VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN QUỐC KHÁNH
THI PHÁP THƠ LỤC BÁT HIỆN ĐẠI
(QUA MỘT SỐ TRƯỜNG HỢP TIÊU BIỂU)
Ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 9. 22.01.21
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC
HÀ NỘI - 2023
1
Cơng trình được hồn thành tại:
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia ội
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. Nguyễn Văn Dân
PGS.TS. Nguyễn Thị Bích thu
Phản biện 1: PGS.TS. Ngơ Văn Giá
Phản biện 2: PGS.TS. Lê Thị Dục Tú
Phản biện 3: PGS.TS. Phạm Thành Hưng
Luận án được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Học
viện, tại: Học viện Khoa học xã hội, 477 Nguyễn Trãi, Thanh
Xuân, Hà Nội vào hồi …. giờ …. ngày … tháng …..năm 2023
Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện Quốc gia
- Thư viện Học viện khoa học xã hội
2
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thơ lục bát hiện đại kế thừa từ tinh hoa văn hoá dân tộc, từ kho tàng ca
dao, dân ca. Có những tên tuổi đã rất thành công với thơ lục bát như: Tản
Đà, Nguyễn Bính, Huy Cận, Tố Hữu, Bùi Giáng, Nguyễn Duy, Đồng Đức
Bốn, Phạm Cơng Trứ... Dưới góc nhìn thi pháp học, có thể thấy thơ lục bát
hiện đại chia thành hai khuynh hướng, một là khuynh hướng dân gian
(Nguyễn Bính, Nguyễn Duy, Đồng Đức Bốn...), hai là khuynh hướng cổ
điển - bác học (Huy Cận và phần nào đó là Bùi Giáng…). Ở cả hai ngã rẽ
này, thơ lục bát hiện đại đều có những thành cơng và có những dấu ấn riêng
biệt. Nghiên cứu này sẽ tìm hiểu thơ lục bát hiện đại dưới góc nhìn thi pháp
học: thể loại, cấu trúc, ngơn ngữ, từ đó chỉ ra những khuynh hướng sáng tác
trong quá trình vận động và phát triển của thể loại này.
2. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu này sẽ tìm hiểu thi pháp thơ lục bát hiện đại trên các bình
diện: thể loại, ngơn ngữ, cấu trúc và dấu ấn của hai khuynh hướng dân gian
và cổ điển trong sáng tác của các tác giả thơ lục bát hiện đại tiêu biểu. Chỉ
ra những đặc điểm trong tiến trình của thể lục bát từ dân gian đến hiện đại.
Tìm hiểu quá trình vận động của thể loại từ ca dao cho đến thơ hiện đại, quá
trình biến đổi của cấu trúc thơ lục bát, ngôn ngữ thơ lục bát từ truyền thống
đến hiện đại.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu của đề tài là tìm hiểu quá trình hình thành và phát triển của
thể lục bát, khái quát các thời kì phát triển của thể lục bát; tìm hiểu cấu trúc
của thơ lục bát hiện đại; ngôn ngữ thơ lục bát hiện đại qua các trường hợp
tiêu biểu và chỉ ra hai khuynh hướng sáng tác trong quá trình vận động và
phát triển của thể lục bát.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài trước hết là thơ lục bát hiện đại của các
1
tác giả tiêu biểu (Nguyễn Bính, Huy Cận, Bùi Giáng, Nguyễn Duy) từ góc
nhìn thi pháp học. Để tìm hiểu thi pháp thơ lục bát hiện đại, đề tài dựa trên
các lý thuyết của thi pháp học, tìm ra những đặc điểm thi pháp cơ bản nhất
của thơ lục bát hiện đại trên các phương diện như: thể loại, cấu trúc, ngơn
ngữ trong q trình vận động và phát triển của thể lục bát.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Để thực hiện nghiên cứu này, chúng tôi tập trung khảo sát các tập thơ
của các tác giả tiêu biểu: Lỡ bước sang ngang (Nguyễn Bính, 1940); Tâm
hồn tơi (Nguyễn Bính, 1940); Lửa thiêng (Huy Cận, 1940); Mưa nguồn
(Bùi Giáng, 1962); Lá hoa cồn (Bùi Giáng, 1963); Cát trắng (Nguyễn Duy,
1973); Ánh trăng (Nguyễn Duy, 1984); Đường xa (Nguyễn Duy, 1989), và
một số sáng tác của các tác giả Tản Đà, Tố Hữu, Phạm Cơng Trứ, Đồng
Đức Bốn… Ngồi ra, chúng tơi cịn chọn một số tác phẩm thơ lục bát trong
ca dao, truyện thơ Nôm trung đại.
4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
- Vận dụng lý thuyết về thi pháp học; Phương pháp loại hình; Phương
pháp thống kê; Phương pháp so sánh; Phương pháp cấu trúc.
5. Đóng góp mới về khoa học của luận án
Nghiên cứu này góp phần tìm hiểu thi pháp thơ lục bát hiện đại, làm rõ
quá trình vận động của thể loại, các khuynh hướng sáng tác trong quá trình
vận động và phát triển của thể lục bát. Chỉ ra những dấu ấn của hai khuynh
hướng sáng tác này trong tác phẩm của các nhà thơ lục bát tiêu biểu. Quá
trình biến đổi của thể lục bát từ góc nhìn thi pháp học qua sáng tác từ
truyền thống đến hiện đại. Từ đó có thể giải mã sức sống trường tồn của thơ
lục bát.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
- Về lý luận: Trên cơ sở của các định nghĩa, khái niệm về thi tháp, thi
pháp thơ chúng tôi đề xuất khái niệm thi pháp thơ lục bát, từ đó làm cơ sở
cho việc triển khai các vấn đề nghiên cứu.
- Về thực tiễn: Từ kết quả của các nghiên cứu về thi pháp, thi pháp học,
thi pháp thơ trên thế giới và ở Việt Nam, chúng tơi tìm hiểu thi pháp thơ lục
2
bát hiện đại trên các bình diện: thể loại, cấu trúc, ngôn ngữ để thấy được sự
vận động của hai khuynh hướng sáng tác dân gian và cổ điển trong thơ lục
bát của một số tác giả tiêu biểu.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu và kết luận luận án gồm 4 chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương 2: Sự hình thành và phát triển của thể lục bát
Chương 3: Cấu trúc thơ lục bát hiện đại
Chương 4: Ngôn ngữ thơ lục bát hiện đại
Chương 1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Khái niệm thi pháp, thi pháp học, thi pháp thơ
1.1.1. Khái niệm thi pháp, thi pháp học, thi pháp thơ
Thi pháp là nghiên cứu các phương diện hình thức mang tính nội dung.
Thực chất nhiệm vụ của thi pháp là nghiên cứu thế giới nghệ thuật khép kín
của văn bản, bổ sung cho các hướng tiếp cận ngồi văn bản như xã hội học,
văn hóa học, phương pháp tiểu sử.
Thi pháp học là một trong những những bộ mơn khoa học có bề dày lịch
sử lâu đời trong lịch sử nhân loại. Ở phương Tây, thuật ngữ “thi pháp học”
rất phổ biến ngày nay bắt nguồn từ tiếng Hi Lạp “Poetika”. Thuật ngữ này
là từ rút gọn của cụm từ “Poetika tekhne”, nghĩa là biện pháp, nghệ thuật
làm thơ, thể hiện tập trung trong công trình Peri Poetikes của Aristote (384
– 322 TCN). Ở Việt Nam, thuật ngữ này lúc đầu được dịch là “bàn về nghệ
thuật thơ ca” hoặc “nghệ thuật thơ ca”. Theo Trần Đình Sử, nếu dịch cơng
trình của Aristote là “nghệ thuật thơ ca” thì đến nay đã khơng cịn phù
hợp… Hai chữ “thơ ca” đã khơng cịn phù hợp với quan niệm ngày nay, vì
thế cụm từ “Nghệ thuật thơ ca” nên chuyển thành thi pháp, còn khoa nghiên
cứu thi pháp ấy thì gọi là thi pháp học”.
3
Nếu ở phương Tây, Aristote với cơng trình Nghệ thuật thơ ca đã đặt
những viên gạch đầu tiên trong nghiên cứu thi pháp học thì ở phương Đơng,
Lưu Hiệp cũng được đánh giá như thế với Văn tâm điêu long. Có thể nói
Văn tâm điêu long là tác phẩm lý luận văn học đầy đủ đầu tiên của lý luận
văn học Trung Quốc. Tác phẩm dường như đề cập đến tất cả các vấn đề
thuộc về văn học: từ nội dung và hình thức đến thể loại, phong cách, lịch sử
phát triển… ngồi ra, Lưu Hiệp ơng cịn dành nhiều tâm lực để bàn về sáng
tạo trong văn học. Những quan điểm này của ơng có nhiều đóng góp quan
trọng trong nghiên cứu thi pháp học.
1.1.2. Khái niệm thi pháp thơ
Trong luận án này, chúng tôi thiên về sử dụng nội hàm khái niệm thi
pháp học ở cách hiểu thứ nhất, đó là thi pháp học theo nghĩa hẹp. Như vậy,
khái niệm thi pháp thơ gần với khái niệm thi học và thi pháp học (theo
nghĩa hẹp), tức là chỉ sự nghiên cứu về hình thức thơ, như: cấu trúc, vần,
nhịp, các phép tu từ… của thơ ca, chỉ sự nghiên cứu tồn bộ các phương
diện hình thức của văn học.
1.2. Nghiên cứu về thi pháp thơ ở nước ngoài
Nghệ thuật thơ ca của Aristote là cơng trình đầu tiên về thi pháp thơ.
Được viết với chủ đích đưa ra những khuôn vàng thước ngọc cho nhà văn
nhà thơ dựa vào để sáng tác một bi tráng kịch, một anh hùng ca, tương tự
như cuốn Rhétorique (Thuật hùng biện) Aristote đề nghị những luật vàng để
viết một bài diễn thuyết; Thi học cịn đóng một vai trị khác: điều tra nguồn
cội nghệ thuật và trình bày những nền móng cơ bản để khảo sát cấu trúc thơ
văn. Điểm đầu tiên, Aristote xác định: nghệ thuật bắt nguồn từ sự bắt
chước. Nếu như ở phương Tây, người ta hiểu “thơ” bao hàm cả “văn” thì ở
phương Đơng, người ta hiểu “văn” bao hàm cả “thơ”. Thời cổ đại, khái
niệm Văn học hay Thi học được hiểu là học vấn, tri thức văn hóa.
Mặc dù quan niệm rằng, “văn” bao hàm “thơ” nhưng vì khái niệm văn
quá rộng nên khi bàn đến văn chương với tư cách là một nghệ thuật, các
nhà nghiên cứu Trung Quốc không dùng từ “Văn học” mà dùng từ “Thi
học”, “Thi pháp”. Nếu hiểu theo lối duy danh tiếng Hán thì “Thi pháp” là
4
phương pháp I phép tắc làm thơ. Cách hiểu này cũng khơng q sai lạc với
tinh thần của Aristote vì ông cũng bàn về nghệ thuật thơ ca. Vì vậy, dù ở
phương Đông hay phương Tây, Thi pháp học của Aristote vẫn tiếp tục phát
huy. Các sách thi thoại ở Trung Quốc đã có nhiều tìm tịi sâu sắc về nghệ
thuật dùng từ, bố cục, hình tượng, cách luật, nhịp điệu... về thơ.
Sau này, các nhà nghiên cứu thuộc trường phái hình thức Nga đã có
nhiều cơng trình quan trọng trong việc nghiên cứu thơ và thi pháp thơ. Đây
cũng là những gợi mở quan trọng để các nhà nghiên cứu trong nước cho ra
đời những cơng trình về thi pháp thơ.
1.3. Nghiên cứu về thơ lục bát và thi pháp thơ lục bát
1.3.1. Nghiên cứu thơ lục bát
Tiếp nhận các lý thuyết về thi pháp nói chung và thi pháp thơ nói riêng,
các cơng trình ở Việt Nam cũng đã có những thành tựu đáng kể trong lĩnh
vực này. Phan Ngọc trong cơng trình Phong cách Nguyễn Du trong Truyện
Kiều lấy sự lựa chọn làm nguyên tắc khu biệt cơ bản để nghiên cứu, ông
thực sự đã đem lại nhiều điều mới mẻ trong cấu trúc nghệ thuật của Truyện
Kiều và thơ Đường. Như thế thành công của Phan Ngọc gắn liền với tìm tịi
phương pháp của chính ơng. Ngơn ngữ thơ của Nguyễn Phan Cảnh là một
cơng trình vừa có tính lí thuyết vừa có tính phổ cập, đề cập nhiều vấn đề
của thơ được bạn đọc chú ý. Đây là cơng trình đầu tiên ở Việt Nam viết về
đặc trưng thi pháp của ngôn ngữ thơ theo quan điểm của chủ nghĩa cấu trúc
của một nhà ngữ học. Một cơng trình nghiên cứu chun sâu về thể loại đầu
tiên phải kể đến là Lục bát và song thất lục bát (1998) của Phan Diễm
Phương. Trong chuyên luận này tác giả đã tập trung giải quyết tương đối
triệt để những vấn đề chung về thể loại thơ như quá trình ra đời và phát
triển của hai thể thơ lục bát và song thất lục bát từ điểm nhìn cấu trúc âm
luật thể loại. Đây là một bước tiến đáng ghi nhận trong việc phân định hình
thức chính thống của thể thơ truyền thống cách luật. Cơng trình này cũng
cùng xu hướng với chuyên luận Thơ và các vấn đề trong thơ Việt Nam hiện
đại của Hà Minh Đức (1974). Tuy nhiên, tác giả Phan Diễm Phương đã đưa
ra và giải quyết vấn đề này một cách tập trung và toàn diện hơn. Thi pháp
5
thơ Tố Hữu của Trần Đình Sử là một cơng trình có ý nghĩa đối với nghiên
cứu thi pháp thơ ở Việt Nam. Trần Đình Sử phân tích, đánh giá kĩ lưỡng ở
nhiều cấp độ khác nhau trên cả hai mặt nội dung và hình thức. Giọng điệu
trong thơ trữ tình (qua một số nhà thơ tiêu biểu của phong trào Thơ mới)
của Nguyễn Đăng Điệp là một cơng trình đầu tiên nghiên cứu tập trung về
một trong những vấn đề phức tạp nhất của thi pháp học hiện đại – giọng
điệu nghệ thuật. Nguyễn Đăng Điệp đã nghiên cứu giọng điệu ở nhiều khía
cạnh: phương diện biểu hiện; phương thức biểu hiện; các cấp độ giọng điệu;
các lại hình giọng điệu. Nguyễn Xuân Kính tiếp thu quan niệm thi pháp học
từ các học giả Nga. Ông hiểu nghiên cứu thi pháp là nhằm chỉ ra cái hay cái
bản chất nghệ thuật của tác phẩm, chỉ ra lí do tồn tại của hình thức, và ơng
nghiên cứu các yếu tố thi pháp trong ca dao từ ngôn ngữ, thể thơ, kết cấu,
thời gian và không gian nghệ thuật, biểu tượng, hình ảnh. Thi pháp ca dao
của ơng là một trong các cơng trình tiêu biểu về thi pháp văn học dân gian
Việt Nam, trong đó có những nghiên cứu ca dao dưới góc nhìn của thi pháp
thể loại. Ngồi ra, cịn một số cơng trình nghiên cứu về thơ lục bát, nhìn
chung những cơng trình này đã góp phần vào hình thành nên những diện
mạo, đặc trưng của thể lục bát và thơ lục trong lịch sử văn học.
1.3.2. Nghiên cứu thi pháp thơ lục bát của một số tác giả tiêu biểu
Nguyễn Bính – thi sĩ của đồng quê, cơng trình của Hà Minh Đức đã đánh
giá một trong những đóng góp lớn nhất của Nguyễn Bính là thơ ông đã đưa
chúng ta trở về với ca dao, trở về với những câu hát mộc mạc của đồng quê.
Cái cơ đơn trong con người thi sĩ chính là nỗi cô đơn của thời cuộc. Thể
hiện sự chuyển biến rõ nét về chủ thể sáng tác trong trong thơ lục bát hiện
đại. Cơng trình Ba đỉnh cao thơ mới của Chu Văn Sơn đã đề cập đến
Nguyễn Bính trên nhiều phương diện, trong đó đáng chú ý, tác giả đã nêu
những đặc điểm tạo nên một hồn thơ Nguyễn Bính như: cái tôi lỡ dở, giọng
điệu của hồn quê, con đẻ của câu lục bát nổi chìm nơi đồng quê. Có thể
thấy, việc Nguyễn Bính sáng tác theo khuynh hướng dân gian như một lẽ tự
nhiên bởi tâm hồn ông ln hướng về làng q nên từ đề tài, hình ảnh,
không gian, ngôn ngữ… đều gắn với làng quê và khuynh hướng dân gian
6
chính là cái nơi ni dưỡng thơ lục bát Nguyễn Bính. Thi pháp thơ Huy
Cận, chuyên luận của Trần Khánh Thành, Nxb Văn học ấn hành năm 2001
tiếp nối các nghiên cứu thi pháp học qua các trường hợp một tác giả. Các
vấn đề nêu ra chủ yếu vẫn là quan niệm nghệ thuật, thời gian và không gian
nghệ thuật, phương thức thể hiện. Đây là cách tiếp cận của rất cơ bản của
thi pháp học. Trong cơng trình Phong cách ngơn ngữ thơ Bùi Giáng,
Nguyễn Đức Chính đã tìm những vấn đề về đặc trưng thi pháp thơ lục bát
như: cấu trúc thơ lục bát, đặc trưng tính nhạc trong ngơn ngữ thơ Bùi Giáng
(đặc trưng hịa thanh, phối điệu trong ngôn ngữ thơ Bùi Giáng); nghệ thuật
ngắt nhịp trong thơ Bùi Giáng, tác giả cho rằng: thơ lục bát Bùi Giáng có
thêm 4 cấu trúc gồm 4 nhịp: 1/1/2/4, 1/2/3/2, 1/3/2/2, 3/1/1/1 và 4 cấu trúc
gồm 5 nhịp: 1/1/1/1/2, 1/1/1/1/4, 2/1/1/1/1, 2/2/1/1/1. Về vần điệu, tác giả
cũng khẳng định thơ lục bát Bùi Giáng khơng ít hiện tượng lặp âm trong
hiệp vần, đây cũng là một trong những điểm đặc biệt của thơ lục bát Bùi
Giáng trong đối sánh với các nhà thơ lục bát khác. Về phương tiện ngôn
ngữ trong thơ Bùi Giáng, tác giả liệt kê một số đặc điểm sau: khẩu ngữ,
thành ngữ, từ láy, tập Kiều… đây đặc điểm khá riêng biệt của Bùi Giáng.
Trong chuyên luận Nguyễn Duy – Nhà thơ hiện đại Việt Nam, Lã Nguyên
đã khảo sát thơ Nguyễn Duy từ ba lớp: ngôn ngữ thế giới quan, ngôn ngữ
cơ thể và điệu giọng trữ tình. Lớp thứ nhất là ngơn ngữ điều hành tư duy
nghệ thuật; lớp thứ hai là ngơn ngữ tổ chức xúc cảm trữ tình; lớp thứ ba là
ngôn ngữ tổ chức lời thơ. Ba lớp ngôn ngữ ấy tồn tại trong mối quan hệ phụ
thuộc vào nhau, chi phối lẫn nhau tạo thành cấu trúc biểu nghĩa độc đáo của
từng loại thi ca.
Tiểu kết chương 1
Các nghiên cứu về thơ lục bát ở Việt Nam khá đa dạng và phong phú. Ở
góc độ thi pháp học thì ít có cơng trình nào nghiên cứu sự vận động của thi
pháp thơ lục bát qua hai khuynh hướng chủ yếu là dân gian và cổ điển. Một số
công trình đi sâu tìm hiểu về thơ lục bát ở góc độ thi pháp thể loại, ngơn ngữ,
thời gian, khơng gian... Tuy nhiên chưa có cơng trình nào soi chiếu các vấn đề
của thi pháp thơ lục bát qua lăng kính của hai phong cách dân gian và cổ điển.
7
Nghiên cứu thi pháp thơ lục bát hiện đại cần tập trung nghiên cứu quá trình vận
động của thể loại; cấu trúc; ngôn ngữ qua những tác giả tiêu biểu. Từ đó, giải
mã sức sống trường tồn của thơ lục bát với tư cách là một thể thơ truyền thống.
Phong cách dân gian và cổ điển làm nên sức sống trường tồn đó. Nhưng tinh
thần thời đại làm nên tính hiện đại hóa trong thơ lục bát. Đó là những vấn đề
mà luận án sẽ làm rõ trong các chương tiếp theo.
Chương 2
SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA THỂ LỤC BÁT
2.1. Sự hình thành của thể lục bát
Thể lục bát đã có từ lâu đời, tồn tại và phát triển thơng qua lời ăn, tiếng
nói của cha ơng ta truyền lại cho con cháu, qua tục ngữ, ca dao và qua các
làn điệu dân ca.
2.1.1. Sự hình thành của thanh điệu tiếng Việt
Theo A. Haudricourt, cho đến khoảng đầu Cơng ngun, các ngơn ngữ
thuộc dịng Mơn-Khơme đều khơng có thanh điệu. Từ thế kỉ VI - XII, tiếng
Việt đã trải qua q trình tách đơi từ 3 thanh điệu thành 6 thanh điệu:
Tuyến điệu ngang-huyền chung: vô thanh > vô thanh = thanh ngang
hữu thanh > vô thanh = thanh huyền
Tuyến điệu sắc-nặng chung: vô thanh > vô thanh = thanh sắc
hữu thanh > vô thanh = thanh nặng
Tuyến điệu hỏi-ngã chung: vô thanh > vô thanh = thanh hỏi
hữu thanh > vô thanh = thanh ngã
Như vậy, phải đến thế kỉ XII (sau 6 thế kỷ hình thành và hoàn thiện), hệ
thống thanh điệu tiếng Việt mới được hoàn chỉnh. Các ý kiến cho rằng, lục
bát ra đời trước thế kỷ VI đều thiếu cơ sở khoa học, bởi nếu hệ thống thanh
điệu chưa ra đời thì khơng thể có thể lục bát trước đó.
2.1.2. Tư duy thơ lục bát
Tư duy nghệ thuật khác với tư duy khoa học ở chỗ, tư tưởng và tình cảm
khơng chỉ là năng lượng của tư duy mà còn là đối tượng nhận thức của tư
duy. Như vậy, có thể nói rằng, phương tiện ngôn ngữ (hệ thống thanh điệu)
8
là yếu tố đầu tiên cần xét đến khi tìm hiểu nguồn gốc của thể lục bát. Tuy
nhiên, thể lục bát khơng chỉ cần có vần và số lượng âm tiết trong mỗi dịng,
mà để có được tính hài hồ, thể lục bát còn cần một luật phối thanh, phối
điệu chặt chẽ.
Trong tục ngữ Việt Nam có tới 67% là các câu tục ngữ có vần. Hiện
tượng gieo vần ở tục ngữ thể hiện rõ nét lối tư duy vần điệu của người Việt:
Bút sa gà chết
Của một đồng công một nén
Ếch tháng ba gà tháng bảy
Như vậy, có thể khẳng định rằng những đặc điểm của lục bát của ca dao đã
manh nha xuất hiện trong thành ngữ, đó là cách nói đối xứng, về thanh điệu, về
ý nghĩa, về vần điệu… Từ đây tư duy thơ lục bát bắt đầu hình thành, bởi sự
đăng đối hài hịa là một trong những đặc điểm cơ bản của lục bát.
2.1.3. Nhu cầu biểu đạt chi phối cấu trúc và thể loại
Từ những phương tiện biểu đạt bắt đầu được hình thành, kết hợp với nhu
cầu phản ánh cuộc sống, bày tỏ tâm tư tình cảm của người dân nên đã bước
đầu định hình những đặc điểm cơ bản của thể loại. Với mục đích biểu đạt
như hát ru, đối đáp, kể chuyện mà ta thấy các cấu trúc của lục bát cũng biểu
hiện ở những nét khá cơ bản..
2.1.3.1. Cấu trúc lời ru
Những câu ca hát ru con trong đời sống hằng ngày thể hiện yêu thương
của cha mẹ và cả những hi vọng được gửi gắm để mong con khôn lớn,
trưởng thành. Hát ru là những bài hát nhẹ nhàng đơn giản giúp trẻ con ngủ.
Phần lớn các câu trong bài hát ru con lấy từ ca dao, đồng dao, hay trích từ
các loại thơ hoặc hị dân gian được truyền miệng từ bà xuống mẹ, thế hệ
trước sang thế hệ sau. Dân gian thường thông qua lời ru (thường là ru con)
gửi gắm vào đó nỗi niềm, mong ước của mình hoặc kín đáo phản ánh hồn
cảnh thế thái nhân tình mình đang sống, đơi khi những lời ru vừa là bồi đắp
cho con những điều hay lẽ phải, vừa lồng ghép những triết lý và kinh
nghiệm sống của dân gian.
2.1.3.2. Cấu trúc đối
9
Có khi đó là lời trao đổi chuyện trị của hai bên nam nữ. Có khi đó là câu
hỏi của bên này và câu đáp của bên kia. Cũng có khi bên này ra câu đố cho
bên kia trả lời... Đa phần những câu ca dao này thường có nội dung dí dỏm,
hài hước. Nhìn chung dù ở hình thức đối thoại như thế nào đi nữa thì nội
dung của những câu ca dao này cũng ý nhị, dễ thương, khiến người nghe
cảm thấy nhẹ nhàng, thoải mái.
2.1.3.3. Giọng điệu than thở
Nhân dân ta thời xưa khi gặp bất hạnh, bế tắc, thường tìm đến ca dao
như một sự giải toả. Những số phận bất hạnh, những thân phận bé nhỏ, tầm
thường mong muốn có một cuộc sống hạnh phúc, được tự do yêu đương,
nhưng xã hội đã chà đạp lên quyền của họ, đẩy họ vào nghịch cảnh, đặc biệt
là thân phận của người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Ca dao, dân ca là
tấm gương phản ánh đời sống tâm hồn phong phú của nhân dân lao động.
Nó khơng chỉ thể hiện tình cảm gắn bó thiết tha đối với quê hương, đất
nước... mà còn là tiếng thở than về số phận bất hạnh và những cảnh ngộ khổ
cực, đắng cay.
2.1.4. Ca dao góp phần định hình thể lục bát
Như vậy, có thể khẳng định rằng việc hoàn thiện thanh điệu của tiếng Việt,
cùng với lối tư duy thơ manh nha được hình thành qua cách nói vần vè, kết hợp
với nhu cầu biểu đạt trạng thái, tình của con người trong cuộc sống là những
điều kiện để hình thành nên những đặc điểm cơ bản của thể lục bát. Ca dao
chính là khởi đầu của thơ lục bát và trong quá trình phát triển, ca dao đã bước
đầu định hình nên những khn mẫu ban đầu của thể loại.
2.2. Các giai đoạn phát triển của thể lục bát
2.2.1. Thể lục bát trong văn học dân gian
Trước Truyện Kiều, thể lục bát đã xuất hiện trong tục ngữ, ca dao Việt
Nam (về nhận định này, chúng tôi cũng đã đề cập ở phần trên), thể hiện
thành công cả về nội dung lẫn hình thức nghệ thuật, góp phần tạo nên sự
phong phú đa dạng trong văn học dân gian với những câu thơ mang đậm
tâm tư, tình cảm của tầng lớp bình dân. Sự định hình một khn mẫu có sẵn
ở ca dao chính là ở cách gieo vần, phối thanh và nhịp điệu, và đây cũng là
10
cơ sở để phát triển của thể lục bát sau này. Về cơ bản thể lục bát trong ca
dao đã định hình một khn mẫu tương đối hồn chỉnh:
Dịng
Vị trí tiếng
thơ
1
2
3
4
5
6
7
8
Dịng 6
bằng
trắc
bằng
tiếng
(vần)
Dịng
8 tiếng
bằng
trắc
bằng
bằng
(vần)
(vần)
Cơng cha/ như núi/ Thái Sơn
Nghĩa mẹ/ như nước/ trong nguồn/ chảy ra
(Ca dao)
2.2.2. Thể lục bát trong thơ trung đại
Ở phần trước, chúng tôi đã đề cập đến nhu cầu biểu đạt trạng thái tình
cảm chi phối đến thể lục bát. Khi tư duy thơ lục bát đã có những bước tiến
vượt bậc, cùng với nhu cầu biểu đạt ở tầm vóc lớn hơn, khơng gian lớn hơn,
chứ khơng cịn loanh quanh bờ ao, luỹ tre, cánh đồng, bến đò... Lúc này, thể
lục bát được sử dụng làm phương tiện phản ánh thế giới rộng lớn hơn, phản
ánh cuộc sống đa chiều hơn. Qua tìm hiểu các tác phẩm: Đào nguyên hành
(Phùng Khắc Khoan), Tư Dung vãn (Đào Duy Từ), Thiên Nam ngữ lục, Cổ
Châu Phật bản hạnh... có thể nhận thấy, ở giai đoạn này, thể lục bát cịn tồn
tại tình trạng tự do, lỏng lẻo. Từ ca dao, lục bát có những bước tiến mới: có
sự thay đổi trong cách ngắt nhịp, gieo vần. Điều này được thể hiện rõ nhất
qua tác phẩm Truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du và Lục Vân Tiên của
Nguyễn Đình Chiểu. Truyện Kiều của Nguyễn Du chính là một đỉnh cao
rực rỡ của loại Truyện thơ nôm, đồng thời cũng là một đỉnh cao rực rỡ của
văn học Việt Nam. Thể thơ lục bát đến Truyện Kiều cũng được quy chuẩn
và hoàn thiện hơn. So với lục bát dân gian thì lục bát Truyện Kiều khơng
cịn các dạng biến thể nữa. Có thể xem Lục bát Truyện Kiều là một thứ lục
bát thuần khiết kế thừa truyện thơ lục bát của thế kỷ XVIII.
11
2.2.3. Thể lục bát trong thơ hiện đại
Tiếp nối dòng chảy lục bát từ ca dao, văn học trung đại, văn học hiện đại
cũng chứng kiến nhiều tác giả thành công với thể thơ này. Trong thơ ca
trung đại, chức năng tự sự của lục bát được phát huy khi mà sứ mệnh chủ
yếu của hệ hình văn học này là chở đạo, minh đạo. Thế nhưng, đến thơ ca
hiện đại, lục bát đã trở về với chức năng trữ tình cố hữu của lục bát ca dao.
Truyện thơ dường như đã chấm dứt sứ mệnh lịch sử của mình với đỉnh cao
là Truyện Kiều của Nguyễn Du. Ca dao thường dừng lại ở 2 câu lục bát, còn
truyện thơ lại là hàng trăm, hàng ngàn câu lục bát nối tiếp nhau thì thơ lục
bát hiện đại hướng đến những bài thơ lục bát ngắn, có thể chia khổ hoặc
khơng chia khổ. Thơ lục bát lúc này cho thấy rõ sự thay đổi về hình thức.
Từ Tản Đà cho đến các nhà Thơ Mới, như Nguyễn Bính, Huy Cận... sau
này là Bùi Giáng, Nguyễn Duy, Đồng Đức Bốn... họ đã cho thấy sức sống
trường tồn của thơ lục bát. Thơ lục bát hiện đi theo hai khuynh hướng chủ
đạo: khuynh hướng dân gian (Nguyễn Bính, Nguyễn Duy, Đồng Đức
Bốn...) và cổ điển (Huy Cận, Thế Lữ...). Tuy nhiên, ở một số tác giả, có thể
thấy sự kết hợp cả hai khuynh hướng này trong sáng tác như trường hợp
Tản Đà, Bùi Giáng...
Tiểu kết chương 2
Trong văn học dân gian thì ca dao (phần nào là tục ngữ) chính là cái nơi
góp phần hình thành nên thể lục bát. Ở ca dao hội đủ nhiều yếu tố là những
điều kiện cần và đủ để hình thành thể loại này: sự hình thành của thanh điệu
tiếng Việt, tư duy thẩm mỹ của người Việt, nhu cầu phản ánh tâm tư tình
cảm của nhân nhân là những yếu tố góp phần hình thành thể lục bát. Có thể
nói rằng, trải qua một quá trình chọn lọc và thải loại, thì một trong những
thành cơng của ca dao xét về mặt thể loại chính là định hình một khn
mẫu tương đối hồn chỉnh cho thể lục bát. Sang đến thời kì văn học đại,
truyện thơ tiếp tục mạch nguồn lục bát và đỉnh cao của thể lục bát giai đoạn
này chính là Truyện Kiều của Nguyễn Du. Nguyễn Du đã nâng tầm lục bát
lên thành sự mẫu mực của cổ điển.
12
Chương 3
CẤU TRÚC THƠ LỤC BÁT HIỆN ĐẠI
3.1. Cấu trúc khn hình lục bát
3.1.1. Cấu trúc khn hình lục bát và biến thể lục bát
Sự định hình một khn mẫu có sẵn ở ca dao chính là ở cách gieo vần,
phối thanh và nhịp điệu, và đây cũng là cơ sở để phát triển của thể lục bát
sau này. Một cặp lục bát trong ca dao đã mang gần như đầy đủ các yếu tố
đặc trưng của thể loại. Tạm bỏ qua một quá trình chọn lọc, lựa chọn (gieo
vần trắc, gieo vần tiếng thứ sáu của câu lục và tiếng thứ tư của câu bát,
thêm bớt số tiếng trong câu lục và câu bát...) thì lục bát trong ca dao đã định
hình một khn mẫu ban đầu khá hồn chỉnh như sau:
Dịng
Vị trí tiếng
thơ
1
2
3
4
5
6
7
8
Dịng
bằng
trắc
bằng
6
(vần)
tiếng
Dịng
bằng
trắc
bằng
bằng
8 tiếng
(vần)
(vần)
3.1.2. Biến thể lục bát
Lục bát biến thể xuất hiện trong ca dao với khá nhiều dạng thức:
- Sự phá cách về thể loại thể hiện ở việc gieo vần tiếng thứ 6 của câu lục
với tiếng thứ 4 của câu bát;
- Thay đổi số tiếng dòng lục, dòng bát giữ nguyên;
- Thay đổi số tiếng dòng bát, dòng lục giữ nguyên;
- Thay đổi số tiếng cả dịng lục và dịng bát.
Sang đến thời kì văn học trung đại, một số tác phẩm truyện thơ vẫn còn
hiện tượng lục bát biến thể, song, nếu coi Truyện Kiều là mẫu mực thì đã
khơng cịn hiện tượng gieo vần ở tiếng thứ sáu câu lục với tiếng thứ 4 câu
bát và 100% câu thơ trong Truyện Kiều đều tuân thủ tuyệt đối 6 tiếng ở
dòng lục và 8 tiếng ở dòng bát. Tuy nhiên, trong thơ ca hiện đại, các nhà
13
thơ đôi khi vẫn sử dụng biến thể lục bát để làm phong phú hơn trong cách
thể hiện tâm tư, tình cảm của mình, một số các nhà thơ hiện đại khơng q
bó buộc vào khn mẫu của lục bát đã định hình mà có những phá cách độc
đáo. Song, cơng bằng mà nói cũng khó có tác phẩm nào thành công rực rõ
với biến thể lục bát mà chủ yếu những sản phẩm biến thể tạo nên những sắc
thái khác lạ đối với phong cách sáng tác của các nhà thơ lục bát.
3.2. Cấu trúc văn bản thơ lục bát hiện đại
3.2.1. Cấu trúc tự sự
Trong văn học dân gian, chức năng diễn xướng chi phối đến độ dài của
các câu ca dao vì vậy, ca dao thường là những câu có 1 đến 2 cặp lục bát,
điều này hoàn toàn phù hợp với nhu cầu để phản ánh tâm tư tình cảm của
nhân dân trong sinh hoạt, lao động. Sang đến thời kì trung đại, truyện thơ
nở rộ và chiếm vị trí gần như độc tơn trên văn đàn. Chức năng diễn xướng
lúc này của văn học đã nhường chỗ cho chức năng kể chuyện. Ðây là một
loại hình tự sự có khả năng phản ánh về hiện thực của xã hội và con người
với một phạm vi tương đối rộng. Nội dung của truyện thơ Nôm thường
phản ánh đời sống xã hội cũng như thể hiện quan niệm, lí tưởng nhân sinh
của tác giả thơng qua việc miêu tả và thường là miêu tả chi tiết, tường thuật
lại một cách tương đối trọn vẹn cuộc đời, tính cách nhân vật bằng một cốt
truyện với chuỗi các biến cố, sự kiện nổi bật. Hàng loạt các tác phẩm truyện
thơ trung đại đã ra đời được sáng tác theo thể lục bát: Phạm Tải Ngọc Hoa,
Tống Trân Cúc Hoa, Nhị độ mai, Hoa tiên, Truyện Kiều, Truyện Lục Vân
Tiên...
Sang đến thời kì văn học hiện đại, nhu cầu bộc lộ cái tôi cá thể trở thành
xu hướng chủ đạo, những cảm xúc và suy tư của nhà thơ hoặc của nhân vật
trữ tình trước các hiện tượng đời sống được thể hiện một cách trực tiếp hơn.
Tính chất cá thể hóa của cảm nghĩ và tính chất chủ quan hóa của sự thể hiện
là những dấu hiệu tiêu biểu của thơ trữ tình. Như vậy, chức năng của thơ ca
đã có sự thay đổi rõ rệt, lúc này thơ lục bát ra đời với đặc trưng là các bài thơ
lục bát có dung lượng vừa phải từ vài câu đến vài chục câu lục bát. Như vậy,
từ những câu ca dao, đến câu lục bát trong truyện thơ Nôm đến bài thơ lục
14
bát là cả một chặng đường của thể lục bát. Sự linh hoạt và đa dạng của thơ
lục bát hiện đại đã phát huy được nhiều ưu thế của thể loại này.
3.2.2. Cấu trúc văn bản thơ lục bát hiện đại
Thơ lục bát hiện đại cũng xuất hiện những tác phẩm có dung lượng đồ
sộ, song số lượng khơng nhiều. Tiếp nối mạch truyện thơ Nơm trung đại có
thể kể đến Nguyễn Bính với Tì bà truyện (1548 câu) và Tiếng trống đêm
xuân (1976 câu); Phạm Thiên Thư với Đoạn trường vô thanh (3296 câu) và
Hát ru Việt sử thi (3320 câu). Thơ lục bát hiện đại vẫn chứng kiến thể loại
có dung lượng đồ sộ khi thơ ca lúc này có chức năng diễn ca hay tuyên
truyền, song đó lại là một trường hợp đặc thù về chức năng của lục bát.
Tóm lại, ở thơ hiện đại, cho dù vẫn cịn một vài tác phẩm có độ dài đến
hàng trăm, hàng nghìn câu lục bát thì vẫn có thể khẳng định rằng, truyện
thơ đã chấm dứt sứ mệnh lịch sử của mình từ sau Truyện Kiều bởi chất tự
sự lùi vào dĩ vãng và nhường lại cho thơ hiện đại chất trữ tình. Trong thơ
lục bát hiện đại hình thành nên các bài thơ với kết cấu hoàn chỉnh và được
chia thành các cấp độ rõ nét trong cấu trúc văn bản.
3.3. Một số cấu trúc tiêu biểu của thơ lục bát hiện đại
3.3.1. Cấu trúc đối (đối xứng, đối song hành)
Ở Trung Quốc từ xa xưa, tuy đối ngẫu đã xuất hiện tự nhiên trong thơ
nhưng chưa được ý thức như một biện pháp thơ ca. Hình thức đối trong thơ
văn cổ điển Việt Nam về đại thể là tiếp thu kĩ thuật của thơ văn Trung Quốc
nhưng do có đặc điểm riêng về ngơn từ nên chắc chắn có những điểm khác
nhau. Nguyên lý song song là một trong những cấu trúc quan trọng nhất của
thơ ca nói chung và thơ lục bát cũng khơng phải là ngoại lệ. Không những
thế, ở thơ lục bát nguyên lý này có nhiều khơng gian để phát triển và nó góp
phần nâng nghệ thuật đối của thơ lục bát lên một tầm cao mới. Đối ngẫu
trong câu thơ lục bát của Truyện Kiều đa dạng hẳn so với các thể loại khác
bởi câu thơ 5 chữ, 7 chữ lẻ khó có thể có những biến hố như câu thơ 6 chữ,
8 chữ đặc biệt là sự cân xứng khi số chữ trong câu là chẵn. Ngoài ra, trong
cấu trúc song song, thì từ láy có vai trị đặc biệt quan trọng. Nhà nghiên cứu
Thuỵ Khuê cho rằng: Từ láy có thể xem như đơn vị song song nhỏ nhất
15
trong ngơn ngữ, là sự hịa phối âm thanh và ngữ nghĩa giữa hai yếu tố tương
đương hoặc đối lập, tự bản chất đã có khái niệm nhị nguyên của đời sống,
mang sẵn hình ảnh âm dương, hai yếu tố tác thành mối sinh động của mn
lồi. Cấu trúc này giải thích khả năng biểu cảm, biểu niệm, tượng thanh,
tượng hình của từ láy, giúp người đọc, người nghe khơng những nhận diện
được vật thể bằng tên gọi, mà còn hình dung ra dáng dấp, nghe được âm
thanh và đơi khi cảm thấy cả chuyển động của vật thể. Do đó, từ láy có một
địa vị quan trọng trong thi ca, mà cấu trúc cơ bản dựa vào hình ảnh, nhạc
điệu và cảm xúc
3.3.2. Cấu trúc liên hoàn, trùng điệp
Liên hoàn, trùng điệp là cách tổ chức lời theo phương thức lặp lại láy lại
các đơn vị khác nhau của văn bản nhằm tạo ra nghĩa mới cho văn bản mà
khi tách riêng đơn vị đó khơng có được. Có các phương thức sau: điệp câu,
điệp từ, điệp ngữ, điệp cú pháp… Trong thơ ca các yếu tố trùng điệp, liên
hoàn tạo ra nhịp điệu trùng điệp, đây là kiểu nhịp điệu có sự lặp, trùng
nhiều lần một yếu tố hay một dáng điệu đường nét âm thanh. Chẳng hạn
nhịp lặp, trùng nhau về âm tiết, cao độ, điểm nhấn hoặc thanh điệu, đây là
cách tổ chức nhịp điệu dựa trên sự trùng lặp, nó đi liền với phép điệp từ,
điệp ngữ, điệp kiểu câu, phép liệt kê.
3.3.3. Cấu trúc mạch tâm trạng nhân vật trữ tình
Từ sau thời kì thơ ca trung đại, cấu trúc của thơ lục bát hiện đại định
hình theo cấu trúc mạch tâm trạng của nhân vật trữ tình. Trong truyện thơ
trung đại, xuất hiện nhiều đoạn đặc tả nội tâm của nhân vật và không gian
xung quanh bị bao phủ bởi tâm trạng của nhân vật, tuy nhiên đó cũng chỉ là
những đoạn thơ tả cảnh ngụ tình. Mặc dù vậy, đây là những manh nha cho
thơ lục bát trữ tình sau nay. Chúng ta có thể gọi Tản Đà là người khởi đầu
cho thơ lục bát trữ tình trong thơ Việt Nam. Nếu như thế, sau khi ra đời vào
đầu thế kỉ XVI, phải trải qua đúng 400 năm thể thơ lục bát mới trở thành
thể thơ trữ tình. Rõ ràng thể thơ lục bát và thơ trữ tình lục bát khơng xuất
hiện cùng lúc. Như vậy, trong thơ lục bát hiện cấu trúc mạch tâm trạng của
16
nhân vật trữ tình chi phối các vấn đề của thi pháp thơ: từ cấu trúc, ngơn
ngữ, nhịp điệu, hình ảnh…
Tiểu kết chương 3
Khn hình một câu lục bát được cho là hồn chỉnh đã được định hình
trong ca dao, đây được xem là khuôn mẫu đầu tiên của thể lục bát, trải qua
q trình phát triển, khn hình này được xem là mẫu mực với Truyện Kiều
của Nguyễn Du, cho đến thời kì thơ hiện đại, khn hình một câu lục bát cơ
bản vẫn tuân thủ khá chặt chẽ cấu trúc và niêm luật, tuy nhiên thơ lục bát
đại có nhiều điểm cách tân trong cách sử dụng thanh điệu và vần điệu, thậm
chí là phá cách trong thơ lục bát Bùi Giáng, song về cơ bản thì thơ lục bát
khơng đi ra ngồi khn khổ, khn hình đã định hình ở những giai đoạn
trước. Trong ca dao chức năng diễn xướng chi phối nên phần lớn các câu ca
dao thường có dung lượng ngắn, sang đến thời kì thơ trung đại, chức năng
kể chuyện giữ vai trò chủ đạo, và hầu hết các sáng tác theo thể lục bát ở
thời thời kì này đều mang chức năng chính là tự sự. Cấu trúc của tác phẩm
được sáng tác theo thể lục bát thời kì này gần gũi với cấu trúc của chuyện
cổ tích dân gian. Đến thời kì văn học hiện đại, chức năng tự sự đã cơ bản
hồn thành sứ mệnh lịch sử của mình để nhường chỗ cho chức năng trữ tình
của thơ.
Vẫn cịn một số tác phẩm diễn ca, kể chuyện với số lượng các câu lục
bát vẫn rất lớn, song nhìn chung cấu trúc của thơ lục bát hiện đại đã định
hình các cấp độ rõ rệt, đó là cấp độ từ thấp đến cao: câu thơ, khổ thơ, đoạn
thơ, bài thơ. Cấu trúc đối là một trong những cấu trúc đặc trưng nhất của thể
lục bát, xuyên quá trình phát triển của thể loại, cấu trúc này đã bắt đầu xuất
hiện trong ca dao, sau đó phát triển lên thành những mẫu mực cổ điển trong
Truyện Kiều của Nguyễn Du và vẫn có những biến đổi trong thơ lục bát
hiện đại để phù hợp với thời đại. Trong thơ ca nói chung và trong thơ lục
bát nói riêng, cấu trúc song song là một đặc trưng quan trọng khi nghiên
cứu thi pháp thơ lục bát. Thủ pháp láy trong cấu trúc song song là một yếu
tố chi phối âm điệu, nhịp điệu của câu thơ lục bát.
17
Chương 4
NGƠN NGỮ THƠ LỤC BÁT HIỆN ĐẠI
Ngơn ngữ thơ là thuật ngữ được xác lập trên nhiều cấp độ. Trong khuôn
khổ của luận án này, chúng tôi chỉ đề cập đến những đặc điểm chính của
ngữ âm trong ngơn ngữ thơ lục bát.
4.1. Âm điệu
Âm điệu là một khái niệm được sử dụng trong thế tương quan với vần
điệu và nhịp điệu. Theo đó âm điệu có thể hiểu là sự hòa âm được tạo ra từ
sự luân phiên xuất hiện của các đơn vị âm thanh (tiếng) có những phẩm
chất ngữ âm tương đồng và dị biệt trên trục tuyến tính. Thanh điệu với tư
cách là yếu tố cơ bản làm nên sự khác biệt về phẩm chất ngữ âm của mỗi
âm tiết. Theo nghĩa này, nó phải được quan tâm tìm hiểu trên hai bình diện:
âm vực (cao - thấp) và cách thức vận động (bằng - trắc) trong âm vực.
4.1.1. Âm điệu trong thơ lục bát truyền thống
Có rất nhiều yếu tố cấu thành âm điệu, với cái nhìn tổng thể chúng ta có
thể phân tích các yếu tố nổi trội nhất tạo nên phẩm chất này. Những yếu tố
đó gồm: Phân phối thanh điệu trên phạm vi tổng thể trong tương quan bằngtrắc; Phân bố bằng-trắc trong mơ hình âm luật (ở tất cả các vị trí trong từng
dịng tho); Mức độ biến điệu của thanh điệu trong âm luật (những vị trí
mang tính quy luật). Có một sự nhất quán rất cao giữa cảm hứng sáng tác,
giọng điệu với âm điệu do thanh điệu tạo nên. Tính tự sự tăng và giọng điệu
càng đa dạng thì số lượng âm tiết bằng giảm đi và số lượng âm tiết trắc
tăng lên. Lấy ca dao làm xuất phát điểm chúng ta sẽ thấy rằng tính trữ tình
đậm đặc (tâm tình, than vãn) nên âm điệu cơ bản là trầm buồn, số lượng âm
tiết bằng có ưu thế vượt trôi. Tuy nhiên xét về mặt tương quan thì tỉ lệ âm
tiết bằng của ca dao vẫn kém hơn so với các tác giả lục bát hiện đại. Độ
chênh lệch nhỏ này là do trong nhiều câu ca dao thốt thai từ dân ca vẫn
cịn nặng tính khẩu ngữ, âm điệu chưa hồn tồn hài hịa nhuần nhuyễn và
giọng điệu chưa đạt đến độ tiêu biểu, thuần nhất. Trong thế so sánh tương
18