BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐẠO TẠO – BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
----------
ĐINH THỊ THU TRANG
H
P
NHU CẦU CHĂM SÓC GIẢM NHẸ CỦA BỆNH NHÂN
UNG THƯ TẠI TRUNG TÂM Y HỌC HẠT NHÂN
U
VÀ UNG BƯỚU, BỆNH VIỆN BẠCH MAI NĂM 2022
VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG
H
TIỂU LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN Y TẾ CÔNG CỘNG
HÀ NỘI, 2022
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO - BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
----------
ĐINH THỊ THU TRANG
H
P
NHU CẦU CHĂM SÓC GIẢM NHẸ CỦA BỆNH NHÂN
UNG THƯ TẠI TRUNG TÂM Y HỌC HẠT NHÂN
U
VÀ UNG BƯỚU, BỆNH VIỆN BẠCH MAI NĂM 2022
VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG
H
TIỂU LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN Y TẾ CÔNG CỘNG
Hướng dẫn khoa học: Ths. Lê Tự Hoàng
Chữ ký
HÀ NỘI, 2022
I
LỜI CẢM ƠN
Đề tài “Nhu cầu chăm sóc giảm nhẹ của bệnh nhân ung thư tại Trung tâm
Y học hạt nhân và Ung bướu, Bệnh viện Bạch Mai năm 2022 và một số yếu tố
ảnh hưởng” là nội dung mà em đã lựa chọn thực hiện khóa luận tốt nghiệp của
mình sau khoảng thời gian theo học tại Trường Đại học Y tế cơng cộng. Trong q
trình học tập, rèn luyện và hồn thiện khóa luận, em đã nhận được nhiều sự quan
tâm, giúp đỡ từ Quý thầy cô, gia đình và bạn bè.
Đầu tiên, em muốn gửi lời cảm ơn tới Ban giám hiệu và đội ngũ giảng viên
Trường Đại học Y tế công cộng đã tạo môi trường học tập và rèn luyện, cung cấp
những kiến thức và kỹ năng bổ ích giúp cho em trong suốt 4 năm học vừa qua để
H
P
em có được hành trang tốt nhất cho cơng việc sau này của mình.
Đặc biệt, em xin trân trọng cảm ơn Ths. Lê Tự Hoàng. Cảm ơn thầy đã luôn
tận tâm hướng dẫn, định hướng cách tư duy và giúp đỡ em trong suốt quá trình thực
hiện khóa luận tốt nghiệp của mình.
U
Mặc dù đã nỗ lực hết mình hồn thành khóa luận tốt nghiệp nhưng chắc hẳn
rằng bản thân em không thể tránh khỏi những sai sót. Em rất mong nhận được
những góp ý và nhận xét của thầy, cơ để em có thể học hỏi, rút kinh nghiệm và tiếp
H
tục hồn thiện khóa luận tốt nghiệp của mình một cách xuất sắc nhất.
Em xin trân trọng cảm ơn!
II
TĨM TẮT ĐỀ CƯƠNG NGHIÊN CỨU
Nhu cầu chăm sóc giảm nhẹ đối với bệnh nhân ung thư đang gia tăng nhanh
chóng cùng với sự gia tăng của số trường hợp hiện mắc và mới mắc ung thư. Chăm
sóc giảm nhẹ là một lĩnh vực mới tại Việt Nam, ngoại trừ giúp bệnh nhân giảm các
cơn đau hay triệu chứng thực thể cịn rất nhiều khía cạnh khác của chăm sóc giảm
nhẹ chưa được khai thác hết bao gồm các vấn đề về tâm lý xã hội, tâm linh hay nhu
cầu hỗ trợ về tài chính,... Trong những năm gần Trung tâm Y học hạt nhân và ung
bướu (TT YHHN & UB) thuộc Bệnh viện Bạch Mai đang hướng tới việc đẩy mạnh
cơng tác chăm sóc giảm nhẹ cho bệnh nhân ung thư nhằm nâng cao chất lượng sống
cho người bệnh. Tuy nhiên, hiện chưa có nghiên cứu nào đánh giá về nhu cầu chăm
H
P
sóc giảm nhẹ và các yếu tố ảnh hưởng tới nhu cầu chăm sóc giảm nhẹ của bệnh
nhân đang điều trị tại TT YHHN & UB – Bệnh viện Bạch Mai được thực hiện.
Chính vì vậy, việc thực hiện đề tài “Nhu cầu chăm sóc giảm nhẹ của bệnh nhân
ung thư tại Trung tâm Y học hạt nhân và Ung bướu, Bệnh viện Bạch Mai năm
2022 và một số yếu tố ảnh hưởng” là thực sự cần thiết, nghiên cứu nhằm trả lời
U
câu hỏi: Thực trạng nhu cầu chăm sóc giảm nhẹ của bệnh nhân ung thư tại TT
YHHN & UB – Bệnh viện Bạch Mai là gì? Nghiên cứu sử dụng thiết kế nghiên cứu
cắt ngang kết hợp định lượng và định tính, thực hiện trên 3 nhóm đối tượng: Người
H
bệnh được chẩn đốn và điều trị ung thư; Lãnh đạo trung tâm và Cán bộ y tế thuộc
Đơn vị giảm đau và chăm sóc giảm nhẹ. Thời gian thực hiện dự kiến từ tháng
07/2022 – tháng 9/2022 tại TT YHHN & UB – Bệnh viện Bạch Mai. Số liệu được
thu thập dựa trên bộ công cụ được thiết kế sẵn phù hợp với mục tiêu và các biến số
của nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu sẽ là những bằng chứng giúp cho các cán bộ y
tế trung tâm nói riêng và các nhà hoạch định chính sách nói chung có thêm cơ sở
đưa ra các can thiệp chăm sóc giảm nhẹ phù hợp, thực tế với bệnh nhân nhất, giúp
cải thiện và nâng cao chất lượng cuộc sống của người bệnh.
III
MỤC LỤC
I.
ĐẶT VẤN ĐỀ .................................................................................................... 1
II.
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU ............................................................................... 3
III. TỔNG QUAN TÀI LIỆU................................................................................... 4
3.1.
Một số khái niệm sử dụng trong nghiên cứu ....................................... 4
3.2.
Giới thiệu các bộ công cụ đánh giá nhu cầu chăm sóc giảm nhẹ cho
bệnh nhân ung thư ....................................................................................................... 6
Tổng quan tình hình nghiên cứu về nhu cầu chăm sóc giảm nhẹ của
3.3.
bệnh nhân ung thư ..................................................................................................... 10
3.4.
Các yếu tố liên quan đến nhu cầu chăm sóc giảm nhẹ của bệnh nhân
ung thư
........................................................................................................... 15
3.5.
Khung lý thuyết ................................................................................. 21
H
P
IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .................................................................... 23
4.1.
Thiết kế nghiên cứu ........................................................................... 23
4.2.
Đối tượng nghiên cứu ........................................................................ 23
4.3.
Thời gian và địa điểm nghiên cứu ..................................................... 24
4.5.
Phương pháp thu thập số liệu ............................................................ 26
4.6.
Biến số và các nội dung chính nghiên cứu ........................................ 27
4.7.
Công cụ đo lường .............................................................................. 37
4.8.
Sai số và biện pháp kiểm soát sai số ................................................. 39
4.9.
Xử lý và phân tích số liệu .................................................................. 39
4.10.
Đạo đức nghiên cứu........................................................................... 40
V.
U
H
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU............................................................................... 41
5.1.
Thông tin chung của bệnh nhân tham gia nghiên cứu....................... 41
5.2.
Thực trạng nhu cầu chăm sóc giảm nhẹ của bệnh nhân ung thư ...... 44
5.3.
Một số yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu chăm sóc giảm nhẹ của bệnh
nhân
........................................................................................................... 49
VI. DỰ KIẾN BÀN LUẬN .................................................................................... 54
6.1.
Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu....................................... 54
6.2.
Thực trạng nhu cầu chăm sóc giảm nhẹ của bệnh nhân ung thư ...... 54
IV
6.3.
Các yếu tố ảnh hưởng tới nhu cầu chăm sóc giảm nhẹ của bệnh nhân
ung thư
........................................................................................................... 54
VII. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ .................................................................. 55
VIII. KẾ HOẠCH NGHIÊN CỨU VÀ KINH PHÍ .................................................. 56
8.1.
Kế hoạch nghiên cứu ......................................................................... 56
8.2.
Dự trù kinh phí .................................................................................. 58
TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................................... 60
PHỤ LỤC .................................................................................................................. 69
Phụ lục 1: Giấy đồng ý tham gia nghiên cứu ............................................................ 69
Phụ lục 2: Hướng dẫn phỏng vấn sâu người bệnh ung thư ....................................... 70
H
P
Phụ lục 3: Hướng dẫn phỏng vấn sâu lãnh đạo bệnh viện và cán bộ y tế ................. 71
Phụ lục 4: Bộ câu hỏi phỏng vấn định lượng ............................................................ 72
H
U
V
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1. So sánh các bộ công cụ đánh giá nhu cầu chăm sóc giảm nhẹ cho bệnh nhân
ung thư.........................................................................................................................9
Bảng 2. Đối tượng và mẫu nghiên cứu định tính ......................................................25
Bảng 3. Biến số nghiên cứu định lượng ....................................................................28
Bảng 4. Các chủ đề chính trong nghiên cứu định tính ..............................................36
Bảng 5. Sai số và cách khắc phục .............................................................................39
Bảng 6. Đặc điểm nhân khẩu học – xã hội học của đối tượng nghiên cứu ...............41
H
P
Bảng 7. Tình trạng bệnh lý của đối tượng nghiên cứu..............................................43
Bảng 8. Nhu cầu hỗ trợ thể chất của bệnh nhân........................................................44
Bảng 9. Nhu cầu hỗ trợ tài chính của bệnh nhân ......................................................45
Bảng 10. Nhu cầu hỗ trợ tâm lý/tinh thần của bệnh nhân .........................................45
U
Bảng 11. Nhu cầu hỗ trợ thông tin y tế của bệnh nhân .............................................46
Bảng 12. Nhu cầu hỗ trợ giao tiếp, quan hệ của bệnh nhân ......................................47
H
Bảng 13. Nhu cầu hỗ trợ hoạt động hàng ngày của bệnh nhân .................................47
Bảng 14. Nhu cầu hỗ trợ tự chủ các hoạt động cá nhân của bệnh nhân ...................48
Bảng 15. Mối liên quan giữa các yếu tố nhân khẩu học – xã hội học và nhu cầu
chăm sóc giảm nhẹ của bệnh nhân ............................................................................49
Bảng 16. Mối liên quan giữa các yếu tố bệnh lý và nhu cầu chăm sóc giảm nhẹ của
bệnh nhân ..................................................................................................................51
Bảng 17. Kế hoạch nghiên cứu .................................................................................56
Bảng 18. Dự trù kinh phí nghiên cứu ........................................................................58
VI
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
CSGN
Chăm sóc giảm nhẹ
TT YHHN & UB
Trung tâm Y học hạt nhân và ung bướu
WHO
Tổ chức Y tế thế giới
H
P
H
U
1
I.
ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), chăm sóc giảm nhẹ (CSGN) là cải thiện
chất lượng cuộc sống của người bệnh và gia đình người bệnh, những người đang
đối mặt với những vấn đề sức khỏe đe dọa tính mạng, thơng qua sự ngăn ngừa và
làm giảm gánh nặng họ chịu đựng bằng cách nhận biết sớm, đánh giá toàn diện,
điều trị đau và các vấn đề khác như thể lực, tâm lý xã hội và tâm linh [1]. Hiện nay
chăm sóc giảm nhẹ đang là một trong những vấn đề được WHO kêu gọi tất cả các
quốc gia thành viên củng cố và tích hợp trong hệ thống chăm sóc sức khỏe của từng
quốc gia [2]. Ung thư và HIV/AIDS là hai bệnh luôn được khuyến cáo điều trị đi
kèm chăm sóc giảm nhẹ trên tồn thế giới. Đặc biệt, với bệnh nhân ung thư, họ
H
P
thường phải đối mặt với các vấn đề về tâm lý như trầm cảm, lo lắng hay là các triệu
chứng như đau, nơn ói, suy kiệt,... do đó CSGN được nhấn mạnh song song với quá
trình điều trị [3]. Nhu cầu chăm sóc giảm nhẹ đối với người bệnh ung thư đang gia
tăng nhanh chóng cùng với sự gia tăng của số trường hợp hiện mắc và mới mắc ung
thư [4]. Theo thống kê của GOLBOCAN, năm 2020, có hơn 19,3 triệu ca mắc ung
U
thư và gần 10 triệu ca tử vong do ung thư trên toàn thế giới [5]. Dự báo từ các nhà y
tế, năm 2060 nhu cầu đối với CSGN vào cuối cuộc đời có thể sẽ tăng gấp đơi so với
năm 2016, đặc biệt có khoảng 30% người lớn có nhu cầu chăm sóc giảm nhẹ là các
H
bệnh nhân ung thư [6]. Trong khi đó, hiện nay chỉ có khoảng 14% người cần chăm
sóc giảm nhẹ trên toàn thế giới được đáp ứng nhu cầu [7].
Tại Việt Nam, ung thư là một trong các vấn đề sức khỏe tạo ra gánh nặng
bệnh tật rất lớn. Theo số liệu từ điều tra toàn quốc về gánh nặng bệnh tật ở Việt
Nam cho thấy 74,3% gánh nặng bệnh tật là do các bệnh khơng lây nhiễm, trong đó
ung thư là một trong 10 nguyên nhân bệnh tật hàng đầu. Năm 2020, ước tính Việt
Nam có 182.563 ca mắc mới và 122.690 ca tử vong do ung thư. Cứ 100.000 người
thì có 159 người chẩn đốn mắc mới ung thư và 106 người tử vong do ung thư [8].
Đáng chú ý, tỷ lệ mắc mới và tử vong do ung thư tại Việt Nam ngày càng có xu
hướng tăng. Năm 2020, Việt Nam xếp thứ 91/185 về tỷ suất mắc mới và 50/185 về
tỷ suất tử vong trên 100.000 người; cao hơn năm 2018 lần lượt 8 và 6 bậc [9]. Hiện
2
nay y học Việt Nam đã có nhiều tiến bộ trong việc cải thiện và nâng cao công tác
điều trị, chẩn đoán trong lĩnh vực điều trị ung thư. Tuy nhiên cơng tác chăm sóc
giảm nhẹ và các vấn đề liên quan đến chăm sóc giảm nhẹ cho người bệnh ung thư
vẫn chưa được chú trọng. Việc này gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng
cuộc sống của người bệnh ung thư trong khi đó mục tiêu cuối cùng của các hệ thống
y tế là nâng cao chất lượng cuộc sống cho người bệnh.
Trung tâm Y học hạt nhân và ung bướu, Bệnh viện Bạch Mai là đơn vị tiếp
nhận chẩn đoán và điều trị cho người bệnh ung thư trên toàn quốc với nhiều loại
ung thư khác nhau. Mỗi tháng trung bình trung tâm tiếp nhận 200-250 bệnh nhân.
Trong những năm gần đây, ngoài việc nâng cao chất lượng thăm khám và điều trị
H
P
bệnh, Trung tâm còn hướng tới việc tập trung đẩy mạnh cơng tác chăm sóc giảm
nhẹ cho người bệnh ung thư nhằm nâng cao chất lượng sống cho người bệnh. Trung
tâm đã thành lập đơn vị điều trị chống đau và chăm sóc giảm nhẹ riêng biệt để hỗ
trợ cho các bệnh nhân và gia đình của họ [10]. Đánh giá nhu cầu chăm sóc giảm nhẹ
là vô cùng cần thiết, nhằm xác định được mối quan tâm của bệnh nhân và gia đình
U
của họ. Đồng thời giúp cho các nhân viên y tế lập kế hoạch chăm sóc phù hợp và là
cơ sở để các nhà hoạch định chính sách đưa ra các biện pháp can thiệp kịp thời.
Hiện tại chưa có nghiên cứu nào được thực hiện nhằm đánh giá nhu cầu chăm sóc
H
giảm nhẹ của bệnh nhân đang điều trị tại TT YHHN & UB, Bệnh viện Bạch Mai.
Do đó đề tài “Nhu cầu chăm sóc giảm nhẹ cho bệnh nhân ung thư tại Trung tâm
Y học hạt nhân và Ung bướu, Bệnh viện Bạch Mai năm 2022 và một số yếu tố
ảnh hưởng” được thực hiện nhằm tìm hiểu về thực trạng nhu cầu chăm sóc giảm
nhẹ và các yếu tố ảnh hưởng tới nhu cầu chăm sóc giảm nhẹ của người bệnh ung
thư tại trung tâm. Từ đó có thêm bằng chứng giúp cán bộ y tế trung tâm nói riêng và
các nhà hoạch định chính sách y tế nói chung có thể đưa ra các chính sách can thiệp
chăm sóc giảm nhẹ phù hợp và cải thiện chất cuộc sống cho người bệnh.
3
II. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Mơ tả nhu cầu chăm sóc giảm nhẹ của người bệnh ung thư tại Trung tâm Y
học hạt nhân và Ung bướu, Bệnh viện Bạch Mai năm 2022.
H
P
H
U
4
III. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
3.1.
Một số khái niệm sử dụng trong nghiên cứu
3.1.1. Ung thư
Ung thư là một nhóm lớn các bệnh có thể bắt đầu ở hầu hết các cơ quan hoặc mô
trong cơ thể khi các tế bào bất thường phát triển khơng kiểm sốt được, vượt qua
ngồi ranh giới thông thường của chúng để xâm lấn các bộ phận liền kề của cơ thể
hoặc lây lan sang các cơ quan khác. Quá trình sau này được gọi là di căn và là
nguyên nhân chính gây tử vong do ung thư. Ung thư và khối u ác tính là những tên
H
P
gọi chung khác của bệnh ung thư [11].
3.1.1.1. Phân loại các giai đoạn ung thư:
Trong y văn, việc phân loại ung thư cũng có thể được chia thành ung thư giai
đoạn sớm và ung thư giai đoạn muộn. Trong đó, giai đoạn sớm (gồm giai đoạn 0 và
giai đoạn I) thường tiến triển lâu dài, chậm chạp; giai đoạn muộn (gồm giai đoạn III
U
và giai đoạn IV) thường tiến triển rất nhanh và gây tử vong cho người bệnh [12].
3.1.1.2. Phân loại ung thư theo giai đoạn điều trị:
H
₋ Điều trị ban đầu: Là quá trình điều trị đầu tiên, bắt đầu kể từ khi người bệnh
được chẩn đốn mắc ung thư cho đến khi tình trạng bệnh của người bệnh đạt đến
trạng thái ổn định, không tiến triển.
₋ Điều trị tái phát: Là lần điều trị diễn ra do điều trị ban đầu không thể loại bỏ
được tất cả các tế bào ung thư dẫn đến những tế bào cịn sót lại trong cơ thể phát
triển thành một hoặc nhiều khối u khác.
3.1.2. Chăm sóc giảm nhẹ
3.1.2.1. Khái niệm
Theo WHO, chăm sóc giảm nhẹ cải thiện chất lượng cuộc sống của người
bệnh và gia đình người bệnh, những người đang đối mặt với những vấn đề sức khỏe
đe dọa tính mạng, thơng qua sự ngăn ngừa và làm giảm gánh nặng họ chịu đựng
5
bằng cách nhận biết sớm, đánh giá toàn diện, điều trị đau và các vấn đề khác như
thể lực, tâm lý xã hội và tâm linh [7].
3.1.2.2. Đối tượng của chăm sóc giảm nhẹ
Theo WHO, chăm sóc giảm nhẹ có thể thực hiện tại cơ sở y tế, tại nhà và tại
cộng đồng cho 4 nhóm đối tượng bao gồm: (1) Nhóm bệnh nhân có khả năng tử
vong sớm; (2) Nhóm bệnh nhân khơng tiến triển nhưng địi hỏi cần chăm sóc đặc
biệt; (3) Nhóm bệnh nhân tiến triển mà khơng có phương pháp điều trị trong đó điều
trị giảm nhẹ sẽ kéo dài trong nhiều năm; (4) Nhóm bệnh nhân bị đe dọa đến tính
mạng, trong đó việc điều trị có thể khả thi hoặc thất bại do đó việc chăm sóc giảm
nhẹ sẽ tiến hành song song cùng q trình điều trị.
H
P
3.1.2.3. Các ngun tắc trong chăm sóc giảm nhẹ
Mục đích của chăm sóc giảm nhẹ là giảm đau khổ để cải thiện chất lượng cuộc
sống cho những người bị tổn thương nghiêm trọng liên quan đến sức khỏe [13].
WHO đã đưa ra một số nguyên tắc chăm sóc giảm nhẹ [14], bao gồm:
U
+
Giúp đỡ người bệnh giảm đau và các triệu chứng gây khó chịu khác
+
Nâng cao chất lượng cuộc sống của người bệnh, coi cái chết là một quá trình
tất yếu
+
H
Quan tâm và lồng ghép chăm sóc các vấn đề về tâm lý, xã hội và tinh thần
cho người bệnh
+
Khơng thúc đẩy hoặc trì hỗn cái chết của người bệnh
+
Cung cấp hệ thống hỗ trợ để giúp bệnh nhân sống tích cực nhất có thể cho
đến khi chết
+
Cung cấp một hệ thống hỗ trợ để giúp đỡ gia đình giải quyết những khó khăn
với trong q trình điều trị bệnh của bệnh nhân và kể cả khi bệnh nhân qua đời
+
Nâng cao chất lượng cuộc sống, góp phần tác động tích cực tới q trình diễn
biến của bệnh
+
Lấy người bệnh làm trung tâm, làm việc theo nhóm chăm sóc đa thành phần
bao gồm cả những người có chun mơn và khơng có chun mơn nhằm giải
6
quyết toàn diện các nhu cầu về thể chất, tâm lý xã hội của người bệnh và gia đình
họ kể cả khi sau khi bệnh nhân qua đời
+
Cung cấp cho người bệnh sớm được tiếp cận với các phương pháp điều trị
đặc hiệu khác nhằm kéo dài cuộc sống cho người bệnh. Động viên, hỗ trợ về tinh
thần cho người bệnh, giúp họ hiểu tốt hơn về các diễn biến bệnh, các biến chứng
và tác dụng phụ trong quá trình điều trị.
3.1.3. Chăm sóc giảm nhẹ cho bệnh nhân ung thư
Chăm sóc giảm nhẹ cho bệnh nhân ung thư là sự kết hợp nhiều biện pháp
để làm giảm sự đau khổ và cải thiện chất lượng cuộc sống của bệnh nhân ung thư
thơng qua sự phịng ngừa, phát hiện sớm và điều trị đau và những vấn đề tâm lý và
H
P
thực thể khác, và cung cấp sự tư vấn và hỗ trợ tập trung vào những vấn đề xã hội và
tâm linh mà bệnh nhân và gia đình đang phải gánh chịu [15].
Người bệnh ung thư thường cảm thấy đau đớn về thể chất, khó khăn trong
việc tự chăm sóc bản thân và các hoạt động thường ngày khác do triệu chứng của
bệnh và tác dụng phụ của phương pháp điều trị gây nên. Đồng thời người bệnh còn
U
bị ảnh hưởng tới tâm lý và thiệt hại nhiều về mặt tài chính trong suốt q trình điều
trị bệnh. Chính vì vậy, chăm sóc giảm nhẹ cho bệnh nhân ung thư là một vấn đề
quan trọng cần được quan tâm. Chăm sóc giảm nhẹ hiệu quả nhất nếu được bắt đầu
H
thực hiện ngay khi cần và trong suốt quá trình điều trị. Người bệnh được chăm sóc
giảm nhẹ đồng thời với điều trị ung thư thường ít gặp các triệu chứng nặng hơn, có
chất lượng cuộc sống tốt hơn, và hài lịng hơn với việc điều trị.
3.2.
Giới thiệu các bộ cơng cụ đánh giá nhu cầu chăm sóc giảm nhẹ cho bệnh
nhân ung thư
Chăm sóc giảm nhẹ là một lĩnh vực đã có từ lâu, tuy nhiên hầu hết quốc gia
trên thế giới lại chưa đáp ứng được các nhu cầu của bệnh nhân, ngay cả những nước
có nền kinh tế và y tế phát triển. Việc xây dựng các công cụ nhằm đánh giá nhu cầu
CSGN cho người bệnh là vơ cùng cần thiết, từ đó có thể đưa ra các khuyến nghị và
chính sách phù hợp để giải quyết vấn đề đáp ứng nhu cầu CSGN.
7
Thực tế, trên thế giới đã có rất nhiều cơng cụ đánh giá CSGN khác nhau, dựa
trên những khía cạnh trong CSGN, các nhà nghiên cứu cũng đã thiết kế các cơng cụ
riêng cho từng khía cạnh như đánh giá đau, khó thở, mệt mỏi; về tâm lý xã hội và
tâm thần; về xã hội (cho người chăm sóc); về tâm linh và tơn giáo; về văn hóa; về
chăm sóc sau khi kết thúc cuộc đời (cho người thân); về đạo đức và pháp lý …Tuy
nhiên để đánh giá một cách đầy đủ nhất các khía cạnh về nhu cầu CSGN cho bệnh
nhân, các nhà nghiên cứu cũng đã thiết kế những công cụ đánh giá đa chiều, tổng
quát. Do giới hạn nghiên cứu, tôi sẽ chỉ đưa ra một số ít trong những cơng cụ đánh
giá tổng thể trong báo cáo này.
❖ Bảng câu hỏi đánh giá nhu cầu chăm sóc cho bệnh nhân ung thư giai
H
P
đoạn cuối (NA-ACP): Bộ công cụ NA-ACP do K.J Rainbird và cộng sự xây dựng
nhằm đánh giá nhu cầu chăm sóc giảm nhẹ của bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối
(khơng có khả năng điều trị khỏi). Bản đầy đủ gồm 132 tiểu mục đánh giá nhu cầu
chăm sóc của người bệnh ung thư giai đoạn cuối, đánh giá trên các khía cạnh bao
gồm: (1) Nhu cầu hỗ trợ thể chất, (2) Nhu cầu hỗ trợ tâm lý/tinh thần, (3) Nhu cầu
U
hỗ trợ thông tin y tế, (4) Nhu cầu hỗ trợ giao tiếp, (5) Nhu cầu hỗ trợ các hoạt động
hằng ngày, (6) Nhu cầu hỗ trợ tự chủ cá nhân và (7) Nhu cầu hỗ trợ tài chính. Độ tin
cậy của bảng hỏi được chứng minh có độ tin cậy và độ chấp nhận cao [18]. Trong
H
một số nghiên cứu trên thế giới cũng sử dụng bảng câu hỏi này, ví dụ như nghiên
cứu của Krishna R và cộng sự đánh giá nhu cầu chăm sóc ung thư ở vùng nơng thôn
tại Úc; nghiên cứu của KJ Rainbird tại Sydney, Hunter của New South Wales [19],
[20].
❖ Bộ câu hỏi Khảo sát nhu cầu chăm sóc hỗ trợ của bệnh nhân ung thư
(SCNS-SF34): Bộ công cụ gồm 34 tiểu mục, khai thác trên 5 khía cạnh: tâm lý, hệ
thống sức khỏe và thơng tin, nhu cầu thể chất hàng ngày, chăm sóc và hỗ trợ người
bệnh, nhu cầu tình dục. Bảng hỏi được chứng minh có độ tin cậy cao, phù hợp để
đánh giá với bệnh nhân ung thư [21]. Một số quốc gia trên thế giới cũng đã áp dụng
bộ công cụ này trong nghiên cứu, chẳng hạn như nghiên cứu tại Hà Lan của Jansen
F và cộng sự, nghiên cứu tại Đức tìm hiểu về các yếu tố liên quan tới nhhu cầu
chăm sóc hỗ trợ của bệnh nhân u thần kinh đệm hay nghiên cứu đánh giá chất lượng
8
cuộc sống của bệnh nhân bạch cầu cấp tỉnh tại Trung Quốc [22]–[25]. Tại Việt Nam
cũng có nghiên cứu của Đỗ Thị Thắm sử dụng cơng cụ này để tìm hiểu các yếu tố
liên quan đến nhu cầu CSGN cho người bệnh sau phẫu thuật ung thư đại trực tràng
tại bệnh viện K năm 2018 [26].
❖ Bộ câu hỏi Vấn đề và nhu cầu trong chăm sóc giảm nhẹ - Problems and
needs in Palliative care questionnaire (PNPC): Đây bộ công cụ dùng để đánh giá
thực trạng và nhu cầu chăm sóc giảm nhẹ của bệnh nhân ung thư do Bart H.P. Osse
và cộng sự xây dựng [27]. Bộ câu hỏi bao gồm 2 phiên bản, một phiên bản đầy đủ
với tổng cộng 138 tiểu mục đánh giá nhu cầu chăm sóc giảm nhẹ của người bệnh
ung thư trên 14 khía cạnh và một phiên bản rút gọn gồm 33 tiểu mục. Bộ công cụ
H
P
rút gọn đánh giá nhu cầu chăm sóc giảm nhẹ của bệnh nhân ung thư trên 7 khía
cạnh bao gồm: (1) Nhu cầu hỗ trợ thể chất, (2) Nhu cầu hỗ trợ tâm lý/tinh thần, (3)
Nhu cầu hỗ trợ thông tin y tế, (4) Nhu cầu hỗ trợ giao tiếp, (5) Nhu cầu hỗ trợ các
hoạt động hằng ngày, (6) Nhu cầu hỗ trợ tự chủ cá nhân và (7) Nhu cầu hỗ trợ tài
chính.
U
Bộ cơng cụ rút gọn đã được chuẩn hóa với Cronbach anpha lớn hơn 0,70, độ
tin cậy và tính khả thi được đánh giá cao [27]. Bộ công cụ PNPC là một trong
những bộ công cụ được sử dụng nhiều nhất để đánh giá nhu cầu chăm sóc giảm nhẹ
H
cho bệnh nhân ung thư trên thế giới. Một loạt nghiên cứu trên thế giới đã sử dụng
bộ công cụ này để đo lường: như trong nghiên cứu tổng quan của Effendy C và
cộng sự khi so sánh các vấn đề và nhu cầu chưa được đáp ứng của bệnh nhân ung
thư giai đoạn cuối ở các quốc gia Châu Âu so với một số quốc gia Châu Á [28].
Hay như nghiên cứu của Osse B.H tại Indonexia và nghiên cứu của Tao Wang tại
Trung Quốc,… [29], [30] Tại Việt Nam cũng đã có nghiên cứu của Nguyễn Thị
Ánh Tuyết và đồng nghiệp sử dụng bộ công cụ này để đánh giá nhu cầu chăm sóc
giảm nhẹ của bệnh nhi tại Bệnh viện Nhi trung ương năm 2018 [31].
9
Bảng 1. So sánh các bộ công cụ đánh giá nhu cầu chăm sóc giảm nhẹ cho bệnh
nhân ung thư
STT
Đối tượng
Bộ cơng cụ
Ưu điểm
nghiên cứu
Nhược điểm
• Chưa được sử
• Độ tin cậy và tính
Bảng câu hỏi
1
cho bệnh
nhân ung thư
giai đoạn
(Cronbach's α:
Bệnh nhân ung
thư giai đoạn
• Được sử dụng
ACP) [18]
U
2
hỗ trợ của
bệnh nhân
ung thư
H
(SCNS-
• Chỉ phù hợp
quốc gia, chủ yếu
đánh giá nhu
tại các quốc gia
cầu CSGN với
Châu Âu
bệnh nhân giai
hợp lệ cao
(Cronbach's α:
Bệnh nhân ung
0,86 – 0,96)
thư
• Được sử dụng
rộng rãi tại nhiều
quốc gia, trong đó
có cả Việt Nam và
SF34) [21]
Tiếng Việt
rộng rãi tại nhiều
• Độ tin cậy và tính
cầu chăm sóc
chuẩn hóa
H
P
cuối
Bộ câu hỏi
• Chưa được
0,90)
cuối (NA-
Khảo sát nhu
Nam
hợp lệ cao
đánh giá nhu
cầu chăm sóc
dụng tại Việt
đoạn cuối
• Chưa được
chuẩn hóa
Tiếng Việt
• Chỉ đánh giá
khai thác được
5/7 khía cạnh
chính của
CSGN
Trung Quốc
Bộ câu hỏi
3
Vấn đề và
Bệnh nhân ung
nhu cầu trong
thư
chăm sóc
giảm nhẹ -
• Độ tin cậy và tính • Chưa được
hợp lệ cao (Total
chuẩn hóa
scale Cronbach's
Tiếng Việt
α: 0,88)
• Được sử dụng
10
STT
Đối tượng
Bộ công cụ
Ưu điểm
nghiên cứu
Problems and
rộng rãi tại nhiều
needs in
quốc gia, trong đó
Palliative
có cả Việt Nam,
care
Nhược điểm
Trung Quốc,
questionnaire
Indonesia
rút gọn
(PNPC-sv)
[27]
H
P
Trong nghiên cứu này sẽ chỉ đưa ra một số ít bộ công cụ nổi bật để đánh giá nhu
cầu chăm sóc giảm nhẹ của bệnh nhân ung thư. Trong những bộ công cụ nêu trên,
SCNS-SF34 và PNPC là 2 bộ cơng cụ có nhiều ưu điểm, phù hợp với nghiên cứu
của chúng tôi nhất. Tuy nhiên, bộ công cụ SCNS-SF34 chỉ khai thác được 5/7 khía
U
cạnh CSGN, trong khi đó bộ công cụ PNPC lại khai thác được đầy đủ 7/7 khía cạnh
trong CSGN theo khuyến cáo của WHO. Ngồi ra, bộ cơng cụ PNPC là bộ cơng cụ
H
có độ tin cậy và tính hợp lệ cao với đối tượng là bệnh nhân ung thư nói chung tại tất
cả các giai đoạn bệnh khác nhau. Đồng thời bộ công cụ này đã được ứng dụng,
chuẩn hóa tại Trung Quốc và Indonexia là 2 quốc gia thuộc khu vực Châu Á có
những nét văn hóa khá tương đồng với Việt Nam và được sử dụng đánh giá CSGN
tại Việt Nam nên bộ câu hỏi PNPC rút gọn được lựa chọn sử dụng trong nghiên cứu
này.
3.3.
Tổng quan tình hình nghiên cứu về nhu cầu chăm sóc giảm nhẹ của
bệnh nhân ung thư
3.3.1. Trên thế giới
Nhu cầu chăm sóc giảm nhẹ là vấn đề đã có từ lâu, tuy nhiên lại chưa được
đáp ứng tốt tại hầu hết quốc gia. Để đưa ra các giải pháp hữu hiệu và phù hợp, các
11
nhà y tế trên tồn cầu đã có những nghiên cứu tìm hiểu về nhu cầu chăm sóc giảm
nhẹ của người bệnh nói chung và bệnh nhân ung thư nói riêng. Tại Trung Quốc,
Tao Wang và các cộng sự đã thực hiện một nghiên cứu tổng quan có hệ thống, tác
giả đã tiến hành phân tích dựa trên 50 nghiên cứu tương tự nhằm xác định nhu cầu
chăm sóc giảm nhẹ của các bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối. Nhóm tác giả đã chỉ
ra 3 trong 7 khía cạnh của chăm sóc mà bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối có nhu
cầu hỗ trợ nhiều nhất là hỗ trợ thông tin y tế (từ 4,0% - 66,7%), hỗ trợ về tâm
lý/tinh thần (10,1% - 84,4%) và hỗ trợ về thể chất (từ 18% - 76,3%) [29].
Tương tự kết quả nghiên cứu của Tao Wang, một số nghiên cứu khác cũng
đã chỉ ra đa số các bệnh nhân tự báo cáo rằng họ có nhu cầu cao về hỗ trợ về thể
H
P
chất. Trong nghiên cứu của Marianne Heins trên 78 bệnh nhân ung thư giai đoạn
cuối tại Hà Lan cho thấy có 85% - 91% bệnh nhân có nhu cầu nhận hỗ trợ từ nhân
viên y tế khi họ gặp các triệu chứng như đau hay mệt mỏi [33]. Một nghiên cứu can
thiệp khác nhằm đánh giá nhu cầu chăm sóc giảm nhẹ của Amy Waller tại Anh với
đối tượng là nguời bệnh điều trị ngoại trú ung bướu, xạ trị và huyết học cũng cho
U
thấy: Tỷ lệ người tham gia báo cáo có các nhu cầu hỗ trợ về chăm sóc giảm nhẹ
triệu chứng thể chất ở mức trung bình hoặc cao. Tỷ lệ bệnh nhân tự báo cáo cho
thấy họ có ít nhất một nhu cầu chưa được đáp ứng ở mức vừa phải hoặc cao là 64%
H
[34]. Hay trong nghiên cứu của Deena R. Levine và cộng sự năm 2017, được thực
hiện trên 129 bệnh nhi ung thư và cha mẹ của bệnh nhi ở Mỹ đã báo cáo rằng phần
lớn trẻ em và cha mẹ đồng ý với việc tham gia chăm sóc giảm nhẹ sớm (92,8% và
98,4%). So với cha mẹ, bệnh nhi có xu hướng tán thành can thiệp bằng chăm sóc
giảm nhẹ cao hơn đáng kể nếu việc kiểm soát cơn đau hoặc các triệu chứng là vấn
đề chính mà bệnh nhi gặp phải [35].
Về khía cạnh tâm lý, tinh thần: Một nghiên cứu can thiệp được thực hiện tại
Anh năm 2012 cho thấy: 63% người tham gia cho biết họ có nhu cầu cao đối với ít
nhất một trong các khía cạnh chăm sóc giảm nhẹ. Trong đó, mức độ nhu cầu cao
nhất được báo cáo trong lĩnh vực tâm lý, cụ thể 21,4% bệnh nhân có nhu cầu hỗ trợ
về tâm lý [34]. Trong một nghiên cứu khác do Lucy E.S và cộng sự thực hiện tìm
12
hiểu nhu cầu chăm sóc tinh thần ở 9 quốc gia, kết quả cho thấy: Các đối tượng tham
gia đã báo cáo rằng sự họ cần được chăm sóc, hỗ trợ về khía cạnh tinh thần tuy
nhiên các nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe lại chưa quan tâm đến vấn đề
này [36]. Kết quả này có sự tương đồng với nghiên cứu của Teniglo và cộng sự, các
bệnh nhi ung và gia đình của họ báo cáo rằng họ đã tìm kiếm sự hỗ trợ tâm lý trong
các giai đoạn điều trị khác nhau cho con của mình. Tuy nhiên, việc đặt lịch hẹn với
chuyên gia tâm lý thường rất khó khăn [37]. Tại Canada, Melhem D và cộng sự
cũng đã triển khai nghiên cứu định tính để tìm hiểu chăm sóc giảm nhẹ cho các
bệnh nhân ung thư vào năm 2017, kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng những bệnh
nhân cho biết họ cần bác sĩ của mình dành thời gian để giúp họ vượt qua những cảm
H
P
xúc tiêu cực trong thời gian điều trị bệnh [38].
Ngoài sự hỗ trợ về mặt thể chất và tâm lý/tinh thần, việc hỗ trợ thông tin y tế
cho bệnh nhân ung thư cũng là vấn đề quan trọng và cần thiết. Việc được cung cấp
các thông tin đúng và kịp thời về căn bệnh của mình, cũng như các phương pháp
điều trị hay rủi ro có thể gặp trong quá trình điều trị là một trong những vấn đề thiết
U
yếu mà bệnh nhân mong muốn nhận được từ các nhà y tế. Điều này đã được đề cập
trong kết quả nghiên cứu định tính của Masel E.K và cộng sự. Khi tìm hiểu mong
đợi và nhu cầu của bệnh nhân được nhận vào đơn vị chăm sóc giảm nhẹ, nhóm tác
H
giả nhận thấy người bệnh đã bày tỏ sự khơng hài lịng về việc thiếu thơng tin về
chăm sóc giảm nhẹ và điều trị bệnh tật. Bệnh nhân báo cáo rằng họ mong muốn
được nhận nhiều thông tin hơn về mục đích của việc điều trị trong quá trình chăm
sóc giảm nhẹ [39]. Tại Mexico, A. Pérez-Fortis và cộng sự cũng đã thực hiện
nghiên cứu đánh giá mức độ và mối tương quan về nhu cầu chăm sóc hỗ trợ của
bệnh nhân ung thư vú, kết quả cho thấy có tới 68% bệnh nhân cho biết họ có nhu
cầu hỗ trợ về thống thông tin y tế [40]. Trong một nghiên cứu khác của M. Heins và
cộng sự được thực hiện vào năm 2018 cũng đã chỉ ra mức độ quan trọng của việc hỗ
trợ thông tin y tế trong các nhu cầu chăm sóc giảm nhẹ đối với bệnh nhân. Hầu hết
tất cả các bệnh nhân tham gia vào nghiên cứu đều đánh giá các mục liên quan đến
“cung cấp thông tin” là quan trọng/rất quan trọng, 89% - 99% mong muốn nhận
được thông tin về diễn biến dự kiến của bệnh để họ có thể tham gia vào các quyết
13
định về chăm sóc và điều trị của mình [41]. Hay như trong nghiên cứu định tính của
Tenniglo tại Hà Lan, nhóm nghiên cứu đã phát hiện rằng các bệnh nhân tham gia
nghiên cứu có nhu cầu cung cấp thêm về thông tin y tế. Họ báo cáo rằng bản thân
có nhu cầu lớn về thơng tin khi bắt đầu q trình điều trị. Cùng với đó, người bệnh
chia sẻ rằng một số thông tin thường được cung cấp quá muộn, ví dụ như các hình
thức sử dụng thuốc có sẵn [37].
3.3.2. Tại Việt Nam
Mặc dù lĩnh vực chăm sóc giảm nhẹ đã có từ lâu, tuy nhiên tại Việt Nam
chăm sóc giảm nhẹ vẫn chưa được chú trọng và phát triển. Theo báo cáo từ Cơ quan
nghiên cứu Economist Intelligence Unit, từ năm 2006 đến 2015, Việt Nam mới chỉ
H
P
có 13 bệnh viện và phịng khám có các dịch vụ chăm sóc giảm nhẹ [42]. Trong
những năm gần đây, vấn đề chăm sóc giảm nhẹ đã được quan tâm hơn đáng kể; tuy
nhiên có rất ít nghiên cứu đánh giá nhu cầu chăm sóc giảm nhẹ cho bệnh nhân ung
thư tại nước ta. Một trong số đó là nghiên cứu của Trần Thị Hảo và đồng nghiệp,
đánh giá nhu cầu chăm sóc giảm nhẹ và một số yếu tố liên quan của người dân tại
U
10 tỉnh Việt Nam năm 2014. Kết quả nghiên cứu cho thấy có tới 71,2% người bệnh
ung thư tham gia nghiên cứu có nhu cầu chăm sóc giảm nhẹ [43].
H
Đối với bệnh nhân ung thư, đặc biệt là đối với những bệnh nhân phải dùng
hóa chất điều trị thì việc xuất hiện các triệu chứng như buồn nôn, nôn, đau đớn,… là
những triệu chứng rất dễ gặp phải. Vì thế, bệnh nhân rất cần hỗ trợ để giảm tình
trạng đó [44]. Trong nghiên cứu đánh giá trình trạng đau và chất lượng cuộc sống
của người bệnh ung thư giai đoạn muộn được chăm sóc giảm nhẹ tại Trung tâm
Ung bướu Thái Nguyên cho thấy 100% bệnh nhân có đau, trong đó 54,8% trường
hợp bệnh nhân đau vừa và nặng trong quá trình điều trị bệnh, điều này càng khẳng
định vai trò quan trọng trong việc CSGN cho các bệnh nhân ung thư [45]. Hay trong
nghiên cứu “Nhu cầu chăm sóc giảm nhẹ của bệnh nhi ung thư tại Bệnh viện nhi
Trung ương năm 2018” của Nguyễn Thị Ánh Tuyết và cộng sự đã chỉ ra rằng bệnh
nhi có nhu cầu hỗ trợ thể chất chiếm tỷ lệ chung là 32,1%. Kết quả nghiên cứu cho
thấy các mục trong nhu cầu hỗ trợ thể chất thì nhu cầu giảm tình trạng mệt mỏi
14
chiếm tỷ lệ cao nhất với 82,6%; tỷ lệ bệnh nhi có nhu cầu giảm tình trạng khó thở,
thở gấp là thấp nhất (28,9%) [31]. Kết quả này được báo cáo thấp hơn so với nghiên
cứu tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Nam Định của Phạm Thu Dịu và đồng nghiệp khi
triển khai trên bệnh nhân ung thư trưởng thành; kết quả chỉ ra nhu cầu hỗ trợ kiểm
soát các triệu chứng như đau, buồn nôn, tiêu chảy, mất ngủ, mệt mỏi, chán ăn chiếm
tỷ lệ cao nhất là 78,3% [46].
Bên cạnh việc giúp kiểm soát đau về mặt thể chất cho bệnh nhân ung thư, hỗ
trợ về tinh thần cũng là một khía cạnh được chú trọng trong chăm sóc giảm nhẹ.
Cũng trong nghiên cứu của Nguyễn Thị Ánh Tuyết và cộng sự, với sự tham gia của
190 cha mẹ bệnh nhi ung thư, kết quả thu được cho thấy nhu cầu hỗ trợ tâm lý, tinh
H
P
thần của bệnh nhân là tương đối cao (61,6%). Trong đó, tỷ lệ bệnh nhi có nhu cầu
hỗ trợ cao nhất là nhu cầu được động viên khích lệ và nhu cầu củng cố niềm tin
(chiếm 80,1%); tỷ lệ bệnh nhi có nhu cầu cao tương ứng là 50% và 42,6%; tỷ lệ
bệnh nhi có nhu cầu hỗ trợ thấp nhất là nhu cầu giảm tình trạng mặc cảm (20%)
[31]. Tỷ lệ này tương ứng với nghiên cứu của Trần Thị Liên và Lê Thanh Tùng tiến
U
hành tại bệnh viện đa khoa Thái Bình, tỷ lệ bệnh nhân ung thư có nhu cầu chăm sóc
hỗ trợ về tinh thần tương đối cao (chiếm 70%). Tỷ lệ bệnh nhân có nhu cầu chăm
sóc giảm nhẹ ung thư cao nhất thuộc về nhóm cần được mọi người xung quanh tơn
H
trọng, cư xử bình đẳng như những người khác với 87,9% [47].
Chẩn đoán ung thư gây một cú sốc lớn và ảnh hưởng đến tất cả các khía cạnh
cuộc sống của người bệnh [48]. Vì vậy, việc cung cấp thông tin y tế đối với người
bệnh đóng vai trị quan trọng giúp họ hiểu biết về bệnh và các vấn đề liên quan một
cách đầy đủ, tăng khả năng phối hợp với nhân viên y tế trong việc lựa chọn các
phương pháp điều trị phù hợp, tăng khả năng tuân thủ điều trị, giúp họ đối phó với
các tác dụng phụ liên quan đến bệnh làm giảm lo lắng và trầm cảm. Điều này đã
được chứng minh trong một số nghiên cứu tại Việt Nam như nghiên cứu “Đáp ứng
nhu cầu chăm sóc giảm nhẹ của người bệnh ung thư điều trị nội trú tại Bệnh viện
Đa khoa tỉnh Nam Định năm 2020”, kết quả cho thấy người bệnh có nhu cầu hỗ trợ
thơng tin y tế cao nhất với tỷ lệ chung là 77,7%. Trong đó, nhu cầu cần biết thơng
15
tin về chẩn đoán bệnh chiếm tỷ lệ cao nhất là 82,9%; nhu cầu cần biết thông tin về
các phương pháp điều trị chiếm tỷ lệ 79,1% [46]. Với nghiên cứu của Đỗ Thị Thắm
trên 215 người bệnh sau phẫu thuật ung thư đại trực tràng tại bệnh viện K đã chỉ ra
rằng nhu cầu chăm sóc giảm nhẹ của người bệnh là rất lớn, trong đó tỷ lệ người
bệnh có nhu cầu với yếu tố thơng tin y tế chiếm tỷ lệ cao nhất chiếm 92,6% [49].
Ngoài ra, theo kết quả nghiên cứu “Thực trạng nhu cầu chăm sóc giảm nhẹ của
người bệnh ung thư điều trị tại trung tâm ung bướu - Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái
Bình năm 2019” của Trần Thị Liên và Lê Thanh Tùng, trong nhóm các nhu cầu về
thơng tin y tế, chiếm tỷ lệ cao nhất là nhu cầu thông tin về chẩn đốn bệnh (chiếm
91,8%). Tiếp theo đó là nhu cầu thông tin về tiên lượng bệnh (chiếm 85,3%), nhu
H
P
cầu được biết phương pháp điều trị (chiếm 83,7%) [47].
3.4.
Các yếu tố liên quan đến nhu cầu chăm sóc giảm nhẹ của bệnh nhân ung
thư
3.4.1. Các yếu tố nhân khẩu học liên quan đến nhu cầu chăm sóc giảm nhẹ của
bệnh nhân ung thư
3.4.1.1.
U
Giới tính
Một số nghiên cứu trên thế giới đã chỉ ra rằng có sự khác biệt giới tính với nhu
H
cầu cần hỗ trợ về chăm sóc giảm nhẹ. Như trong nghiên cứu của Morasso G và
cộng sự triển khai tại Ý trên các bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối đang tiếp nhận
chăm sóc giảm nhẹ đã chỉ ra rằng: So với nam giới, phụ nữ có tỷ lệ về nhu cầu hỗ
trợ tinh thần cao hơn đáng kể (67,6% so với 40,0%, p <0,05), nhu cầu chăm sóc cá
nhân (26,3% so với 5,9%, p <0,01) và nhu cầu giao tiếp (38,9% so với
19,1%, p<0,05) [50]. Kết quả này cũng hoàn toàn tương đồng với nghiên cứu của
Sanson F.R và cộng sự, nhóm tác giả chỉ ra rằng phụ nữ có nhiều khả năng cao hơn
trong nhu cầu tâm lý so với nam giới (OR = 1,63; KTC 95% 1,04–2,56), mối liên
quan này có ý nghĩa thống kê [51]. Tại Việt Nam, nghiên cứu của Đỗ Thị Thắm và
cộng sự tại bệnh viện K cũng nhận thấy sự khác biệt giới tính tới nhu cầu chăm sóc
giảm nhẹ, cụ thể tỷ lệ người bệnh ung thư có nhu cầu hỗ trợ thể chất, sinh hoạt hàng
ngày ở nữ cao hơn so nam giới (OR = 0,25; KTC 95%: 0,03 – 0,19, p<0,05) [49].
16
Tuy nhiên, kết quả này lại có sự khác biệt trong nghiên cứu của Ullrich tại
Hamburg, Đức. Nhóm tác giả khơng tìm thấy sự khác biệt về giới tính với mối quan
hệ giữa bệnh nhân và người chăm sóc của họ (p >0,05) [52]. Sự tương phản này có
thể là do khác biệt về thiết kế nghiên cứu và việc sử dụng các thang đo khác nhau
trong các nghiên cứu.
3.4.1.2.
Tuổi
Về khía cạnh tâm lý/tinh thần, các nghiên cứu trên thế giới cũng đã chỉ ra rằng
các bệnh nhân có tuổi trẻ hơn có liên quan đến nguy cơ cao hơn về các nhu cầu
chưa được đáp ứng trong các lĩnh vực thể chất, kinh tế và y tế [53]. Trong nghiên
cứu của Liao Y.C tại Trung Quốc, kết quả cho thấy những bệnh nhân ung thư phổi
H
P
nhỏ tuổi hơn báo cáo nhu cầu hỗ trợ tâm lý cao hơn (OR=0,93; KTC 95%: 0,89–
0,99), mối liên quan này có ý nghĩa thống kê [54].
Trong khía cạnh hỗ trợ thể chất, Sanson‐Fisher R và nhóm nghiên cứu của ơng
đã chỉ ra rằng: So với những bệnh nhân trong độ tuổi lớn (71–90 tuổi), những bệnh
nhân nhỏ tuổi hơn (từ 31– 40 và 41 - 50 tuổi) báo cáo có nhu cầu cần được giúp đỡ
U
về thể chất cao hơn gấp 10,21 và 2,03 lần [(OR= 10,21; KTC 95%: 2,28 –45,68);
(OR= 2,03; KTC 95%: 1,05–3,94) tương ứng] [51]. Nghiên cứu triển khai tại
H
Mexico của Perez-Fortis A cho thấy kết quả tương tự: Bệnh nhân lớn tuổi có nhu
cầu chăm sóc thể chất/sinh hoạt hàng ngày thấp hơn, cũng như nhu cầu chăm sóc
tình dục thấp hơn so với bệnh nhân trẻ tuổi (p<0,05) [40]. Tuy nhiên, trong nghiên
cứu của Đỗ Thị Thắm đã chỉ ra điều ngược lại, nhóm tác giả đã nhận thấy có sự
khác biệt về tỷ lệ người bệnh có nhu cầu dịch vụ chăm sóc theo tuổi (p<0,05). Cụ
thể, nhóm từ 60 tuổi trở lên có nhu cầu về yếu tố dịch vụ chăm sóc giảm nhẹ về thể
chất cao hơn nhóm dưới 60 tuổi (OR = 0,39; KTC 95%: 0,17 – 0,86) [26].
3.4.1.3.
Thu nhập gia đình
Ung thư là một trong số những căn bệnh tiêu tốn rất nhiều tiền của trong việc
chẩn đốn và q trình điều trị bệnh. Thơng thường, các vấn đề tài chính là nguồn
gốc của căng thẳng và lo âu [55]. Gánh nặng kinh tế là vấn đề lớn với những bệnh
17
nhân ung thư và gia đình của họ, điều này làm tăng các nguy cơ về sức khoẻ và nó
cũng có thể dẫn đến các chi phí phát sinh cao hơn trong tương lai khi khơng được
đủ kinh phí để điều trị kịp thời.
Nghiên cứu được triển khai tại Hoa Kỳ của Morrison và cộng sự đã báo cáo rằng
tư vấn chăm sóc giảm nhẹ cho bệnh nhân nội trú có liên quan đến việc tiết kiệm chi
phí đáng kể so với khơng chăm sóc giảm nhẹ, hỗ trợ lợi ích kinh tế của chăm sóc
giảm nhẹ cho người chi trả và các tổ chức trong hệ thống thanh toán viện phí. Các
bệnh nhân chăm sóc giảm nhẹ được xuất viện cịn sống đã tiết kiệm được 1.696
USD chi phí trực tiếp cho mỗi lần nhập viện (p = 0,004) và 279 USD chi phí trực
tiếp mỗi ngày (p <0,001) bao gồm giảm đáng kể chi phí phịng xét nghiệm và đơn
H
P
vị chăm sóc đặc biệt so với với bệnh nhân chăm sóc thơng thường [56]. Trong
nghiên cứu đánh giá có hệ thống của Peter May và cộng sự đã báo cáo rằng một
cuộc tư vấn chăm sóc giảm nhẹ trong vòng 3 ngày sau khi nhập viện cho bệnh nhân
ung thư có liên quan đến việc giảm tổng chi phí điều trị trực tiếp là 4.251 USD
(KTC 95%: 3.837 - 4.664) cho mỗi lần nhập viện [57].
3.4.1.4.
U
Tình trạng hơn nhân
Tình trạng hơn nhân cũng được báo cáo là một trong các yếu tố liên quan tới nhu
H
cầu chăm sóc giảm nhẹ. Tại Việt Nam, nghiên cứu của Đỗ Thị Thắm và cộng sự đã
chỉ ra rằng có sự khác biệt giữa tỷ lệ người bệnh có nhu cầu hỗ trợ thể chất, sinh
hoạt hàng ngày theo tình trạng hơn nhân. Cụ thể, tỷ lệ nhu cầu này ở nhóm đang có
vợ/chồng thấp hơn so với nhóm độc thân/chưa lập gia đình (OR = 17,14; KTC 95%:
2,29 – 127,97; p<0,05) [26].
Về khía cạnh hỗ trợ tinh thần và nhu cầu giao tiếp, Morasso G và cộng sự đã phát
hiện tỷ lệ nhu cầu hỗ trợ tinh thần chưa được đáp ứng cao hơn ở bệnh nhân sống
một mình so với bệnh nhân sống với người thân (90,9% so với 45,9%). Tương tự,
bệnh nhân đang độc thân có tỷ lệ khơng được đáp ứng về hỗ trợ tinh thần (70,0% so
với 42,1%) và nhu cầu giao tiếp (41,4% so với 20,4%) cao hơn so với bệnh nhân đã
kết hôn, mối liên quan này có ý nghĩa thống kê [50]. Bên cạnh đó một nghiên cứu