Mục lục
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Quản lý và lãnh đạo là hai yếu tố quyết định đến sự phát triển hay thụt lùi
của xã hội loài người. Đất nước ngày càng phát triển là đo có sự quản lý, lãnh
đạo đúng đắn, hợp lý. Và trong sự quản lý, lãnh đạo xã hội ấy báo chí đóng một
vai trò không hề nhỏ. Trong xã hội ngày nay thì việc báo chí tham gia vào hoạt
động quản lý, lãnh đạo xã hội càng thể hiện rõ ràng hơn bao giờ hết.
Có thể nói rằng trong thời gian qua, Báo chí Việt Nam đã đóng góp tiếng
nới quan trọng với Nhà nước cũng như các vấn đề xã hội. Báo chí đã thực sự thể
hiện vai trò và ưu thế của một binh chủng tiên phong trong công tác tư tưởng,
định hướng dư luận xã hội. Một trong những chức năng được báo chí nước ta
phản ánh và đề cập tương đối thành công trong thời gian qua đó là chức năng
tham gia quản lý, lãnh đạo xã hội. Chức năng này thực chất là theo dõi , kiểm
tra, đánh giá quá trình thực hiện chủ trương, chính sách, kịp thời phát hiện
những nơi làm đúng, làm hay để biểu dương, khích lệ và tổng kết kinh nghiệm
thực tiễn; đồng thời phát hiện những nơi làm sai, vi phạm chủ trương, chính
sách, pháp luật để phê bình, xử phạt.
Đó là lí do, tôi chọn làm đề tài “Vai trò của sự kiện, vấn đề báo chí đối với
hoạt động quản lý, lãnh đạo”. Với đề tài này, chúng tôi sẽ nghiên cứu, phân tích
và tìm hiểu vai trò, đặc điểm của vấn đề, sự kiện được báo chí đưa tin đối với
hoạt động quản lý, lãnh đạo. Từ đó tìm ra những ưu điểm và vạch ra những hạn
chế cần khắc phục giúp cho báo chí thực hiện một cách tốt nhất những vai trò và
nhiệm vụ của mình.
1
Đề tài này hướng đến phân tích và đưa ra những đặc điểm cơ bản nhất về
cách thức báo chí tác động tới hoạt động quản lý, lãnh đao.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Cùng với sự phát triển không ngừng của báo chí nhiều công trình khoa học
đã nghiên cứu về đề tài vai trò, chức năng của báo chí. Tuy nhiên vẫn còn khá ít
tài liệu liên quan đến việc nghiên cứu sâu về chức năng tham gia hoạt động quản
lý, lãnh đạo của báo chí. Dù vậy nhưng những tài liệu đó đã giúp chúng tôi có
cái nhìn tổng quan hữu ích về các vai trò, chức năng của báo chí, là phần quan
trọng đã giúp tôi có được phương hướng vững chắc để kế thừa và khai thác đề
tài theo trải nghiệm thực tế cũng như theo quan điểm riêng của chúng tôi.
Với tiểu luận này, tôi mong muốn đưa đến một cái nhìn vừa khái quát, toàn
diện trong đề tài báo chí tác động đến hoạt động quản lý, lãnh đạo.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích
3.1.
Mục đích của tiểu luận là chỉ ra được thực trạng vai trò của báo chí đối với
hoạt động quản lý, lãnh đạo
Từ đó, nêu ra những ưu, khuyết điểm, rút ra bài học kinh nghiệm, đề xuất
giải pháp giúp nâng cao chất lượng và hiệu quả của việc báo chí tham gia vào
hoạt động quản lý, lãnh đạo. Từ đó làm tăng chất lượng và hiệu quả của báo chí,
tạo được uy tín đối với công chúng.
3.2.
Nhiệm vụ
Để đạt được mục đích nghiên cứu đề tài, tiểu luận sẽ khảo sát những nội
dung cơ bản có liên quan đến lý luận về vai trò của báo chí đối với hoạt động
quản lý, lãnh đạo.
4. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
2
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những lý luận liên quan đến vai trò của
báo chí đối với hoạt động quản lý, lãnh đạo và những vấn đề, những sự kiện
được báo chí phản ánh thể hiện được đề tài nêu trên.
5. Phương pháp nghiên cứu
Trước hết, tôi sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư
tưởng Hồ Chí Minh, các đường lối, chính sách của Đảng và nhà nước về công
tác tư tưởng và báo chí cùng những kiến thức cơ bản về cơ sở lí luận báo chí
truyền thông.
Sử dụng phương pháp quy nạp khái quát đặc điểm, đặc trưng về vai trò của
báo chí đối với hoạt động quản lý, lãnh đạo và phương pháp diễn dịch để lí giải
những luận cứ, luận chứng, luận điểm.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Tiểu luận mong muốn có những đóng góp nhất định trong việc bổ sung và
hoàn thiện hơn về cơ sở khoa học và lý luận trong đề tài vai trò của vấn đề, sự
kiện báo chí đối với hoạt động quản lý, lãnh đạo.
Những vấn đề đúc rút ra được từ tiểu luận hy vọng sẽ trở thành nguồn tư
liệu tham khảo có hệ thống giúp ích cho những nhà nghiên cứu, nhà quản lý,
những người đang hoạt động trong lĩnh vực báo chí truyền thông. Đồng thời có
thể dùng làm tư liệu để các giảng viên, sinh viên những ngành học liên quan
tham khảo.
7. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài tiệu tham khảo, đề tài được triển khai
thành ba chương:
Chương 1: Những khái niệm chung
3
Chương 2: Vai trò của vấn đề, sự kiện báo chí trong hoạt động quản lý, lãnh
đạo
Chương 3: Thực tế báo chí tham gia vào hoạt động quản lỹ, lãnh đạo xã hội
trong những năm gần đây
4
PHẦN NỘI DUNG
Chương I: NHỮNG KHÁI NIỆM CHUNG
1.1.
Khái niệm lãnh đạo
Lãnh đạo là một trong những khái niệm quan trọng nhất trong khoa học
về tổ chức - nhân sự. Đó là một quá trình ảnh hưởng mang tính xã hội trong đó
lãnh đạo tìm kiếm sự tham gia tự nguyện của cấp dưới nhằm đạt mục tiêu của tổ
chức. Lãnh đạo là quá trình gây ảnh hưởng và dẫn đắt hành vi của cá nhân hay
nhóm người nhằm hướng tới mục tiêu của tổ chức. Môn nhân sự hiện đại đề cao
vai trò của lãnh đạo nên đối tượng này càng được nghiên cứu kỹ lưỡng hơn.
Lãnh đạo được miêu tả là 'một quá trình ảnh hưởng xã hội cái mà một
người có thể tìm kiếm sự giúp đỡ và hỗ trợ của những người khác nhằm đạt
được thành công cho một mục tiêu chung". Tất nhiên cũng xuất hiện nhiều cách
lí giải khác sâu hơn.
Có thể hiểu lãnh đạo là chỉ đường, vạch lối, nhìn xa trông rộng, hướng tới
mục tiêu cuối cùng; là đề ra chủ chương, đường lối, nguyên lý, sách lược. Lãnh
đạo quan tâm đến những vấn đề chiến lược, những mục tiêu lâu dài và có thể
gắn với các khía cạnh trừu tượng của cuộc sống. Lãnh đạo dùng biện pháp động
viên, thuyết phục, gây ảnh hưởng dựa vào đạo lý là chính, tác động đến ý thức
của con người.
Chức năng của lãnh đạo thường được hiểu gồm có: xác định phương
hướng, mục tiêu lâu dài (cả trung hạn và dài hạn), lựa chọn chủ trương chiến
lược, điều hòa phối hợp các mối quan hệ và động viên thuyết phục con người.
Theo các nghiên cứu của lý thuyết lãnh đạo hiện đại, Quyền lực lãnh đạo
có thể hình thành từ 4 nguồn quyền năng:
5
1.
Do chức vụ, địa vị
2.
Do chuyên môn
3.
Do tố chất, quyền uy bẩm sinh
4.
Do hệ thống đem lại
Tuy nhiên, trong một xã hội văn minh, càng ngày quyền lực do chức vụ, địa
vị đem lại càng giảm. Các bậc thang diễn biến của các quyền lực xã hội được
biết đến là Phong kiến => Quận sự trị vì => Kỹ trị => Kinh tế trị => Luật trị.
Trong xã hội tiến triển ở bậc càng cao, quyền lực đơn thuần do chức vụ đem lại
càng phải ít đi và lãnh đạo càng phải chú ý đến quần chúng mà mình muốn tập
hợp hoặc dưới mình hơn.
1.2.
Khái niệm quản lý
Thuật ngữ “quản lý” thường được hiểu theo những cách khác nhau tuỳ theo
góc độ khoa học khác nhau cũng như cách tiếp cận của người nghiên cứu. Quản
lý là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học xã hội và khoa học tự
nhiên. Mỗi lĩnh vực khoa học có định nghĩa về quản lý dưới góc độ riêng của
mình và nó phát triển ngày càng sâu rộng trong mọi hoạt động của đời sống xã
hội.
Theo quan niệm của C.MÁC: “Bất kỳ lao động xã hội trực tiếp hay lao
động chung nào đó mà được tiến hành tuân theo một quy mô tương đối lớn đều
cần có sự quản lý ở mức độ nhiều hay ít nhằm phối hợp những hoạt động cá
nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ
cơ thể sản xuất, sự vận động này khác với sự vận động của các cơ quan độc lập
của cơ thể đó. Một nhạc công tự điều khiển mình, nhưng một dàn nhạc phải có
nhạc trưởng”(Các Mác – Ph. Ăng ghen, toàn tập, tập 23, trang 23). Tức theo
Mác quản lý là nhằm phối hợp các lao động đơn lẻ để đạt được cái thống nhất
6
của toàn bộ quá trình sản xuất. Ở đây Mác đã tiếp cận khái niệm quản lý từ góc
độ mục đích của quản lý.
Theo quan niệm của các nhà khoa học nghiên cứu về quản lý hiện nay:
Quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển các quá trình xã hội và hành vi hoạt
động của con người để chúng phát triển phù hợp với quy luật, đạt tới mục đích
đã đề ra và đúng với ý trí của người quản lý.
Theo cách hiểu này thì quản lý là việc tổ chức, chỉ đạo các hoạt động của
xã hội nhằm đạt được một mục đích của người quản lý. Theo cách tiếp cận này,
quản lý đã nói rõ lên cách thức quản lý và mục đích quản lý.
Như vậy, theo cách hiểu chung nhất thì quản lý là sự tác động của chủ thể
quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu quản lý. Việc tác động
theo cách nào còn tuỳ thuộc vào các góc độ khoa học khác nhau ,các lĩnh vực
khác nhau cũng như cách tiếp cận của người nghiên cứu.
Chức năng quản lý bao gồm các việc: xây dựng kế hoạch (bao gồm cả xác
định mục tiêu cụ thể, chế định kế hoạch, quy định tiêu chuẩn đánh giá và thể chế
hóa), sắp xếp tổ chức (bố trí tổ chức, phối hợp nhân sự, phân công công việc ...),
chỉ đạo, điều hành (hướng dẫn, động viên, ...), kiểm soát (bảo đảm hoàn thành
mục tiêu, quản lý kết quả, sửa chữa sai sót nếu có).
1.3.
Sự kiện, vấn đề báo chí
Sự kiện, vấn đề là một trong những đối tượng phản ảnh của báo chí.
Có thể định nghĩa sự kiện là một bước định hình chính xác trong không
gian và thời gian của quá trình xã hội (có nghĩa là xác định được, có sự khởi đầu
và kết thúc rõ ràng). Các hiện tượng thiên nhiên, kể cả những biến cố địa chất
đều được gọi là sự kiện. Nhưng với báo chí, các sự kiện có ý nghĩa quan trọng
thường nặng về những hoạt động của con người với những mục tiêu và kết quả
xác định, ảnh hưởng đến các quá trình xã hội này khác, hoặc là những sự kiện
nằm trong các quá trình đó. Những sự kiện như vậy, chúng ta đều biết thường
nảy sinh từ các tình huống chính trị - xã hội; các trạng thái kinh tế, đạo đức và
7
những trạng thái khác của xã hội. Phần lớn các bài thông tin có mục đích làm
sáng tỏ sự kiện. Nhiệm vụ quan trọng nhất của phóng viên - thông tin viên là
nhanh chóng thông báo cho bạn đọc những sự kiện quan trọng đang diễn ra, địa
điểm và thời gian diễn ra sự kiện. Thiếu các bản tin về những hoạt động, sự
kiện, biến cố đang diễn ra thì không có thông tin báo chí. Chúng là “món ăn
hàng ngày” của báo chí. Nhưng điều đó không có nghĩa là các sự kiện không
được phản ánh trong tư liệu của các thể loại phân tích và nghệ thuật chính luận.
Trong những bài viết dạng này chúng trở thành đối tượng của hoạt động đi sâu
nghiên cứu hoặc là đốì tượng của hoạt động tư duy chính luận - nghệ thuật.
Điều này được tiến hành trước hết nhằm phát hiện ý nghĩa, tính cấp thiết,
nguyên nhân và các hậu quả có thể xảy đến với chúng.
Mối quan hệ giữa sự kiện, vấn đề báo chí – dư luận xã hội với hoạt động
quản lý, lãnh đạo xã hội
Báo chí là trung tâm của phương tiện truyền thông đại chúng. Báo chí thể
hiện rõ nhất tính chất của quá trình truyền thông: tính đại chúng, tính công khai,
phương tiện cung cấp thông tin phong phú, về cơ bản là có tính định kì. Báo chí
hoạt động theo nguyên tắc mô hình truyền thông của Laswell gồm: Nguồn (nhà
báo, cơ quan báo chí), thông điệp (từ bài báo, chương trình), kênh truyền (các
phương tiện kĩ thuật chuyên biệt ), đích (công chúng báo chí), phản hồi (thông
tin đi ngược từ công chúng trở lại nguồn) và nhiễu (những yếu tố ảnh hưởng đến
quá trình truyền thông và thông điệp).
Dư luận xã hội là sự phản ánh tâm trạng xã hội của nhân dân nói chung về
những vấn đề liên quan đến lợi ích xã hội, những lợi ích thường có tính cấp
bách, nó là sự quan tâm của nhân dân nói chung, được phản ánh trong sự đánh
giá của họ, dư luận xã hội dựa trên các quan hệ xã hội đang tồn tại. Con đường
hình thành dư luận xã hội bao gồm:
8
-
Báo chí / các phương tiện truyền thông đại chúng cung cấp thông tin cho công
chúng
-
Các nhóm xã hội thảo luận về thông tin, tạo nên sự tương tác ý kiến
-
Tạo nên sự đánh giá chung
-
Dẫn đến hành động chung
Mối quan hệ giữa báo chí với việc hình thành và thể hiện dư luận xã hội
có tính chất biện chứng. Một mặt báo chí thoả mãn những nhu cầu ngày càng
tăng của công chúng, mặt khác, bản thân công chúng lại đặt ra các yêu cầu mới
đối với hoạt động của hệ thống báo chí. Sự trưởng thành trong mối quan hệ ấy
thể hiện tính tích cực chính trị - xã hội của bản thân hệ thống báo chí và của
công chúng báo chí. Báo chí vừa thể hiện dư luận xã hội, định hướng dư luận xã
hội, vừa chịu sự tác động mạnh của dư luận xã hội
Kết cấu lợi ích là hạt nhân của dư luận xã hội. Đó cũng là nguyên nhân
sâu xa của chức năng tham gia vào hoạt động quản lý, lãnh đạo của báo chí.
Không phải mọi sự kiện, vấn đề xã hội đều được dư luận xã hội phản ánh. Chủ
đề của dư luận xã hội chỉ có thể là những vấn đề lợi ích có tính cấp bách. Khi lợi
ích bị ảnh hưởng thì dư luận xã hội sẽ lên tiếng phản biện.
Như vậy, có thể kết luận rằng giữa báo chí – dư luận xã hội - chức năng
quản lý, lành đạo xã hội có quan hệ biện chứng với nhau.
9
Chương II: VAI TRÒ CỦA VẤN ĐỀ, SỰ KIỆN BÁO CHÍ
TRONG HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ, LÃNH ĐẠO XÃ HỘI
2.1.
Báo chí - diễn đàn thể hiện tính giám sát hoạt động quản lý, lãnh đạo xã
hội
Tính đến ngày 25/12/2014, cả nước có 838 cơ quan báo chí
in với 1.111 ấn phẩm báo chí (trong đó các cơ quan Trung ương
có 86 báo in và 507 tạp chí; địa phương có 113 báo in và 132
tạp chí); 67 đài phát thanh, truyền hình Trung ương và địa
phương; trong đó có 02 đài quốc gia, 01 đài truyền hình kỹ
thuật số, 64 đài phát thanh, truyền hình địa phương; 90 báo và
tạp chí điện tử, 215 trang tin điện tử tổng hợp của các cơ quan
báo chí. Điều này vừa thể hiện sự tăng nhanh quy mô của hệ thống báo chí
nước ta, vừa khẳng định chủ trương phát triển diễn đàn của xã hội cả về chiều
rộng lẫn chiều sâu
Báo chí thông truyền thông tin đến công chúng một cách đều đặn và gián
tiếp. Nó vừa phải hướng đến các đối tượng công chúng nói chung, vừa phải
quan tâm tới nhu cầu thông tin của các nhóm công chúng cụ thể. Hoạt động của
báo chí luôn chịu sự tác động từ hai phía: phía các thiết chế xã hội mà nó làm
công cụ (báo chí là công cụ tuyên truyền của bộ máy chính quyền), phía thứ hai
là từ công chúng báo chí.
Vấn đề, sự kiện báo chí đưa tin thực hiện chức quản lý, lãnh đạo xã hội
trước hết ở việc cung cấp thông tin chân thực, khách quan theo cả hai chiều.
Tính chân thực khách quan chính là điểm mấu chốt trong việc đưa ra những
đánh giá đúng đắn dư luận xã hội. Một mặt, với khả năng thông tin nhanh nhạy,
chính xác, báo chí là phương tiện tối ưu để truyền tải đến công chúng đường lối,
chính sách, hướng dẫn về phương thức, tính chất hoạt động của Nhà nước và các
tổ chức xã hội. Mặt khác, báo chí phản ánh đời sống hiện thực với những “phản
10
ứng” của xã hội một cách kịp thời và chân thực. Sự định hướng dư luận của báo
chí thể hiện qua việc đăng tải các bài bình luận, phân tích và giải thích các chủ
trương, chính sách của Đảng và Nhà nước để quần chúng hiểu, động viên và tổ
chức họ áp dụng các chính sách đó vào thực tế đời sống. Báo chí tham gia vào
việc kiểm tra các cơ quan TW, địa phương, các tổ chức, cá nhân trong xã hội
trong việc thực hiện các quy định của luật pháp và các quy ước văn hoá xã hội
của đời sống nhân dân. Hoạt động này đòi hỏi báo chí phải phát hiện kịp thời
những sai lầm, khuyết điểm, những khó khăn, cản trở trong việc tổ chức và thực
hiện các quy tắc xã hội. Kết qủa hoạt động kiểm tra, giám sát của báo chí là
nguồn thông tin quan trọng để giúp các cơ quan có thẩm quyền kịp thời uốn nắn
và có những biện pháp điều chỉnh thích hợp. Vấn đề quan trọng đặt ra cho báo
chí cách mạng trong kiểm tra, giám sát là chỉ ra các sai lầm, khuyết điểm trên cơ
sở xây dựng theo chiều hướng tốt đẹp, tích cực, chứ không phải là phủ nhận
hoặc đánh đổ. Đó cũng là ý nghĩa của tinh thần Phản biện trên báo chí. “Phải
phê bình với tinh thần thành khẩn, xây dựng (trị bệnh cứu người). Chớ phê bình
lung tung, không chịu trách nhiệm. ( Hồ Chí Minh, toàn tập, Nxb Sự thật, Hà
Nội. 1989).
Báo chí là diễn đàn của nhân dân và sự quản lý, lãnh đạo của dư luận xã
hội được thể hiện ngày càng sâu sắc trên báo chí. Nhân dân có thể phát biểu ý
kiến, nguyện vọng của mình về các vấn đề trong đời sống xã hội. Sự dân chủ
trong hoạt động báo chí một phần là do sự dân chủ trong trình bày ý kiến của
công chúng. Thông qua báo chí, quần chúng thể hiện sự giám sát và phản biện
xã hội của mình. Trên cơ sở ý kiến nhân dân, lập trường chính trị và sự am hiểu
các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá - xã hội của nhà báo, tờ báo, tính giám sát
và phản biện của báo chí cao hơn, sâu sắc, hiệu quả và có tác động mạnh mẽ
hơn. Vì vậy, điều quan trọng là báo chí phải tạo được niềm tin đối với công
chúng, niềm tin đối với sự trung thực, khách quan, dũng cảm và tiến bộ. Để làm
được điều này, báo chí cần phải góp phần tăng cường dân chủ hoá các mặt đời
11
sống xã hội, tổ chức và động viên nhân dân tham gia vào hoạt động quản lý xã
hội, mà trước hết là tham gia vào các diễn đàn, đóng góp ý kiến trên báo chí.
Báo chí cần thông tin cho nhân dân về tình trạng của dư luận xã hội trên
các vấn đề đang tạo nên mối quan tâm chung của toàn thể xã hội, nhất là những
vấn đề có tính cấp bách. Hình thành dư luận xã hội về một vấn đề nhằm thúc đẩy
hoặc hạn chế sự phát triển của thực tế đó. Góp phần điều chỉnh hành vi của các
cá nhân trong xã hội, làm tăng cường tính tích cực chính trị của quần chúng.
Tích cực chính trị thể hiện ở việc quần chúng quan tâm, thảo luận, góp ý kiến
xây dựng và phản biện cho các vấn đề xã hội.
Báo chí trước đây còn coi trọng chức năng thông tin tuyên truyền, phổ
biến các chính sách từ phía các cấp lãnh đạo. Gần đây, quan điểm về làm báo đã
thay đổi, báo chí ngày càng làm tốt chức năng “ diễn đàn của nhân dân”. Nhân
dân có thể thông qua các ban Bạn đọc, Hộp thư, Đường dây nóng, mục Góp ý
kiến, bình chọn…trên tất cả các loại hình báo chí từ báo in, đến phát thanh,
truyền hình, báo điện tử để phát biểu, thể hiện ý kiến và nguyện vọng của mình.
Vai trò quản lý, lãnh đạo của dư luận xã hội ngày càng được thể hiện sâu sắc
trên báo chí. Mặc dù, do tính chất của truyền thông đại chúng, sự phản hồi diễn
ra chậm, gián tiếp nhưng dư luận xã hội-thước đo của tâm trạng xã hội đã có
được một diễn đàn sâu rộng để thể hiện. Nhân dân thông qua báo chí để góp ý
kiến về các Dự thảo luật, các chính sách liên quan đến quốc kế dân sinh; phát
hiện và yêu cầu các cơ quan chức năng làm sáng tỏ và xử lí nghiêm minh những
vụ việc vi phạm pháp luật, vi phạm đạo đức xã hội…Báo chí cần tôn trọng ý
kiến của nhân dân, tạo niềm tin cho quần chúng, trở thành “cây bút có thẩm
quyền”. Có thể nói, tai mắt của nhân dân đã thực sự góp phần vào sự phát triển
và định giá của tờ báo.
2.2.
Báo chí tham gia vào quản lý, lãnh đạo xã hội thông qua những tính chất
đặc thù
12
Trong vai trò tham gia quản lý, lãnh đạo xã hội của mình, báo chí không
chỉ thông tin mà còn phải thể hiện chính kiến, quan điểm của mình đối với các
vấn đề trong cuộc sống xuất phát từ phía các cơ quan chức năng và cả từ phía
quần chúng.
Tính chân thật là nguyên tắc quan trọng hang đầu của báo chí. Trong điều
kiện của một Đảng cầm quyền, báo chí trở thành báo chí xã hội chủ nghĩa, nhìn
thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật là quan điểm của Đảng,
đồng thời là sự cụ thể hoá tính chân thật của báo chí trong tình hình mới.
Sự thật có mặt tốt, mặt chưa tốt, thậm chí có mặt xấu. Sự thật hay bị che
dậy bởi thói khoa trương, thổi phồng thành tích. Nhìn thẳng vào sự thật để giám
sát và phản biện xã hội có nghĩa là phải nói đầy đủ cả những điểm tốt, thành
công và những khuyết điểm, khó khăn, thất bại. Đánh giá đúng sự thật đặt ra yêu
cầu ở mức độ cao hơn, gắn liền với nhìn thẳng vào sự thật. Nhìn thẳng vào sự
thật cho chúng ta thấy những dữ kiện đầy đủ, tình hình thực tế đang diễn ra.
Đánh giá đúng sự thật lại cần đòi hỏi người viết có phương hướng và năng lực
tư duy, để có thể trình bày một cách chân thực và đi đế bản chất của thông tin sự
việc. Có thể nói, nhìn thẳng vào sự thật và đánh giá đúng sự thật là sự cụ thể hoá
của chức năng giám sát và phản biện xã hội của báo chí.
Tính công khai là một trong những tính chất của báo chí. Tính công khai
ngày càng rộng rãi là một xu thế tất yếu, là biểu hiện quan trọng của nền dân
chủ, với quyền làm chủ của quần chúng, trong đó có quyền được thông tin. Nói
rõ sự thật một cách công khai là phần đảm bảo để “dân biết”, rồi mới làm và
kiểm tra được. Tính công khai không chỉ áp dụng cho cấp dưới mà cả đối với
việc làm của cấp trên, cho nên lại cần có sự dân chủ trong viêc công khai hoá.
Các cơ quan truyền thong đại chúng là cơ quan công khai rộng rãi nhất. Một tin
phát trên truyền hình, phát thanh, đăng trên báo, cập nhật trên mạng internet…
sau một thời gian rất ngắn đã có thể tới được hang triệu người không kể tuổi tác,
nghề nghiệp, không gian, thái độ chính trị. Cho nên, tính công khai cần được
tính toán trên hai mặt: một là nói rõ sự thật sau khi đã được đánh giá đúng bản
13
chất; hai là, nói rõ sự thật trên các phương tiện thông tin đại chúng, tác động
mạnh mẽ vào dư luận xã hội thì phải góp phần “ xây dựng dư luận xã hội lành
mạnh”. Không thể đồng tình với việc nói công khai dẫn tới lộ bí mật quốc gia,
không có định hướng, tạo nên mối hoài nghi của công chúng và tạo kẽ hở cho
các lực lượng phản động lợi dụng. Nhưng cũng không thể chấp nhận việc vin
vào lí do “muốn dư luận xã hội lành mạnh, yên ổn” để hạn chế tính công khai
của báo chí. Vì vậy, yêu cầu đặt ra là bên cạnh sự thay đổi quan điểm và cơ chế
tổ chức quản lí của Nhà nước, thì báo chí cũng cần phải nắm rõ bản chất của vấn
đề, nhất là những vấn đề mang tính nhạy cảm, phức tạp, để có thể thông tin
chính xác và phản biện hiệu quả.
Tính quần chúng của báo chí được thể hiện ở việc báo chí là diễn đàn của
nhân dân như đã trình bày ở phần 2.1. Bên cạnh đó, báo chí cần chú ý đến cách
viết phải phù hợp với trình độ của nhân dân. Công chúng hiện nay ngày càng đa
dạng, tìm đến báo chí không chỉ nhằm mục đích thông tin. Công chúng báo chí
với trình độ cao hơn trước, mức độ quan tâm đến các vấn đề xã hội sâu sắc hơn.
Công chúng không chỉ tiếp nhận thong tin mà xu hướng tương tác, phản hồi
thôn gitn mạnh mẽ hơn. Chức năng giáo dục của báo chí càng được đề cao. Giáo
dục để góp phần nâng cao dân trí; nâng cao trình độ tương tác và tính chính xác
của thông tin phản hồi; môi trường của sự quản lỹ, lãnh đạo xã hội trong báo chí
và dư luận xã hội lành mạnh và hiệu quả hơn.
Tính chiến đấu là một tính chất cơ bản của báo chí cách mạng. Tính chiến
đấu của báo chí được thể hiện trên cả hai mặt biểu dương và phê bình. Báo chí
ủng hộ chủ trương xoá bỏ quan liêu bao cấp, cải cách hành chính. Vừa biểu
dương vừa phê bình, báo chí đấu tranh cho sự đổi mới tư duy đúng đắn, chống
lại cách làm thụ động, trì trệ hình thức chủ nghĩa, hiệu quả thấp; đấu tranh chống
quan liêu, tham nhũng và các tệ nạn xã hội; ủng hộ lối sống có lý tưởng lành
mạnh, sáng tạo, năng động, có ý thức xây dựng tập thể và đất nước.
14
Chương III: THỰC TẾ BÁO CHÍ THAM GIA VÀO QUẢN
LÝ, LÃNH ĐẠO XÃ HỘI TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY
3.1.
Báo chí tiếp tục phát huy sức mạnh của “ Mắt sáng, bút sắc, lòng trong”
trong sự nghiệp Đổi mới đất nước.
Có thể nói báo chí trong những năm gần đây đã tiếp tục phát huy được
truyền thống của tính chiến đấu trên mặt trận thông tin. Đồng thời, sự trợ giúp
của các phương tiện tác nghiệp hiện đại, môi trường thông tin toàn cầu phát triển
đã giúp người làm báo mở rộng được phạm vi và hiệu quả hoạt động. Báo chí
vẫn đi tiên phong trong việc phanh phui các tiêu cực trong các lĩnh vực, đặc biệt
là đấu tranh chống tham nhũng của các cấp chính quyền. Phát hiện sự việc, trên
cơ sở nắm chắc bản chất vấn đề và bền bỉ, quyết tâm theo sát, phản biện đến
cùng từ đó cung cấp thông để các nhà quản lý, lãnh đạo biết từ đó có biện pháp
xử lý.
Ví dụ như vụ chặt hạ 6700 cây xanh tại Hà Nội vào đầu năm 2015 vừa qua.
Khi dự án tiến hành báo chí đã cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác, phản ảnh
thường xuyên, chân thực sự bức xúc cũng như sự phản đối gay gắt của người
dân, vạch trần điểm bát hợp lý, khúc mắc của dự án từ đó góp phần quan trọng
trong việc dừng dự án cũng như phê bình, kiểm điểm các đơn vị triển khai.
Hay như trong vụ án tham nhũng 1000 tỉ đồng tại Agribank vào hồi tháng
10/2015 vừa qua báo chí đã đóng nhiệm vụ quan trọng nhờ sự cung cấp thông
tin đầy đủ và chính xác, sự giúp đỡ của nhân dân, báo chí đã nhìn thẳng, nói
thật, vạch trần những sai phạm và những thủ đoạn nhằm che mắt, bịt tai dư luận.
Vụ “đại án” tham nhũng 1000 tỉ đồng tại Agribank, một loạt các giám đốc ngân
hàng Agribank, các đường dây phạm pháp…đã phải chịu sự trừng phạt đích
đáng của pháp luật. Những vụ việc trên đã được báo chí góp phần phát hiện và
15
phản ánh chân thực, kịp thời, kiên quyết đấu tranh, tạo nên không khí vừa dân
chủ vừa định hướng tốt dư luận
Trong những kì họp Đại biểu Quốc hội những năm gần đây, Đài truyền
hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam đã tường thuật trực tiếp các phiên họp.
Thông qua đó, nhân dân, cử tri có thể giám sát hoạt động của các vị đại biểu
quốc hội, đánh giá được năng lực và tâm huyết của họ. Đồng thời, đây cũng là
thời điểm những vấn đề quan trọng của đất nước được trình bày công khai trước
sự chứng kiến của toàn dân. Báo chí đã góp phần tích cực vào việc phản biện và
làm thay đổi một số chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, tránh sự
quan liêu, vội vàng. Có nhiều kế hoạch sau khi báo chí và dư luận lên tiếng đã
được điều chỉnh hoặc tạm ngừng triển khai: đánh thuế chủ xe ôm; loại bỏ xe
công nông, xe tự chế; cấm xe máy biển ngoại tỉnh vào Hà Nội, tăng học phí…
Tinh thần của chống tiêu cực trên báo chí là “chống để xây”. Nhưng
không chỉ chống tiêu cực mới là phản biện xã hội. Báo chí đề cao những nhân tố
mới, những gương người tốt việc tốt điển hình trên tất cả các lĩnh vực để động
viên tinh thần và cân bằng xã hội. Chương trình Người Đương thời của VTV3 là
một điển hình. Hàng trăm nhân vật đặc biệt có đóng góp to lớn cho xã hội bằng
những việc làm cụ thể. Sự thật là xã hội có rất nhiều điều tốt đẹp, tích cực cần
nhân rộng. Báo chí thông tin trung thực về cái tốt đẹp cũng là để kích thích phát
triển phần tốt đẹp trong xã hội. Điều này hoàn toàn xa lạ với định nghĩa về tin
tức của loại báo lá cải “ cái gì ác, cái gì xấu mới là tin; cái gì tốt, cái gì lành
không có yếu tố tin” (giật gân câu khách). Phải để cho quần chúng thấy được
những mặt tốt đẹp, đúng đắn thì mới đối lập được mặt tiêu cực để phản biện.
3.2.
Những hạn chế trong việc tham gia quản lý, lãnh đạo xã hội của báo chí.
Thứ nhất, báo chí đa dạng nhưng chưa phong phú, nội dung còn trùng lặp,
các báo còn “ăn theo” bài của báo khác. Điều này thể hiện sự ẩu thả, đưa tin
thiếu thẩm định. Thông tin chưa sâu sắc, thiếu các điều tra kĩ càng về những vân
đề xã hội, nghị luận còn ít, tính chiến đấu chưa cao. Báo chí mới thiên về phản
16
ánh thực trạng, thiếu nhiều kiến nghị giải pháp và dự báo. Trường hợp gần đây
nhất là các vụ việc luộc ngô bằng bột thông cống. Khi có nguồn tin, nhiều phóng
viên đã vội vàng đưa tin thiếu chứng cứ, làm sai lệch bản chất vấn đề. Người
dân bán hàng rong với mức thu nhập rất thấp lại càng lao đao khi thông tin được
đưa ra. Thông tin đưa ra một cách vội vàng, chưa “nắm được vấn đề” đã “nêu
vấn đề”. Chức năng giám sát và phản biện xã hội của báo chí trong trường hợp
này là phải thông tin về cơ sở khoa học trong các kết luận của cơ quan chức
năng và đánh giá đúng mức vấn đề.
Thứ hai, báo chí giám sát và phản biện xã hội nhiều trường hợp chưa triệt
để, đưa thông tin còn một chiều, chung chung, thiên về tuyên truyền.
Thứ ba, tính dự báo của báo chí chưa cao. Dự báo trên cơ sở đã nắm vững
vấn đề và xác định được mục đích thông tin rõ ràng: dự báo cho dư luận, dự báo
cho các cấp lãnh đạo, dự báo cho các nhà hoạch định chính sách…Trên thực tế,
những vấn đề có tính chất dự báo quan trọng, đáng chú ý hiện nay không phải
do các nhà báo chuyên nghiệp đưa ra mà là của các nhà nghiên cứu các lĩnh vực
mà báo chí đăng tải.
3.3.
Đề xuất giải pháp nâng cao chức năng tham gia quản lý, lãnh đạo xã hội
của báo chí.
- Đổi mới tư duy nhận thức trong công tác quản lý và tổ chức báo chí. Các cơ
quan chức năng cần tạo điều kiện hơn nữa để báo chí phát huy vai trò giám sát
và phản biện xã hội của mình. Đó cũng là góp phần phát huy dân chủ trong đời
sống xã hội.
- Nâng cao dân trí. Ngày nay, dân trí trở thành một trong những tiêu chí hàng đầu
để đánh giá trình độ phát triển, tính chất chế độ xã hội của các quốc gia trên thế
giới. Nâng cao dân trí là nâng tầm tri thức, công chúng có khả năng hiểu và
tham gia sâu rộng hơn đến các vấn đề xã hội, không khí dân chủ, công khai tạo
hiệu qủa cao cho giám sát và phản biện xã hội. Người làm báo nâng tầm tri thức
17
để nhìn nhận, đánh giá sự việc thấu đáo, tổ chức thông tin chính xác và định
hướng dư luận đúng đắn, phù hợp.
- Báo chí đảm bảo định hướng tư tưởng, góp phần giữ vững ổn định chính trị xã
hội. Báo chí là một nhân tố, phương tiện có sức mạnh đặc biệt to lớn trong việc
định hướng nhận thức, hình thành dư luận xã hội tích cực. Và dư luận xã hội tích
cực là tiền đề của trạng thái chính trị - xã hội ổn định. Tuy nhiên, khi báo chí tự
đánh mất niềm tin, đánh mất tính định hướng chính trị sẽ gây hậu quả không nhỏ
tới dư luận và an ninh quốc gia. Trong bối cảnh toàn cầu hoá thông tin, nguồn
tin của từng quốc gia trở thành đối tượng của báo chí toàn cầu. Công chúng
đứng trước nhiều luồng thông tin, nhiều luồng tư tưởng ngoại lai. Giữ vững định
hướng chính trị giúp báo chí có tâm thế vững vàng trong giám sát và phản biện
xã hội.
- Tăng cường vai trò cầu nối của báo chí giữa Đảng và Nhà nước với nhân dân; là
phương tiện đảm bảo dòng thông tin hai chiều để tạo sự hài hoà giữa ý Đảng –
lòng dân. Báo chí cần phát huy hơn nữa vai trò tham mưu, tính xác đáng của
kiến nghị, tư vấn lên các cơ quan Nhà nước trong việc sửa chữa những chính
sách không còn phù hợp, hình thành những chính sách mới đúng đắn, kịp thời.
Có thể nói, báo chí thực hiện chức năng quản lý, lãnh đạo xã hội thông
qua các kênh thông tin và bằng chuyên môn nghiệp vụ. Người làm báo và công
tác báo chí đứng giữa trung tâm của môi trường thông tin mang tính chính trị xã
hội. Chính vì vậy, đòi hỏi báo chí phải thực sự trở thành lực lượng bảo vệ, xây
dựng văn hoá bằng thông tin. Tính chất của thông tin và truyền thông đại chúng
vừa là điều kiện thuận lợi vừa chứa đựng yếu tố gây hạn chế trong quá trình hoạt
động báo chí. Sự đổi mới tư duy, nhận thức của công tác quản lý và hoạt động
báo chí là điều kiện tiên quyêt trong mỗi thời kì phát triển xã hội.
18
19
KẾT LUẬN
Lịch sử đã chứng minh rằng xã hội càng phát triển thì vai trò thông tin
báo chí càng tăng lên. Công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo định hướng
xã hội chủ nghĩa sẽ thúc đẩy đất nước phát triển phù hợp quy luật, hướng tới
một xã hội công bằng dân chủ, văn minh, vì con người và sự tiến bộ. Một mặt,
đó là điều kiện giúp cho báo chí phát triển, mặt khác, bản thân báo chí cũng có
trách nhiệm nặng nề, quan trọng, góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp ấy. Vai
trò tham gia vào việc lãnh đạo, quản lý xã hội của báo chí càng cần được phát
huy hơn nữa. Nhà báo cần rèn luyện, trau dồi kiến thức, đạo đức nghề nghiệp và
bản lĩnh chính trị. Mắt sáng, bút sắc, long trong sẽ vẫn là tiêu chí phẩm chất,
năng lực của nhà báo có thẩm quyền, nhà báo của nhân dân.
20
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Truyền thông đại chúng và dư luận xa hội, Mai Quỳnh Nam, Tạp chí Xã hội học
số 1 (53), 1996.
2. Xã hội học về dư luận xã hội, Nguyễn Quý Thanh, NXB Đại học Quốc gia Hà
Nội, 2006.
3. Công việc của người viết báo, Hữu Thọ, Nxb Giáo dục,1998.
4. Wikipedia
21