì họ
sợ rằng nhân viên của họ sẽ làm sai và người gánh trách nhiệm lại chính là họ.
Do đó, nhiều nhà quản lý cố tình làm việc một mình để tránh ủy hoặc trao
quyền. Tuy nhiên, sự miễn cưỡng này có thể làm giảm bớt nếu các nhà quản lý
xây dựng một hệ thống kiểm soát hiệu quả. Một hệ thống kiểm sốt như vậy có
thể cung cấp thơng tin và phản hồi về hoạt động của nhân viên. Vì vậy, một hệ
thống kiểm sốt hiệu quả là quan trọng bởi vì các nhà quản lý cần phải ủy thác
trách nhiệm và ủy quyền cho nhân viên ra các quyết định. Nhưng vì các nhà
quản lý là người chịu trách nhiệm cuối cùng đối với các kết quả hoạt động, họ
cũng cần một cơ chế phản hồi mà hệ thống kiểm soát có thể cung cấp cho họ.
2.2. Liên hệ vai trị của kiểm sốt trong hoạt động thực thi cơng vụ
của đội ngũ cán bộ, cơng chức hiện nay
2.2.1. Vai trị của kiểm sốt trong hoạt động thực thi cơng vụ của đội
ngũ cán bộ, cơng chức
Kiểm sốt là phương thức đặc biệt quan trọng giúp phòng ngừa, ngăn
chặn, phát hiện và xử lý những hạn chế, yếu kém trong hoạt động quản lý nhà
nước nói chung, trong hoạt động thực thi cơng vụ của đội ngũ cán bộ, cơng chức
nói riêng.
Cán bộ, công chức là chủ thể trung tâm cho quá trình thực thi các chức
năng, nhiệm vụ của Nhà nước. Chính vì vậy, phần lớn các hoạt động của cơng
chức đề mang tính quyền lực Nhà nước, thay mặt Nhà nước để thực thi các
nhiệm vụ được giao. Vì tính chất cơng vụ đó, nên trong q trình thực thi nhiệm
vụ, cán bộ, cơng chức cần thể hiện tính trách nhiệm của cá nhân xuyên suốt
trong hoạt động hay nói cách khác đó là trách nhiệm cơng vụ. Trách nhiệm công
vụ cần được đảm bảo thông quá việc kiểm sốt và đánh giá hoạt động của cơng
chức nhằm đảm bảo quá trình thực thi quyền lực nhà nước đúng quy định, đúng
đường lối.
Trong thực tế, cán bộ, công chức do gắn trực tiếp với quyền lực cơng,
nguồn tài chính cơng và phải giải quyết các quyền, lợi ích, nghĩa vụ của cơng
dân, tổ chức nên có khả năng lạm dụng quyền lực, sử dụng khơng hiệu quả
nguồn tài chính cơng cũng như áp dụng sai, hoặc cố tình hiểu sai các quy định
thủ tục hành chính khi giải quyết cơng việc của dân. Chính vì vậy, kiểm sốt
trong hoạt động thực thi công vụ của đội ngũ cán bộ, cơng chức hiện nay là rất
quan trọng, cần phải có cơ chế kiểm soát chặt chẽ để phát hiện, ngăn chặn và xử
lý việc lợi dụng chức vụ, quyền hạn, lạm quyền, lộng quyền, không thực hiện
đúng đắn, đầy đủ các quyền lực được giao.
Tại Điều 2 Quy định số 205-QĐ/TW ngày 23/9/2019 của Bộ Chính trị
“Về việc kiểm sốt quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy
quyền”, đã nêu rõ quan điểm của Đảng “Kiểm soát quyền lực trong công tác cán
bộ là việc sử dụng cơ chế, biện pháp nhằm thực hiện nghiêm túc các quy định về
cơng tác cán bộ; phịng ngừa, ngăn chặn, phát hiện, xử lý các hành vi vi phạm
các quy định của Đảng, Nhà nước, nhất là các hành vi lợi dụng chức vụ, quyền
hạn, lạm quyền, lộng quyền hoặc không thực hiện đầy đủ chức năng, nhiệm vụ,
quyền hạn và những việc phải làm trên cương vị được giao trong cơng tác cán
bộ”.
Một hệ thống kiểm sốt hiệu quả phải đảm bảo rằng các hoạt động được
hoàn thành theo đúng những phương pháp mà có thể đạt được như mục tiêu của
tổ chức đề ra. Hệ thống kiểm soát hữu hiệu là một hệ thống mà ở đó mọi người
đều phải làm việc hết mình và khơng ai dám làm bậy, đồng thời giúp cơ quan, tổ
chức hạn chế tối đa rủi ro trên con đường hướng đến mục tiêu đã đề ra. Mọi cơ
chế và quy chế mà cơ quan, tổ chức đưa ra và xây dựng đều hướng đến một hệ
thống kiểm soát như vậy. Mất mát tài sản chỉ là một chuyện rất nhỏ trong
chuyện làm bậy đó thơi. Cũng giống như thời xưa ở Trung Quốc người ta nói có
ba loại quan: quan thái bình, quan tham và quan đúng nghĩa. Quan thái bình
khơng làm bậy nhưng khơng làm gì cả. Quan tham thì làm bậy. Cịn quan đúng
nghĩa là làm việc hết mình vì vua, vì nước. Hiện nay, trong cơ quan nhà nước
Việt Nam cũng vậy, CBCC không làm bậy nhưng nếu không làm việc hết mình
thì cũng như quan thái bình. Lúc đó thiệt hại có thể cịn cao gấp hàng trăm, hàng
ngàn lần tài sản thất thoát do làm bậy. Để ngăn chặn sự xuất hiện của “quan
tham”, “quan thái bình” cần phải có một hệ thống kiểm sốt chặt chẽ, phát hiện
“sâu bọ” và xử lý theo pháp luật nhằm mang lại hiệu quả cho hoạt động quản lý
nhà nước.
2.2.2. Thực trạng kiểm soát trong hoạt động thực thi công vụ của đội
ngũ cán bộ, công chức
Thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta đã chú trọng đến việc xây dựng và
hồn thiện các quy định, quy trình, thẩm quyền, trách nhiệm của tổ chức, cá
nhân về kiểm soát hoạt động công vụ của cán bộ, công chức, đặc biệt là trong
cơng tác cán bộ. Có thể nói, Quy định số 205-QĐ/TW, ngày 23-9-2019, của Bộ
Chính trị, “Về kiểm sốt quyền lực trong cơng tác cán bộ và chống chạy chức,
chạy quyền” là một dấu mốc quan trọng trong nhiệm kỳ Đại hội XII, thể hiện sự
đổi mới mạnh mẽ về tư duy, nhận thức và hành động của Đảng về vấn đề kiểm
sốt quyền lực trong cơng tác cán bộ. Đây là lần đầu tiên Đảng xác định cơng
tác cán bộ có thể hình thành nên một loại quyền lực cần được kiểm soát, và cũng
là lần đầu tiên các hành vi “chạy chức, chạy quyền” gắn liền với công tác cán bộ
được Đảng chỉ rõ trong một quy định của Bộ Chính trị. Thẩm quyền của người
đứng đầu chủ yếu là chỉ đạo, điều hành các thủ tục, quy trình cơng tác cán bộ,
bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch, vận hành theo đúng nguyên tắc của
Đảng; người đứng đầu khơng có quyền quyết định tuyệt đối về nhân sự, vì đó là
thẩm quyền của tập thể.
Tuy nhiên, trong khơng ít trường hợp, ý nghĩa và vai trị của hoạt động
kiểm sốt khơng được quan tâm bằng các hoạt động khác của quản lý nhà nước,
như: xây dựng thể chế, tổ chức, nhân sự…, mặc dù trong khoa học quản lý nhà
nước, khơng thể nói hoạt động (khâu) nào là quan trọng nhất. Bởi vì, quản lý
nhà nước là một lĩnh vực chỉnh thể và có tính liên thơng, thống nhất giữa các
hình thức hoạt động, trong đó kiểm sốt được coi là khâu cuối cùng tiệm cận kết
quả của mọi hoạt động, mọi hình thái tổ chức.
Thực tế quản lý nhà nước trong bối cảnh dịch covid-19 đang diễn ra trong
các năm 2019, 2020, 2021 cho thấy, cơng tác kiểm sốt đã bộc lộ khơng ít
khiếm khuyết, bất cập. Chẳng hạn, quan hệ giữa ban hành với tổ chức thi hành
thể chế; quan hệ giữa kế hoạch và thực thi trong thực tế; quan hệ chức năng giữa
người ban hành quyết định quản lý với các cơ quan chuyên môn liên quan đến
tình huống “cấp và kiểm tra giấy đi đường”. Đáng chú ý là qua kiểm tra trực
tuyến, trực tiếp giữa cấp trên và cấp dưới cho thấy vẫn có những điểm chưa tốt
(dù rất ít) trong năng lực nắm bắt và xử lý thực tiễn của một bộ phận công chức
lãnh đạo, nhất là lãnh đạo địa phương... khiến Thủ tướng Chính phủ cũng băn
khoăn: nghe báo cáo (về phịng, chống covid-19) chỗ nào cũng tốt, nhưng kiểm
tra mới biết chỗ nào tốt hay không tốt.
Hơn nữa, quyền lực trong công tác cán bộ, công chức ở nước ta trong thời
gian qua cũng có lúc, có nơi chưa được kiểm sốt chặt chẽ, thậm chí chưa được
kiểm sốt hoặc được dung túng, bao che. Đặc biệt, trong giai đoạn dịch covid-19
hồnh hành, một bộ phận cán bộ, cơng chức đã lợi dụng dịch bệnh để trục lợi, có
hành vi vi phạm, tham ơ, tham nhũng gây thất thốt lớn ngân sách nhà nước.. Ở
một số địa phương, cơ quan, đơn vị, việc lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức quán triệt và
thực hiện cơ chế kiểm soát quyền lực chưa quyết liệt, hiệu qủa. Việc lạm quyền,
lộng quyền, lợi dụng quyền lực trong chính sách cán bộ, tham nhũng, lợi ích
nhóm có diễn biến phức tạp, chưa được ngăn chặn, đẩy lùi. Qua cơng tác kiểm
sốt đã phát hiện, và xử lý nghiêm, kịp thời loại bỏ “quan tham” ra khỏi bộ máy
lãnh đạo đất nước.
Trong năm 2021, Cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã tăng cường kiểm tra,
giám sát, thi hành kỷ luật đối với 618 đảng viên do tham nhũng, cố ý làm trái
(tăng 132 đảng viên so với năm 2020). Nhất là, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã
tập trung kiểm tra dấu hiệu vi phạm của tổ chức đảng, đảng viên liên quan đến
các vụ án, vụ việc thuộc diện Ban Chỉ đạo theo dõi, chỉ đạo. Ban Chấp hành
Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã xử lý kỷ luật nhiều cán bộ cấp cao vi
phạm liên quan đến tham nhũng, tiêu cực, trong đó có 32 trường hợp thuộc diện
Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý (tăng 15 trường hợp so với năm 2020). Điểm
nổi bật là, các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan chức năng thực hiện nghiêm cơ chế
phát hiện, xử lý sai phạm trong quá trình kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra,
truy tố, xét xử, thi hành án; qua kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán đã
chuyển cơ quan điều tra xem xét, xử lý hơn 330 vụ việc có dấu hiệu tội phạm
(tăng hơn 3 lần so với năm 2020).
Thực tế đó cũng cho thấy, vẫn cịn một bộ phận cơng chức coi cơng tác
kiểm soát là yếu tố phụ, để “trả bài” trong các khóa bồi dưỡng, mà chưa nhận
thức đó là khâu đặc biệt, thể hiện năng lực và bản lĩnh trong các báo cáo, giải
trình, đề xuất sáng kiến trong những tình huống cụ thể của cấp dưới đối với cấp
trên; những phát hiện, điều chỉnh sai lệch xuất hiện (như trong kế hoạch hay tổ
chức thực thi công vụ) của cấp trên đối với cấp dưới.
Kiểm sốt, hiểu theo nghĩa thơng thường và trên cơ sở khoa học, là việc
một chủ thể tác động tới đối tượng quản lý, xem xét lại những việc đã được
chuẩn bị tổ chức thực hiện ở hầu hết các hoạt động trong chu trình của quản lý
nhà nước. Quan điểm có tính phổ biến cho rằng, kiểm soát bao gồm tất cả các
hoạt động mà nhà quản lý thực hiện nhằm đảm bảo chắc chắn rằng các kết quả
thực tế sẽ đúng như kết quả dự kiến trong kế hoạch. Trong quản lý nói chung,
khi có hoạt động thì phải có sự kiểm tra trước để bảo đảm thành cơng khi tổ
chức thực hiện. Vì vậy, kiểm soát là nhiệm vụ rất quan trọng của người đứng
đầu một bộ phận trong quản lý khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn (từ tổ trưởng,
trưởng phòng, chủ tịch UBND cấp xã; cấp trung gian như vụ trưởng, giám đốc
sở, chủ tịch UBND cấp huyện; cấp cao như chủ tịch UBND cấp tỉnh, bộ
trưởng... đến vị trí cao nhất của Chính phủ là Thủ tướng). Do vậy, khơng thể có
một hoạt động nào đó trong quản lý lại khơng có hoạt động kiểm tra trước khi tổ
chức thực hiện.
Có thể thấy, việc kiểm sốt có ý nghĩa to lớn trong hoạt động thực thi
công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức:
- Thứ nhất, giúp cho kết quả đầu ra của quản lý nhà nước đúng với mục
đích, mục tiêu đặt ra ban đầu.
- Thứ hai, có tác động mạnh mẽ đến phát huy tính tích cực và hạn chế các
yếu tố khơng tích cực (chủ yếu là sự chi phối của yếu tố chủ quan) trong quản lý
nhà nước để có biện pháp, giải pháp phù hợp.
- Thứ ba, tạo hiệu ứng xã hội về kinh tế - xã hội, tác động đến ý thức của
các chủ thể quản lý nhà nước, tác động đến quản lý xã hội (các đối tượng thực
hiện nghĩa vụ hoặc thụ hưởng chính sách…). Việc thiếu kiểm tra, dự báo trong
phòng, chống dịch COVID-19 vừa qua đã khiến cho hành vi quản lý từ mục
đích “khơi thơng” lại vơ tình trở thành “điểm nghẽn”, lực cản, như gây đình trệ,
đứt gãy các chuỗi cung ứng, sản xuất, lưu thơng hàng hóa; chậm giải ngân hoặc
giải ngân khơng đúng đối tượng thụ hưởng các gói an sinh xã hội…
- Thứ tư, tạo ra những hiệu ứng gián tiếp của quản lý (là những tác động
đến từ việc kiểm tra tới những tình huống gián tiếp của quản lý nhà nước). Ví
dụ, kiểm tra cơng vụ để xem cơng chức có làm đúng chức phận, hồn thành
nhiệm vụ được giao hay khơng... Các hiệu ứng gián tiếp có thể bao gồm: sử
dụng nguồn nhân lực; công tác tổ chức thực hiện có hiệu quả; phát huy vai trị
của người đứng đầu; nâng cao chất lượng quy hoạch, sử dụng nguồn nhân lực
quản lý nhà nước; kiểm nghiệm, đánh giá tương quan giữa điều kiện, tiêu chuẩn
và năng lực xử lý, giải quyết các tình huống trong thực tiễn quản lý nhà nước…
2.2.3. Đánh giá thực trạng kiểm soát trong hoạt động thực thi công vụ
của đội ngũ cán bộ, cơng chức
2.2.3.1. Ưu điểm
- Cơng tác kiểm sốt ngày càng được Đảng và Nhà nước quan tâm trong
các văn kiện của Đảng, quy định của Bộ Chính trị, văn bản quy phạm pháp luật.
- Cơng tác kiểm sốt đã ngày càng bám sát yêu cầu công tác quản lý, có
trọng tâm, trọng điểm, hướng vào những vấn đề nổi cộm, bức xúc, dư luận quan
tâm; qua đó phát hiện nhiều kẽ hở hoặc những bất cập trong các quy định pháp
luật, những hạn chế, yếu kém trong công tác quản lý, chỉ ra những vi phạm có
tính phổ biến để tập trung chấn chỉnh, khắc phục.
- Công tác điều tra, truy tố, xét xử tiếp tục được đẩy mạnh; xử lý nghiêm
minh, kịp thời nhiều vụ án, vụ việc tham nhũng, tiêu cực nghiêm trọng, phức
tạp, dư luận xã hội quan tâm.
- Các cơ quan hành chính nhà nước từ Trung ương đến địa phương thời
gian qua đã thực hiện nhiều cuộc kiểm tra công vụ theo chương trình, kế hoạch,
đột xuất, theo chỉ đạo của cấp trên hoặc theo thông tin phản ánh, khiếu nại, tố
cáo của cá nhân, tổ chức. Kết quả kiểm tra cho thấy tính tích cực của hoạt động
này trong việc đánh giá những ưu điểm, mặt tích cực; phát hiện những tồn tại,
thiếu sót, khó khăn, bất cập trong q trình thực hiện nhiệm vụ cơng vụ; đề xuất,
kiến nghị cơ quan có thẩm quyền biện pháp xử lý; góp phần tăng cường kỷ luật,
kỷ cương hành chính trong việc thực thi nhiệm vụ công vụ và hoạt động của các
cơ quan trong hệ thống hành chính nhà nước; tiếp tục nâng cao trách nhiệm, tinh
thần, thái độ, chất lượng phục vụ Nhân dân của các cơ quan, đơn vị nhà nước.
- Giám sát việc thực thi công vụ, thực thi quyền lực của cán bộ, công chức
được thực hiện thông qua nhiều kênh khác nhau, như: Giám sát trong nội bộ cơ
quan (giám sát của tập thể lãnh đạo, của thủ trưởng trực tiếp; giám sát của tổ
chức đảng, tổ chức cơng đồn thơng qua Ban Thanh tra nhân dân); giám sát bên
ngoài cơ quan, như: Giám sát của cơ quan cấp trên trực tiếp; giám sát của cơ
quan Kiểm tra Đảng, cơ quan Thanh tra Nhà nước; giám sát của Nhân dân thông
qua Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể, các hội quần chúng; giám sát của các cơ
quan truyền thông; của dư luận xã hội ... Mỗi kênh giám sát đều có vai trị nhất
định và đều nhằm tạo ra môi trường thuận lợi để cán bộ, công chức thực hiện tốt
nhiệm vụ được giao, trong đó, sự kiểm tra, giám sát trong nội bộ cơ quan, đặc
biệt là của người đứng đầu giữ vai trò quyết định, kịp thời phát hiện, uốn nắn
những lệch lạc, nhờ đó đảm bảo sự phát triển cơ quan.
2.3.3.2. Hạn chế
Thực tế cho thấy, khi nhìn vào các vụ án tham nhũng bị xử lý vừa qua, có
thể thấy rõ điều này, trong số đó khơng ít người có chức vụ cao, sử dụng quyền