ĐẠI HỌC MỞ - BÁN CÔNG TPHCM
KHOA PHỤ NỮ HỌC
THAM VẤN THANH THIẾU NIÊN
Các Tác giả: KATHRYN GELDARDø & DAVID GELDARD
Dòch và hiệu đính: Nguyễn Xuân Nghóa & Lê Lộc
2002
PHẦN 1
TÌM HIỂU TUỔI THANH THIẾU NIÊN
1. TÍNH CHẤT TUỔI THANH THIẾU NIÊN
Có nhiều nhà tham vấn chuyên nghiệp chỉ làm việc với các thanh thiếu niên và họ
đạt được thành công và mãn nguyện với công việc của mình. Tuy nhiên, cũng có những nhà
tham vấn ngại làm việc với các thanh thiếu niên. Có lẽ vì họ thấy khó làm việc với thanh
thiếu niên hoặc vì các kết quả không được khích lệ. Dù khó làm việc với một số thanh thiếu
niên, việc tham vấn cho lứa tuổi này thật thích thú, đầy thách thức và có hiệu quả, miễn là ta
hiểu biết và tôn trọng một số nguyên tắc cơ bản. Các nguyên tắc và thực hành cần thiết cho
việc tham vấn thanh thiếu niên không phức tạp hoặc khó khăn, nhưng về nhiều mặt có sự
khác biệt to lớn với những điều cần thiết trong tham vấn trẻ em hoặc người lớn. Chỉ cần nhận
biết cách thức khác biệt cần thiết là có thể đạt tới thành công và mãn nguyện.
Để giúp đỡ thanh thiếu niên một cách có hiệu quả, chúng ta cần hiểu biết tính chất của tuổi
thanh thiếu niên và các quá trình phát triển liên hệ. Khi sự hiểu biết này được mở rộng,
chúng ta sử dụng phương pháp tham vấn tiên phong. Phương pháp này được thiết kế để đối
chiếu quá trình phát triển tuổi thanh thiếu niên. Làm cách này, ta có sự ăn khớp giữa quá
trình tham vấn với các kinh nghiệm riêng của thanh thiếu niên. Điều này giúp nhà tham vấn
kết hợp hài hòa với các em để tạo nên mối quan hệ công việc cùng có lợi.
Trong phần 1 sách này chúng ta sẽ thảo luận về các quá trình phát triển diễn ra trong tuổi
thanh thiếu niên và sẽ xem xét ảnh hưởng của nhiều tác nhân kích thích từ bên trong và bên
ngoài, đa dạng đối với sự phát triển tuổi thanh thiếu niên. Chúng ta sẽ bắt đầu cuộc thảo
luận trong chương này bằng việc xem xét vấn đề “thanh thiếu niên là gì?”, tiếp đó là xem
xét sự phát triển ở lứa tuổi thanh thiếu niên. Sách này chủ yếu không phải là một luận văn lý
thuyết, mà là một tập sách hướng dẫn thực hành cho các nhà tham vấn muốn làm việc với
thanh thiếu niên. Đây là sách dùng kèm với sách “Tham vấn Trẻ Em : Hướng dẫn Thực
hành” (Geldard and Geldard, 1997). Các bạn đọc nào muốn xem lại lý thuyết về phát triển
tuổi thanh thiếu niên sâu hơn có thể tham khảo Dacey and Kenny (1997), hai tác giả này đã
nêu lên những đóng góp của một số lý thuyết gia quan trọng, gồm có G. Stanley Hall,
Sigmund Freud, Ruth Benedict, Margaret Mead, Albert Bandura, Robert Havighurst,
Abraham Maslow, Erik Erikson và Richard Lerner.
Tuổi thanh thiếu niên là gì ?
Câu hỏi “tuổi thanh thiếu niên là gì ?” là một câu hỏi về đònh nghóa, và tính chất chính xác
của đònh nghóa có vẻ thay đổi tùy mỗi nền văn hóa. Trong sách này chúng ta sẽ xem xét tuổi
thanh thiếu niên là một giai đoạn trong đời người giữa tuổi thiếu nhi và tuổi thành niên. Đó
là thời kỳ phát triển con người mà một thanh thiếu niên chuyển từ sự tùy thuộc sang độc lập,
tự quản và trưởng thành. Thanh thiếu niên chuyển từ chỗ là một thành phần của nhóm gia
đình thành một thành phần của nhóm cùng lứa tuổi và độc lập thành một người lớn. (Mabey
and Sorenson, 1995)
Nói chung, trong xã hội phương Tây, cuộc chuyển biến qua tuổi thanh thiếu niên từ thiếu nhi
đến thành niên gồm nhiều điều chứ không phải chỉ là một chuổi thay đổi theo đường thẳng.
Đây là một cuộc biến đổi tuần tự nhiều chiều, hoặc là một cuộc biến đổi tuần tự của con
người từ một thiếu nhi thành một con người mới, một người thành niên. Tuy nhiên, điều quan
trọng cần lưu ý là những đổi thay cần thiết nơi thanh thiếu niên trong tuổi thanh thiếu niên
khác nhau tùy nền văn hóa. Chẳng hạn như trong một số nền văn hóa các trò chơi đóng vai
cho trẻ em và người lớn đều giống nhau. Người ta có thể mong muốn trẻ em khi còn rất nhỏ
thực hiện công việc như lao động thật vì phúc lợi của gia đình. Cũng có một số nền văn hóa
trong đó số năm được giáo dục trước khi làm việc thật là ngắn. Trong những nền văn hóa ấy
việc chuyển từ trẻ em sang người lớn có vẻ ít thách thức hơn. (Mead, 1975)
Tuổi thanh thiếu niên gồm một quá trình trải qua một thời kỳ quan trọng trong đời sống con
người. Tuy nhiên, có những khác biệt nơi mỗi cá nhân, với một số trẻ chuyển qua thời kỳ
thanh thiếu niên nhanh hơn các trẻ khác. Lứa tuổi thanh thiếu niên trải qua nhiều thách thức
khi gặp những đổi thay sinh học, tâm lý và xã hội. Các quá trình thay đổi quan trọng phải
diễn ra từ bên trong thanh thiếu niên thì mới có thể đối mặt với những thách thức này một
cách thích nghi và thành công. Khi một thanh thiếu niên không thể đương đầu và giải quyết
thành công một thách thức về phát triển, có thể sẽ xảy ra hậu quả bất lợi về tâm lý, tình cảm
và hành vi. Công tác tham vấn có thể giúp ích trong các điểm này khi nhà tham vấn giúp
thanh thiếu niên tìm những cách thức mới để tiến tới một cách thích nghi trong cuộc hành
trình phát triển cần thiết.
Như sẽ thảo luận đầy đủ ở Chương 5, một số thanh thiếu niên thành công hơn các em khác
trong việc đối mặt và giải quyết các thách thức của tuổi thanh thiếu niên; các em chòu đựng
tốt hơn và có cách thức ứng phó tốt hơn. Điều này có lẽ một phần nhờ ở đặc điểm cá nhân,
một phần nhờ tiền sử bản thân và môi trường hiện có. Sự phát triển của thanh thiếu niên
được xem xét theo những thách thức đương nhiên xảy ra sau đây :
• Những thách thức sinh học
• Những thách thức về nhận thức
• Những thách thức về tâm lý
• Những thách thức về xã hội
• Những thách thức đạo đức và tinh thần
Những thách thức sinh học ở lứa tuổi thanh thiếu niên
Tuổi thanh thiếu niên bắt đầu với sự kiện lớn lên đúng nghóa được gọi là sự dậy thì. Sự dậy
thì liên hệ tới những hiện tượng sinh lý như hiện tượng kinh nguyệt lần đầu ở bé gái và xuất
tinh lần đầu ở bé trai. Các sự việc này báo hiệu bước đầu của một quá trình thay đổi sâu sắc
về cơ thể (Colarusso 1992). Dù đây là một quá trình lớn lên bình thường nó cũng có thể tạo
nên nhiều khó khăn cho cá nhân. Đây đặc biệt có thể là trường hợp xảy ra với một thanh
thiếu niên sớm dậy thì hoặc sự dậy thì chậm lại đáng kể. Trong những tình huống này, thanh
thiếu niên có thể trải qua một mức căng thẳng khó chòu. Hậu quả có thể là sự đánh giá thấp
bản thân và tự nhận đònh bản thân kém khiến các em cảm thấy vụng về và thiếu tự tin.
Những thay đổi sinh học ở lứa tuổi thanh thiếu niên đưa tới những thay đổi sinh lý, những
thay đổi tính dục và những thay đổi tình cảm.
Những thay đổi sinh lý
Ở tuổi thanh thiếu niên diễn ra những thay đổi lớn về sinh lý. Các em tăng chiều cao, trọng
lượng và sức khỏe, phát triển tính dục và về vóc dáng. Các bé gái nở vú, bé trai bễ giọng,
mọc lông, và những thay đổi xảy ra ở cơ quan sinh dục. Những thay đổi sinh lý này diễn ra
trong một khoảng thời gian. Chúng xảy ra ở những tuổi khác nhau và ở những mức độ khác
nhau nơi thanh thiếu niên khác nhau. Kết quả là có thể có những vấn đề làm cho các em cảm
thấy bối rối, ngượng ngùng, vụng về và không theo nhòp với các bạn cùng lứa tuổi nhưng
phát triển ở mức độ khác. Vì vậy không có gì lạ khi nhiều thanh thiếu niên thiêu nữ lo lắng
nhiều về vóc dáng của mình.
Những thay đổi tính dục
Những sự gia tăng quan trọng và đầy ý nghóa của các hóc-môn tính dục xảy ra trong tuổi dậy
thì. Điều này không những dẫn tới những thay đổi nơi thân thể như mô tả ở trên mà còn kích
thích sự gia tăng bừng dậy, ham muốn và đòi hỏi tính dục ở cả trẻ trai và trẻ gái. Những thay
đổi này có thể là nguyên nhân sự khó chòu nơi thanh thiếu niên. Do sự bừng dậy của động cơ
tính dục, thanh thiếu niên phải đối diện với những vấn đề tính dục cá nhân và nhận thức về
giới tính của mình. Những vấn đề này sẽ ảnh hưởng tới các quyết đònh của trẻ về các mối
quan hệ.
Ở giai đoạn đầu của tuổi thanh thiếu niên, trẻ có khuynh hướng tạo mối quan hệ gần gũi với
các bạn đồng giới tính vì các em cảm thấy an toàn hơn với các bạn này (Blos, 1979). Ngoài
ra, đây là một phần của quá trình rời xa sự tùy thuộc vào cha mẹ và gia đình. Vào thời gian
này, một số trẻ sẽ dự vào việc thử nghiệm tính dục với bạn bè. Tuy nhiên, đối với một số trẻ
khác, những cảm giác tính dục ở tuổi thanh thiếu niên bước đầu được giải quyết bằng tưởng
tượng và thủ dâm. Giai đoạn đầu của tuổi thanh thiếu niên tiêu biểu léo dài từ 11 đến 14
tuổi. Từ giai đoạn này các em lần hồi chuyển sang giai đoạn sau của tuổi thanh thiếu niên
tiêu biểu kéo dài từ 15 tới 18 tuổi. Giai đoạn đầu và giai đoạn sau được phân biệt bằng
những dò biệt về nhận thức, suy nghó về đạo đức và xã hội (Dacey and Kenny, 1997).
Giai đoạn sau của tuổi thanh thiếu niên, với việc chấp nhận thân thể mới trưởng thành về
sinh lý và tính dục, có sự chuyển dần, nơi phần lớn các em bé, tới các mối quan hệ khác
phái. Theo Colarusso (1992), ở giai đoạn sau của lứa tuổi thanh thiếu niên nhiều trẻ đã sẵn
sàng về tâm lý cho cuộc sống tính dục tích cực kể cả giao hợp. Ở giai đoạn này một số trẻ có
thể bắt đầu tìm hiểu sở thích tính dục của mình và giải quyết về đồng tính luyến ái. Vì xã hội
nói chung có xu hướng dò ứng với đồng tính luyến ái, nên những phát hiện ấy có thể gây âu
lo, đặc biệt nếu quyết đònh là chọn một bạn tình cùng giới tính (Mabey and Sorensen, 1995).
Về sự phát triển tính dục, một số em gặp khó khăn trong bước tiến từ giai đoạn ban đầu sang
giai đoạn sau. Đây có thể vì các em không tách được tính dục của riêng các em ra khỏi cha
mẹ. Kết quả là các em có thể rơi vào những tưởng tượng tính dục vô bổ, khiến các em không
thể hướng tới những bạn tình ngoài vòng loạn luân (Colarusso, 1992).
Khi nhận xét sự phát triển tính dục, điều quan trọng cần nhận biết là kinh nghiệm tính dục
sớm không phải là dấu chỉ của bước phát triển nhanh. Thật ra, nó có thể là dấu chỉ của sự
chấn thương tính dục của thời niên thiếu.
Những thay đổi tình cảm
Suốt lứa tuổi thanh thiếu niên, sự gia tăng các hóc-môn tình dục có thể ảnh hưởng trạng thái
tình cảm của thanh thiếu niên. Tuy nhiên sẽ là sai lầm nếu cho rằng chỉ có các hóc-môn tác
động và chúng là nguyên nhân duy nhất của những thay đổi tính khí. Chúng tác động lên
thanh thiếu niên bằng phối hợp với những thay đổi lớn khác, như những thay đổi trong quan
hệ xã hội, thay đổi về những niềm tin, về thái độ và về nhận thức về chính mình (Self-
perception).
Rõ ràng những thay đổi sinh học đặt ra những thách thức lớn cho thanh thiếu niên. Các em
phải thích ứng với những thay đổi của cơ thể có thể gây xáo trộn và lo âu, với sự phát sinh
các đòi hỏi tình dục lôi kéo thanh thiếu niên vào việc khám phá những mối quan hệ mới,
chính chúng, tạo ra những thách thức xã hội mới.
Những thách thức về nhận thức ở lứa tuổi thanh thiếu niên.
Trong khi những thay đổi sinh học xảy ra nơi thanh thiếu niên, những đổi thay về nhận thức
cũng diễn ra. Thanh thiếu niên phát triển khả năng tư duy trừu tượng, phát hiện cách suy
nghó những vấn đề về các mối quan hệ, thấy được những cách mới về xử lý thông tin, và học
cách suy nghó sáng tạo và có phê phán.
Phát triển tư duy trừu tượng
Theo Piaget (1948 – 1966) trong giai đoạn đầu của lứa tuổi thanh thiếu niên các em chuyển
tiếp rõ rệt từ “những hoạt động cụ thể” sang giai đoạn của “những hoạt động hình thức”.
Nghóa là, các em chuyển từ những giới hạn của tư duy cụ thể tới chỗ xử lý một cách có nhận
thức các ý tưởng, các quan niệm, và các lý thuyết trừu tượng. Thanh thiếu niên có thể nhiệt
tình lưu ý tới các quan niệm trừu tượng, các khái niệm, và vì vậy có thể phân biệt được cái gì
là thật và cái gì thuộc về ý tưởng.
Flavell (1977) nêu lên một số cách trong đó sự suy nghó của thanh thiếu niên vượt khỏi sự
suy nghó của trẻ thơ. Trong số đó có các khả năng sau đây :
• Tưởng tượng những sự kiện có thể và không có thể.
• Nghó về những kết quả có thể có từ một lựa chọn duy nhất.
• Nghó về những phân nhánh của việc phối hợp các khả năng.
• Hiểu thông tin và hành động dựa trên sự hiểu biết đó.
• Giải quyết các vấn đề liên quan tới giả thiết và diễn dòch.
• Giải quyết vấn đề trong những tình huống rất đa dạng và với kỹ năng lớn hơn thiếu nhi.
Thanh thiếu niên chòu thách thức cả trong sự phát triển các kỹ năng nhận thức này và việc
vận dụng chúng. Khi đạt được niềm tin trong việc vận dụng các kỹ năng ấy, có thể các em sẽ
thử nghiệm trong những tình huống mới, nhưng không phải lúc nào cũng thành công. Rõ ràng
là học hỏi thông qua thành công và thất bại là một phần của sự thách thức.
Tư duy hướng về bản thân.
Thanh thiếu niên đều hướng về bản thân. Nét riêng này xuất hiện ở giai đoạn đầu tuổi thanh
thiếu niên và phát triển đầy đủ hơn vào giai đoạn giữa cho đến giai đoạn cuối tuổi thanh
thiếu niên. Các em có thể có ý nghó là mọi người đang theo dõi mình như thể các em đang ở
trên sân khấu vậy. Có lúc các em “trình diễn” thoải mái trước mắt mọi người, phô bày những
hành vi hoặc tư thế đặc biệt để thu hút sự chú ý tới mình.
Thanh thiếu niên thường dựng lên những câu chuyện về bản thân mà Dacey và Kenny
(1997) đã nêu lên như là những ngụ ngôn của bản thân. Các em có thể có những ước mơ về
thành công và tin rằng đó là sự thật. Các em có thể có ý tưởng là các em vừa độc đáo lại vừa
khó bò tổn thương (Elkind, 1967). Có khi các em tự xem mình như toàn năng, toàn quyền và
các em không thể nào bò hại. Tất cả ở đây là thành phần của một quá trình phức tạp để trở
thành một cá nhân độc đáo trong cuộc hành trình tiến tới tuổi thành niên. Tiếc thay, những
niềm tin này, và đặc biệt là ý thức về tính độc đáo, khiến cho thanh thiếu niên khó tin rằng
có ai khác hiểu được mình hoặc biết các em cảm nghó ra sao. Điều này có ý nghóa quan trọng
đối với các nhà tham vấn.
Khả năng nghó về người khác
Cùng với ý thức về tính độc đáo hoặc tính cá thể, còn có khả năng suy nghó phê phán người
khác và các vấn đề liên quan đến nhiều người. Theo tầm nhìn riêng, thanh thiếu niên học
cách tìm hiểu hoặc “gán ý nghóa” về người khác. Điều này giúp các em quyết đònh về cách
giao tiếp với người khác.
Những cách thức mới về xử lý thông tin
Ở tuổi thanh thiếu niên khả năng của các em về nhận thức, hiểu biết và lưu giữ thông tin
dường như tăng tiến theo tuổi (Knight và các tác giả khác, 1985). Ngoài ra, các em phát triển
lần hồi khả năng vận dụng tốt các chiến lược về ký ức và càng có khả năng phát hiện những
điều tương phản (Keil, 1984). Như thế các thanh thiếu niên lớn tuổi có khả năng cao hơn các
em nhỏ tuổi trong việc giải quyết các vấn đề đạo đức và xã hội phức tạp. Các em có một
mức độ xử lý thông tin phức tạp hơn. Tuy nhiên, khả năng xử lý thông tin này tùy thuộc nơi
trí thông minh, vì theo mô tả của Jensen và các tác giả khác (1989), khả năng xử lý thông tin
nhanh liên quan trực tiếp với những trình độ cao hơn về hoạt động trí tuệ.
Khả năng suy nghó có phê phán
Thanh thiếu niên phát triển khả năng suy nghó thuần lý và vận dụng khả năng suy nghó thuần
lý của mình để tự mình phán đoán và quyết đònh. Các em có thể nhận biết và xác đònh các
vấn đề, thu thập thông tin, lập kết luận ước chừng rồi đánh giá các kết luận ấy để đưa ra
quyết đònh. Điều quan trọng đặc biệt đối với các nhà tham vấn là có nhiều nghiên cứu gợi ý
rằng ta có thể dạy thanh thiếu niên nâng cao khả năng suy nghó có phê phán (Pierce và các
tác giả khác, 1988). Như thế một phần trong vai trò của nhà tham vấn có thể là giúp trẻ tìm
cách thực hiện điều này.
Khả năng suy nghó sáng tạo
Suy nghó sáng tạo bao gồm sự suy nghó sâu rộng, linh động, sáng tạo, bao gồm việc xem xét
những tình huống xa và khả năng xét đến những giải pháp đa dạng cho cùng một vấn đề.
Thanh thiếu niên phát triển khả năng suy nghó sáng tạo và nhờ đó có thể hiểu và vận dụng
tốt hơn phép ẩn dụ (Dacey and Kenny, 1997). Khả năng sau cùng này đặc biệt hữu dụng
trong tình huống tham vấn mà phép ẩn dụ có thể là công cụ mạnh mẽ để tạo sự đổi thay.
Những thách thức tâm lý ở tuổi niên thiếu
Những thay đổi về sinh học và nhận thức đã mô tả không những cho thấy những thách thức
trực tiếp, mà còn có ảnh hưởng quan trọng về hoạt động tâm lý nữa. Ngoài ra, còn có những
thách thức lớn đối với thanh thiếu niên có liên quan đến nét chủ yếu của lứa tuổi thanh thiếu
niên, đó là sự tạo thành một bản ngã mới. Thanh thiếu niên không còn là trẻ em; một co
người mới đang xuất hiện.
Hình thành bản ngã mới
Có lẽ tác động tâm lý quan trọng nhất đối với thanh thiếu niên là sự hình thành một bản ngã
riêng. Sự thất bại trong việc hoàn thành một bản ngã riêng vẹn toàn hầu như chắc chắn sẽ
tạo ra ảnh hưởng tâm lý tiêu cực. Điều này đã được Waterman chứng minh (1992), ông ta đã
điểm lại một khối lượng nghiên cứu lớn cho thấy mối liên hệ chặt chẽ giữa sự hình thành bản
ngã và hoạt động tâm lý có hiệu quả.
Như Kroger đã nêu (1996), các lý thuyết gia lớn như Erikson, Blos, Kohlberg, Loevinger và
Kegan đã viết về sự phát triển bản ngã ở tuổi thanh thiếu niên bằng việc sử dụng những
thuật ngữ có tính cá thể như “cái ta”, “bản ngã”, “tôi” v.v… Dù họ sử dụng những thuật ngữ
có tính cá thể, có vẻ họ đều đồng ý rằng “bản sắc cá nhân”, như chúng ta sẽ tiếp tục sử
dụng, nên được xác đònh bằng những thuật ngữ nói về “cái ta” trái với những gì được xem là
“cái khác”. Những phương tiện chúng ta phân biệt mình với người khác là điểm trung tâm
trong kinh nghiệm về bản ngã riêng của chúng ta.
Thanh thiếu niên có nhiệm vụ tạo nên cá tính riêng có tính độc đáo và cá biệt. Tuy nhiên,
trong quá trình phát triển ý thức về bản ngã riêng, cũng sẽ có nỗ lực vô thức duy trì sự liên
tục tính cách riêng biệt của cá nhân (Erikson, 1968). Trong khi bản ngã riêng phát triển, theo
thời gian, sự trưởng thành diễn ra, đưa thanh nhiên đến lứa tuổi trưởng thành người lớn.
Các chức năng của bản ngã riêng
Adams và Marshall (1996) rút ra từ nhiều công trình phân tích và nghiên cứu về cái ta và bản
ngã, nêu lên những điểm sau đây như là năm chức năng được ghi nhận thông thường nhất về
bản ngã cá nhân :
1Cung cấp cấu trúc cho sự hiểu biết ta là ai.
2Cung cấp ý nghóa và phương hướng thông qua sự thể hiện, các giá trò và mục đích.
3Cung cấp ý thức về tự chủ và ý chí tự do.
4Giúp tạo tính bền vững, tính gắn kết và sự hòa hợp giữa các giá trò, niềm tin và các cam
kết.
5Giúp nhận biết tiềm năng thông qua ý thức về những khả năng trong tương lai và những
chọn lựa thay thế.
Adams và Marshall (1996) tin rằng việc tìm kiếm bản ngã là một quá trình liên tục không chỉ
giới hạn trong tuổi thanh thiếu niên. Hai ông chỉ ra rằng bản ngã riêng có thể thay đổi do ý
thức cao về bản thân, và rằng có những điểm nhạy cảm trong suốt chu kỳ sống, một trong
những điểm đó là tuổi thanh thiếu niên, là múc mà việc lấy cái tôi làm trọng tâm và sự hình
thành bản ngã được nâng cao.
Dù chúng ta đồng ý rằng việc tìm kiếm bản ngã là một quá trình tiếp tục suốt đời, các quan
sát của chúng ta nơi giới trẻ cũng cho thấy rằng việc lấy cái tôi làm trọng tâm và sự hình
thành bản ngã ấy nổi bật hơn ở tuổi thanh thiếu niên và là đặc điểm trung tâm của lứa tuổi
này.
Cá thể hóa
Trong khi trẻ em sống chan hòa với cha mẹ và gia đình, thì thanh thiếu niên đi vào một
không gian riêng trở thành một cá nhân tách biệt. Nói một cách khác, sự cá thể hóa đã diễn
ra. Quá trình cá thể hóa bao gồm sự phát triển tính độc lập tương đối với các mối quan hệ gia
đình, sự suy yếu các mối ràng buộc với những đối tượng trước đây là quan trọng đối với trẻ,
và một khả năng gia tăng để nhận lãnh vai trò chức năng như là một thành viên của xã hội
người lớn (Archer, 1992).
Quá trình tạo lập bản ngã riêng và hoàn thành cá thể hóa có những hệ luận ý nghóa về mặt
xã hội. Thanh thiếu niên chỉ có thể xây dựng các quan niệm về bản thân trong hoàn cảnh có
các mối quan hệ với người khác, nhưng đồng thời cũng tìm cách thiết lập sự tách biệt bằng
các ranh giới. Như thế, quá trình xã hội hóa của thanh thiếu niên, một mặt dựa trên sự cân
bằng giữa cá thể hóa cùng với việc tạo thành bản ngã riêng, và một mặt khác là hòa nhập
với xã hội (Adams and Marshall, 1996). Nếu không hoàn thành được sự cân bằng này, thì có
thể xảy ra khủng hoảng cá nhân đối với thanh thiếu niên, có thể dẫn tới tình trạng phải cần
đến sự tham vấn. Chẳng hạn như, nếu một thanh thiếu niên tìm kiếm ở mức độ rất cao về cá
thể hóa thì hậu quả có thể là làm hỏng các mối quan hệ với bạn bè cùng trang lứa. Điều này
có thể khiến cho em này bò loại trừ. Trong hoàn cảnh này, các em có khi sẽ tìm đến kết bạn
với các thanh thiếu niên bò loại trừ khác cùng lứa tuổi. Cũng có thể có hậu quả là cảm nhận
của thanh thiếu niên về sự đánh giá của người khác có thể sẽ giảm bớt (Schbossberg, 1989).
Thay vì tìm một mức độ cao về cá thể hóa, một số thanh thiếu niên làm ngược lại, là tìm sự
gắn kết tối đa với người khác. Điều này có thể khiến các em dễ gặp khó khăn trong việc
thích nghi với hoàn cảnh mới ở đó các em phải tự đối phó với tình thế (Josselson, 1987).
Những đáp ứng xúc cảm
Khi thanh thiếu niên tiến triển trong cuộc hành trình tự phát hiện, các em phải liên tục thích
nghi với những hoàn cảnh va chạm và kinh nghiệm mới, đồng thới cũng phải thích nghi với
những thay đổi về sinh học, nhận thức và tâm lý. Cả hai mặt này đều căng thẳng và gây lo
lắng cho các em. Bởi vậy, ta không lấy làm ngạc nhiên là thanh thiếu niên bộc lộ khả năng
suy giảm về chòu đựng, chấp nhận và thích nghi với sự thay đổi (Shave and Shave, 1989). Vì
vậy giai đoạn phát triển thời thanh thiếu niên nổi bật với phản ứng tình cảm và một cường độ
cao về sự đáp ứng tình cảm. Điều này tạo khó khăn cho thanh thiếu niên trong việc kiểm
soát và chỉnh sửa các đáp ứng về hành vi mà lắm khi có phần quá đáng. Các kích động có
giá trò tương đối nhỏ đối với người lớn có thể tạo ra chuyển biến tâm trạng mạnh mẽ ở thanh
thiếu niên khiến người thanh thiếu niên phản ứng ở mức xúc động cao bất ngờ gồm có sự
hung hăng, giận hờn, buồn bã, chán nản và bối rối. Rõ ràng là thanh thiếu niên có một thời
gian khó khăn trong việc đối phó với sự căng thẳng cao độ về cảm xúc và các phản ứng của
mình.
Một xúc cảm lớn gây suy sụp ở tuổi thanh thiếu niên giai đoạn đầu là sự xấu hổ (Shave and
Shave, 1989). Các em thường cảm thấy bò trêu chọc, làm nhục và gây bối rối, cảm thấy chán
ghét và xấu hổ về chính mình. Vì vậy ta có thể hiểu tại sao các em phát triển cơ chế phòng
vệ mạnh mẽ, có thể gồm có sự khước từ, chối bỏ, phóng ngoại và thu mình lại. Những cơ chế
phòng vệ này giữ vai trò quan trọng trong giai đoạn đầu của lứa tuổi thanh thiếu niên, khi
các em phản ứng với hoàn cảnh và tác động qua lại với người khác. Thường các hành vi
không thích hợp là do hậu quả của các cơ chế phòng vệ bản thân này xuất phát từ bên trong.
Bản sắc dân tộc và sự điều chỉnh tâm lý
Có những vấn đề đặc biệt đối với các thanh thiếu niên thuộc các nhóm dân tộc ít người trong
mối quan hệ đến việc tạo lập bản ngã riêng. Một phần quan trọng trong bản ngã riêng của
các em có vẻ dính dáng tới bản sắc dân tộc. Waterman (1964) có nêu gợi ý về một mô hình
tạo lập bản sắc dân tộc.
Ở giai đoạn đầu của sự phát triển bản sắc dân tộc, các thanh thiếu niên dân tộc thiểu số chấp
nhận các giá trò và thái độ của nền văn hóa thuộc đa số. Điều này thường bao gồm cả việc
nội tâm hóa những cái nhìn tiêu cực về nhóm mình. Waterman (1984) tin rằng giai đoạn đầu
này của việc phát triển bản sắc dân tộc tiếp tục cho đến khi các cá nhân có kinh nghiệm về
chủ nghóa chủng tộc hoặc thành kiến buộc các em tự xem mình là thành viên của nhóm thiểu
số. Sự ý thức này đưa các em tới chỗ tìm kiếm một bản sắc dân tộc riêng. Sự tìm kiếm bao
gồm các nỗ lực học hỏi về nền văn hóa của mình và thường các em có xúc cảm rất cao.
Trong giai đoạn này, các tình cảm như tức giận và bất bình có thể nhằm vào cái xã hội đa số.
Một kết quả thỏa đáng của quá trình tạo thành bản sắc dân tộc này có thể hoàn tất bằng việc
các cá nhân phát triển ý thức sâu xa về việc thuộc vào một nhóm xã hội.
Các thách thức xã hội ở tuổi thanh thiếu niên
Một thách thức lớn đối với thanh thiếu niên là liên quan đến nhu cầu xác đònh một chỗ đứng
trong xã hội và đạt được ý thức thích nghi với chỗ đứng đó. Đây là một quá trình xã hội hóa
đưa người thanh thiếu niên tới chỗ hội nhập với xã hội. Quá trình này diễn ra cùng lúc với
việc tìm kiếm bản ngã riêng. Thật ra, quá trình xã hội hóa và sự tìm kiếm bản ngã riêng tùy
thuộc nhau và liên hệ với nhau rất chặt chẽ. Việc xã hội hóa nâng cao ý thức về bản ngã
riêng, và sự phát triển bản ngã riêng giúp cho thanh thiếu niên đáp ứng những kỳ vọng và
tiêu chuẩn của xã hội.
Xã hội rộng lớn, cha mẹ, gia đình và các nhóm cùng lứa tuổi đều có những kỳ vọng nơi
người thanh thiếu niên. Những kỳ vọng này dựa trên nhận đònh chính đáng rằng người thanh
thiếu niên bây giờ đã có khả năng ứng xử theo cách riêng của mình. Các kỳ vọng chung của
xã hội, cha mẹ và bạn đồng lứa, cùng với những thay đổi về nhận thức và về tâm lý mới đạt
được, đòi hỏi người thanh thiếu niên phải thay đổi trong ứng xử với xã hội.
Những kỳ vọng của xã hội
Những kỳ vọng của xã hội đặt ra sự thách thức cho thanh thiếu niên và có giá trò trong việc
giúp các em tiến lên trên con đường tới tuổi trưởng thành. Trong các cộng đồng mà người lớn
biểu lộ những kỳ vọng và những giá trò nhất quán, thì thanh thiếu niên có khuynh hướng phát
triển ý thức tích cực về bản ngã (Ianni, 1989). Trái lại, ở những cộng đồng mà gia đình, nhà
trường và cộng đồng không đem lại sự hướng dẫn nhất quán và những mục đích tích cực, thì
thanh thiếu niên có những hành vi không thích hợp, trở thành lúng túng và hoài nghi, và hình
thành một ý thức mù mờ về bản thân.
Người thanh thiếu niên chỉ xây dựng được bản ngã riêng trong phạm vi những mối quan hệ
với người khác. Có những mối quan hệ với người khác đương nhiên là phải có sự tôn trọng
và đáp ứng các kỳ vọng của họ. Xã hội nói chung có kỳ vọng về cách thanh thiếu niên nên
cư xử như thế nào, và những điều này thường xung đột với các kỳ vọng của người thanh thiếu
niên. Bởi vậy, nhu cầu cá thể hóa của lứa tuổi thanh thiếu niên đưa tới sự thách thức có tính
xung đột đối với các thanh thiếu niên đang cố gắng xác đònh bản ngã riêng, và đồng thời,
đang khám phá những cách mới để thích nghi với xã hội. Kết quả là, dường như có sự mâu
thuẫn tinh thần rất đáng kể nơi nhiều thanh thiếu niên đối với những vấn đề có liên quan đến
sự độc lập nghòch với tùy thuộc, và có liên quan với việc thể hiện những thay đổi về thái độ
và hành vi trong khi vẫn duy trì các mối quan hệ xã hội (Archer, 1992).
Thanh thiếu niên có nhiều nhiệm vụ liên quan đến những kỳ vọng mạnh mẽ của xã hội.
Havighurst (1951) tin rằng sự thực hiện tốt 9 nhiệm vụ phát triển nêu dưới đây rất cần thiết
cho sự thích nghi của thanh thiếu niên :
1Chấp nhận ngoại hình và vai trò về giới của mình.
2Thiết lập các mối quan hệ đồng lứa với cả hai giới.
3Hoàn tất sự độc lập tình cảm đối với cha mẹ.
4Lựa chọn và chuẩn bò cho nghề nghiệp.
5Phát triển các quan niệm và các kỹ năng trí tuệ cần thiết cho năng lực của công dân.
6Đạt được sự vững vàng về độc lập kinh tế.
7Đạt tới những mẫu mực hành vi có trách nhiệm đối với xã hội.
8Chuẩn bò cho hôn nhân và đời sống gia đình.
9Xây dựng những giá trò có ý thức hòa hợp với môi trường sống của mình.
Danh mục các nhiệm vụ này có vẻ làm nản lòng nhiều thanh thiếu niên. Một số sẽ nhận thấy
các thách thức này quá nặng nề và sẽ cảm thấy muốn cách ly với xã hội bởi vì các em không
thể hoàn thành những kỳ vọng của xã hội.
Khi thanh thiếu niên lớn lên, các em bắt đầu giống như những người mới thành niên và có
thể giao tiếp trưởng thành và hiệu quả hơn các thiếu nhi. Do đó, ta có thể hiểu vì sao nhiều
người lớn kỳ vọng rằng hành vi thanh thiếu niên nên phản ánh các tiêu chuẩn hành vi của
người thành niên. Kỳ vọng thanh thiếu niên sẽ chòu trách nhiệm và chuẩn bò một cách có ý
thức để đáp ứng những nhiệm vụ phát triển của tuổi thanh thiếu niên là không thực tế. Thanh
thiếu niên đang ở trong quá trình phát triển và đang đối phó với những thách thức mới và
chưa từng gặp từ trước, nên các em không biết tập trung vào nhiệm vụ nào và chắc chắn còn
mắc sai lầm. Các thanh thiếu niên quá mệt mỏi với những kỳ vọng của xã hội có thể chuyển
tới hành vi chống xã hội, dính dấp vào các việc từ vi phạm pháp luật ở mức thấp tới chỗ
phạm tội nghiêm trọng. Một số sẽ tìm cách thỏa mãn các nhu cầu bằng cách gia nhập các
băng nhóm phạm pháp. Khi tham gia băng nhóm các em có thể cảm nhận sự tùy thuộc vào
đó đây là nhu cầu của các em cùng với những kỳ vọng mà các em có thể đáp ứng được.
Ảnh hưởng của các kỳ vọng xã hội có tính khuôn mẫu đối với thanh thiếu niên thuộc cả hai
giới đã xác đònh rõ trong các tư liệu có liên quan (Shrof, 1995).
Bất chấp ảnh hưởng của phong trào đấu tranh cho nữ quyền, các bé gái vẫn có thể nhận được
thông điệp rằng vai trò chính của các em trong cuộc sống là kết hôn, sinh con, làm vợ và làm
mẹ tốt. Điều này có thể làm hỏng việc lựa chọn mục đích lâu dài của các em và làm tổn
thương lòng tự trọng của một số em gái. Cũng thế, các ý tưởng mà những em trai vò thành
niên có được về việc làm một người đàn ông, có thể gây tác hại tâm lý khi các cháu cố gắng,
vươn lên theo các ý tưởng đó. Đối với cả bé gái cũng như bé trai, các vấn đề từ nghiện ngập
đến bạo hành có thể thường có gốc rễ từ chỗ các thanh thiếu niên này không đủ khả năng
đáp ứng những đòi hỏi của quá trình xã hội hóa.
Kỳ vọng của cha mẹ
Phần lớn các bậc cha mẹ không biết cái gì là bình thường và thực tế trong các kỳ vọng mà họ
có thể có đối với trẻ vò thành niên. Khi con cái họ lớn tới tuổi thanh thiếu niên nhiều bậc cha
mẹ bắt đầu lo lắng, lắm lúc còn phiền muộn vì những hành vi bình thường của tuổi thanh
thiếu niên. Rutter (1995) tin rằng phần lớn thanh thiếu niên không đặc biệt khó tính hoặc gây
phiền hà, nhưng trong xã hội phương Tây, vấn đề là cha mẹ biết đáp ứng với giai đoạn này.
Bà cho rằng cách đáp ứng của cha mẹ có thể tạo những cảm nghó tiêu cực và đẩy trẻ tới chỗ
có hành vi chống xã hội. Trong tham luận về các vấn đề này bà lấy ý tưởng từ nghiên cứu
của Steinberg (1990)
Lý thuyết của Steinberg (1990) cho rằng khi trẻ em tới tuổi dậy thì, thì sự kết hợp của giai
đoạn phát triển thanh thiếu niên với hành vi và tình cảm của cha mẹ tạo nên những thay đổi
to lớn nơi cha mẹ khiến cha mẹ trở nên rất phiền muộn. Điều này thường đi kèm với sự suy
giảm hạnh phúc trong hôn nhân, tiếc rẻ vì những cơ hội tuổi thơ bò bỏ lỡ, nhận ra quá trình
hóa già, bò cô lập và khước từ tình cảm từ tuổi thanh thiếu niên độc lập, bò chê bai càng
nhiều bởi các trẻ vò thành niên quậy phá, sự sa sút lòng tôn trọng đối với sự hướng dẫn và
thẩm quyền được nhìn nhận từ trước, sự bất lực, mất mát dáng trẻ trung và nghi ngờ về năng
lực tính dục của bản thân. Steinberg và Steinberg (1994) tin rằng những thay đổi này thường
đưa tới kết quả là cha mẹ không còn gắn bó với các con đang ở tuổi thanh thiếu niên của
mình vào lúc các em rất cần sự hướng dẫn và nâng đỡ liên tục. Ta có thể hiểu, dù thật đáng
tiếc, rằng một số cha mẹ xa rời con cái vò thành niên vào lúc này. Thanh thiếu niên cần tách
riêng xa rời, bởi vì trở nên độc lập là vai trò chính yếu của các em. Nhưng điều này đã khiến
các bậc cha mẹ hoang mang và bỏ mặc con cái trong khi các em cần sự lưu ý và chăm sóc
đặc biệt do những chuyển biến các em đang thực hiện.
Dù cho có những sự căng thẳng trong gia đình, gia đình vẫn phải là phương tiện hữu hiệu
nhất để nêu cao các giá trò cho tuổi thanh thiếu niên, giúp các em đạt thành công trong
trường và tin tưởng nơi các mối quan hệ với bạn đồng trang. Steinberg và Steinberg (1994)
thấy rằng mối liên hệ thông thường của các thanh thiếu niên thành công là do các em thường
có những mối quan hệ tích cực với cha mẹ. Như thế, điều thách thức quan trọng đối với thanh
thiếu niên là duy trì những mối quan hệ tích cực với cha mẹ trong khi hoàn thành những mục
tiêu phát triển, một trong những mục tiêu đó, có phần nghòch lý, là tách rời và cắt đứt quan
hệ với cha mẹ. Rõ ràng đây là điều rất khó thực hiện.
Cuộc nghiên cứu được thảo luận trong chương trình USA Today (Nước Mỹ Ngày nay, 1997)
cho thấy rằng phần lớn trẻ em thường tách rời khỏi cha mẹ ở khoảng tuổi từ 10 tới 18. Dù
điều này có khi dẫn tới chỗ rối loạn chức năng gia đình, nhưng nó cũng phải được nhìn nhận
là một phần của quá trình tiến bộ bình thường của thanh thiếu niên. Có nhiều điểm khác
nhau theo giới : bé trai thường dùng ít thời gian cho gia đình hơn bé gái. Còn bé gái thì có vẻ
nói với cha mẹ về những vấn đề riêng tư nhiều hơn là bé trai.
Nhiều cha mẹ trở nên phiền muộn vì các con vò thành niên của họ không muốn thảo luận
những vấn đề riêng tư với họ. Tuy nhiên, vì các em đang tìm kiếm sự độc lập cho nên các em
có vẻ chỉ nói chuyện với cha mẹ vào lúc thích hợp với các em chứ không phải đáp ứng theo
yêu cầu của cha mẹ vào những lúc khác. Ngoài ra, có lẽ các em chỉ thích nói chuyện nếu các
em được giữ vai trò chủ động. Những nét riêng này của thanh thiếu niên có ý nghóa quan
trọng đối với các nhà tham vấn.
Các kỳ vọng của thanh thiếu niên
Một vấn đề có tầm quan trọng đối với các nhà tham vấn là “những điều gì thanh thiếu niên
tin là những thách thức chính của các em?” Các em tin rằng những thách thức chính của các
em xoay quanh những vấn đề về quan hệ với bạn cùng lứa tuổi và với những người khác, và
những vấn đề về thành đạt trong xã hội, trường trung học hoặc đại học (Youniss and Smollar,
1985). Ở đây có một số điểm khác nhau liên quan đến tuổi tác. Các áp lực học đường được
các thanh thiếu niên ít tuổi nhận ra là gai góc nhất, trong khi đối với các thanh thiếu niên từ
14 tuổi trở lên thì sự xung đột giữa cha mẹ với con vò thành niên được nhận ra là gai góc
nhất.
Các vấn đề về những mối quan hệ với bạn cùng lứa tuổi thường được xem là những rắc rối
trước mắt, dù rằng các thanh thiếu niên lớn tuổi thì thấy rắc rối nhiều hơn (Spirito và các tác
giả khác, 1991). Cùng với việc tạo thành tình bạn và các mối quan hệ gần gũi, phần lớn
thanh thiếu niên thích thuộc vào một nhóm mà các thành viên có cùng thái độ và sở thích. Ở
trong các nhóm này các em có những kỳ vọng mạnh mẽ rằng bạn các em sẽ đáng tin cậy và
trung thành với các em. Các em có khuynh hướng khó chấp nhận những hành động thiếu tôn
trọng, trạng thái buồn rầu, tính bướng bỉnh, tự phụ, uống rượu quá nhiều và khoác lác. Những
hành vi ấy thường dễ gây ra xung đột (Youniss and Smollar, 1985).
NHỮNG THÁCH THỨC TINH THẦN VÀ ĐẠO ĐỨC Ở TUỔI THANH THIẾU NIÊN
Điều quan trọng trong các quá trình phát triển xã hội và hình thành bản ngã riêng là những
vấn đề liên quan tới phát triển tinh thần và đạo đức.
Phát triển đạo đức
Suốt tuổi thanh thiếu niên, các em phải đối mặt và nhận chòu sự thách thức trong một phạm
vi rộng về các quyết đònh đạo đức. Có một số quan điểm khác nhau về quá trình phát triển
đạo đức. Những người góp phần quan trọng vào lý thuyết trong lãnh vực này là Kohlberg
(1984) và Giligan (1983). Kohlberg (1968, 1984) gợi ý về một mô hình với những giai đoạn
nổi bật về phát triển đạo đức dựa trên các cách suy nghó về những vấn đề đạo đức. Các giai
đoạn phát triển đạo đức của ông như sau :
Giai đoạn một
: Đạo đức tiền qui ước (tuổi từ 4 đến 10). Ở tuổi này trẻ muốn làm điều tốt và
tránh điều xấu với động cơ là tránh bò phạt hoặc mong được thưởng.
Giai đoạn hai
: Đạo đức theo qui ước (tuổi từ 10 đến 13). Trong giai đoạn này thiếu nhi hoặc
thanh thiếu niên học thích nghi với xã hội trong đó em sinh sống. Các động cơ để làm điều
tốt hoặc tránh điều xấu tùy theo sự nhìn nhận của người lớn. Ngoài ra, còn có sự nhấn mạnh
về việc tuân theo luật pháp và trật tự.
Giai đoạn ba
: Đạo đức hậu qui ước (tuổi từ 13 trở lên). Trong giai đoạn này cá nhân phát
triển ý thức về quyền con người và bắt đầu phát triển lương tâm. Việc ý thức về quyền con
người có thể liên hệ với sự suy nghó về những thay đổi trong pháp luật để đạt tới những điều
kiện đáng chấp nhận hơn. Ngoài ra, ở giai đoạn này thanh thiếu niên còn phát triển ý tưởng
rõ ràng về những gì các em tin tưởng và về những gì các em chuẩn bò để bảo vệ. Cá nhân sẽ
sớm có hành động không biết sợ sệt hoặc để được sự chấp thuận. Trái lại, các nguyên tắc
đạo đức đã thấm vào bên trong và cá nhân đã sở hữu các nguyên tắc đó.
Kohlberg (1984) ý thức rằng không phải tất cả thanh thiếu niên đều đạt tới giai đoạn ba. Đối
với một số thanh thiếu niên, đạo đức và các động cơ có thể chỉ ở giai đoạn một. Đối với các
em, đạo đức gắn liền với phần thưởng hoặc là không “bò bắt quả tang”.
Giligan (1983) tin rằng lý thuyết của Kohlberg không thực sự tiêu biểu cho sự phát triển đạo
đức của nữ giới, và ta phải nhìn nhận rằng phần lớn nghiên cứu của Kohlberg dựa vào các
đối tượng nam giới. Giligan gợi ý rằng có ba mức độ rõ rệt của sự phát triển ở nữ giới như
sau :
Mức độ một
: Sự sinh tồn cá nhân là lực đẩy cho lập luận đạo đức. Người phụ nữ bò hạn chế
nghiêm ngặt bởi mối quan tâm về chính bản thân mình.
Mức độ hai
: Thanh thiếu niên tiến tới vò trí hy sinh bản thân và thích nghi với xã hội.
Mức độ ba
: Các quyết đònh đạo đức ở giai đoạn này chủ yếu dựa vào việc xem xét những
nhu cầu riêng của phụ nữ cũng như của những người khác. Có một sự nhấn mạnh là không
làm tổn thương người khác.
Giligan (1983) tin rằng phụ nữ thường sử dụng đạo lý về sự chăm sóc trong khi đưa ra quyết
đònh về cuộc sống của mình. Bà cho là đạo lý về sự chăm sóc xuất phát từ mối gắn bó của
con cái với các bà mẹ, và rằng qua các bà mẹ các cô gái học hỏi về tính chất của mối quan
hệ “cho và nhận” trong đó các quyết đònh về đạo đức được thực hiện. So sánh các lý thuyết
của Giligan và Kohlberg về phát triển đạo đức cho thấy rằng có những điểm khác nhau giữa
người nam và người nữ trong việc đưa ra quyết đònh về mặt đạo đức. Lý luận về phát triển
đạo đức cũng chòu ảnh hưởng nặng nề bởi phạm vi trong đó người thanh thiếu niên sinh sống
và tùy thuộc rất lớn nơi sự phát triển trí tuệ cũng diễn ra vào thời gian này (Lovat, 1991).
Phát triển tinh thần
Khi thanh thiếu niên tìm cách thiết lập bản ngã riêng, các em cũng tìm kiếm ý nghóa cuộc
đời mình. Các em nhìn vào bên trong bản thân để xem xét các tư tưởng và cảm nghó, và lý
luận về những điều đó. Điều này đưa nhiều bạn trẻ tới chỗ tìm kiếm lời giải đáp cho những
câu hỏi có tính chất tinh thần (Elkind, 1980). Những niềm tin tôn giáo có tính qui ước và sự
tham gia vào các hoạt động tôn giáo có tổ chức chứng minh các mặt về tính tâm linh. Tuy
nhiên, tính tâm linh nơi thanh thiếu niên thường được chứng tỏ theo cách cơ bản hơn qua sự
tìm kiếm của thanh thiếu niên về ý nghóa các kinh nghiệm thường ngày trong cuộc sống.
Fowler (1981) tin rằng tính tâm linh chỉ có thể phát triển trong phạm vi tăng trưởng trí tuệ và
tình cảm của cá nhân. Ông thấy những niềm tin tinh thần của trẻ em 5 – 6 tuổi tùy thuộc
nặng nề vào việc chứng minh các sự kiện từ những nhân vật thẩm quyền như cha mẹ và thầy
cô. Ở giai đoạn đầu của tuổi thanh thiếu niên, sự nhấn mạnh dựa vào tính tượng trưng hơn là
hiểu biết sự thật cụ thể. Ở giai đoạn sau của tuổi thanh thiếu niên, kinh nghiệm riêng, các
biểu tượng, các nghi thức có thể chiếm phần lớn trong việc phát triển niềm tin tinh thần. Ở
giai đoạn này, các em có vẻ nhận biết rằng người khác có thể có những cách hiểu biết và
biểu lộ đặc tính tinh thần của họ một cách khác và cũng có giá trò.
Một số thanh thiếu niên nhận thấy các hệ thống tôn giáo qui ước có vấn đề và mâu thuẫn với
nhu cầu của các em trong việc đạt tới một mức độ tách rời khỏi những truyền thống và giá trò
của gia đình. Các em này đang phấn đấu với việc hình thành bản ngã, và đang cố gắng tìm
chỗ đứng trong xã hội, có thể được thu hút đến với các tín ngưỡng không chính thống để tìm
kiếm những giá trò và niềm tin tinh thần cho mình. Một số các thanh thiếu niên đến với các
tín ngưỡng ấy để được cung cấp nhận thức sâu hơn về ý nghóa cuộc đời. Tiếc thay, các em có
thể tham gia vào các hoạt động tôn giáo không được xã hội qui ước chấp nhận. Điều này có
thể dẫn tới chỗ các thanh thiếu niên này bò gạt ra ngoài lề.
Việc dính dấp vào phong trào Satan là một ví dụ về hoạt động không chính thống trong đó
thanh thiếu niên có thể khám phá đặc tính tinh thần của mình. Tucker (1989) cho rằng thanh
thiếu niên ngày nay quá ưa thích loại kinh nghiệm các em tìm thấy trong phong trào Satan.
Tiếc thay, phong trào Satan có vẻ thu hút vì một số lý do. Nó cung cấp một ý thức về mối
gắn bó và bản sắc của nhóm, cơ hội để phát triển nhân cách có sức mạnh “ma lực” theo
nhận thức riêng, có sức mạnh vì nó gây ra nỗi sợ nơi người khác và thoát được những hạn
chế của các hệ thống tín ngưỡng qui ước. Nó cũng tạo cơ hội để công khai từ bỏ tôn giáo
chính thống. Ta không lấy làm ngạc nhiên rằng một số thanh thiếu niên bò lôi cuốn vào hệ
thống tín ngưỡng này.
TÓM TẮT
Rõ ràng tuổi thanh thiếu niên là thời gian khủng hoảng và thay đổi mà một số em có thể đối
phó thích hợp, nhưng đối với một số thanh thiếu niên khác nó có thể dẫn tới những hậu quả
không tốt về tình cảm, xã hội và tâm lý. Mục đích chính của tuổi thanh thiếu niên là tạo
chuyển biến từ tuổi ấu thơ sang tuổi thành niên. Thanh thiếu niên cần làm điều này khi giải
quyết các thách thức xã hội, tâm lý và sinh học. Ngoài ra, việc đạt tới tuổi thành niên một
cách thành công và không bò tổn thương sẽ chòu sự tác động của những kinh nghiệm thời ấu
thơ, những căng thẳng về môi trường, những mối nguy về môi trường. Những vấn đề này
được thảo luận trong các Chương 2, 3 và 4.
2. ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC KINH NGHIỆM TUỔI ẤU THƠ
Trong Chương I ta đã xem xét những thách thức về xã hội, tâm lý, nhận thức và sinh học mà
các thanh thiếu niên cần phải đối phó và vượt qua. Những thách thức về phát triển này đối
với một số em có thể là gay go và quá nặng nề. Tuy nhiên, nhiều thanh thiếu niên đã sẵn
sàng và nhiệt tâm hoàn thành những nhiệm vụ trước mắt. Trong những tình huống thuận lợi,
được sự giúp đỡ của cha mẹ thương yêu, của thầy cô thông cảm và của xã hội rộng lớn, giai
đoạn chuyển qua tuổi thanh thiếu niên có thể được thực hiện tương đối dễ dàng, với kết quả
là trở nên người lớn trưởng thành thật chững chạc. Điều bất hạnh là trên thực tế có nhiều bạn
trẻ không trải qua được cuộc hành trình êm ả trong tuổi thanh thiếu niên. Sự khó khăn có thể
do nhiều lý do, mà nhân tố quan trọng nhất có lẽ là khả năng ứng phó và nhân cách của
thanh thiếu niên. Các nhân tố khác gồm có ảnh hưởng các kinh nghiệm lúc ấu thơ, những
căng thẳng ngoại sinh hoặc thuộc về môi trường, và những điều kiện xã hội hiện thời. Lắm
khi tất cả các nhân tố này tác động vào năng lực của thanh thiếu niên suốt cuộc hành trình
phát triển tới chỗ trưởng thành và thành niên.
Trong chương này, chúng ta sẽ xem xét ảnh hưởng của các kinh nghiệm ấu thơ, mà nếu
không giải quyết, có thể tác động tới năng lực của thanh thiếu niên trong việc thực hiện một
cách thích nghi các nhiệm vụ của tuổi thanh thiếu niên. Chúng ta sẽ thảo luận về ảnh hưởng
của các vấn đề không được giải quyết ở tuổi ấu thơ liên quan tới mỗi điểm sau đây :
• Những vấn đề gắn bó lúc nhỏ
• Ảnh hưởng của hành vi vô ích của cha mẹ
• Ảnh hưởng việc bò lạm dụng
• Ảnh hưởng của chấn thương
• Ảnh hưởng di truyền
Những vấn đề gắn bó lúc nhỏ
Từ GẮN BÓ, dùng trong sách tâm lý về phát triển, mô tả khuynh hướng của một em bé liên
tục tìm kiếm sự gần gũi với một nhân vật đặc biệt, thường là người mẹ, để làm giảm sự căng
thẳng bên trong. Boulby (1969) là người đóng góp chính cho lý thuyết xác đáng này. Ông tin
rằng sự gắn bó là mối ràng buộc tình cảm vững bền có chức năng sinh học quan trọng cần
thiết cho sự sinh tồn, và rằng mối quan hệ giữa một cháu bé và hình ảnh gắn bó sẽ tạo nên
nền tảng yên ổn từ đó cháu bé có thể khám phá và làm chủ thế giới.
Một số trẻ em không có cơ hội để tạo nên sự gắn bó yên ổn với một người. Các em có thể có
những bậc cha mẹ thờ ơ hoặc xử sự quá đáng, hoặc bò nằm viện lâu dài cách ly với cha mẹ,
hoặc mất cha mẹ do tai nạn, do chiến tranh, hoặc bò nhiều chấn thương khiến không thể tạo
sự gắn bó yên ổn được. Kết quả là các trẻ này phải chòu đựng điều mà người ta gọi là sự rối
loạn về gắn bó có thể đem lại cho các em những hậu quả rất trầm trọng.
Loại gắn bó mà trẻ tạo ra với người chăm sóc ban đầu có thể ảnh hưởng tới sự phát triển của
trẻ suốt cả đời. Các thanh thiếu niên có được sư gắn bó tương đối yên ổn phải chòu đựng các
sự kiện căng thẳng ít hơn và nhẹ hơn ở trong trường và ít căng hơn trong những năm ở đại
học so với các trẻ có sự gắn bó thiếu yên ổn.
Các thanh thiếu niên này cũng có năng lực học tập cao hơn (Burge và các tác giả khác,
1977). Người ta cũng nhận thấy sự gắn bó với cha mẹ có ảnh hưởng quan trọng đối với hình
ảnh tự thân, đặc biệt là về những mặt đạt được sự nổi bật trong tuổi thanh thiếu niên như
hình ảnh về thân thể, mục đích nghề nghiệp và bản năng giới tính (O’Koon, 1997).
Sự gắn bó sớm với những người chăm sóc đầu tiên có vẻ có ảnh hưởng nhiều đối với các
kinh nghiệm sau này của thanh thiếu niên và chi phối cả cách thức trong đó thanh thiếu niên
giải quyết những tình huống căng thẳng. Sự gắn bó bất ổn hoặc không thỏa đáng trong tuổi
ấu thơ được gắn kết với sự lạm dụng các chất gây nghiện sau này (Gerevich and Backsai,
1996; Burge và các tác giả khác, 1997), với các rối loạn về ăn uống (Burge và các tác giả
khác, 1997; Salzman, 1997), hoạt động tình dục sớm và hành vi tình dục có nguy cơ cao
(Smith, 1997) và hình ảnh tự thân yếu kém (O’Koon, 1997) nơi thanh thiếu niên. Người ta
cũng thấy rằng những rối loạn âu lo có lẽ xảy ra thường hơn nơi các thanh thiếu niên có mối
gắn bó yếu ớt với mẹ các em hồi còn bé so với các em có các mối gắn bó yên ổn (Warren và
các tác giả khác, 1997).
Rõ ràng, điều quan trọng đối với các nhà tham vấn là nhận biết một số hành vi thiếu thích
nghi ở tuổi thanh thiếu niên phần nào có thể là do các mối quan hệ gắn bó yếu ớt với các
nhân vật ban đầu lúc ấu thơ.
Ảnh hưởng hành vi vô ích của cha mẹ
Gia đình là nguồn cung cấp chính môi trường vật chất, trí tuệ và tình cảm trong đó trẻ em
sinh sống. Môi trường sẽ ảnh hưởng tới quan điểm của trẻ về thế giới sau này trong cuộc
sống, và đối với năng lực của trẻ trong việc đối phó với các thách thức về sau. Như thế, cấu
trúc và mối gắn bó gia đình sẽ ảnh hưởng tới sự điều chỉnh của thanh thiếu niên. Rõ ràng khả
năng gia đình hoạt động lành mạnh sẽ tùy thuộc nơi mẹ hoặc cả cha mẹ.
Quả là hiển nhiên và sáo cũ khi nói rằng cha mẹ có ảnh hưởng đối với sự phát triển của trẻ
em và thanh thiếu niên. Dù vậy, chúng ta cũng cần nhớ sự thật trong lời phát biểu này, và
nhận biết rằng nhiều trẻ em có cha mẹ đầy năng lực giúp các em lớn lên biết đương đầu với
thử thách của tuổi thanh thiếu niên một cách thành công. Tuy nhiên, vì sách này viết về tham
vấn, nên chúng tôi sẽ thường xét tới những nhân tố dẫn đến các vấn đề cho thanh thiếu niên,
để các nhà tham vấn hiểu những vấn đề này khi thiết kế những chiến lược tham vấn tiên
phong. Khi cha mẹ dành ưu tiên cho các nhu cầu của họ mà không quan tâm đúng mức tới
nhu cầu của con cái họ, thì các hệ thống gia đình trở nên rối loạn chức năng (Neumark –
Sztainer và các tác giả khác, 1997) và kết quả là trẻ em sẽ bò tác động nhiều cách như được
mô tả trong Chương này.
Cha mẹ cần uốn nắn những hành vi không thích hợp nơi con cái và khuyến khích sự phát
triển nhũng hành vi thích hợp về mặt xã hội. Nếu họ không làm việc này, thì sẽ có những
hậu quả đến các mối quan hệ xã hội, hoặc ở trong tuổi ấu thơ hoặc khi trẻ đến tuổi thanh
thiếu niên. Thường thường có một trình tự phát triển trong đó các hành vi gây hấn và chống
xã hội phát triển. Các hành vi này thường bắt đầu với các việc nhu lý sự, khoe khoang và đòi
hỏi sự chú ý. Nếu cha mẹ không uốn nắn đúng mức những hành vi này, thì có thể chúng sẽ
phát triển ở tuổi thiếu nhi giai đoạn giữa thành những hành vi như hung dữ, đánh lộn, nói dối
và lừa gạt, với kết quả là có những mối quan hệ kém với bạn đồng lứa. Phá phách và trộm
cắp trong nhà có thể diễn ra. Như thế các hành vi gây hấn và chống xã hội bắt đầu ở dạng
nhẹ bằng hành vi không thể chấp nhận được nơi trẻ em và phát triển dần theo cường độ, nhòp
độ và hình thức khi trẻ lớn dần.
Một số cha mẹ dự vào những hành vi không được xã hội chấp nhận đã tạo hậu quả tai hại
cho con cái họ. Tiếc thay, khi cha mẹ dự vào các hành vi không thích nghi và phản xã hội họ
làm gia tăng khả năng trẻ hành động giống họ (Kazdin, 1985). Đã có sự chứng minh vững
chắc rằng cả hành vi phạm tội lẫn tật nghiện rượu nơi cha mẹ, đặc biệt là nơi những người
cha, có liên quan đến hành vi chống xã hội của thanh thiếu niên (West, 1982). Như thế, hành
vi vô trách nhiệm của cha mẹ có thể dẫn tới hành vi gây hấn và chống xã hội chuyển xuống
trong gia đình qua các thế hệ tiếp theo.
Ảnh hưởng của sự lạm dụng
Khi trẻ em bò lạm dụng thì sẽ có những hậu quả tâm lý và tình cảm đối với các em vào lúc
xảy ra sự lạm dụng, và cả về sau này khi các em tới tuổi thanh thiếu niên. Ảnh hưởng tâm lý
và tình cảm của sự lạm dụng hầu như chắc chắn dẫn tới phát triển những hành vi không thích
nghi nếu trẻ hoặc thanh thiếu niên không thể giải quyết những vấn đề phiền phức có liên
quan một cách thỏa đáng. Xét tới những ảnh hưởng của sự lạm dụng, chúng ta sẽ thảo luận
những điểm sau đây :
• Sự bỏ bê – Không quan tâm
• Lạm dụng tình cảm
• Lạm dụng thân thể
• Lạm dụng tình dục
Thường thì ảnh hưởng của các loại lạm dụng khác nhau trùng lắp. Ngoài ra, phản ứng của
thanh thiếu niên có thể bò chi phối bởi những nhân tố cơ bản như tiền tố di truyền, các mối
liên hệ gắn bó yếu kém hồi còn nhỏ và các khuôn mẫu hành vi gia đình loạn chức năng, như
đã thảo luận phần trước.
Sự bỏ bê – không quan tâm
Ảnh hưởng sự bỏ bê đối với trẻ em đã được tập trung chú ý trong nhiều nghiên cứu. Nhiều
trẻ em chòu nguy cơ bỏ bê xuất thân từ môi trường kinh tế xã hội thấp và kém may mắn hoặc
các nhóm thiểu số bò thiệt thòi về văn hóa. Các em khác đến từ những gia đình loạn chức
năng ở đó có những vấn đề tâm lý, lạm dụng ma túy và/hoặc rượu chè hoặc có những vấn đề
về tài chánh (Swanson, 1991). Sự bỏ bê có thể dẫn tới những vấn đề về hành vi, chuyên cần
kém, điểm học tập thấp và nói chung là thành đạt yếu. Trẻ em bò bỏ bê cho thấy mối nguy
cơ cao có triệu chứng sau này trong đời bò rối loạn nhân cách có tính chống xã hội (Luntz and
Widom, 1994).
Khi một thanh thiếu niên có tiền sử bò bỏ bê lúc ấu thơ, thì em này có thể mang cảm nghó
giận hờn đối với những người chăm sóc thờ ơ, và có vẻ có vấn đề đối với những việc như an
toàn bản thân, việc cung ứng những nhu cầu thiết yếu, sự công bằng, tính thẳng thắn, sự tin
cậy và tinh thần trách nhiệm.
Lạm dụng tình cảm
Lạm dụng tình cảm thường kết hợp với các dạng lạm dụng khác. McGee và các tác giả khác
(1997) nghiên cứu các nhận thức của thanh thiếu niên về các kinh nghiệm bò ngược đãi gồm
có lạm dụng tình cảm, lạm dụng thân thể, lạm dụng tình dục, bỏ bê và nhận chòu bạo lực
trong gia đình. Về các loại lạm dụng này, các thanh thiếu niên trong nghiên cứu báo cáo về
sự ngược đãi tình cảm là loại ngược đãi nặng nề nhất.
Lắm khi nhiều bậc cha mẹ đặt nhu cầu của họ lên trước trong khi con cái của họ và/hoặc các
thanh thiếu niên cần sự giúp đỡ, nhìn nhận và ủng hộ để có hành vi tích cực. Làm thế, các
bậc cha mẹ này đã tự đánh mất tình cảm của con cái họ. Điều này là quá đáng khi các trẻ
này đến tuổi thanh thiếu niên, có thể các em có những vấn đề chưa được giải quyết liên quan
tới những nhu cầu tình cảm của các em. Kết quả là có rất nhiều khả năng các em sẽ tìm
những phương cách mới để thỏa mãn các nhu cầu của mình. Chẳng hạn như các em có thể
dính dấp vào sự lạm dụng ma túy hoặc gia nhập các nhóm bạn đồng lứa tuổi dính dấp vào
những hành vi “sôi nổi” có nguy cơ phạm pháp.
Cũng thế, trong các gia đình lạm dụng ma túy và/hoặc nghiện hóa chất, có thể thiếu sự giao
tiếp giữa cha mẹ và con cái, kỷ luật không nghiêm và không chặt chẽ trong gia đình, và
thiếu gắn bó và sự nâng đỡ tình cảm gần gũi (Garcia, 1992). Trẻ em lớn lên trong các gia
đình này có thể mang vết thương tình cảm vào tuổi thanh thiếu niên và kết quả là sẽ dễ phát
triển hành vi loạn chức năng.
Các thanh thiếu niên nếm mùi lạm dụng tình cảm khi còn bé, thường tìm đến tham vấn về
những vấn đề hành vi. Nhiệm vụ của nhà tham vấn tiên phong là xác đònh những vấn đề tình
cảm cơ bản và giúp bạn trẻ tìm ra giải pháp.
Lạm dụng thân thể
Trẻ em bò lạm dụng thân thể chắc chắn sẽ mang những vết thương tâm lý vào tuổi thanh
thiếu niên của mình. Trong nhiều trường hợp, không những các em chỉ cần giải quyết những
kinh nghiệm đau đớn trong quá khứ, mà có thể còn cần giải quyết sự lạm dụng tiếp tục trong
hiện tại. Một đặc điểm quan trọng trong lạm dụng thân thể là vấn đề quyền lực và sự kiểm
soát. Kết quả là các thanh thiếu niên bò lạm dụng khi còn nhỏ có vẻ đã có những cảm xúc
chưa giải quyết rất mạnh về những vấn đề sức mạnh và sự kềm chế.
Các cha mẹ lạm dụng có đặc điểm chung là không nhận trách nhiệm về hành vi của họ, đổ
tội cho con, không nhất quán nói một đàng làm một nẻo, dùng quyền lực đối với con cái,
không tin cậy các con, ích kỷ, và quá quan tâm tới nhu cầu của chính họ. Họ có khuynh
hướng áp đặt nhiều lần hành vi lạm dụng của họ (Mc Evoy and Erickson, 1990)
Thường những kẻ lạm dụng thân thể đối với trẻ em đã có niềm tin mạnh mẽ về việc nuôi
dạy con, sử dụng hình phạt thân thể và kiểm soát vật chất đối với trẻ như là cách uốn nắn
hành vi. Họ không giống như các bậc cha mẹ có thẩm quyền, trông cậy vào những phương
pháp kiểm soát hành vi không thô bạo và vận dụng các chiến lược giao tiếp thích hợp. Tiếc
thay, những cha mẹ chỉ dựa vào biện pháp sức mạnh, như dùng bạo lực, hình phạt thân thể
để đối phó, với con cái thường khó thành công trong việc phát triển những giá trò đạo đức
của con cái họ (Hoffman, 1988). Các bậc cha mẹ dựa vào sự khen ngợi, sự cách lý xã hội và
tránh hình phạt dường như tạo ra những người con có mức phát triển lương tâm cao vì con cái
họ tiếp thu những tiêu chuẩn và những giá trò của cha mẹ (Baumrind, 1971). Các bậc cha mẹ
có uy quyền hầu hết đều thành công trong việc tạo ra những người con có trách nhiệm và có
năng lực về mặt xã hội.
Người ta thấy rằng trẻ em và thanh thiếu niên bò lạm dụng thân thể có thể phát sinh triệu
chứng giống như các em bò rối loạn căng thẳng sau chấn thương (Glod and Teicher, 1996).
Glod và Teicher (1996) đã nhận thấy rằng trẻ em bò lạm dụng thân thể có những nét hoạt
động chính giống như các trẻ em có triệu chứng rối loạn hoạt động thái quá do thiếu chú ý
(ADHD). Điều này có thể gây lúng túng cho các nhà tham vấn và có tầm quan trọng đáng kể
đối với các vò ấy. Người ta dễ đánh giá sai vì những điểm tương đồng trong sự mô tả các trẻ
em và thanh thiếu niên bò lạm dụng thân thể và các em mắc bện ADHD.
Cha mẹ của các thanh thiếu niên cần phát triển những kỹ năng mới để có thể chuyển đổi từ
chỗ nuôi dạy trẻ em tới chỗ nuôi dạy thích hợp các thanh thiếu niên. Thực hiện việc chuyển
đổi này là việc quá sức đối với một số bậc cha mẹ. Như thế, các thanh thiếu niên trong
những gia đình nghiện ma túy và hóa chất và các gia đình nghiện rượu, có thể có nguy cơ bò
lạm dụng thân thể vì cha mẹ của các em có thể thất vọng với sự thay đổi hành vi của các em.
Ngoài ra, nhiều cha mẹ nghiện rượu và các chất gây nghiện khác có khả năng kềm chế nóng
giận rất kém.
Các thanh thiếu niên bò lạm dụng thân thể từ nhỏ và chòu đựng sự lạm dụng đó kéo dài tới
tuổi thanh thiếu niên thường phải ứng với sự lạm dụng đó bằng một trong hai cách. Các em
có thể bộc lộ cảm nghó bằng hành động theo lối chống xã hội với mức độ gây hấn cao, hoặc
giữ lại các cảm nghó ở trong lòng với hậu quả là phát triển tính trầm cảm và nảy sinh ý tưởng
tự tử. Các em giấu cảm nghó bên trong cũng có thể thu mình và cắt đứt các giao tiếp xã hội
chính thức của thanh thiếu niên và bò loại bỏ để rơi vào các nhóm bạn cùng lứa tuổi tách rời
khỏi xã hội (Schmidt, 1991).
Một vấn đề khác đối với các thanh thiếu niên chôn giấu cảm nghó trong lòng và cảm thấy bất
lực, do hậu quả của sự lạm dụng thân thể liên tục từ lúc bé thơ, là mối nguy tự tử. Tự tử và
toan tự tử đã được nhận thấy gia tăng như là giải pháp của các thanh thiếu niên yếu kém
trong ứng phó với khó khăn. Kaplan và các tác giả khác (1997) nhận thấy rằng tỉ số các vụ
toan tự tử gia tăng nơi các thanh thiếu niên đã bò lạm dụng thân thể so với các thanh thiếu
niên không bò lạm dụng. Các thanh thiếu niên này cũng khác với các thanh thiếu niên không
bò lạm dụng ở chỗ các em cho thấy những nhân tố nguy cơ rất cao về tự tử; chẳng hạn như
trầm cảm, nghiện ma túy và hành vi suy sụp.
Lạm dụng tình dục
Lạm dụng tình dục xảy ra trong tuổi thanh thiếu niên đã được chứng minh khá nhiều qua các
tư liệu như là một đóng góp vào những vấn đề thích nghi của tuổi thành niên và thanh thiếu
niên giai đoạn sau. Hơn nữa, sự xâm hại tình dục trước tuổi thanh thiếu niên đã góp thêm
nguy cơ phạm pháp nơi thanh thiếu niên (Widon, 1994). Các nghiên cứu khảo sát những ảnh
hưởng ngắn hạn của sự lạm dụng tình dục ở thời thơ ấu cho thấy rằng các triệu chứng trầm
cảm và lo lắng là phổ biến. Các nạn nhân có thể nhận chòu những di chứng có thể tiếp tục
suốt tuổi thanh thiếu niên, gồm có những hành vi nhiễm tình dục, ác mộng, tránh giao tiếp,
cách ly, khó ngủ, hờn giận, hành vi thiếu kiểm soát, những vấn đề về thân thể và những khó
khăn trong học tập.
Các nghiên cứu ảnh hưởng lâu dài về lạm dụng tình dục trẻ em cho thấy rằng, khi lớn lên,
các nạn nhân của sự lạm dụng ấy có mức độ cao về những vấn đề thuộc sức khỏe tâm thần,
kể cả trầm cảm, rối loạn lo lắng, lạm dụng ma túy, loạn chức năng tình dục và những khó
khăn trong giao tiếp với người khác (Brown and Finkelhor, 1986). Hơn nữa, sự lạm dụng tình
dục ở tuổi thiếu nhi và thanh thiếu niên đã được chứng minh là góp phần vào các toan tính và
hành động tự tử (Vander May and Meff, 1982; Bagley và các tác giả khác, 1997).
Garnefski và Diekstra (1996) lưu ý rằng các em trai bò lạm dụng tình dục bò xúc động rất
nhiều và có những vấn đề về hành vi, bao gồm hành vi tự tử nhiều hơn là các nạn nhân nữ.
Nghiên cứu của các vò ấy cho thấy hậu quả của sự lạm dụng tình dục đối với các bé trai tệ
hại và phức tạp hơn đối với các bé gái. Bé gái vò thành niên bò lạm dụng tình dục thường có
mặc cảm tự ti hoặc chán ghét nữ tính và tình dục của mình. Điều này có thể dẫn tới sự quan
tâm về trọng lượng thân thể, hình dáng và tầm vóc (Oppenheimer và các tác giả khác, 1985).
Vì vậy, ta không lấy làm ngạc nhiên nhiều thanh thiếu niên bò lạm dụng tình dục báo cáo về
những rối loạn hình ảnh về thân thể, thấy mình to béo, xấu xí và bất xứng. Các em có thể có
xáo trộn về ăn uống (Hall và các tác giả khác, 1989). Rõ ràng là bò lạm dụng tình dục tuổi
thiếu nhi và xáo trộn về hình ảnh thân thể là có liên quan với nhau. Welch và các tác giả
khác (1997) phát hiện các thanh thiếu niên có triệu chứng rối loạn vì háu ăn báo cáo về
những biến cố đã qua trong đời, như bò lạm dụng tình dục, có liên quan tới sự đe dọa đối với
ý thức an toàn và nguyên vẹn của thân thể. Hơn nữa, Casper và Lyubomirsky (1997) cho
thấy hành vi háu ăn có liên hệ to lớn với lạm dụng tình dục.
Trẻ em đặc biệt bò lạm dụng tình dục bởi người mạ các em quen biết và tin cậy. Sự lạm dụng
ấy có thể kéo dài nhiều năm và thường tiếp tục cho đến tuổi thanh thiếu niên. Theo
Alexander và Kempe (1984), loại lạm dụng tình dục nguy hiểm nhất là sự loạn luân giữa cha
mẹ và con gái. Cũng có tỉ số cao về lạm dụng tình dục giữa các cha kế và con gái của vợ.
Thường bé gái bò lừa dối để nghó lầm rằng sự lạm dụng hoàn toàn là do lỗi của em. Ngoài ra,
em còn bò cảnh cáo là nếu em nói cho ai biết về sự lạm dụng thì em sẽ bò xem là bé hư và
cũng có thể bò bắt và bò bỏ tù. Thật tội nghiệp, kết quả của tình cảnh ấy thường khiến em thu
mình về mặt xã hội hoặc chạy trốn gia đình. Các em có thể dây vào việc trốn học, chung chạ
tình dục bừa bãi và gặp khó khăn trong những mối quan hệ sau này (Alexander and Kempe,
1984). Một số sẽ vào đường mãi dâm. Thật đáng thương, các thanh thiếu niên có tiền sử bò
lạm dụng tình dục không những xót mình là nạn nhân, mà còn có nguy cơ biến người khác
thành nạn nhân và chính mình phạm tội về tình dục (Mc Clellan và các tác giả khác, 1997).
Người ta thường thấy nạn lạm dụng tình dục trong thân thể các thanh thiếu niên bò xáo trộn
nặng về sức khỏe tâm thần. Atlas và các tác giả khác (1997) dẫn chứng về sự hiện diện xáo
trộn bản ngã phân biệt nơi các thanh thiếu niên với tiền sử về lạm dụng tình dục. Sanders và
Giolas (1991) cũng nêu ý kiến rằng các triệu chứng phân liệt có liên hệ với những kinh
nghiệm lạm dụng tình dục gây chấn thương ở tuổi thanh thiếu niên. Các triệu chứng phân liệt
có vẻ liên hệ với lạm dụng tình dục gây sợ sệt rất nhiều khiến cho thanh thiếu niên còn rất
kinh hãi. Những nét chính trong những trường hợp ấy phân tích hành vi về những hoàn cảnh
cho thấy trong đó trẻ “bay bỏng”, mất liên hệ với thời gian hoặc có vẻ không đáp ứng với
những kích thích bên ngoài.
Ảnh hưởng của chấn thương
Phần lớn các nghiên cứu về rối loạn căng thẳng hậu chấn thương đã lưu ý tới việc chữa trò
các triệu chứng của người lớn chứ không phải của trẻ em. Các báo cáo về những đáp ứng của
trẻ em đối với các sự kiện gây chấn thương cho thấy các em có những điểm rất giống với
những triệu chứng rối loạn căng thẳng hậu chấn thương nơi người lớn. Một số nghiên cứu gần
đây về rối loạn căng thẳng hậu chấn thương nơi trẻ em đã nghiên cứu các trẻ em chòu cảnh
thiên tai (Frederick, 1985; Earls và các tác giả khác, 1988), các thảm họa do con người
(Handford và các tác giả khác, 1986) và các chấn thương liên quan đến thủ tục y khoa
(Stoddard và các tác giả khác, 1989). Các phát hiện từ những nghiên cứu này xác nhận giá
trò sự tồn tại của rối loạn căng thẳng hậu chấn thương nơi trẻ em, qua đó các sự kiện gây
chấn thương đã tạo nên thiệt hại thể chất cho các em, hoặc gây tổn thương hoặc chết chóc
cho một người thân khác.
Một trong những dạng chấn thương thông thường nhất mà trẻ em ngày nay phải nếm trải là
bạo lực trong gia đình. Tiêu biểu là khi bạo lực trong gia đình xảy ra thì sẽ có tổn thương và
đôi khi cả cái chết cho người lớn, thanh thiếu niên và thiếu nhi trong gia đình. Dù là trẻ em
không trực tiếp là nạn nhân, các em cũng sẽ bò chấn thương do chứng kiến cảnh bạo lực và
sẽ chòu hậu quả căng thẳng hậu chấn thương.
Do hậu quả của sự căng thẳng hậu chấn thương, thanh thiếu niên có thể phải chòu đựng lặp
lại lâu dài sự kiện gây chấn thương qua hồi ức tái diễn, thấm sâu và/hoặc qua những giấc
mơ. Các em có thể trải qua những giai đoạn hồi tưởng lộn xộn trong đó các em thấy mình
hành động hoặc cảm nhận như thể sự kiện đang tái diễn thật. Các em có thể trải qua sự
phiền muộn cao độ khi có những điều gợi nhớ đến từ bên trong hoặc bên ngoài giống như
một khía cạnh của sự kiện gây chấn thương làm cho ký ức sống dậy. Các em có thể kiên trì
né tránh các kích thích có liên quan với chấn thương và có thể trải qua tình trạng chết lặng
hoặc không đáp ứng gì cả. Sự chết lặng và chủ tâm tránh các ý tưởng và cảm nghó liên quan
với chấn thương, một sự không thể hồi tưởng và tường thuật các mặt của chấn thương, không
hứng thú lưu tâm hay không tham dự vào các hoạt động, và có liên quan đến những cảm xúc
bò dứt bỏ. Các em cũng có thể có một phạm vi hạn chế về ảnh hưởng tình cảm (chẳng hạn
như không thể có cảm nghó yêu thương). Đôi khi các em có những cảm nghó dai dẳng về sự
kích thích, cảnh giác quá mức, dễ kích động và khó tập trung (Hiệp hội Tâm lý Hoa Kỳ,
1995).
Chòu đựng bạo lực nghiêm trọng có liên hệ cao với rối loạn tâm thần, đặc biệt là rối loạn
căng thẳng hậu chấn thương (PTSD). Trong một nghiên cứu của Steiner và các tác giả khác
(1997) đã có đánh giá về sự nổi bật của triệu chứng PTSD nơi các thanh thiếu niên phạm
pháp bò giam giữ. Một nửa các đối tượng mô tả việc chứng kiến cảnh bạo lực giữa nhiều
người như là sự kiện gây chấn thương cho các em. Trong số các đối tượng được chẩn đoán về
rối loạn căng thẳng sau chấn thương, tất cả đều biểu lộ ở mức độ cao sự phiền muộn, lo lắng,
trầm cảm và bò hạn chế ở mức thấp việc kiểm soát kích thích và đè nén tính gây hấn. Các
em có mức độ cao về phòng vệ, không chín chắn như phóng ngoại, phòng thân, đổi ý, không
giao tiếp và thu mình.
Thật đáng tiếc, giống như nạn lạm dụng tình dục mà nạn nhân có thể trở thành người lạm
dụng, các em phải nhận chòu, hoặc chứng kiến, cảnh bạo lực trong gia đình có vẻ chính mình
cũng trở thành hung bạo. Bằng chứng cho điều này là, sự bạo hành ở mức độ cao lạ lùng, như
bắn giết và đánh đập, được thấy gây ra bởi các thanh thiếu niên ở nội thành mà bản thân
từng chứng kiến cảnh bạo lực trầm trọng (Singer và các tác giả khác, 1995).
Cũng có những ảnh hưởng chấn thương lâu dài ở tuổi thanh thiếu niên. Desivilya và các tác
giả khác (1996) xem xét những triệu chứng tâm lý lâu dài và những thay đổi hành vi do gặp
sự tấn công khủng bố ở tuổi thanh thiếu niên. Các hậu quả, bao gồm những khó khăn ở nội
tâm và trong các mối quan hệ với người khác, những vấn đề về sức khỏe tâm thần ở mức độ
rất cao, dễ bò tổn thương nhiều trước những khó khăn về tâm lý gây ra do các biến cố giống
như các cuộc chiến tranh, mức độ thân thiết với người phối ngẫu thì thấp, cũng như có tiền sử
lao động kém ổn đònh hơn các thanh thiếu niên khác không gặp cảnh ấy.
Mất mát
Thiếu nhi và thanh thiếu niên thường bò chấn do mất mát. Các em có thể mất bạn cùng lứa
tuổi như bạn trai và bạn gái do tái đònh cư, bò từ bỏ, chết, hoặc tự tử. Các em cũng trải qua
mất mát về cha mẹ do bò từ bỏ, lãng quên, ly dò hoặc chết. Đối với trẻ không nhà cũng có
một số mất mát, mà mất mát quan trọng là không được giáo dục (Eddowes and Hranitz,
1989).
Khi trẻ em trải qua sự mất mát, quá trình phiền muộn có thể kéo dài đến tuổi thanh thiếu
niên và có thể ảnh hưởng tới trạng thái tình cảm và hành vi của các em càng ngày người ta
càng nhận biết tầm quan trọng của việc các thanh thiếu niên phải phấn đấu vượt qua quá
trình phiền muộn để cho cuộc hành trình phát triển không bò sự phiền muộn cản trở. Trong
khi sự trầm cảm do tang thương là bình thường, điều quan trọng là cần xem xét khi trầm cảm
trở thành bệnh lý. Các thanh thiếu niên phải mất bạn do tự tử có thể bò trầm uất lớn diễn ra
phức tạp hơn tang khó (Brent và các tác giả khác, 1993). Các thanh thiếu niên cũng có thể
nảy ra ý nghó tự tử mạnh mẽ sau khi người mà các em yêu thương tự tử. Khi nạn tự tử của
thanh thiếu niên trở nên ào ạt ở xã hội phương Tây, người ta lưu ý rằng sự mất đi người thân
sau vụ tự tử có tính phức tạp hơn. Sự phạm tội giữ vai trò to lớn hơn trong việc mất đi người
thân khi cái chết là do tự tử so với cái chết do những nguyên nhân tự nhiên (Peters and
Weller, 1994).
Các thanh thiếu niên chòu sự mất mát do cái chết của một bậc thân sinh thường bò chấn động
thật mạnh, mất niềm tin và cảm nhận rõ sự mất mát. Người ta nhận thấy các kinh nghiệm
này căng thẳng hơn những kinh nghiệm của người lớn bò mất mát cha mẹ do cái chết. Người
ta cũng nhận thấy các thanh thiếu niên giận dữ nhiều hơn trước cái chết, rối loạn giấc ngủ,
trạng thái chiêm bao và cáu kỉnh hơn người lớn (Meshot and Leitner, 1993).
Ảnh hưởng di truyền
Khi tham vấn cho thanh thiếu niên, chúng ta cần nhận biết rằng, ngoài ảnh hưởng về kinh
nghiệm cuộc sống, có thể còn có những điều kiện di truyền đối với những rối loạn về hành vi
và tâm lý trong tuổi thanh thiếu niên. Comings (1997) đã điểm lại bằng chứng ủng hộ quan
niệm cho rằng nhiều hành vi quậy phá ở tuổi thiếu nhi và tuổi thanh thiếu niên gồm có kém
chú ý do quá hiếu động, hội chứng Tourette, thiếu khả năng học tập, sử dụng ma túy, gây rối
loạn có tính thách thức chống đối, và rối loạn hạnh kiểm là thành phần của các hành vi có
tính tương tác và có nhân tố di truyền mạnh mẽ. Comings (1997) cũng gợi ý là các thành tố
di truyền của các rối loạn này có một số “gen” chung ảnh hưởng tới các chất dopamine,
seratonin và các chất dẫn truyền về thần kinh.